Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:48:59 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những khám phá về hoàng đế Quang Trung  (Đọc 113182 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #70 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 06:12:40 pm »

Có người cho nhân vật đó quê ở làng Thanh Thuỷ Chánh, giữ một chức quan trọng trong triều đình Huế và từng coi sóc Khám đường.  Từ năm 1997, đã nhiều lần tôi đi khảo sát ở làng Thanh Thuỷ và một số làng phụ cận của thành phố Huế, nhưng chưa thể kết luận được.

Nhưng chuyến khảo sát vào tháng 3 năm 1988, cho phép chúng tới thông báo một tín hiệu đáng lưu ý như sau:

Lúc còn sống, ông Trần Công Toàn (1880-1950) có thời làm lãnh binh và giữ vị trí thứ chỉ trong làng Thanh Thuỷ Chánh, từng kể rằng : “Sau vụ binh biến ở kinh thành vào năm 1885, hai ông Phan Công Hắc và Phan Công Vá đã cẩn thận giải phóng” cái “sọ đầu’ trong chiếc vò, đem để  vào một cái thạp đồng mang về chôn ở làng Thanh Thuỷ, nơi chôn ở gần Miếu Đôi”.  Hai ông Phan Công Hắc và Phan Công Vá đã đưa sọ “đầu vua” Quang Trung về chôn, nhưng bị phát giác, vua: Đồng Khánh đã ra lệnh xử tử hình.  Con cháu phái đổi họ tên thành Phan Văn . . . vì sợ tru di gia tộc. .

Trong buổi toạ đàm với các bô lão trong làng ở nhà thờ tộc Phan vào ngày 25 tháng 3 năm 1988, chứng tôi đã xác minh lại truyền thuyết đó và được xem các bản tộc phả, gia phả có được trong nhà thờ họ Phan. Trong đó có các bản chép năm Thành Thái thứ 7 (1900), bản Duy Tân thứ 3 (1909) và bản có phiên âm chữ quốc ngữ, sao chép sau này (1952).  ở chi II, phái 2 của các bản gia phả là thuộc chi phái của cụ Phan Văn Tế (70 tuổi), hiện nay là đời thứ 13. Bản gia phả ghi chép như sau:

Đời thứ 8 : Phan Tất Mâng có vợ là Lê Thị Lâu.  Sinh hạ: Phan Công Hoà, Phan Công Hiên, Phan Công Hắc, Phan Công Hiền, Phan Công Hảo, Phan Thị Dư, Phan Thị Môn. . .

Đời thứ 9: Phan Công Hắc cải là Quý - kinh kỳ Thuỷ sơ vệ uý cáo thọ Phấn dũng tướng quân. Kỵ ngày 9 tháng 6- Tam phẩm thục nhơn.

Như vậy Phan Công Hắc đứng vào hàng tam phẩm ở triều đình, là tướng chỉ huy đội quân Phấn dũng ở kinh đô.

Chúng tôi không tìm thấy ông Phan Công Vá trong các bản gia phả, nhưng các cụ cho biết đó là tên tục danh của ông Phan Công Hiền. Trong gia phả ghi là ông Hiền làm Thất phẩm, kỵ ngày 19 tháng 3. 

Xem toàn bộ các bản gia phả họ Phan có được trong làng Thanh Thuỷ, chúng tôi thấy chỉ có đời thứ 9 của thế hệ Phan Công Hắc là lót chữ Công, còn 8 đời trước là lót chữ Tất và đời thứ 10 về sau lót chữ Văn.

Như vậy, chuyện kể ông Phan Công Hắc mang sọ đầu vua. Quang Trung về chôn ở làng Thanh Thủy do một số quan chức trong làng đương thời truyền lại và việc ghi chép trong gia phả họ Phan khoảng 20 năm sau vụ binh biến ở kinh thành Huế có điểm khớp nhau. Chuyện kể về ông Phan Công Hắc ở làng Thanh Thuỷ có liên quan đến chuyện kể ở trong nội cung về cái chết của vua Đồng Khánh sau khi bắn “con mèo rừng” trong cung điện, mà con mèo rừng là hiện thân từ chiếc “sọ đầu’ của vua Quang Trung?

Sau khi bị bắt, ông Phan Công Hắc có khai chỗ chôn đầu lâu của vua Quang Trung? Nếu đã khai báo thì triều đình Đồng Khánh có còn để lại ở Thanh Thuỷ không hay đã có cách “xử lý” khác mà sử sách và lời truyền không để lại cho chúng ta? Hoặc có còn vụ đánh cắp nào xảy ra sau đó nữa không? 

Các bô lão ở Thanh Thuỷ kể rằng: Miếu Đôi nằm ở bên kia cầu ngói Thanh Toàn, ngày trước có hai cái miếu, nằm song song cách nhau chừng 1,50m. Miếu Đôi thờ hai vị “lang lại nhị đại tướng quân” nằm khoảng giữa hai ngôi miếu, dịch về phía sau, có một “ụ đất” trông như một nấm mộ nhỏ. Ngày xưa khu vực này nổi tiếng là linh thiêng, ngày rằm, mồng một hàng tháng dân làng đến thắp hương ở “ụ đất” đó, nhưng không người nào biết rõ là mộ của ai? .Đấy là trường hợp đặc biệt, vì mộ dân trong làng đã có các nghĩa địa dành sẵn, không ai chôn ở đó.

Cho đến kháng chiến chống pháp (1950) thì Miếu Đôi và cái “ụ Đất” linh thiêng đó đều bị san bằng.

Vị trí hai ngôi miếu cổ và toạ độ “ụ Đất” nằm ở cạnh sau trường phổ thông cơ sở Thuỷ Thanh hiện nay. Một nền đá lớn còn giấu mình dưới đất và nhiều tảng đá trồi lên mặt đất là dấu tích về hai ngôi miếu đã bị chiến tranh tàn phá. Cạnh đó, người ta truyền rằng ông Phan Công Hắc đã bí mật đưa sọ đầu vua Quang Trung về chôn rất cẩn thận trong những ngày biến động của kinh thành Huế 1885.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #71 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 08:58:05 pm »

12. THẦN THÁI QUANG TRUNG



Cho đến nay, chúng ta chưa biết đích thực về diện mạo, thần thái của Hoàng Đế Quang Trung, mà chỉ cảm nhận được một Quang Trung có thật qua sử sách. Đó là hình ảnh “Quang Trung giả” do một hoạ sĩ truyền thần được vua Càn Long sai vẽ nhân dịp giả vương Phạm Công Trị đến Bắc Kinh năm 1790.

Ảnh Quang Trung (giả) cưỡi ngựa trắng, mang binh giáp được in trong tập Mãn Châu cổ hoạ của Trung Quốc (1) cũng nhân vật Phạm Công Trị đó, vào năm 1789 đã từng đóng giả vương Quang Trung ra Thăng Long nhận sắc phong của nhà Thanh.

Khi trở về Trung Quốc, hai viên sứ thần mang sắc phong sang nước ta, đã viết thư cho Quang Trung có nhận xét rằng: “Tôi mơ màng vẫn thấy quy mô, khí tượng của quốc vương vượt hơn người thường, nhưng khi về bắt chước lệ người xưa mà tặng quốc vương bằng những lời nói kể trên” (2)

Một nguồn tài liệu khác để chúng ta hình dung được thần thái của Quang Trung là những lời nói, nhận xét cửa đối phương đã từng trực tiếp diện kiến Quang Trung như các quan lại Lê - Trịnh, các giáo sĩ phương Tây đương thời hoặc các sử gia triều nhà Nguyễn về sau. Nhưng dù sao đó cũng là nguồn tư liệu có ích nếu chúng ta biết gạn lọc loại trừ những thiên kiến, chủ quan, những động cơ chính trị xấu xa.

Sách Đại Nam chính biên Liệt truyện của triều Nguyễn chép: “Huệ tiếng nói như chuông, mắt lập loè như ánh điện, là người thông minh giảo hoạt, giỏi chiến đấu, người người đều kinh sợ” (3). 

Một quan viết sử dưới thời Nguyễn cũng đã chép: “Huệ tóc quăn, mặt đầy mụn, có con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu, lúc lâm trận thì thế thắng uy anh hùng lẫm liệt, cho nên mới bình định được phương Nam, dẹp phương Bắc, tiến đến đâu thì không ai hơn được” (4). 

Óc thông minh đó sẽ làm nên sự nghiệp lớn, tiếng nói sang sảng như chuông sẽ là lệnh truyền hiệu nghiệm đầy sức thuyết phục, với đôi mắt như ánh điện, “thay được đèn” soi sáng cả chiếu vào lúc ban đêm, có thể xuyên thấu mọi tâm can sâu thẳm của mỗi con người, của đối phương nên đã làm “người người đều kinh sợ”. Cái “nhãn quang” đó cùng bộ óc thông minh của ông đã làm nên sự nghiệp phi thường như lịch sử đã ghi lại.

Trong một tờ dụ của vua Càn Long vào năm 1790 có nhận xét về Quang Trung như sau:

“Nguyễn Quang Bình dụng tâm chu đáo có thể trấn phủ được phương Nam và thừa thụ hậu ân của Trẫm lâu dài thật đáng khen” (5) . .


__________________________
(1) In lại trong tạp chí Đông Thanh của Việt Nam, số năm 1982. 
(2) Trích trong Đại Việt quốc thư, Sài Gòn, dịch 1967, tr.167. 
(3) Quyển 30,t. 17b
(4) Tây Sơn thuật lược, Tạ Quang Phát dịch, tập san Sử Địa, số 9, Sài Gòn, tr.165. 
(5) Đại Nam thực lục, Q. 1345, t. 17b.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #72 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:01:37 pm »

Các tác giả trong Hoàng Lê nhất thông chí đều thừa nhận Quang Trung là: “Người thông minh quyết đoán” (1).

Hình ảnh Nguyễn Huệ ra Thăng Long diệt quân Trịnh vào năm 1786 được ghi lại trong Minh đô sử: Văn Huệ mặc áo ngân giáp, đầu đội mão thêu đỏ, thúc hai đội quân Thiết đột xông thẳng vào quân Phùng Cơ, quân Phùng Cơ đang ăn cơm không kịp sắp hàng ngũ, đành vỡ tan. Văn Huệ tiên quân đền bên Tây Long ngồi đĩnh đạc trên chiếc tấm ván cao trong thuyền, dung mạo hùng vĩ, nhung phục chỉnh tề. Các tướng sĩ đứng vòng hai bên tả hữu trông thấy ai cũng nói: Bắc Bình Vương là vị thần sông vậy. Rồi cùng nhau tấm tắc khen ngợi mãi không thôi. (2)

Lúc Nguyễn Huệ vào kinh đô Thăng Long, vua Lê sai các quan lần lượt đến yết kiến. Thấy thần sắc của Bắc Bình Vương rực rỡ, nghiêm nghị, ai cũng run sợ, hãi hùng (3).

Ngô Cao Lãng có ghi chi tiết về Nguyễn Huệ vào năm 1786 như sau: “Vua Hiển Tông cho các quan văn thần Nguyễn Hoàn, Phan Trọng Phiên, Trương Đăng Quỷ, Uông Sĩ Lãng, Trần Công Xá n và Như Công Chẩn chầu hầu, tuỳ theo sự việc mà thù ứng với Huệ. ‘

Chẩn từ chối lấy cớ có tật, bọn Hoàn, Phiên, mỗi khi gặp Huệ thì khiếp sợ nép xuống đất, (khi hỏi) đối với mọi việc thì chỉ à uôm, không có ý kiên gì” (4). 

Năm 1787, Lê Chiêu Thống triệu tập các đại thần đến Thăng Long bàn việc cắt cử người vào Phú Xuân xin lại đất Nghệ An, các quan lại nhà Lê đã có những nhận xét về Nguyễn Huệ được Hoàng Lê nhất thông chí thuật lại như sau:

Lê Chiêu Thông nói:

- Đến như trấn Nghệ An, thì chỉ cần sai một sử giả đem quốc thư sang bàn bạc với họ, một lời nói là xong. Ta cùng họ là thông gia, ta cũng không cần lo xa làm gì.

Quan Ngự sử Nguyễn Đình Giản nói:

- Xưa nay tình hình hoà hảo thông gia nói chung đều không thể tin cậy. Chỉ cớ bằng vào trước tự cường của mình làm, cho bờ cõi được vững chắc, ngăn chặn được sự dòm ngó của kẻ địch, như vậy mới tin cậy được. Bắc Bình Vương là bậc anh hùng, xem thường ông ta không được đâu.

Nguyễn Hữu Chỉnh nói:

- Tôi đã từng làm việc với ông ta, há lại không biết. Ông ta quả thật là bậc anh hùng, những nhân tài xứ Bắc ta đây cũng không thua lắm. Vạn nhất xảy ra việc binh đao tôi xin chọi với ông ta, còn như bọn Vũ Văn Nhậm thì không đáng kể.

Triều thần đề nghị Nguyễn Đình Giản và Phạm Đình Dư đi Phú Xuân, Phan Lê Phiên phản đối ngay và nói:

- Bắc Bình Vương là người rất quỷ quyệt, hay dùng mưu khôn để lung lạc người ta. Trong lúc bàn bạc, khi ném xuống, khi nâng lên, không biết đường nào mà dò. Thần sợ hai người ấy tranh biện với ông ta thế nào rồi cũng làm hỏng việc.

Sau mấy ngày bàn mãi với không tìm ra được người có thể thi thố ngoại giao được với Nguyễn Huệ, Nguyễn Hữu Chỉnh đề nghị với Trần Công Xán.  Sở dĩ Chỉnh đề nghị Xán đi gặp Nguyễn Huệ vì đã một lần Chỉnh bị phách lạc hồn xiêu trước “đôi mắt thần” của Nguyễn Huệ. Đó là vào năm 1786, lúc mới chiếm xong Thuận Hoá, Nguyễn Hữu Chỉnh đề nghị với Nguyễn Huệ nhân thế thắng ra đánh luôn Thăng Long. Nguyễn Huệ đáp:


_____________________
(1) Tập II, 1984, tr. 43
(2) Minh đô sử, Q. 32, bản chép của Viện Sử học. 
(3) Hoàng Lê nhất thống chí, tập II, 1984, tr. 43. 
(4) Lịch triều tạp kỷ, tập II, 1975, tr. 380
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #73 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:02:31 pm »

- Bắc Hà là một nước to lớn, có nhiều người tài, lời xưa có nói: “Con ong có nọc” khá có thể khinh thường được ư?

Chỉnh nói:

- Người tài Bắc Hà chỉ có một Chỉnh này thôt.  Nay tôi đã đi rồi, ấy là cả nước rỗng không, xin Ngài chớ có nghi ngại .

Nguyễn Huệ vôn khéo dùng ngôn ngữ để bẻ người liền đùa rằng:

- Không nghi ngại người nào thác, chả hoá ra chỉ có ông là đáng nghi ngại thôi ư?

Như soi thấu tâm địa hắc ám của Chỉnh, Chỉnh tái mặt tạ rằng:

- Sở dĩ tôi nêu lên cái ngu hèn của mình như thế, chẳng qua cũng chỉ để nói quá rằng, nước tôi tuyệt nhiên không có người tài đấy thôt. 

Biết Chỉnh lo sợ nên Nguyễn Huệ an ủi mấy câu để Chỉnh an lòng.

Đối với Trần Công Xán, vào năm 1786, khi Nguyễn Huệ ra Thăng Long, các đại thần nhà Lê được mời ra kiến diện với Nguyễn Huệ, ai cũng run sợ trước uy phong lẫm liệt và tài lý luận sắc bén của Nguyễn Huệ chỉ trừ có Trần Công Xán.

Hoàng Lê nhất thông chí thuật lại như sau:

Trong khi ai cũng hãi hùng run sợ, riêng Xán thì tiến thoái như thường, không mất phong thể của bậc đại thần. Bắc Bình Vương lấy làm lạ, đã mấy lần mời Xán đế hỏi việc Bắc Hà. Hỏi đến đâu Xán đáp đến đó, nói như suối chảy, không có chỗ nào ngập ngừng, ấp úng.

Có lúc Bắc Bình Vuông cố ý hỏi vặn, nhưng Xán vẫn lật qua lật lại, tranh cãi nhiều lần, không mảy may chịu sự khuất phục.

Bắc Bình Vương bảo với tả hữu rằng:

- Ta nghe Bắc Hà nhiều nhân tài, nay đến tận nơi thì chỉ thấy có Trần Công Xán là có khí sắc con người mà thôi.

Xán làm thượng thư bộ Hình, rồi lãnh chúc Đồng binh chương quân quốc trọng sự. Vốn là thầy dạy học của Chỉnh nên Chỉnh rất trọng, việc gì Chỉnh cũng bàn với Xán, chờ ý kiến quyết định của Xán.

Xán bảo với Chỉnh:

- Bắc Bình Vương là người hiểm sâu khó lường, chuyến đi này vị tất ông ta đã nghe theo, nhưng tôi đã vâng mệnh vua thì cứ liệu chiều biện luận, liều chết mà cãi.

Và quả thật, lúc vào Phú Xuân, Xán đòi lại đất Nghệ An cũng không thành. Nguyễn Huệ trọng tài của Xán ra sức thuyết phục Xán về với Tây Sơn cũng không được, cuối cùng Xán phải chết để bảo vệ bí mật của Phú Xuân.

Việc đòi lại đất Nghệ An không thành, Chỉnh vừa bị mất lòng tin vừa bị mất cả thầy nên tự biện bạch rằng:

- Bắc Bình Vương là người anh hùng hào kiệt ở miền Nam ta cũng không thua. Hắn quỷ quyệt hơn ta, nhưng ta khôn ngoan hơn hắn. Năm trước ta thường cộng sự với hắn, nên ngày nay ta nhường hắn một nước cờ.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2009, 10:31:17 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #74 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:05:19 pm »

Ở Phú Xuân, sau khi đã ém nhẹm được vụ Trần Công Xán, Nguyễn Huệ đưa quân vào Quy Nhơn đế kịp dập tắt cuộc nội biên nguy hiểm. Trở lại Phú Xuân, Nguyễn Huệ có thái độ kiên quyết đối với Nguyễn Hữu Chỉnh. Một đại hội tướng sĩ được mở tại Phú Xuân vào năm 1787, Nguyễn Huệ tuyên bố rằng:

- Nguyễn Hữu Chỉnh là người đã chết, ta lại vẽ mặt vẽ mặt cho, nay hắn bay nhảy ở Bắc Hà, phò vua Lê để sai khiến cả nước. Đã không lo đền đáp ơn ta mà còn định cắn lại, mưu đồ giành lại đất Nghệ An đặt làm một trấn. quan trọng để bắt chước chúa Trịnh xâm lấn phương Nam ngày xưa. Thằng giặc ấy đáng giết, không biết hắn đã sắp sẵn bao nhiêu binh mã, có thể đánh nhau với ta được một trận không.

Thế là Võ Văn Nhậm tức tốc được cử ra Thăng Long để thực hiện mệnh lệnh của Nguyễn Huệ.  Nhưng khi giết xong Chỉnh, Võ Văn Nhậm lại có mưu đồ thoán đoạt Bắc Hà, Ngô Văn Sở báo về Phú Xuân, Nguyễn Huệ nói với tướng sĩ rằng:

- Thằng Võ Văn Nhậm đáng chết thật, ta vẫn biết thế nào hắn cũng làm phản, quả nhiên không sai. Lúc đó có lời bàn ra, tiếng vào. Nguyễn Huệ quát to:

- Rắn độc cắn tay, tráng sĩ mất vế, anh hùng làm việc nhưng không thể ngờ đền tiêu danh, tiêu nghiệp. Nếu cứ lằng nhằng nghe những lời nói suông có hại cắn rốn không kịp. Các ngươi không biết, những người thô bạo, đảm to như báo, làm việc rất độc.

Rồi mật dụ cho các tướng sĩ rằng:

- Hễ ai nói ta có mặt trong chuyến hành binh này sẽ cắt lưỡi ngay.

Nói xong, liền hạ lệnh ra Bắc, thúc tướng sĩ đi suốt ngày đêm, không đầy 10 ngày đã đến Thăng Long (1)

Nhật ký của Giáo hội Bắc Kỳ có ghi lại sự việc như sau:

"Bắc Bình Vương tiến rất mau, cầm đầu một đại binh cùng đoàn hộ giá gồm 150 con voi, 100 người nằm võng, rất nhiều kiệu sơn son thiếp vàng lộng lẫy (một cái dành cho Nguyễn Huệ, một cái dành cho Ngọc Hân).

Ngày 2 tháng 5 (l788), tôi nghe tin Bắc Bình Vương còn cách trụ sở của tôi một ngày đường. Ngày mồng 7, tôi được biết ông vào kinh thành từ sáng mồng 4, nhưng không lộ vẻ vui tươi gì. Có người nói rằng quan Tiết chế Võ Văn Nhậm có ra đón ông ở một địa điểm cách xa thủ đô với ve nể sợ, nhưng thực ra cố ý định chặn đứng và tấn công ông nhưng thấy ông được bảo vệ kỹ lưỡng quá, nên Tiệt chế giả vờ vui vẻ như không có ý gì. Dù sao Bắc Bình Vương cũng cho người bắt ông túc khắc.  Sáng hôm sau, ngày 5 tháng 5, ông bị trói dẫn ra pháp trường và bị bắt quỳ ở đó cho công chúng xem, phơi mình dưới cái nắng gay gắt của mặt trời. Ngày hôm sau ông bị xử trảm. Đó là vận mệnh xứng đáng cho những kẻ khát máu đã từng gieo tang tóc cho Tổ quốc nói chung và Bắc Kỳ nói riêng" (2).
 

Diệt xong Võ Văn Nhậm, giao Bắc Hà lại cho Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Huệ trở về Phú Xuân, và cũng là lúc mẹ của Lê Chiêu Thống sang Trung Quốc cầu viện nhà Thanh. Những ngày cuối đông 1788, quân Thanh ồ ạt vào Thăng Long. Tuy là một cung nhân triều Lê nhưng đã có nhận xét khá xác đáng về Nguyễn Huệ, khi đối đáp với mẹ của Lê Chiêu Thống.


____________________
(1) Minh đô sử, Q. 40.
(2) Tài liệu Nha Văn khố quốc gia Paris F.5. A. 22, tr. 226 - 227.  
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #75 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:13:23 pm »

- Không biết Nguyễn Huệ là tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân, xem hắn ra Bắc vào Nam ẩn hiện như quỷ thần không ai có thể lường biệt. Hắn bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Võ Văn Nhậm như giết một con lợn. Không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt hắn, thấy hắn trở tay, đưa mắt, là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu sợ hắn hơn sợ sấm sét, e rằng chẳng mấy lâu nữa hắn lại trở ra. Tổng đốc họ Tôn đem thứ quân nhớ nhà kia mà chống chọi thì địch sao nổi Họ chẳng qua chỉ là người khách. Chuyên này xem sự thể khó hay dễ liệu bề tiến lui mà thôt. Nhưng còn nhà nước của ta thì sao? Thái Hậu có thể chạy sang Trung Hoa một chuyến nữa không? (1)

Và quả thật, vua Quang Trung đã trở lại Bắc Hà, và hình ảnh của ông trên chiến trường Thăng Long trong những ngày đầu xuân Kỷ Dậu (1789) được ghi lại như sau:

Ngày 30 tháng 1 (1789), Quang Trung rời Kẻ Vôi trên lưng voi và đến chung sức, khuyến khích đội ngũ ông, nhưng khi thấy họ chiên đấu không được hăng hái lắm, ông liền bỏ roi và dùng ngựa.  Theo lời đồn, ông đeo hai thanh kiếm chạy ngang dọc, đã chém rơi đầu nhiều tướng tá và binh lính Trung Hoa làm rất nhiều người chết dưới tay ông, ông luôn miệng hô xung phong và lúc nào ông cũng có mặt ở tuyên đầu của trận chiến. (2)
 
Nhưng khi cần trí tuệ lớn cho công việc xây dựng đất nước thì Quang Trung luôn kiên trì, thuyết phục khiêm tốn, kính trọng trí thức, nhưng cương quyết, rõ ràng, ân uy, công tội cũng phân minh. Lấy trường hợp về mối quan hệ giữa Quang Trung và Nguyễn Thiếp làm dẫn chứng.

Trong bức thư ngày 10 tháng 8 năm Thái Đức thứ 10 (1787), Nguyễn Huệ đã đề cao Nguyễn Thiếp như vị thánh sống của thiên hạ mà ví mình như cậu học trò bé nhỏ của phu tử, thư có đoạn viết: “Mong phu tử nghĩ đến thiên hạ với sinh dân, vụt dậy mcì đi ra, để cho Quả Đức có thầy mà nhờ, cho đời nay có người mà cậy, như thế mới ngõ hầu khỏi phụ ý trời sinh ra kẻ giỏi” (3).
 
Tiếp đó, bức thư đề ngày 13 tháng 9 (1787), Nguyễn Huệ có lời lẽ như sau:

"Từ lúc khởi binh đến nay, thân trải trăm trận, sùng chuộng võ uy, chưa chắc đã làm việc bất nghĩa, giết kẻ vô tội để lấy được nước. . .Nhưng gánh lấy việc binh dân rất nặng nề, công việc xếp đặt rất bề bộn, sụ làm đúng hay sai quan hệ không phải là, nhỏ. Nên suốt ngày, Quả Đức không dám rời ra một bước, nên đã không thân hành đến cửa tiên sinh mà đón. Mong phu tử xét soi cho tấm lòng thành vụt dậy mà đổi bụng, lấy lòng vì Nghiêu, Thuẫn quân dân mà ra dạy bảo giúp đỡ, Quả Đức xin ân nghe lời dạy bảo, khiến cho Quả Đức thoả được lòng ao ước tìm thầy và đời này được nhờ khuôn phép thế thì may lắm” (4).

Trong bức thơ đề ngày 18 tháng 3 (1787) do Cẩn Tín hầu Nguyễn Quang Đại trực tiếp mang đến tận nhà Nguyễn Thiếp, toàn văn bức thư như sau:

“Gửi cho La Sơn phu tử được hay.

Nay thiên hạ khôn khổ, không cùng phu tử mà cứu gỡ thì không biết cùng ai.

Quả Đức thân hành qua hạt. Đặc sai quan binh phiên phó tri phiên Cẩn Tín hầu Nguyễn Quang Đại lại vấn an mà mời phu tử tới, ngõ hầu được nghe lời phu tử bảo, thế là may cho Quả Đức và may cho cả thiên hạ lắm”. (5) 

Nguyến Thiếp có chấp nhận cuộc hội kiến này của Nguyễn Huệ ở Phù Thạch nhưng không thoả mãn yêu cầu của Nguyễn Huệ đưa ra.

Cuộc hội kiến này, trong gia phả của họNguyễn do con cháu của Nguyễn Thiếp lưu giữ có ghi lại như sau:

__________________
(1) Hoàng Lê nhất thông chí, tập II, tr. 1175. 
(2) Nhật ký giáo hội truyền giáo Đàng Ngoài, tài liệu Hội truyền giáo ở Paris.
(3) Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, Mình Tân, Paris, 1952, tr. 105.
(4) (5) La Sơn phu tử, tr. 109, 107.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #76 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:14:49 pm »

Nguyễn Huệ trách:

- Đã lâu nay nghe đại danh, ba lần cho tới mời, tiên sinh không thèm ra, ý tiên sinh cho Quả nhân là thằng giặc nhỏ, không đủ làm kẻ anh hùng trong thiên hạ chăng?

Nguyễn Thiếp trả lời:

- Hơn hai trăm năm nay, quyền về tay họ Trịnh hung bạo, Vương mới đưa quân ra một lần mà dứt ra được, lập lại nhà Lê, với danh nghĩa chính thì anh hùng ai lại không theo. Nếu giả tiếng nhân nghĩa nói dối tôn vua để lấy tiếng thì hoá ra là một kẻ gian hùng.
Huệ đổi sắc mặt, ngồi dịch ra và tiếp đãi rất trọng.

Nguyễn Thiếp không ra cộng tác bởi vì cụ hiểu quá rõ cái danh nghĩa “phò Lê” của Nguyễn Huệ.  Cụ đã thẳng thắn nói lên điều mà không một ai dám nói trước Nguyễn Huệ, nhưng vì quý trọng một nhân tài, Nguyễn Huệ vẫn kiên trì thuyết phục và trân trọng đối với cụ.

Cụ đã từ chối việc cộng tác với Tây Sơn, từ chối việc coi đất để đóng đô ở Phù Thạch, cụ cho xứ Nghệ đất xấu, dân nghèo. Không những thế, cụ còn lên giọng dạy bảo Nguyễn Huệ, nhưng Nguyễn Huệ không phật lòng, tự ái, một mặt kiên trì mời cụ ra giúp nước, cứu dân.

Nguyễn Huệ có chiếu cho La Sơn phu tử như sau: “Ngày 19 tháng 6 năm nay, ta thấy tờ khải của Phu tử. Trong ấy có nói rõ địa thế nên chăng và mọi tình trạng sinh dân đau khổ lại lấy danh ngôn và sự tích của cổ nhân mà răn dạy ta, lời bàn ấy như liều thuốc hay, rất xứng với ý ta”

Khâm sai đặc chiếu.

Ngày 19 tháng 6 năm Thái Đức thứ 11" (1788).

Nhờ bỏ nhiều công sức, dẹp lòng tự ái, sự kiên trì nên Nguyễn Huệ đã được một trí thức tầm cỡ của xứ Nghệ ra cộng tác. Nguyễn Thiếp đã giúp Nguyễn Huệ coi đất Cổ Bi (Gia Lâm), xây dựng Phượng Hoàng trung đô (Nghệ An) và làm Viện trưởng Sùng Chính thư viện.

Quang Trung rất trọng nể Nguyễn Thiếp, nhưng cũng không vì thế mà tin dùng một cách mù quáng. Quang Trung đã quỳ xuống để mời Nguyễn Thiếp ra giúp nước, lợi dân. Nhưng nếu công việc được giao mà Nguyễn Thiếp làm qua loa vô trách nhiệm thì cũng vì lợi dân, ích nước mà Quang Trung phải phê phán nghiêm khắc, thưởng phạt công minh. 

Chúng ta xem Nguyễn Thiếp chịu trách nhiệm dịch các thư sách ra tiếng Nôm ở Viện Sùng Chính.  Ngày 14 tháng 4 năm nhuận năm Quang Trung thứ 5 (1792), vua Quang Trung đã truyền cho La Sơn phu tử rằng:

“Nguyên năm ngoái có chú thích các sách tiểu học xem ra thấy âm nghĩa sơ sài, thô lược, chưa xứng đáng với thượng chỉ. Còn về việc diễn nghĩa Tứ Thư thì hẹn rằng mùa xuân năm tới làm chậm. Truyền cho phải mau chóng chú thích âm và nghĩa, đóng thành bản gửi về để ngự tiến. Phải nên gia ý việc thích âm thiết cho tinh mật chớ làm thô lược lạo thảo như kỳ trước (1).

_________________
(1) La Sơn phu tử, tr. 121.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #77 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:16:24 pm »

Nhờ có lời phê bình thẳng thắn và nhắc nhở đó mà chỉ một tháng sau (tháng 5) các sách Tứ thư đã dịch xong, đóng thành 32 tập gửi vào Phú Xuân.  Nhận được sách, Quang Trung lấy làm thích, liền ban chiếu khen ngợi La Sơn phu tử cùng những người giúp việc và ban thưởng tiền.

Tờ chiếu viết:

“Chiếu cho Sùng Chính viên Viện trưởng La Sơn Nguyễn Khải Xuyên được biết:

Nguyên kỳ trước diễn dịch xong các sách tiểu học đã đệ tiến nộp. Kỳ này diễn dịch Tứ thư đã xong, cộng thêm 32 tập. Trấn quan đã chuyển để về kinh tiến nộp. Trẫm đã từng xem tiên sinh giảng bàn phu diễn kể đã chăm chỉ, những viên giúp rập là Nguyễn Công, Nguyễn Thiện, Phan Tô Định, Bùi Dương Lịch đều có công.

Vậy ban thưởng cỗ tiền 100 quan, cho trấn quan chiếu theo mà cấp, lĩnh để chung hưởng ân tứ. Khi xong việc bốn bề, Trẫm nghỉ ngơi, vui ý đọc sách, Tiến sinh học vấn uyên bác, nên vì Trẫm mà phát huy những ý thư, khiến cho bổ ích thêm.

Quang Trung năm thứ 5, ngày 1 tháng 6 năm 1792”.

Đấy là một trong những biểu văn cuối cùng của Hoàng đế Quang Trung đã thể hiện một thái độ một cách nhìn, một phương thức trị nước và nghệ thuật dùng người nhất quán trong suốt cuộc đời làm chính trị của Nguyễn Huệ - Quang Trung.


13. NGHỆ THUẬT DỤNG BINH CỦA QUANG TRUNG.


Quang Trung là một nhân vật lịch sử đặc sắc  trong thế giới Đông – Tây, Kim - Cổ. Sự xuất hiện của ông vào thế kỷ XVIII là một mềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Nhiều sứ mạng lịch sử đều tập trung ở ông. Ông là biểu hiện sức sống phi thường của dân tộc, một khát vọng vô biên của quần chúng nhân dân, một năng lực để đổi mới phát triển đất nước. Quang Trung xứng đáng là một anh hùng dân tộc vĩ đại.

Tài năng xuất sắc của Quang Trung được biểu hiện trên nhiều mặt: chính trị, văn hoá, ngoại giao. . . Đặc biệt về phương diện quân sự, ông là một thiên tài xuất chúng, một danh tướng trăm trận trăm thắng.

Năm 20 tuổi, ông đã cầm quân đánh Nguyễn, năm 40 tuổi dự định mở chiến dịch vào Gia Định để diệt quân Nguyễn, nhưng ông bị chết trước khi chiến dịch mở màn.

Trải qua hai mươi năm làm tướng chỉ huy, Quang Trung đã chiến thắng nhiều loại kẻ thù, thù trong cũng nhiều, giặc ngoài cũng lắm. Ông đã chiến đấu và chiến thắng trên khắp các chiến trường của cả 3 miền đất nước: Gia Định, Phú Xuân, Thăng Long.

Không phải ở thời đại chúng ta mới nhìn nhận đúng tầm vóc của Nguyễn Huệ mà ngay cả lúc đương thời, kẻ thù cũng đã thừa nhận điều đó.  Quân Nguyễn cho Nguyễn Huệ “ứng biến như thần”, giặc Xiêm sau lần thua trận đầu năm 1785 coi Nguyễn Huệ là “tướng nhà trời”.

Còn Tôn Sĩ Nghị lúc mới đến Thăng Long thì huênh hoang tự đắc “nuôi béo giặc đợi chúng đến nộp thịt”. Nhưng đến lúc Nguyễn Huệ đưa quân ra Thăng Long, mới nghe tin đã “sợ mất mật, bủn rủn chân tay” và báo với Càn Long là do bọn Lê Chiêu Thống “nghe tin Nguyễn Huệ thân hành đem binh đến mất cả hồn vía, bỏ chạy, làm cả đội quân Thiên triều cũng chạy theo”. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #78 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:18:00 pm »

Ngay cả một số giáo sĩ phương Tây có thành kiến Tây Sơn cho là phiến loạn (Rebelles), gọi Nguyễn Huệ là Tiếm vương (Usur pateurs), là Bạo chúa (Tyran), nhưng vẫn so sánh Nguyễn Huệ với Alexandre Đại đế hay Tân Attlita. Đó là những nhà quân sự nổi tiếng, bách chiến bách thắng của châu Âu.

Như vậy, yếu tố đưa Nguyễn Huệ trở thành một thiên tài quân sự là gì? Nghệ thuật dụng binh ra sao? Những bí ẩn trong việc tổ chức quân đội và khoa học quân sự là gì?

Nét độc đáo của Nguyễn Huệ thể hiện ở chỗ, trước khi trở thành thiên tài quân sự, ông chỉ là một nông dân áo vải, không qua một trường đào tạo văn võ nào chính quy và có hệ thống. Thực tiễn của cuộc đấu tranh xã hội tạo ra nhân tài.

Sau khi lên ngôi, ở tột đỉnh vinh quang của đế quyền, Quang Trung luôn tự nhận thành phần xuất thân “Bố Y” một cách trung thực. Trong chiếu lên ngôi, cùng nhiều biểu văn khác kể cả biểu văn xin cầu hôn công chúa nhà Thanh, chứ không như Mạc Đăng Dung sợ mình không tập hợp được nhân tài, nho sĩ nên đã man khai là thuộc dòng dõi Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, phủ nhận sự thật là xuất thân từ ruột gia đình đánh cá lâu đời ở Hải Phòng. 

Theo quan niệm của Tôn Tử, 6 yếu tố của một tướng tài ngày xưa là Trí, Nhân, Kính, Tín, Dũng, Nghiêm: Trí là để bẻ gãy địch bằng mưu lược, Nhân là để mọi người phục, Kính là để chiêu hiền đãi sĩ, Tín là để đạt lòng tin, Dũng là để thêm chí khí, Nghiêm là để nhất lệnh. Nguyễn Huệ là người hội tụ đủ 6 yếu tố này.

Nguyễn Huệ là nhà chiến lược có nhiều mưu trí, vấn đề thời cơ thần tốc, nghiêm lệnh là nét nổi bật của thiên tài Nguyễn Huệ. Trong trận đánh ở Gia Định vào năm 1783, khi vây đuổi Nguyễn ánh ở đảo Phú Quốc, Nguyễn Huệ đã tuyên bố với các tướng sĩ rằng: “Binh cốt lấy nhanh làm thần, Cơ là không thể bỏ mất, nay nhân thế thắng qua bể đánh úp đấy là thượng kế của nhà binh. Vả lại, phòng sông không bằng phòng bể mà phép hải chiến thì phải biết thời, chiều gió, sức gió, nước triều, thống nhất nghiêm lệnh, buông thuyền lớn theo dòng nước thốc lên đánh ngay, ắt phải thắng (1).

Quan điểm dụng binh đó được Nguyễn Huệ thực hiện một cách tài tình trong chiến trận Rạch Gầm - Xoài Mút vào đầu năm 1785.

Biết quân Xiêm đã tràn vào Gia Định từ tháng 8 năm 1784, nhưng Nguyễn Huệ không cho tiến quân đánh úp ngay. Vì muốn để cho chúng bộc lộ hết mọi sở trường và sở đoản của quân xâm lược mà nghĩa quân Tây Sơn chưa một lần thử thách.  Trong đó, cốt lõi là để bộc lộ sự mâu thuẫn giữa nhân dân ta cùng đội quân cướp nước và bè lũ bán nước, sự phân hoá giữa tập đoàn Nguyễn Ánh và quân đội Xiêm, càng tăng thêm sự chủ quan, khinh địch của đối phương qua chiến thắng ban đầu. Rõ ràng chưa đánh, nhưng quân xâm lược Xiêm yếu đi từ yếu tố cơ bản của nó.

Đến tháng 1 năm 1785, Nguyễn Huệ từ Quy Nhơn đưa hai vạn quân vào Gia Định đánh quân Xiêm là thời cơ chín muồi. Nhưng Nguyễn Huệ không chủ động tấn công vào bản doanh Trà Tân của địch, nơi cách sở chỉ huy Tây Sơn ở Mỹ Tho chừng 25 km và cũng không để địch đánh vào Mỹ Tho, nơi nghĩa quân có phòng vệ, mà ông chọn trận địa .mai phục giữa lòng sông Tiền, trong một quãng sông chừng 7km nằm giữa Rạch Gầm và Xoài Mút là thế mạnh vốn có của nghĩa quân.

__________________________-
(1) Minh Đô sử, Q. 29.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #79 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:18:38 pm »

Trận địa mai phục này chủ yếu là dùng sức mạnh áp đảo của quân thuỷ nhưng có bộ binh và pháo binh hỗ trợ.  Nhưng làm sao để đưa địch vào trận địa mai phục? Làm sao đánh địch vào lúc trời hửng sáng (4, 5 giờ sáng) để phân biệt được bạn thù và kiểm soát chiến trường? Làm sao để bảo đảm bí mật cho một trận quyết chiến nhanh chóng và oanh liệt.  Nếu không thắng, hoặc thắng nhưng cuộc chiến kéo dài, rất có nguy cơ là Quy Nhơn rơi vào tay quân Trịnh chứ chưa nói quân Xiêm từ đó sẽ trườn ra địa bàn miền Trung.

Một tháng chỉ có một ngày, cái ngày lý tưởng để mở trận phản công địch lúc tảng sáng đó là đếm 18 rạng ngày 19 tháng 1 năm 1785. Ngày đó, thuỷ triều, con nước, sức gió đạt đến mức lý tưởng nhất cho trận thuỷ chiến nên Nguyễn Huệ đã dùng kế trì hoãn chiến thư: Mời tướng sĩ Xiêm lên Mỹ Tho xem quân Tây Sơn duyệt binh, xin hoà hoãn và đút lót cho chủ tướng của giặc, dùng kế nghi binh, khiêu chiến.

Và quả thật, toàn bộ quân Xiêm trong đêm 18 đã dồn ứ trước đoạn sông Tiền, nằm gọn trong trận địa mai phục và đến tảng sáng thì bị đánh phủ đầu. Chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ, toàn bộ gần 5 vạn quân Xiêm bị nghĩa quân Tây sơn quét sạch, chỉ còn lại vài ngàn tên tháo thân chạy về nước. Chúng kinh sợ phao truyền cho là ‘Sợ Tây Sơn như là sợ cọp” và tôn Nguyễn Huệ là ‘tướng nhà trời”.

Nguyễn ánh cũng bị quân Tây Sơn bắt tại trận, nhưng do sơ hở trong việc canh giữ nên đã bỏ trốn. Trong chiến dịch giải phóng Phú Xuân năm 1786, Nguyễn Huệ đã sử dụng cả bộ binh lẫn thuỷ quân có thêm tượng binh, kị binh và pháo binh hỗ trợ. Đặc biệt là sử dụng tình báo một cách tài tình, tình báo Tây Sơn đã khai thác từ Quy Nhơn, rồi thọc sâu vào Phú Xuân để nắm chắc tình hình. Đã dùng kế li gián một cách thành công giữa chủ tướng Phạm Ngô Cầu và phó tướng Hoàng Đình Thể.

Nguyễn Huệ đã dùng kế “điệu hổ ly sơn” một cách tài tình bằng cách dùng một nghĩa quân cải trang là thuật sĩ để dụ gần hết lực lượng phòng vệ ở thành Phú Xuân lên chùa Thiên Mụ để lo cầu an cho Phạm Ngô Cầu, một đòn cân não nhắm đánh vào tinh thần bạc nhược, cầu an của quân Trịnh, làm cho quân Trịnh quá mệt mỏi do thức gần bảy ngày đêm để phục dịch, trong khi việc bố phòng ở Phú Xuân bị chểnh mảng thì nghĩa quân Tây Sơn tiến ra công thành.

Nghĩa quân đã hãm đồn An Nông và phao tin An Nông đã bị vỡ, làm binh lính giữ thành Phú Xuân thêm hoang mang. Thành Phú Xuân được giải phóng sau một đếm tấn công và chỉ vài hôm sau đã truy quét hết quân Trịnh trên đất Thuận Hoá, vì được bổ sung thêm một mũi vu hồi chặn viện do Vũ Văn Nhậm chỉ huy từ sông Gianh tiến vào sâu trong nội địa Quảng Bình.

Chiến thắng Phú Xuân - Thuận Hoá năm 1786 của Nguyễn Huệ còn do biết phát động nhân dân nổi dậy đấu tranh kết hợp với nghĩa quân tiến công, truy bức địch.

Trong cuộc kháng chiến chống Thanh ở chiến trường Thăng Long, Quang Trung đã hoàn toàn giành thế chủ động. Có thuỷ quân nhưng chủ yếu là sử dụng chủ lực của quân bộ, có pháo binh, tượng binh hỗ trợ, vai trò của đội quân tình báo và phát động nhân dân nổi dậy đấu tranh cũng được phát huy mạnh mẽ.

Vua Quang Trung vẫn áp dụng lối đánh thần tốc bí mật, bất ngờ, trá hình, nhưng nét tiêu biểu của chiến dịch tiêu diệt giặc Thanh là nghệ thuật tác chiến hợp đồng giữa các binh chủng.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2009, 10:29:39 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM