Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:01:32 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người của biển  (Đọc 54754 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #20 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 03:51:06 pm »


13


           Buổi chiều.
           Vịnh Hạ Long sáng đẹp. Trời hanh, lạnh, cao xanh, biển lặng. Những ngọn núi mọc lô nhô trên vịnh phơi ra các cạnh nét, các hình thù. Nắng cuối mùa chiếu xuống vàng dịu.

          Tàu T.37 phủ kín lưới ngụy trang nép dưới một vòm Đá. Con tàu hòa lẫn vào ngọn núi. Xung quanh rải rác nhiều ngọn núi khác: hòn "Ông" nhô lên như một cánh buồm, cạnh đó là hòn "Con Cóc". "Con Cóc" ngồi chồm hỗm, tư lự ngóng ra biển.

           Không rõ ngày xửa ngày xưa con rồng nào đã thả những hòn núi này xuống đây, mỗi hòn mỗi dáng, mỗi vẻ chẳng hòn nào giống hòn nào! Có hòn hệt con voi đang phủ phục, cái vòi quặp xuống; chịu đựng. Lại có hòn hao hao cái đầu ngựa ngựa mặt lên trời mà hí... Nhưng lính tàu T.37 thích nhất vẫn là hòn "Trống Mái", đôi gà vươn mình khỏi mặt nước, âu yếm cà mỏ vào nhau. Đôi gà đá ấy đã để lại cho thế gian không biết bao nhiêu truyền thuyết về tình yêu! Hạ Long có bao nhiêu hòn núi thì có bấy nhiêu giai thoại, bấy nhiêu chuyện kể...

          Trên boong, lính tàu T.37 vừa sửa lưới ngụy trang vừa nói câu chuyện. Thuyền phó Xuyên có mặt ở đó, anh là người tranh luận sôi nổi nhất.  Lúc này câu chuyện đang xoay quanh đôi gà đá. Xuyên đưa ra mọt nhận định: dọc bờ biển nước ta, nơi nào có hòn trống thể nào cũng có hòn mái; tình yêu và lòng chung thủy là nội dung có tính đặc thù của những giai thoại. Lịch sử Việt Nam hàng ngàn năm qua, có thể nói là lịch sử của các cuộc đấu tranh chống xâm lược,vậy . mà bao giờ sự giải thích các hiện tượng có sẵn trong thiên nhiên cũng lại hầu như đều bắt đầu bằng một câu chuyện tình. Không ai phản đối. Mọi người còn nói rằng bản thân câu chuyện bố mẹ Xuyên lần tìm nhau trong những ngày hòa bình mới lập lại, xét ở góc độ nào đó cũng là một câu chuyện tình lý thú.

           - Ba má mình à? - Xuyên reo lên; mỗi lần có ai nhắc tới bố mẹ, anh tỏ ra rất vui và một tình cảm như thể là  sự hài lòng, sự tự hào lại dấy lên - Ừ, cũng có thể! Ra tới miền Bắc một thời gian, mình mới rõ là ba má còn kẹt lại trong đó. Khi gửi mình xuống tàu theo chú Năm, ba mình còn dặn: "Con cứ ra ngoài đó trước, ba quay lại tìm má rồi sẽ đi sau. Nhất định ba con ta sẽ gặp nhau trên miền Bắc, lâu cũng chỉ dăm bữa nửa tháng". Ai ngờ chuyến tàu chở mình và chú Năm là chuyến cuối cùng.
          - Ba anh không thể đi được bởi Trời đã đặt "hòn mái" trong đó, thì sao đặt "hòn trống" ở ngoài này!
          - Nhưng sao bị lạc, anh Xuyên? - Khang hỏi.
          - Mình đã kể rồi đấy - Xuyên nói - Nhiều khi hậu quả sự việc rất lớn, nhưng nguyên nhân gây nên lại chẳng ra sao, đầy ngẫu nhiên. Hồi đó, ba mình là cán bộ trên huyện, làm việc gì thì mình cũng không rõ. Tới ngày đình chiến, ba mình về. "Má con thằng Xuyên chuẩn bị đi tập kết nghe!" - ông bảo. Má mình hỏi: "Còn ông?". "Tôi cũng đi". Vậy là cả nhà lo gói ghém đồ đạc để lên đường. Tình hình hồi ấy rất lộn xộn: ta rút tới đâu, quân Ngô Đình Diệm lấn tới đó; người đi tập kết, kẻ lần đường tìm về quê , kẻ di cư vào... ; trên đường lúc nào cũng nườm nượp kẻ xuôi, người ngược, lính có, dân có ta có, địch có. Tất tưởi, vội vã. Cả nhà mình đi nhờ chiếc ôtô chạy Nha Trang. Mình không nhớ rõ chiếc ôtô đó là xe nhà binh hay xe của ai nữa. Hồi ấy mới hơn mười tuổi mà? Tới một thị trấn, ôtô đỗ, má mình nhảy vội xuống kiếm cái gì cho ba con mình lót bụng, ai dè má chưa kịp lên, thằng tài xế rú ga chạy biến. Ba mình hét mấy nó cũng không chịu dừng. Ra tới Quy Nhơn, ba gửi mình cho chú  Năm rồi quay lại tìm má ... Đã hơn chục năm rồi đó!
          - Thế lâu nay anh có nhận được tin tức gì của ba má không?
          - Có, nhưng ít. Hồi ở trường học sinh miền Nam, nghe láng máng nhiều tin, song không khớp. Lúc đang học Trường sĩ quan Hải quân, chú Năm tới thăm mấy lần. Chú bảo rằng trên Ban Thống nhất Trung ương cho hay là ba má vẫn khỏe, ông già vẫn hăng hái hoạt động như hồi chín năm, có điều cực hơn. Và chú nói cũng đã nhắn vào cho ba biết tin tức của mình. Chà, ông già được tin mình thành cán bộ hải quân, chắc mừng lắm. Hồi xuống tàu theo chú Năm ra Bắc, mình mới đứng tới thắt lưng ba, khóc thút thít kêu má hoài... Cũng nhanh. Mấy bận đưa vũ khí vào Cà Mau, mình cố lần hỏi, may có ai đó rõ ba, nhưng chẳng ai hay, thời gian lại khan, lúc nào cũng vội.

            Chuyện mây nước, núi non, chuyển sang chuyện gia đình, rồi lại bất chợt xoay sang chuyện đá bóng, chuyện nước Mỹ... Những câu chuyện của lính thường là thế, không chủ định, không đầu, không cuối, lan man. Tàu neo ở biển, rỗi nhiều: lính giết thời gian bằng cách đánh bài, tán chuyện.

            Về chiều mặt trời hắt nắng xuống biển lóng lánh. Bầu trời cao, xanh. Xanh thẫm. Bầu trời cũng khiến mặt biển xanh thẫm. Và những ngọn núi như vừa từ dưới biển nhô lên, sáng sủa, mới mẻ. Nếu đứng từ một nơi nào đấy thật cao nhìn xuống, chắc sẽ có cảm giác như  vùng biển này đang có một đàn trâu đen khổng lồ đằm mình, tắm mát.

            Đứng đằng mũi tàu, thuyền trưởng Tòng chăm chú nhìn xuống biển. Bao giờ mới đến lượt tàu của Tòng có nỗi thấp thỏm đợi chờ ra đi như tàu của Lê? Giá đổi được cho nhau. Cùng ra trường nhưng Lê may mắn hơn Tòng, ngay ngày đầu đã được về đoàn 25 vì thế anh chàng được đi nhiều, biết nhiều, được đến lắm vùng biển mới. Còn Tòng, những tháng ngày qua chỉ loay hoay ven biển miền Bắc. Vì vậy được điều khiển con tàu rong ruổi trên vùng biển thật xa, thật lạ vẫn là ước ao của Tòng. Máu phiêu lưu, thích đi đây đi đó, thích mạo hiểm vốn sẵn trong anh từ nhỏ, được kích thích trong những ngày làm lính hải quân, càng khuấy mạnh khi về đoàn, nơi mà Tòng biết có thể thỏa mãn lòng hiếu kỳ của mình. Anh cũng không lý giải được tại sao như thế. Một chàng trai ra đời ở trung du, cái vùng đất chỉ có đồi và đồi, tầm nhìn bị bao chắn; biển là một cái gì rất khái niệm và trừu tượng, lại như thể sinh ra dể gắn bó với biển. Nhưng điều ấy có gì lạ!. Biển hợp với tính cách anh! Biển không thích đơn điệu, biển ồn ào, dữ dằn, phóng khoáng nhưng lại mát mẻ, ấm áp. Biển cởi mở, lúc nào cũng bộc lộ hết mình, đúng mình cả nết tốt lẫn tính xấu. Vì thế chẳng phải ít người không yêu biển, nhưng điều này thì chắc nhắn, không ai không kính nể biển.  Kính nể cái khối nước bao la, sôi động ấy.

           Tòng đưa tay lên mặt che nắng để nhìn xa hơn. Phía trước vãn một khối đá khổng lồ màu ghi như bao hòn núi khác trên vịnh. "Ngụy trang khá lắm!". Tòng nghĩ và quay lại nhìn tấm lưới anh em thủy thủ vừa chằng nứu trên vòm đá, rũ thõng xuống mặt nước bao lấy con tàu. Anh hài lòng: lũ máy bay Mỹ làm sao có thể phát hiện ra!

           Tòng bước về phòng thuyền trưởng. Nhưng vừa tới buồng lái, anh đã vội nhào ra cửa, nhìn lên: tiếng động cơ máy bay bất thần rú vang, lượn ào qua ngọn núi.
           - Ai ở đâu, ngồi nguyên đó. - Tòng quát to khi thấy thấp thoáng vài thủy thủ chạy lên boong.
            Chiếc máy bay mất hút. Tiếng động cơ nhanh chóng biến theo. Tòng hô:
           - Tất cả vào khoang!.
            "Thằng này đi ăn lẻ, đánh lén, hay trinh sát?", Tòng giỏng tai nghe, mắt nhìn bầu trời. Chính trị viên Đạm từ phòng bên bước tới, đứng cạnh. Hai người cùng im lặng, lắng nghe. Hình như lẫn trong tiếng sóng có tiếng máy bay. Rồi tiếng động cơ rõ dần. Tòng nhìn qua mắtlưới ngụy trang: ba chiếc máy bay lấp loá nắng, bay theo đội hình tam giác, từ phía đông về hướng đất liền. Tiếp đến một tốp nữa. Lại một tốp nữa. Lát sau có tiếng súng, tiếng bom từ bờ dội ra.

           Chừng năm phút, lũ máy bay tan tác đội hình, hớt hải bay ra biển. Rồi một tiếng rốc két nổ đanh trên đỉnh núi. Bụi, khói bốc lên mù mịt. Một chiếc vòng lại, sà thấp, phóng thêm hai qủa đạn nữa. Tòng chạy tới mũi tàu, nhìn về phía hòn núi có tàu của Lê nép ở đó. Chúng phóng vu vơ hay có chủ định? Chẳng lẽ bọn địch tinh khôn tới mức đánh hơi ra quanh khu vực này có dăm ba con tàu của hải quân neo đậu?


« Sửa lần cuối: 17 Tháng Sáu, 2009, 10:20:46 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #21 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 04:16:01 pm »


          Tòng cho kiểm tra lại lưới ngụy trang, dấp thêm mấy cây dứa xanh vào các vị trí cho thật hợp lý, rồi quay sang phía Đạm:
          - Tôi đề nghị cho anh em chuẩn bị vũ khí anh ạ.
          - Đồng ý, nên đề phòng trường hợp bị lộ, phải chơi bài ngửa với chúng nó.
          Thủy thủ được lệnh dưa vũ khí lên boong. Thuyền phó Xuyên tất tưởi chạy tới buồng lái:
          - Trên cho lệnh bắn rồi hả, các anh?
          - Nhắc anh em, cậu nào bắn khi chưa có lệnh, tù đấy - Tòng đe. Khang và Mánh khệ nệ khênh khẩu trung liên dặt đằng mũi. Giữa boong, mấy thủy thủ đang kích, kê và kiểm tra khẩu 12 ly 7.

           Ngoài khơi, tiếng máy bay ầm ĩ vọng tới. Hai chiếc F.4 từ sau ngọn núi lao lên, bay về phía tây, rồi đột ngột quay lại lướt vòng trên mặt vịnh. Chúng nghiêng cánh, lơ láo vòng sang ngọn núi có tàu T.67 của Lê. Tòng chột dạ : hay là chúng săn tìm chiếc tàu ấy? Chẳng lẽ !... Nhưng chỉ lượn một vòng và dường như không phát hiện thấy gì, chúng hạ độ cao, lao nhanh về hướng tàu T.37. Tòng có cảm giác như ngay lập tức chúng sẽ đâm cắm vào ngọn núi. Rất nhanh, như có một linh tính mách bảo: chúng phóng rốc két. Tòng cúi người:
          - Nằm cả xuống - Anh hét.
           Tòng vừa kịp nhận ra bên cánh chiếc máy bay một tia chớp thì tai đã ù đặc. Từ vòm đá bao quanh phía trên con tàu, bật ra tiếng nổ vang, đanh. Không khí như bị nén lại. Khói ùa xuống tàu. Đất đá bắn rào rào.
          - Không được bắn! - Tòng hô - Chúng phóng hú họa thôi!

           Hai chiếc máy bay lộn lại. Có lẽ chúng nhận ra điều gì liền xả một loạt đạn vào vòm đá. Cây lá bén lửa, cháy rừng rực, rơi xuống tấm lưới. Tro bay lả tả. Chiếc máy bay đi đầu bổ nhào. Loạt bom nổ cách tàu không xa. Nước cuộn lên hắt tạt vào chân núi. Thân tàu lắc mạnh. Tấm lưới ngụy trang đứt dây, thõng xuống. Rồi rơi hẳn. Khối thép trơ ra bên vách đá. Từng chùm lửa từ trên núi tiếp nối nhau bay xuống. Nhiều chỗ trên boong bốc cháy. Đạm chỉ huy dập lửa. Tòng chạy khắp nơi trên boong. Chỉ vài quả đạn xỉa trúng vòm đá là đi đứt? Bọn này chưa bỏ cuộc đâu! Đã bén mồi là chúng bám đến cùng. Chúng không thể quẳng bom sát chân núi, nhưng rốc két thì hãy coi chừng!

           Hai chiếc máy bay lượn vòng trên núi, thi nhau gầm rít, bắn rốc két, ném bom. Rồi một chiếc tách ra, mở rộng vòm lượn. Từ xa, nó đâm thẳng vào chính diện vòm núi. Loạt dạn lập tức khoan vào vách đá, trước mũi tàu. Tòng chững lại trên boong chừng một giây. Đầu nóng ran. Hy vọng vào sự may rủi, hay cơ động tàu ra nơi khác? Mà đi đâu? Nếu ló ra khỏi vòm đá, con tàu tức khắc ăn bom. Mà nán lại?... Chỉ một quả rốc két! Chiếc máy bay thứ hai cũng như chiếc đi đầu, lựa thế, bắn xối xả vào chính diện vách đá. Chưa kịp trấn tĩnh, Tòng đã nom rõ từ trên cao, một tốp máy bay nữa đang đảo qua đảo lại phía ngọn núi có tàu của Lê. Tòng choáng người.

          - Nổ máy! - Anh lệnh gấp - Chặt neo! - Đồng chí Xuyên chuẩn bị hỏa lực, chúng vào đúng tầm, bắn.!
          - Trên trời, lũ máy bay đang vờn lượn.
          - Ta vào bờ chứ? - Đạm hỏi.
          - Cần phải thế!
           Khang và một chiến sĩ nữa đang bổ rìu xuống dây neo. Đạm giằng lấy. Anh chặt liền hai nhát. Chiếc xích sắt bung ra. Tiếng máy tàu nổ ầm ầm. Khói phả đen đặc.
           Tòng nhảy vào buồng lái, lệnh:
           - Tiến một!
           Con tàu trườn ra khỏi chân núi, quay mũi.
           - Tiến hai !

           Lũ F.4 lập tức dồn lại, bám con tàu. Chúng nhào đảo Đạn từ tàu vọt lên. Máy bay không dám xuống thấp. Trung liên 12 ly 7 bắn xối xả. Trán Tòng đẫm mồ hôi. Chốc chốc anh lé mắt nhìn sang hòn núi bên cạnh: nơi đó vẫn chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ bọn địch đã phát hiện ra mục tiêu. Anh thấy an lòng. Con tàu chạy ngoằn ngoèo chít chi, lúc nhanh, lúc chậm, luồn lách giữa những hòn núi trên vịnh.

            Ngoài boong, Đạm và Xuyên dang chỉ huy đánh trả. Đạn bắn lên rất rát. Xuyên và mấy thủy thủ đảm nhiệm khâu 12ly7. Đằng mũi tàu, khẩu trung liên của Mánh nổ giòn từng loạt.

            Bom đạn vãi xuống quanh tàu. Mặt nước sôi lên. Giữ nguyên hướng đi. Tòng có thể đưa tàu vào bờ nhanh hơn. Nhưng phía trước có tàu của Lê. Tòng đánh mạnh tay lái. Con tàu hơi nghiêng, quặt sang phải. Tòng cho mở hất máy. Con tàu chạy sát những bờ đá. Máy bay vẫn gầm rú. Địa hình trên vịnh không dễ gì tạo cơ hội để chúng cắt bom. Chúng chỉ chúc xuống bắn. Một loạt đạn nổ cạnh buồng lái. Tiếng Khang hét to:
           - Anh Mánh!
          Tòng không rời tay khỏi vô lăng, toài nửa người ra cửa: Mánh loạng choạng đổ xuống cánh tay Khang. Tòng thoáng thấy vết máu.

           Phía đuôi tàu, một chiếc máy bay đang cắm xuống. Tòng ngoắt vào, dùng sức đánh hết lái về bên trái. Con  tàu nghiêng mạnh, tưởng ụp xuống biển. Chiếc máy bay nhỡ đà, chùm đạn lia xuống mạn phải. Cột nước dựng cao.
          - Khang đưa đồng chí Mánh xuống khoang. Hóa thay vị trí trung liên - Tiếng Đạm nói rất nhanh - Bộ phận mặt bong dập lửa! Bình tĩnh.

           Con tàu rạch nước, đâm thẳng. Lúc này Tòng đã nghe rõ tiếng súng cao xạ trên bờ. Lũ máy bay biết rằng không thể hiểu, đành vờn phía ngoài. Tòng đưa tàu áp sát một chân núi. Lúc đó nắng đã tắt.
          Khi con tàu dừng hẳn, Tòng buông tay lái, lao ra cửa. Anh vội vã thả mình xuống khoang máy: Mánh đang ở đó.


*


           Về khuya, một chiếc xuồng con hớt hải cập vào mạn. Khang lò dò bước vào phòng thuyền trường. Anh chàng hốc hác, dáng vẻ mệt mỏi, đôi mắt đờ dẫn. Tất cả sự tếu táo, nhộn nhạo ngày thường đã biến mất.
          - Báo cáo thuyền trưởng - Giọng Khang buồn bã... Báo cáo... Anh Mánh... Anh Mánh đã tắt thở.
          - Tắt thở? - Tòng chồm tới, nắm lấy hai bả vai Khang, lắc mạnh: Sao?
          - Báo cáo, đến bệnh viện, anh ấy vẫn tỉnh, còn nói đùa rằng. "Y tá, hộ lý, gái vùng mỏ, mắt cô nào cũng đen lay láy?". Hai giờ sau thì anh ấy... đi.

           Tòng buông thõng hai tay, quay mặt, ngồi rũ xuống. Hình như có một bàn tay vô hình nào đó đang bóp chặt trái tim anh. ... Trong phòng lặng im. Chợt Tòng đứng dậy:
           - Gọi cho tôi thuyền phó Xuyên!
           - Rõ!
           Xuyên bước vào phòng thuyền trường, đôi mắt ngơ ngác.
           - Đồng chí thay tôi chỉ huy tàu...
           Tòng chỉ nói thế rồi bước ra mạn, nhảy xuống chiếc xuồng.

           Trời tối như bưng. Những ngọn núi đen trũi, in đậm trong đêm, đứng lặng. Tòng cứ nhằm hướng có cái dải trăng trắng mờ mờ mà anh biết chắc là bờ, thả mạnh mái chèo. Đầu anh rối lên bao ý nghĩ. Mánh không còn nữa. Cái chết ấy có phải do Tòng gây ra? Chiều nay Tòng xử trí đúng hay sai? Hành động của anh phải chăng là liều lĩnh? Chẳng lẽ cái ý muốn thoát ra khơi nơi mà tin chắc rằng nếu tiếp tục neo lại đó, con tàu nhất định sẽ làm bia bất động cho lũ máy bay đến đánh phá là việc làm đáng chê trách? Hơn nữa, còn con tàu của Lê? Lúc đó quả thực Tòng đã sợ hãi khi nghĩ rằng tàu của Lê cũng có thể rơi vào tình cảnh như tàu T.37. Chiếc tàu ấy đã đầy ắp vũ khí và sắp ra đi. Mà tàu anh thì lộ rồi! Phải chăng như vậy là có lỗi, là vi phạm kỷ luật? Nếu anh cứ cho tàu trụ lại dưới vòm đá? Khi ấy tránh sao thương vong và con tàu cũng tránh sao khỏi hư hại. Rồi còn tàu của Lê? Xét về lý, anh hoàn toàn trắng án. Anh đã chấp hành đúng lệnh, dù máy móc. Và điều ấy sẽ bào chữa cho anh. Nhưng chẳng lẽ lại chọn một sự thuận lợi nhất cho riêng cá nhân mình? Anh Mánh ơi, tôi không nghĩ là mình sai, nhưng thật đau lòng và trớ trêu, anh đã không còn nữa. Sự thể lại tàn nhẫn vậy sao? Chẳng lẽ anh ra đi nhanh thế? Khi đưa anh xuống xuồng để anh Đạm và Khang chở vào bệnh viện, anh còn bảo: "Máy tàu mình tốt đấy thuyền trưởng ạ.Tiếng nổ của nó nghe giòn lắm. Chúng ta có thể đi tới tận Cà Mau"  vậy mà... chúng mình chưa được cùng nhau đi một chuyến thật xa. Sao vô lý, anh Mánh?

            Trái tim Tòng đau thắt. Cái dáng của Mánh hôm nào lại hiện ra: khuôn mặt lem luốc dầu mỡ cứ nhìn Tòng mà cười. Nụ cười hết cỡ, thanh thản và sung sướng làm sao!: "Máy tốt rồi! Máy tốt rồi! Tiếng reo ấy vẫn còn như dội lại đâu đây... Tòng cúi gập người, ráng chèo. "Thuyền trưởng đừng nghĩ rằng chúng tôi bằng lòng. Chẳng ai có chút tự ái lại bằng lòng, khi cảm thấy mình phải đứng ngoài cuộc....Nghĩ tới anh Tài, anh em đã hy sinh, thật xấu hổ với sự chờ đợi vô lý này. . . Chữa được hay không là ở chỗ ta có muốn chữa hay không!...Chỉ một tuần là chúng mình chữa xong máy thôi thuyền trưởng ạ. Chúng ta lại ra khơi, kém gì ai..."

« Sửa lần cuối: 16 Tháng Sáu, 2009, 08:53:47 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #22 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 04:23:28 pm »

       
            Xuồng chưa chạm bờ cát, Tòng đã nhào lên bãi. Anh chạy tới bệnh viện. Ở đây người ta giữ anh lại phòng thường trực. Chị y tá cho biết rằng Đạm di nhờ xe tô về đơn vị báo cáo và lo việc chôn cất, còn Mánh đã được đưa xuống nhà xác.

          Tòng đờ người. Anh lặng im ngồi xuống ghế như pho tượng, nghĩ miên man. Cạnh đó, ngọn đèn bằng hạt đỗ chị y tá vừa đưa tới tỏa sáng mờ mờ. Bên ngoài, trời tối như mực. Đêm đã khuya lắm. Phòng thường trực lặng ngắt.
          - Đồng chí này! - Tòng đứng lên khi thoáng thấy người y tá bước qua cửa. - Nhà xác ở đâu?
           Người y tá còn trẻ dừng lại nhìn Tòng dò xét.
          - Phía sau ngọn đồi! - Cô nói, đôi mắt nhìn Tòng, vẫn chưa hết ngạc nhiên - Nhưng anh hỏi... có việc gì?
          - Tôi là thuyền trưởng...
          - Vâng, anh cứ nói.
          - Chị cũng biết đấy, tôi cần gặp anh ấy.
          - Cần gặp ai? Gặp ai?
          - Người lính thủy các chị vừa đưa xuống đó!
          - Ơ kìa, chẳng lẽ anh không rõ là anh ấy đã...
           Cô y tá mở to mắt, kinh ngạc nhìn thẳng vào mặt Tòng, rồi vội vã bước nhanh như chạy.

           Tòng quay vào thổi tắt ngọn đèn rồi ra khỏi phòng thường trực. Anh lần về phía sau ngọn đồi. Tòng đi chậm. Thỉnh thoảng dừng lại để nhận hướng. Xung quanh ngọn đồi, một vài thân cây đứng lặng. Gió hiu hiu. Chốc chốc, trong những bụi rậm trước mặt có tiếng động vài một con chuột từ đó lao ra. Ngọn đồi nhoà trong đêm. Tòng đã nhận ra gian nhà lá, tường gạch đứng chơ vơ lưng chừng đồi. Hai bên trống trơ. Phía sau nhà, lúp xúp vài ba bụi cây, bất động. Tòng bước nhẹ, quờ quạng tìm cửa. Thoảng có mùi hương, mùi đất ẩm đưa ra. Anh bước vào. Gian nhà tối om, lạnh lẽo. Tòng bật lửa. Ngọn lửa chập chờn run rẩy. Mánh nằm đó, trên bệ xi măng. Chiếc chăn chiên phủ kín người. Tòng bước tới, quỳ xuống bên cạnh. Anh kéo chăn rồi đưa tay vuốt lên mắt người trưởng máy. Dưới ánh lửa nhạt nhoà, khuôn mặt Mánh quắt hóp, vàng xanh, toàn thân cứng lạnh.

           Tim Tòng lại nhói đau - Dù thức về cái chết của Mánh khiến anh thấy tê buốt. Anh ngồi lặng như một khúc gỗ. Bốn bề im ắng. Cuối cùng anh nói, giọng tắc nghẽn:
           - Anh Mánh ơi, Tòng đây. Tòng đến với anh đây! ... Tòng có lỗi  không, anh Mánh?




Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #23 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2009, 09:58:50 am »


14


           Tàu T.67 nhổ neo lúc nửa đêm. Nó lặng lẽ trườn trên mặt vịnh. Chẳng thủy thủ nào nghĩ rằng cần ngủ vào giờ này, dẫu đêm đã khuya. Những người chưa đến ca trực đều tụ trên boong, ngồi nhìn ra hai bên mạn. Đã đi nhiều chuyến, song phút con tàu bắt đầu thực hiện cuộc hành trình, với mọi người vẫn có một cái gì thiêng liêng. Và dường như ai cũng muốn sự thiêng liêng đó ngấm vào mình thật đậm, thật sâu.

           Con tàu lầm lũi lách giữa các kẽ núi. Mặt nước đen đặc Phía dưới, một vệt sáng mờ, lấp loá ánh lân tinh. Những hòn núi neo lặng trong đêm trông nghiêm trang như các vị thần đứng canh biển.

           Mặt boong sáng lờ nhờ. Thủy thủ ngồi bên nhau, yên lặng. Không ai muốn quấy phá suy nghĩ của người khác. Ông Tám Thạnh ngồi đằng mũi tàu. Ông vẫn quen ngồi vị trí đó, mặc gió biển phả vào mặt. ông vốn thích thế. Miệng rít thuốc, mắt ngóng ra xa. Hôm nay ông mặc bộ bà ba bằng vải ni lông màu cánh gián, may theo kiểu mới nhất của dân đi biển miền Nam. Loại vải này đang thịnh hành trong đó, hàng ế của các nước tư bản tuồn vào, rẻ như bèo. Bộ đồ hơi bí nhưng đi biển tiện lợi: chóng khô. Cang ngồi cạnh, cằm tì lên gối ông Tám, tư lự ngó xuống biển. Anh chàng diện áo kẻ ca rô màu thẫm, thứ áo thủy thủ nước ngoài vốn chuộng, chân bó trong chiếc quần hẹp ống màu sáng, tóc để chờm quá tai. Bộ quần áo khiến Cang trẻ ra và trông khá ngộ nghĩnh, ra dáng một tay ăn chơi có hạng.

           - Cháu cứ tưởng vài ba tuần nữa mình mới đi! – Cang nói, hai tay ôm lấy bắp chân ông Tám.
           - Bộ mày không muốn vô sớm?
           - Là cháu nói thế. Mọi bận, nhận xong vũ khí, chờ hàng tháng sau mới lên đường.
           - Phụ thuộc vào bến chớ. Bến động làm sao đi?
           - Chú biết lần này ta vào đâu không? - Cang hỏi nhỏ, khuôn mặt ngước lên nhìn ông Tám.
           - Tao cũng... không rành lận?
           Ông Tám trả lời tỉnh queo. Từ khi con tàu nhổ neo, ông đang nghĩ tới nơi ấy, cái nơi lần này ông đưa vũ khí về : Hòn Hàng - quê ông. Vất mẩu thuốc xuống nước. Ông quàng cánh tay to thô của mình lên vai Cang, âu yếm:
           - Mà nóng ruột chi... vài ba bữa tới, thằng Lê sẽ phổ biến. Mình làm thủy thủ, biểu đi đâu là đi, vô đâu cũng vậy. Nè, tao nghe thằng Linh nói rằng mày sợ ma hả, Cang?
           - Đâu có chú ... chỉ sơ sơ.
           - Hồi bằng tuổi mày, tao đã đi lưới một mình. Một người ruột thuyền trụ giữa khơi suốt đêm. Làm chi có ma, mà có thì nó sợ mình, chớ mình đâu có ngán nó. Con gì cũng thua con người hết.
           Cang ngồi im. Hai người lại ngóng ra biển. Những ngọn núi thẫm đen lùi dần về phía sau. Bầu trời đầy sao, những ngôi sao về khuya sáng mọng, lấp lánh. Giữa boong tàu, dăm ba thủy thủ ngồi trên đống lưới tựa lưng vào nhau. Lưới còn mới, chưa có mùi tanh. Bộ lưới này đã đi "đánh cá" với họ mấy chuyến. Mừng mặc áo thụng đuôi tôm thả kín mông, vẽ chim cò. áo rộng, quần chật nên trông không cân xứng nhưng đó là "mốt". Như một thói quen, đã ngồi bên Hải là thể nào Mừng cũng tựa vào anh, đêm nay cũng vậy, Mừng ngoẹo đầu xuống vai Hải, ngửa mặt nhìn sao. Hải đánh quần soóc, áo cộc tay màu ghi. Đã ba con nhưng diện vào còn thanh niên lắm! Chiếc mũ nồi úp trên đầu, trông anh giống như diễn viên hơn là một thủy thủ chuyên nghề kéo lưới. Tuy thế chiếc mũ nồi ấy cũng tạo cho anh cái vẻ ngổ ngáo cần thiết. Bộ ria không làm cho Hải già thêm mà có cảm giác như đây là một anh chàng đua đòi, học làm sang.

            Con tàu sơn màu "be" nhạt và cái dạng hoàn toàn thành một con tàu cá nước ngoài. Trên boong cũng cẩu, cũng lưới và những đồ nghề đánh bắt cá khác. Lúc này nó cần ra vùng biển quốc tế trước khi trời sáng. Tất cả điều ấy đã được tính toán.

            Lê đứng trong buồng lái, mắt đăm đăm nhìn vào mảng tối phía trước: chỉ một sơ suất nhô là dễ dàng đưa tàu vào đá
           - Phải, năm độ?
           - Năm độ phải!
           Linh nhắc lại và đánh tay lái theo lệnh thuyền trưởng. Buồng lái tối bưng, chỉ có chút ánh sáng rất mỏng hất lên chiếc la bàn. Linh là chiến sĩ hàng hải cứng, nên được Lê trực tiếp phân công lái trong thời gian tàu đi trên vịnh. Anh chàng này bẻm mép, thông minh. Cánh thủy thủ vẫn nói đùa rằng thằng Linh say đứng bên tay lái như say đứng cạnh người yêu. Linh có thể đứng lái suốt đêm mà vẫn tỉnh.

           Tàu ra khỏi cửa vịnh. Mặt biển sáng hơn. Núi thưa dần. Lê thấy đỡ căng thẳng, đôi mắt đã có thể nghỉ ngơi chút ít. Anh ngồi xuống ghế và châm thuốc hút. Lê không nghĩ con tàu lại đi trong đêm nay. Buổi sáng, như thường lệ anh nhận được điện của đoàn hỏi tình hình sức khỏe anh em. Cuối chiều, khi nắng vừa tắt, một chiếc ca nô từ trong bờ chạy ra, cập vào mạn, Lê chưa kịp nghĩ có việc gì đã thấy tư lệnh quân chủng nhảy lên boong. Sau ông là đoàn trưởng Tư. Kế đó là đồng chí đại úy bí thư riêng của tư lệnh. "Có chuyện rồi" Lê nghĩ nhanh. Tư lệnh bắt tay hết lượt các thủy thủ rồi ông đi xem xét khắp tàu. Vẫn dáng đi nhanh nhẹn, dứt khoát. Ông xuống hầm để hàng, dừng lại đó khá lâu, rồi vòng lên buồng lái, xuống khoang máy... Trông ông rất vui, có lẽ tất cả những gì vừa thấy khiến ông hài lòng. Ông ra boong, ngắm ngó một lúc, rồi bước lại phía ông Tám Thạnh:
           - Độ này cái khớp của anh đau nhiều không, anh Tám? -
           Tư lệnh vui vẻ kéo ông Tám ngồi xuống đống lưới.
           - Dạ, báo cáo thủ trưởng, những hôm trở trời có nhức chút ít, nhưng tui còn mạnh. Vẫn đi biên được. Và cũng ham đi .
           - Tôi có cái này biếu anh, đi biển nhấm nháp cho vui.
           Tư lệnh với chiếc túi xách đồng chí bí thư vừa mang lại, lấy ra chai rượu rắn đưa tận tay ông Tám.
           - Loại này nặng, chắc hợp với anh.
           - Dạ, được thủ trưởng quan tâm, xin cám ơn! – Ông Tám đỡ lấy chai rượu, nét mặt xúc động.
           - Máy tàu tốt chớ, anh Tám? Anh em trong cơ quan đồn rằng, anh chữa máy giỏi lắm, chỉ nghe qua tiếng nổ là biết hỏng chỗ nào, có không?
           - Dạ thưa, làm máy đã nhiều năm nên cũng có chút ít kinh nghiệm. Tui ít chữ nghĩa, hồi vô rừng theo cách mạng, mới được học loa qua, nên chỉ dựa vào cái tai, cái mắt, cái tay mình. Anh em trẻ bây giờ được học kỹ, họ giỏi hơn tui nhiều.
          - Chuyến này đi bến mới, khó vô đó anh Tám?
          - Dạ!
          - Trên Bộ tư lệnh cũng lo lắm, nhưng bọn tôi tin ở anh, tin ở anh em.
          - Cũng nghe thuyền trưởng Lê phổ biến rằng Bộ tư lệnh rất quan tâm đến chuyến đi này. Anh em tui có bảo ban nhau cố gắng, xin hứa là sẽ đưa hàng vô tới nơi an toàn.
          Tư lệnh quay sang Lê:
          - Gọi anh em ngồi quây cả đây luôn. Chẳng phải tập hợp, báo cáo gì nữa. Tôi chỉ nói với anh em vài lời ngắn thôi.

          Từ lúc thấy thủ trưởng Bộ tư lệnh xuống, thủy thủ của tàu hơi mất tự nhiên, đứng từ xa rụt rè nhìn ông. Nhiều người chỉ nghe nhắc đến ông, hôm nay mới được gặp nên ngài ngại. Nhưng thấy ông xuề xoà, vui vẻ và xởi lởi thì cái mặc cảm xa cách giữa cấp trên và cấp dưới sớm mất đi. Khi ông gọi, mọi người liền sà tới ngồi vây xung quanh.
          Tư lệnh chỉ vào Hải:
          - Đồng chí đi được mấy chuyến rồi?
          Hải toan đứng dậy, tư lệnh ra hiệu cho anh cứ ngồi.
          - Báo cáo, ba chuyến, kể cả chuyến đi trinh sát vừa rồi !
          - Còn đồng chí? - Ông hỏi Cang.


Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #24 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2009, 10:03:30 am »


          Cang hơi lúng túng, mặt đỏ bừng. Anh chàng trả lời lí nhí, không được tự nhiên:
          - Dạ, thưa hai chuyến ạ ... cháu là lính mới.
          Tư lệnh quay về phía Lê:
          - Có ai đi chuyến này là lần đầu tiên?
          - Báo cáo tư lệnh, không có ạ - Lê trả lời.

           Vậy các đồng chí toàn là lính cựu, có kinh nghiệm cả rồi... Hôm nay tôi thay mặt Bộ tư lệnh trực tiếp xuống trao nhiệm vu cho các đồng chí, đồng thời chia tay với anh em luôn. Đáng ra cùng đi với tôi có cả chính ủy. Nhưng trước lúc ra xe, chính ủy có điện gọi đi họp trên Bộ gấp - Chính ủy gửi lời thăm tất cả các đồng chí và rất lấy làm tiếc là không được tới chia tay trước khi tàu lên đường. Dịp khác vậy... Công việc cụ thể đồng chí Lê và đồng chí Lượng sẽ phổ biến trên đường đi. Tôi chỉ nhắc một điểm: Bọn địch chẳng lạ gì công việc của các đồng chí và chúng không từ một thủ đoạn nào để ngăn chặn, nhàm làm thất bại sự chi viện của chúng ta cho chiến trường. Do vậy các đồng chí sẽ gặp không ít khó khăn, thậm chí phải hy sinh. Đương nhiên, tôi không nghĩ một ai ngồi đây lại chọn phương án ấy. Nhiệm vụ của các đồng chí nặng nề đấy, chắc mọi người đã ý thức được như vậy... Dịp này, trong đó lại đang mùa bão... Song, Bộ tư lệnh tin vào tất cả anh em có mặt ở đây. Đêm nay tàu các đồng chí sẽ xuất phát.

          Tư lệnh ngừng lại. Boong tàu lắng đi một lúc. Lê biết tư lệnh không thích nói dài, không muốn nói những lời sáo rỗng động viên chung chung, hơn nữa sự có mặt của ông đã nói đủ cả.
          - Xuống chia tay với anh em - Ông tiếp - tư lệnh chỉ có ít thuốc, ít trà để chúng ta cùng vui...

          Đồng chí bí thư bỏ ra năm bao thuốc Thăng Long và hai gói chè. Tư lệnh bóc thuốc, chia cho mỗi người mấy điếu Không khí boong tàu vui vẻ khi có khói thuốc. Mọi người vừa phấn khởi được tư lệnh tới thăm, vừa nao nao vì biết rằng ngay hôm nay con tàu sẽ lên đường. Tư lệnh cùng hút thuốc, ông hỏi han rất nhiều chuyện. Thủy thủ trả lời đã tự nhiên hơn.

          Đoàn trưởng Tư "máy" Lê ra boong, hỏi:
          - Tuần tới mình sang làm việc với nhà máy đóng tàu nhắn gì Thúy không?
          - Cách đây mấy hôm, tôi có viết thư về. Nếu gặp, nhờ thủ trưởng báo hộ rằng tôi vẫn khỏe.
          - Có vậy thôi à? - Ông vỗ vai Lê và cười - Được, mình sẽ lựa lời nói hộ ...

          Giữa boong tàu, thủy thủ sán lại gần tư lệnh quân chủng. Không rõ mọi người đang nói gì, chỉ nghe tiếng tư lệnh cười rất to.
          - Được nếu chuyến này thắng lợi trở về, nhất định tư lệnh sẽ xuống thăm và cùng anh em uống rượu. Uống tới say nhé. Lúc đó cho phép say.
          - Trên tàu cũng có người không biết uống ạ.
          - Khi vui "bất khả từ ".
          Mọi  người cùng cười. Câu chuyện đang sôi nổi thì đồng chí bí thư tới nói nhỏ điều gì đó với tư lệnh. Ông đứng dậy, mọi người cũng đứng dậy theo.
          - Tôi bận - Ông nói - Một lần nữa chúc các đồng chí gặp nhiều điều may mắn, mang thắng lợi trở về. Bộ tư lệnh và đoàn dõi theo các đồng chí từng giờ...
          Trước khi xuống ca nô, tư lệnh nắm chặt tay Lê và Lượng hồi lâu.
          Chiếc ca nô đi xa rồi, mọi người vẫn đứng trên boong ngóng theo.

          Công tác chuẩn bị rời bến được tiến hành khẩn trương. Lượng chạy đến các bộ phận nhắc nhở mọi người đốt hết thư từ tài liệu...

          Thuyền phó Xuân kiểm tra hệ thống ngòi nổ: các khoang đã được ém sẵn bộc phá.

          Hai giờ sau, chiến sĩ thông tin đưa cho Lê bức điện của trực ban tác chiến. Lê lướt nhanh hàng chữ:
"Giờ G không đổi - Liên lạc theo quy định. Mật ngữ: bảng hai - Hướng đi: phương án một".

           ...Con tàu đã ra khỏi vịnh. Mặt biển trải mênh mông. Bóng tối vẫn phủ kín biển nhưng tầm nhìn đã xa hơn, không lo tàu va vào đá nữa. Lê giao quyền chỉ huy cho thuyền phó Xuân rồi bước ra boong. Sao rắc đầy trời, tròng trành. Mặt biển mờ mờ, rộng hun hút, đường chân trời nhoè trong sương. Gió thổi qua boong lành lạnh. Lê ngồi xuống đống lưới, cạnh mọi người. Tiếng máy tàu trong đêm nghe đều đều, đơn điệu, có cảm giác như âm thanh ấy từ đáy biển dội lên. Chợt tiếng máy nổ to hơn: Lê biết thuyền phó Xuân đã cho tăng tốc độ. Con tàu lắc lư lầm lũi đi về hướng đông.

           Bên cạnh Lê, Mừng và Hải đang rủ rỉ trò chuyện. Trước cuộc chiến đấu, hình như người ta thường có nhu cầu tâm sự, thích nói về mình và thích nghe chuyện đồng đội. Những câu chuyện quê hương, chuyện gia đình. Giọng Mừng tò mò:
          - Thế cưới chị Thơm xong là anh nhập ngũ ngay à?
          - Chừng nửa năm sau đó.
          - Hồi mới đi, chắc nhớ lắm?
          - Cứ lấy vợ rồi biết!... Đã mấy lần xuýt trốn về đấy nhé, là nói thời kỳ đầu ấy. Cậu yêu rồi hả?
          - Ở nhà mẹ cũng dập dạp cho mấy đám, nhưng tôi chưa ưng. Chị Vui thì lần nào biên thư cũng khoe rằng, cùng công tác với chị có một cô hiền lắm, được cả người lẫn nết; chị bảo là chị đã nói hết về tôi với cô ta, chỉ cần có dịp qua đó một lần, hai bên giáp mặt nhau là xong. Nhưng đã có dịp nào? Mẹ thì giục riết lắm. Nghĩ cũng tội, già rồi cứ phái lọm cọm một mình. Dăm bữa nữa tháng chị Vui mới đảo qua, chị cũng bận, với  nữa còn chồng, còn con, còn bố mẹ đàng anh ấy chứ.
          - Bố cậu mất năm mẹ cậu bao nhiêu tuổi nhỉ? - Hải hỏi.
          - Tôi cũng chẳng rõ lắm, nghe kể lại là năm đó chị Vui lên bốn, tôi chưa đầy năm. Nay chị Vui hai bảy, mẹ tôi năm mươi. Như vậy năm ấy mẹ tôi chừng hai hai, hai ba tuổi.
          - Rồi cứ ở vậy nuôi con?
          - Cũng có mấy đám rập rình đánh tiếng, nhưng bà không nghe. Phần vì thương tôi với chị Vui, không muốn hai đứa bơ vơ hoặc phải sống với bố dượng, phần vì, điều này thì tôi rõ lắm, mẹ không thể nào quên được bố. Đã hai bốn năm rồi mà hình ảnh ông có bao giờ nhoà trong tâm trí bà. Hồi còn ở nhà, đêm nào trước lúc ngủ, mẹ cũng kể chuyện về bố, về mối tình của hai người cho chị em tôi nghe. Bà kể suốt, không chán và trong giọng kể của bà, tôi nhận ra một cái gì nuối tiếc, một sự mất mát lớn lắm không sao bù đắp được. Bố tôi lành, ít nói nhưng cục tính; đã có lần hất cả mâm cơm ra sân, nhưng sau đó thì ân hận; cứ lầm lầm lì lì làm hết việc trong nhà như để chuộc lỗi. Vì thế mẹ tôi giận, mà thương lắm. Hai người là bạn chăn trâu từ thuở nhỏ. Bằng tuổi. Mỗi lần ra đồng, bao giờ bố cũng thủ sẵn, lúc thì củ khoai, lúc thì mẩu sắn cho mẹ. Tuổi thơ của hai người là những ngày dãi nắng trên đồng làng. Sống với bố không lâu, chưa đầy năm năm chứ mấy, nhưng mẹ tôi có cả một bề dày kỷ niệm với ông từ tuổi thơ, chắc vì thế mà bà không thể đến với ai khác nữa. Mà bố tôi chết mới vô lý chứ! Đi bè về, ngã nước, nằm xuống hai hôm rồi mất... Nhanh quá! Người ta bảo là nòi nhà tôi thường chết sớm, ông nội tôi cũng sống có trên ba mươi, nhưng tôi không tin...
          - Ở hoàn cảnh cậu, đáng ra phải lấy vợ sớm - Hải cựa mình trên đống lưới, rồi duỗi thẳng hai chân để Mừng gối lên đó, anh nói nhỏ - Đề cụ vò võ một mình sao đành.
          - Vâng, tôi cũng biết thế, nhưng phải có thời gian chứ? Anh tính quanh năm, suốt tháng, lênh dênh trên biển thế này làm sao lấy. Mà lấy ai? Đành chịu tội với mẹ vậy.

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #25 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2009, 10:06:43 am »


          - Các cậu khó tính, chứ như mình đây, sau cái buổi đào mương về, Thơm hỏi "anh yêu em phải không", thế là nên vợ nên chồng, ăn nhau là ở cái đận sau này, khi đã thành vợ thành chồng; chung sống với nhau sao cho hòa thuận, thương yêu, chứ đâu chỗ cứ phải kén chọn. Có anh nhấp nhổm tới năm sáu đám, khi cưới xong, cãi lộn suốt... Đã ba mặt con, ừ thì dẫu là con gái hết, Thơm chưa một câu nặng lời với mình. Một sự nhịn là chín sự lành, các cụ đã dạy, cứ thế mà sống. Trước đó, mình đâu có nghĩ  rằng sẽ lấy cô ấy. Chẳng qua do cái duyên cái số cả. Cậu cũng vậy, nếu bà chị đã tìm cho đám nào thì cứ gật đi. Chưa về được thì đánh thư về. Đang thời buổi chiến tranh, phụ nữ họ cũng phải thông cảm điều kiện của lính tráng chứ. Mạnh dạn lên, cô ấy chắc sẽ thươngcậu thôi. Nghĩ bà cụ lủi thủi sống một mình, tội lắm. Lúc thường đã một lẽ, còn lúc ốm, lúc đau nữa. Tuổi già như cây khô trước gió, chẳng biết đâu mà tính trước.
          - Tôi cũng đang nghĩ như anh đấy! - Mừng xoay người, dịch sát vào Hải - Mẹ hy sinh cho mình nhiều quá rồi, chuyến này về sẽ liệu...
          - Chà, hoàn cảnh cậu lại chẳng bù cho hoàn cảnh mình: Gia đình có những chín anh em, năm trai, bốn gái, ông bà già còn khỏe. Ông bố mình không giống những ông bố khác. Cưới vợ cho mình xong, ông dựng một căn nhà đầu rìa làng và xua hai vợ chồng ra đó. Không phải chỉ với mình cụ mới bắt ở riêng. Chín anh chị em nhà này đều thế. Dựng vợ gả chồng cho đứa nào xong là ông tống đi hết. Ông tuyên bố sẽ không thèm ở với một đứa nào, mà cũng không cho đứa nào ở với ông. Ông bảo rằng trên đời này chỉ vợ với chồng may ra còn có thể sống được với nhau, chứ con cái, khi đã lập gia đình là không thể sống chung với bố mẹ. Ngẫm ra ông cụ nhà mình có lý. Ở làng mình, khối chuyện cãi cọ, kiện cáo, mất anh mất em cũng chỉ vì cái sự ở chung, ăn chung ấy.
          - Mỗi người một cảnh, có ai giống ai!
           Mừng buông một câu, và cả hai im lặng. Boong tàu đã ẩm hơi sương. Sóng to dần. Con tàu bắt đầu chao lắc.

           Lê không cựa mạnh, cố ý khỏi ảnh hưởng đến câu chuyện của Hải và Mừng. Anh khẽ ngả người xuống đống lưới, mười ngón tay đan lại để dưới gáy. Mặt hướng lên bầu trời.

           Đúng là mỗi người một hoàn cảnh. Lê cũng có hoàn cảnh của riêng mình. Hoàn cảnh của anh không giống như hoàn cảnh của Hải, càng không như hoàn cảnh của Mừng. Bố mẹ anh vẫn còn. Và điều này như thể là sự công bằng ở đời: khi hoàn cảnh gia đình đòi hỏi nhất thiết phải có một người tháo vát để lo toan, gánh vác tất cả công việc thì may mắn thay, người đó trong gia đình anh không ai khác, mà chính là mẹ. Mẹ anh vẫn còn khỏe và sau khi anh đi, gánh lăng gia đình mà trước đây, Lê sớm ý thức đỡ đần phần nào, đã thực sự đặt lên hai vai bà. Đành rằng chị Thành là con cả, nhưng đã lấy chồng, sự giúp đỡ có chăng chỉ thiên về mặt tinh thần, tình cảm. Cũng chẳng thể đòi hỏi nhiều hơn, lẽ đương nhiên chị còn có phận sự đằng nhà chồng. Lê còn hai em nhỏ đang tuổi ăn học và ông bố quanh năm bệnh tật. Năm nay bố anh chắc yếu thêm nhiều lắm. Cụ bị bệnh hen đã lâu, mỗi năm khi mùa đông về, đến khổ: Ông đắp chăn nằm suốt ngày, tiếng thở khò khè tắc bí như có vật gì chẹn ngang cổ, đè lên phổi. Đã thế, có lúc nào chịu buông cuốn sách. Mẹ anh cứ trách rằng sở dĩ ông bị bệnh bởi không biết giữ mình, làm việc quá sức đêm nào cũng chong đèn đọc sách, viết lách tới hai ba giờ sáng. Riêng Lê thì anh hiểu. Đúng là ông bị bệnh vì làm việc quá sức, nhưng ông không thể sống khác được. Công việc là niềm vui, là nỗi say mê, là mục đích sống của ông; và Lê, bằng sự nhạy cảm của mình nhận ra ở ông có một cái gì đó cao hơn đằng sau việc chong đèn ngồi suốt đêm bên bàn. Và điều ấy đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của anh khi bước vào đời...

           Vốn là học sinh nghèo ở trọ nhà một ông đồ, nhưng từ rất sớm, bố anh đã nhận ra rằng nho giáo với nhữngtriết lý tam cương, ngũ thường, tam tòng tứ đức, vân... vân.... đã không hợp nữa. Những kiến thức ấy chẳng thể giúp ích gì cho đời. Ông tằn tiện để được học chữ quốc ngữ, học tiếng Pháp; và văn hóa phương Tây - qua sách báo Pháp đã ập vào ông rất nhanh. Ông tiếp nhận hăm hở như ruộng hạn gặp nước. Ông nghiên cứu triết học Đức, nghiên cứu văn học Pháp, văn học châu âu, và từ những năm trẻ tuổi đã tìm hiểu khá kỹ về tôn giáo, thần học... Hầu như nhượng bộ môn thuộc kiến thức xã hội, ông đều biết đến. Rồi ông viết sách, viết những bài nghiên cứu. Nhiều người, nhất là giới trí thức biết đến ông. Song ông vẫn nghèo. Có đồng xu nào, mua sách báo hết.

           Thế rồi ông thầy đồ, người đã từng cho ông ở trọ, mặc dù không ham thích gì ba cái chữ Tây, cảm phục chí tiến thủ của chàng thanh niên, đã gả cô con gái út cho người đó. Từ ngày về làm bạn với bố, mẹ đã ý thức được rằng từ đây cho tới mãi về sau, gánh nặng gia đình của người trí thức này sẽ trút cả lên bà. Và với niềm vui lặng lẽ xem chút tự hào, bà tự nguyện đưa vai ra đỡ lấy. Ngoài việc viết lách, nghiên cứu, bố anh gần như không biết gì đến chuyện nhà, chuyện cửa. Tất cả những việc ấy mẹ anh lo tất cả. Gia đình anh là một chứng minh đầy đủ về luật bù trừ... Đáng ra bố anh vẫn có thể tiếp tục giảng dạy trường đại học dăm ba năm nữa, nhà trường cũng rất mong thế, nhưng vì sức yếu nên ông đành nghỉ hưu sớm. Mẹ anh báo: "Từ ngày về hưu, xem ra ông làm việc còn nhiều hơn thời đang giảng dạy ở trường. Làm vừa thôi, sắp chết đến nơi rồi ".  Bố anh cười nói vui: "Vì biết mình sắp chết nên tôi mới cố tranh thủ mà làm việc chứ bà". "Từ nay tôi sẽ cấm ông làm việc khuya".  Nói thế nhưng có bao giờ mẹ anh ngăn cản công việc của chồng. Đêm nào cũng vậy, khoảng mười giờ, mười một giờ khuya bà lại đem vào phòng cho  ông, hoặc cốc sữa nóng, hoặc cốc đậu xanh, hoặc cốcnước trà có pha đường. Điều ấy đã thành lệ. Bố còn thức là mẹ Chưa chịu ngủ. Ông viết ở phòng trong, bà khâu vá dọn dẹp ở phòng ngoài. Bố anh thường nói: “ Những gì tôi có được công của bà hai phần ba". Mẹ anh nhìn chồng: "Tôi không dám!". Nhưng nhưng lúc ấy, anh thấy đôi mắt mẹ thật vui, chan chứa một niềm hạnh phúc. Và trông mẹ như trẻ ra.

           Công việc và những quan điểm của bố ảnh hưởng tới Lê không nhỏ. Hồi nhập ngũ, anh xin ý kiến bố, ông bảo: "Kiến thức, rất cần; nhưng có được không phải chỉ bằng cách thu lượm ở nhà trường. Kiến thức còn ở ngoài đời. Hơn nữa, có kiến thức không phải chỉ để có, cái chủ yếu là làm được nhiều việc cho cuộc đời. Kiến thức là phương tiện chứ không phải mục đích...".

           Hiểu ý bố, anh đã ra đi một cách thoải mái. Từ bấy đến nay, thời gian cứ trôi, anh xa nhà đã sáu bảy năm... Những tháng dầu đông này, sức khỏe bố dang ra sao? Sơ tán về nhà chị Thành, bố có điều kiện đẽ tiếp tục nghiên cứu, viết lách? Mẹ chắc là ngày càng thêm vất vả. Trong những năm chiến tranh này, tần tảo để nuôi chồng và hai con đang tuổi ăn học, đâu phải dễ dàng. Hai em của Lê liệu có đủ khôn mà đỡ bố mẹ được phần nào không? Ôi quả là mỗi người một cảnh, có ai giống ai...

          Lê khẽ trở người. Trên boong đã lành lạnh. Tiếng nói chuyện không còn nữa. Xung quanh yên vắng, mung lung. Một lúc sau, anh đứng dậy, đi vào buồng lái.
          - Đã đến vị trí chuyển hướng! - Thấy Lê, thuyền phó Xuân báo cáo.
          - Thực hiện theo phương án!
          - Mười lăm độ trái - Xuân lệnh.
          - Trái mười lăm độ! - Linh đánh mạnh tay lái.

           Con tàu chếch mũi, ngoặt về hướng bắc. Theo kế hoạch, nó sẽ đi ngược lên đê ra đường hàng hải quốc tế, trà trộn vào đám tàu buôn, tàu đánh cá nước ngoài, từ đó mới bắt đầu xuôi xuống phía nam.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Sáu, 2009, 10:19:34 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #26 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2009, 10:12:41 am »


15


           Những ngày cuối năm, nhà máy bước vào thời nước rút, công việc tưởng như lút đầu lút cổ.

           Dịp này Thúy thường về muộn. Hôm nay cũng vậy.  Mèo mướp đã quen nên dẫu phải chờ lâu, vẫn vui mừng nhảy ra đón, song Thúy không vồ vập như mọi bận. Cô đang buồn, cô vừa to tiếng với Lâm Khanh. Chẳng phải việc va chạm với trưởng phòng làm cô buồn, mà là thái độ ậm ừ nước đôi trong cách giải quyết công việc của Lâm Khanh khiến cô nghĩ ngợi. Tại sao một người giỏi chuyên môn, nhiệt tình hăng hái với công việc chung và gắn bó, yêu mến nhà máy như Lâm Khanh lại thiếu kiên quyết, cả nể vậy? Thúy biết chắc rằng cuối cùng thế nào anh cũng đề nghị cho ngừng việc hàn thép lá vào khung tàu, nhưng nghĩ lại chuyện, vẫn thấy bực. Và nỗi bực ấy cô trút cả lên đầu trưởng phòng của mình.

          ... Buổi chiều, khi xuống ụ đà, Thúy gặp chị Huệ. Khác với mọi lần, mỗi khi ra mép sông, Thúy thường thấy chị chúi mũi, chúi lái vào công việc. Thúy gọi, chị mới dừng tay, ngẩng lên. Vậy mà lần này lại có vẻ rỗi rãi.
          - Sao mà ngẩn ngơ thế, chị Huệ? - Thúy lên tiếng - Lại nghĩ tới anh Cựu ở bến phà rồi!
          - Ờ, mày đấy à, Thúy? May quá, chị cũng đang muốn tìm em.
          - Tổ thợ hàn của chị hết việc rồi hay sao mà đứng ngó trời ngắm đất vậy?
          - Việc thì biết thế nào là hết? Này, ngồi xuống đây chị muốn nói với em một việc.

           Hai người ngồi xuống khung sắt đã han gỉ. Phía trước, con sông cạn nước, đỏ quánh. Ở đó có nhiều ánh đèn hàn loé sáng. Mùi bùn quyện với mùi sơn, mùi sắt thép đưa lên hắc nồng. Tiếng búa gõ vào thép choang choang.
          - Em là cán bộ kỹ thuật, chị nghĩ em trình bày việc này tiện hơn. - Chị Huệ ngập ngừng, giọng quan trọng, chị nói vừa đủ để Thúy nghe.
          - Cũng có việc công nhân nói lợi hơn chứ, chị.
          - Đành rằng thế, nhưng đây là chuyện liên quan đến kỹ thuật.
          - Chị cứ nói, em giúp được gì chăng?
          Chị Huệ im lặng một chút như cân nhắc nên vào chuyện thế nào, rồi bảo:
          - Chị thấy sườn khung tàu chưa được đảm bảo, vậy mà ông Hành trưởng phòng kế hoạch vẫn cứ cho ốp thép lá lên. Như vậy sợ rằng...
          - Sao cơ, sườn tàu chưa đảm bảo? Chị biết? – Thúy xoay người nhìn thẳng vào mắt chị Huệ, hỏi nhanh.
          - Em cứ bình tĩnh nghe đã nào!
          - Chị nói đi?
          - Sáng qua ca chị hàn khung tàu, đang dở việc thì mất điện, còn vài thanh chưa hàn kịp, đành bỏ dở. Chị đã báo cáo, đề nghị ca sau hàn tiếp. Ai ngờ sáng nay đã thấy ốp thép lá lên. Ca anh Thành nhận kế hoạch làm việc đó
          - Trời! - Thúy thảng thốt; khuôn mặt cô biến sắc nhợt nhạt.
          Không kịp chào chị Huệ, cô hấp tấp chạy lại phía ụ đà rồi trèo lên con tàu.
          - Dừng lại! Dừng lại! - Thúy hét to khi tới tổ thợ hàn.
           Mọi người ngạc nhiên ngước nhìn cô.
          - Có gì vậy cô Thúy? - Người tổ trưởng hỏi.
          - Sườn tàu chưa đảm bảo... Đừng hàn nữa! – Thúy vừa thở, vừa nói .
          Tốp thợ hàn ngơ ngác nhìn nhau.
          - Chưa bảo đảm à? Ai ra lệnh? - Vẫn tiếng người tổ trưởng.
          - Ai ra lệnh... - Thúy hơi lúng túng - Tôi, tôi đề nghị các anh đừng lắp thép lá lên sườn tàu nữa. Tôi chịu trách nhiệm.
          - Trách nhiệm! Công việc đóng tàu chứ phải đâu trò trẻ mà  bạ ai cũng ra lệnh được - Người tổ trưởng càu nhàu rồi anh quay đi, hất tấm kính hàn xuống mặt, tiếp tục công việc.
          Thúy chưng hửng. Sững lại một lúc rồi cô hớt hải ra khỏi ụ đà, đi nhanh về phía ngôi nhà hai tầng. Lúc này, khi đã trấn tĩnh lại, cô cũng thấy hành động của mình vừa rồi thật  vô lý.
          Thúy bước vào phòng kế hoạch. Không để mọi người kịp nhận ra, cô nói luôn:
          - Báo cáo anh Hành, tôi xin được gặp anh mấy phút.
          Hành ngồi sau bàn làm việc kê giữa phòng, ngẩng lên; đôi mắt mệt mỏi:
          - Việc công hay việc tư đấy, cô em? - Giọng anh ta nhão nhợt.
          - Sườn khung tàu còn sót mấy mối hàn, đề nghị anh cho ngừng việc lắp thép lá lại.
          - Ngừng việc à? Thế nào, cô định hủy tiến độ của nhà máy đấy phỏng? Với cương vị gì vậy? Hành nói với ra, giọng đầy vẻ giễu cợt.
          - Việc hạ thủy có thể chậm lại, nhưng chúng ta không được phép làm ẩu. Chắc anh cũng rõ rằng khi gặp gió bão, sự vững chắc của sườn tàu là điều cần thiết để bảo đảm an toàn... Chỉ cần một mối hàn bung ra, con tàu bị sóng đánh tơi từng mảng.
          - Điều đó thì cô khỏi phải dạy tôi - Hành nói, giọng bực tức - Trước khi ngồi vào chiếc bàn này, một thời tôi từng làm thủy thủ và tôi hiểu thế nào là sức mạnh của biển cả..., còn công việc, tôi không quen làm tắt ngang. Hành như không để ý đến Thúy nữa, lại cắm mặt xuống mớ giấy bề bộn trên bàn.
          Thúy ức muốn khóc. Cô lẳng lặng bước ra cửa, đến hành lang, còn nghe tiếng Hành nói với nhân viên:
          - Người yêu là lính tàu, nên thông cảm với tình cảm bột phát ấy.
          Thúy muốn quay vào nói một câu gì đó, song cô lại bước về phòng kỹ thuật.
          Lâm Khanh không mấy ngạc nhiên khi nghe Thúy trình bày. Tuy vậy, anh cũng lên ngay phòng kế hoạch gặp Hành.

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #27 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2009, 10:18:43 am »


           Biết chuyện, cả phòng kỹ thuật xôn xao. Người nào cũng tỏ sự bất bình. Sơn là người to tiếng phản đối nhất.
           - Làm ăn đại khái, bừa bãi, phi kỹ thuật Nếu đúng như Thúy nói, tôi đề nghị truất chức ông Hành. Dù tốn bạc vạn cũng phải gỡ ra làm lại. Vô trách nhiệm! Vô trách nhiệm hết sức. Con người ấy muốn đưa con tàu ra làm mồi cho đại dương chăng? Trong tiến độ mà phi kỹ thuật là hạng bét, hạng bét! - Anh chàng vung tay và gào thét như một diễn giả đang kêu gọi mọi người vùng lên!
           Hết giờ làm việc buổi chiều, Lâm Khanh quay lại. Chỉ còn Thúy ngồi chờ ở phòng.
           - Thế nào anh, ông Hành phải đồng ý cho ngừng công việc chứ? - Thúy hỏi.
           - Thúy có dám chắc rằng còn một vài mối hàn ở sườn tàu chưa xong không? - Lâm Khanh hỏi, vẻ mặt băn khoăn.
           - Chính người làm công việc đó nói với em.
           - Khó nhỉ!
           - Có gì khó? Ta gỡ ra, kiểm tra và cho hàn tiếp.
           - Không đơn giản như vậy đâu. Còn bao mối liên quan. Còn kế hoạch, còn sự hao hụt về kinh phí, và còn danh dự nhà máy.
           - Em nghĩ chúng ta đang làm công việc bảo vệ danh dự nhà máy.
           - Đành rằng thế. Liệu có động cơ cá nhân trong việc này không Thúy, anh Hành bảo rằng...
            Không để Lâm Khanh nói hết, Thúy bật dậy, khuôn mặt nóng bừng và bao nhiêu bực tức cố nén từ chiều, bung ra:
           - Hoặc anh không hiểu gì người công nhân, hoặc anh là kẻ vô trách nhiệm.
           - Kìa Thúy!
           - Vâng, nếu cốt hoàn thành kế hoạch để ông Hành và anh có dịp hoa chân múa tay ba hoa với cấp trên thì tôi đồng ý công việc tiếp tục. Song tôi sẽ làm một lá đơn mời hai anh ký vào: "Nhằm bảo đảm tiến độ, hạ thủy đúng kế hoạch, mặc dù còn một số trục trặc về kỹ thuật...".
           - Thúy, anh không có ý định nói như thế!
           - Vậy anh định sao? Chị Huệ vì trách nhiệm với nhà máy, vì số phận sau này của con tàu, vậy mà anh...
           - Nhưng anh Hành bảo rằng... Phải tế nhị. Công việc không thể nóng vội được - Lâm Khanh phân bua - Nếu còn sót một vài mối hàn thì trách nhiệm trước hết thuộc về phòng kỹ thuật chúng ta. Khâu kiểm tra có chỗ hở.
           - Thuộc về chúng ta thì chúng ta nhận kỷ luật với giám đốc.
           - Anh không sợ điều ấy, nhưng làm việc gì cũng phải chắc chán. Em cứ về, anh sẽ kiểm tra và bàn với anh Hành.
           - Anh nên nhớ rằng càng kéo dài thời gian, việc tốn kém càng lớn. Tối nay tôi sẽ quay lại nhà máy chờ giám đốc đi họp về. Tôi chưa bỏ cuộc đâu!
           Nói xong, mặc cho Lâm Khanh trơ giữa phòng, Thúy đi ra cửa. Như một thói quen, cô bước nhanh về nhà.

            Bữa cơm dọn ra chỉ có canh rau cải luộc và nước mắm. Thúy và mèo đều ăn uể oải, buồn tẻ.
           - Chịu khó ăn đi, mai tao sẽ mua cá cho mày. Hứa là có.
            Mèo mướp ngước mắt nhìn, rồi bước lại bên Thúy ngồi xuống.

            Buổi tối Thúy chưa kịp đến nhà máy thì Lâm Khanh tới. Cả hai người đều cảm thấy ngường ngượng. Thúy ân hận vì đã nặng lời với anh. Lâm Khanh không có lỗi trong chuyến này. Anh chỉ là cái cớ để Thúy trút nỗi bực của mình. Lâm Khanh thì nghĩ rằng có lẽ Thúy cho mình là người buông xuôi, rụt rè và giải quyết công việc hời hợt không đến nơi đến chốn. Thực ra sau khi Thúy về, anh đã xuống ụ đà và biết chắc những điều Thúy nói là đúng, với cương vị trưởng phòng kỹ thuật, anh cho ngừng việc hàn thép lá ra ngoài sườn tàu, sau đó anh đi tới nhà Hành. Và anh đã gặp điều không vui khi tới đó. Trong bộ phi-gia-ma kẻ sọc màu sáng, Hành kéo anh ngồi vào xalông và mở tủ lấy rượu. Vợ Hành cũng hết sức đon đả. Chị ta trên ba mươi, nhưng còn duyên, đầy sinh lực, người mẩy, da mặt trắng, mắt sắc, miệng rộng, đi đứng nhún nhảy như dưới bàn chân gắn lò xo. Không khí gia đình không có một biểu hiện gì chứng tỏ rằng họ đang sống trong hoàn cảnh chiến tranh. Khanh kín đáo liếc căn nhà và nghĩ: "Chẳng lẽ móng vuốt chiến tranh lại loại trừ ngôi nhà này? Ít ra chủ nhân cũng biết rằng sẽ tới lúc nào đó, rất có thể một quả bom hoặc một quả rốc két rơi trúng chứ?".
          - Giầu nghèo, sống chết có số cả anh Khanh ạ - Như hiểu được ý của Khanh, vợ Hành xởi lởi - Chẳng giấu gì anh, em đi bói, người ta bảo số em trường thọ, nghĩa là chưa chết được. Với nữa người ta ai chẳng khỏi chết, cho nên sống được ngày nào, cứ sống đàng hoàng... Anh Khanh uống chút rượu cho nóng người!
           Rồi chị quay sang chồng:
           - Anh đi xuống bếp trông cơm, chẳng mấy khi anh Lâm Khanh tới chơi, để em tiếp.
           - Cơm cháo là việc của đàn bà chứ nhỉ! - Hành lợt lạt cười đôi mắt nhìn vợ có ý thăm dò phản ứng.
           - Nhưng ở nhà này, ai bảo anh là đàn ông, anh Hành? - Giọng người vợ ngọt lạnh, nhưng nghe trong đó có một vẻ gì đầy uy quyền.
           - Là anh nói thế. Nấu cơm à? Ư thì nấu cơm... Việc gì Hành cũng làm được tất.
           - Kẻo mà khê lại xúi!
            Sợ phải ngồi lâu, Khanh nói luôn: .
           - Tôi có chút việc cần bàn với anh.
           - Có gì, cậu cứ nói với nhà mình, nhé!
            Khanh ngạc nhiên:
           - Việc nhà máy mà, anh! - Rồi Khanh nói nhanh như sợ mất thời cơ - Anh Hành ạ, tôi đã cho ngừng việc hàn những tấm thép lá.
           - Sao? - Hành hốt hoảng xoay người lại, trừng trừng nhìn Lâm Khanh.
           - Không thể khác được! Tôi chịu trách nhiệm trước giám đốc.
           - Anh chịu trách nhiệm à? Còn tôi? - Khuôn mặt Hành bợt ra, rồi lại đỏ lên - Tốn kém hàng vạn bạc, ai cho phép các anh... Tôi đây mới là người chịu tráchnhiệm về kế hoạch của nhà máy, rõ chưa? - Hành nói to. Cách đây ít phút trông người này hiền khô, nhũn như con chi chi trước vợ mà lúc này khuôn mặt anh đỏ gay, đôi mắt ngước lên vẻ dữ tợn - Ai cho phép? Ai ra lệnh? Ai cho các anh cái quyền cản ngang tiến độ công việc của nhà máy. Ai cho?
           - Lương tâm tôi, anh Hành ạ! - Giọng Khanh vẫn từ tốn.
           - Anh sẽ chịu mọi hậu quả, mọi hậu quả, rõ chưa!  Mà tôi sẽ không để các anh lũng đoạn nhà máy thế đâu.
            Hành bực bội dằn mình xuống ghế.
            Người vợ lừ mắt:
            - Anh Hành!  Anh phải nhớ anh Lâm Khanh là khách của tôi!
            - Xin lỗi em. Nhưng, nhưng anh bực quá ! Tất cả là tại cái con Thúy.
            Người vợ hất cao mặt, hai hàm rằng sít vào nhau:
            - Lại con Thúy nào nữa thế, hử?
            - Tôi đến để báo với anh về công việc - Khanh cố nén xúc động - Bây giờ thì chào anh, chào chị.
            - Kìa, anh Lâm Khanh - Vợ Hành bước tới ngăn Khanh lại - Em mời anh ở chơi với em kia mà!- Rồi quay sang chồng, chị ta vặc - Chỉ nóng !Tôi đã bảo đi xuống bếp!

            Ra khỏi nhà Hành, Khanh thấy buồn. Anh rẽ sang phải lần theo đường Trần Phú đến ngôi nhà hai tầng quen thuộc. Và lúc này, ngồi cạnh Thúy, anh thấy ấm lòng

            Thúy nhìn khuôn mặt đượm buồn của Khanh, thấy thương anh. Tai sao hồi chiều cô lại trút bực bội lên con gười ấy? Vô lý hết sức! Giá như khi ấy Khanh nổi cáu, quát lại Thúy, chắc rằng cô đỡ ân hận hơn. Lúc này cô muốn nói một câu gì đó như thể là sự xin lỗi để Khanh hiểu cô hơn, nhưng Thúy im lặng.
            - Vợ anh Hành làm gì, Thúy nhỉ? - Khanh hỏi.
            - Em cũng không rõ lắm. Nghe đâu trước đây có buôn bán ở chợ Sắt.
            - Em còn cơm nguội không?
            - Chờ em chạy ra phố kiếm chút thức ăn nhé.
             Thúy thấy vui, cô chạy vội xuống cầu thang.

             Khanh nhìn theo, xốn xang. Anh ngắm căn phòng bé nhỏ, đồ đạc đơn sơ nhưng xếp gọn gàng, ngăn nắp, thấy khát khao cuộc sống ấm cúng của gia đình. Cái tình cảm vốn có ở anh với Thúy, anh cố nén, lại bùng lên. Đã bao lần Khanh tự hỏi: tại sao anh yêu Thúy, nhưng không sao giải đáp được. Thêm nữa, anh nghĩ rằng khi đã giải thích được tôi yêu cô này vì , một là ... hai là .... , và ba là... thì đó đâu còn là tình yêu! Lúc ấy tình cảm đơn thuần là một phép cộng, một sự tính toán. Tình yêu có những bí ẩn chẳng thể lý giải... Không thể nhớ hết đã bao ngày anh thấp thỏm trước cửa phòng làm việc để chỉ được thoáng thấy bóng Thúy vào cổng nhà máy. Biết cô đi làm, anh an tâm. Và sau hết giờ, nhìn dáng Thúy thon thả, thắt đáy như lưng con kiến bống đi ra cổng, anh nao cả người. Anh đã quá quen rồi bước chân của Thúy, giọng nói của cô, giọng nói ấy với anh thân thuộc, gần gũi và cần thiết biết chẳng nào? Những hôm vì lý do gì đó, Thúy vắng mặt ở nhà máy, anh thấy nhớ, thấy chơ vơ, làm việc gì cũng phấp phỏng. Ngày nào không gặp Thúy, không nghe giọng nói của Thúy, dù Thúy không nói với riêng anh, anh thấy ngày ấy trống trải, cô đơn và thiếu thiếu một cái gì. Vậy mà cuộc đời thật trớ trêu, tất cả những tình cảm ấy, anh đành phải ghìm xuống. Anh biết Thúy chẳng bao giờ là của riêng anh: cô đã có người yêu. Khi yêu mà biết rằng mình không được yêu, người ta càng yêu hơn... Tình yêu có những quy luật thật lạ, trong nhà máy khối cô gái trẻ, đẹp để ý đến anh, mơ tưởng đến anh, thầm mong được anh để ý đến, nhưng như thể là bị trời hành, anh không thể yêu ai được. Anh dửng dưng trước mọi biểu hiện tình cảm của họ.

            Khanh ngó quanh một lượt. Căn phòng ấm áp và thơm tho quá ? Ở Hà Nội, Khanh cũng có ăn phòng như thế, một căn phòng trong ngôi nhà nhiều phòng gia đình dành cho anh; nhưng căn phòng ấy với anh lại lạnh lẽo và đầy hãi sợ. Đi khỏi đó, Khanh như trút được món nợ. Nơi ấy luôn luôn vẳng lại tiếng chửi rủa, tiếng nói bóng, nói gió của người mẹ kế lắm điều, một người không thiếu tiền mà thiếu tình. Những ngày là sinh viên, có mấy bữa anh về nhà . Nhớ bố anh chỉ đảo qua thăm một lát rồi đi. Nghĩ đến bố, anh vừa thương vừa giận... Mẹ anh chết khi anh mới mười ba tuổi. Thời còn sống, bà chắt bóp, tần tảo và có buôn bán ít nhiều nên tậu dược ngôi nhà khá khang trang giữa một phố sầm uất Gia đình sống khá giả . Sau khi mẹ qua đời, người  bố sinh ra nghiện ngập, rượu chè, cờ bạc. Những gì mẹ anh sắm được dần dần đội nón ra đi. Cuối cùng ngôi nhà cũng phải gán nợ. Người bô tiền để được đứng tên ngôi nhà ấy không ai khác, chính là người mẹ kế của anh. Từ đô gia đình suy sụp. Anh luôn luôn nghe nhữngtiếng dằn hắt: “Bố con ông lười, ăn bám tôi". "Tôi lấy ông, chẳng khác lấy nợ, như tự mua dây trói mình". "Tôi không sẵn tiền mà bám mãi thế!" vân vân... Bố anh dần dần chai lỳ trước cảnh đó. Anh thì không thể quen được. Song, may mắn thay, anh cũng thoát khỏi nơi ấy... Lắm lúc anh chua chát nghĩ giá có một quả bom rơi trúng ngôi nhà! Nhưng liền sau đấy, anh rợn người cho rằng mình độc ác và ích kỷ. Và những kỷ niệm về mẹ trong ngôi nhà dội tới khiến anh xót xa, đau nhói.

            Có một căn phòng ấm cũng cảnh hạnh phúc gia đình vốn là khao khát đốivới anh từ lâu.

            Khanh bước lại chiếc bàn của Thúy. Và anh bắt gặp đôi mắt trong trẻo của Lê thời mới nhập ngũ, trong tấm ảnh bán thân lồng sau kính. Tấm ảnh được treo ngay ngắn ở vị trí rất thích hợp và không hề có một vết bụi chứng tỏ chủ nhân ngày nào cũng sửa sang, ngắm ngó đến. Khanh nhìn người chiến sĩ hải quân trong ảnh thấy ghen tị với anh. Thực tình đã có lúc Khanh hoang mang nghĩ rằng phải chăng muốn có hạnh phúc là phải giằng lấy, phải cướp lấy; không có thứ hạnh phúc nào bỗng dưng rơi tọt vào tay. Nhưng vốn bản tính nhân hậu, rụt rè, nên anh âm thầm tự giày vò mình. Với nữa tình yêu chung thủy của Thúy đối với Lê là chỗ tựa vững chắc cho lòng tự trọng trong anh. Lòng tự trọng của người có văn hóa không bật đèn xanh để anh vượt quá giới hạn cho phép.

            Khanh rời mắt khỏi tấm ảnh, cố nén tiếng thở mạnh. Anh bước lại phía chú mèo mướp. Trước đây, khi Khanh tới, mèo mướp thường cong mình lên, vểnh râu ra, miệng u ứ và đôi mắt mở to, thế thủ. Nhưng nay không thế nữa. Nó đã quen, biết anh là bạn của cô chủ. Thúy về. Vội vã nhóm lửa, hấp lại cơm, kho thịt. Khanh muốn giúp Thúy nhưng ngại. Anh vớ cuốn sách trên bàn, ngồi đọc.

            Thúy tất tả với niềm vui sẽ đưa lại cho Khanh bữa ăn ngon miệng và trong ý thức có phần nào như để chuộc lại sự nóng nảy chiều nay. Khuôn mặt Thúy bên bếp lửa trắng hồng, đôi mi dài, cong... Khanh không dám nhìn lâu vào khuôn mặt ấy.

            Bữa ăn đơn giản nhưng Thúy bằng lòng. Khanh ăn không khách sáo, luôn khen ngon. Mặc dù đã ăn rồi, Thúy vẫn ăn thêm cùng anh bát nữa.
            - Ngày mai giám đốc đi họp về sẽ duyệt sáng kiến cải tiến cách lắp ghép khung tàu của em, Thúy ạ - Khanh nói khi hai người đã ăn xong - Sau đó em còn phải trình bày trước hội đồng kỹ thuật.
            - Riêng anh, cái sáng kiến đó thế nào? - Thúy hỏi.
            - Bình và Sơn khen lắm. Chắc giám đốc hài lòng. Em đã đưa lại cho phòng kỹ thuật niềm tự hào.
            - Sơn giúp em rất nhiều trong việc này. Những tính toán đều do Sơn làm cả.

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #28 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2009, 01:53:29 pm »


           - Nghe nói đã yêu một cô thợ hàn ở tổ chị Huệ. Tình yêu đến với mọi người thật nhanh, thật dễ...
           Thúy cười:
           - Còn với anh thì sao?
           Khanh lúng túng, hai vành tai đỏ ửng. Anh mở cuốn sách cầm ở tay:
           - Thúy đọc, Vích-to Huy-gô à? ông ta là một nhà nhân văn lớn. Tấm lòng của ông đối với mọi người thật sâu sắc

           "Ôi biết làm thế nào, chẳng lẽ như vậy là mình có lỗi!" bước lên cầu thang sau khi đã tiễn Khanh ra tới đường, Thúy nghĩ. Cô đi nhanh vào phòng, cài chặt cửa và tự dưng thấy trái tim mình thổn thức. Cô có cảm giác  như chưa bao giờ mình nhớ Lê như lúc này. Lại gần bàn, Thúy thần mặt ngước nhìn tấm ảnh. Người lính thủy trong ảnh cũng nhìn cô, rất lâu. Ánh mắt anh như muốn bảo: Anh vẫn ở bên em mà! Thúy gỡ tấm ảnh, lấy tay vuốt nhẹ lên mặt kính. Cô ngắm chàng trai, rồi bất ngờ áp tấm ảnh lên ngực mình. Cô thả người xuống ghế, đôi mắt nhắm lại, hai má nóng bừng. Tim cô đập rộn lên. "Ôi, giá mà anh hiểu em yêu anh đến như thế nào!".


*


           Sáng hôm sau Hành đến nhà máy sớm. Anh ta xốc thẳng tới ụ đà.
           - Coi chừng ở đây có kẻ phá hoại sản xuất đấy nhé! - Tới tổ thợ hàn, anh ta rao bâng quơ, đe dọa.
           - Tại sao lại bắt chúng tôi ngừng việc, anh Hành? - Người tổ trưởng tổ thợ hàn hỏi - Thi gan với bom đạn, tranh thủ từng giờ để sản xuất, bây giờ ngồi chơi à? Kế hoạch của các anh hay nhỉ?
          - Không những chỉ ngồi chơi, mà sắp tới chúng ta còn phải tháo gỡ những tấm thép này ra chưa chừng - Hành cố tình nói với giọng khiêu khích.
          - Gỡ ra? Các anh coi sức lao động của chúng tôi là cái gì? Là nước lã à? Tiền bạc của Nhà nước chứ không phải vỏ sò, vỏ hến.
          Khuôn mặt Hành vẫn lạnh như không.
          - Ấy, nhưng có kẻ ton hót rằng chúng ta làm sai quy cách thì sao? Mà đã sai là dứt khoát phải sửa.
          - Kẻ nào? - Người đội trưởng sấn tới trước Hành, đôi mắt quắc lên giận dữ - Anh em công nhân chúng tôi không có trách nhiệm phỏng? Dễ chừng tôi không rõ con tàu này là của mình, làm những việc cho mình chắc? Kẻ nào dám nói bậy, hả?
          - Đương nhiên người đó không phải tôi! - Hành cười nhợt nhạt, vẻ thỏa mãn hiện rõ trên khuôn mặt - Đó là một kẻ giấu mặt. Ở đây họ có ý đồ cá nhân, hoặc đó là kẻ cố tình phá hoại sản xuất.
          Tốp thợ hàn xôn xao. Nỗi bất bình dấy lên trong hết thảy mọi người.
          - Chúng ta thách ai tìm ra cái gọi là sai quy cách?
          - Thế đấy! - Hành đứng lên một khung sắt, đôi mắt ranh mãnh lướt nhìn mọi người - Hôm qua có kẻ mách rằng khung tàu của chúng ta chưa bảo đảm...
          - Nhưng đó là sự thật thì sao, thưa đồng chí trưởng phòng kế hoạch?
           Có tiếng cất lên phía sau. Mọi người ngơ ngác quay lại. Chị Huệ bước tới phía Hành.
          - Chính tôi đã nói điều ấy và tôi chịu mọi trách nhiệm với lời nói của mình - Chị nhìn mọi người - Thưa các đồng chí, việc khung tàu chưa bảo đảm kỹ thuật là có thật... Tôi là thợ hàn, tôi rõ điều đó. Và cũng như các đồng chí, trách nhiệm của người thợ không cho phép tôi bỏ qua việc ấy... Tôi chỉ ân hận là, đáng lý ra tôi phải nói điều đó sớm hơn. Dù sao cũng chưa phải quá muộn... Anh Hành muốn tìm người mà anh cho là kẻ phá hoại sản xuất thì tôi, chính kẻ đó là tôi!
           Hành lúng túng, khuôn mặt tái nhợt. Hết sức bối rối nhưng cố làm vẻ bình tĩnh, anh ta xẵng giọng:
           - Được! Chị phải chịu, phải chịu mọi hậu quả...
           Trước mặt Hành, chị Huệ cứng cỏi, nhưng đến buổi chiều, gặp Thúy, chị gục đầu vào vai cô và khóc.
           - Sao phải khóc hả chị? - Thúy an ủi - Chúng mình sống trung thực...



16


           Chừng nửa buổi sáng, ông Tám Thạnh đẩy cửa bước vào phòng thuyền trưởng.
           - Mày ngủ à, Lê? - Ông gọi.
           - Cháu vừa thiếp đi một lúc - Lê bật dậy khỏi giường vươn vai - Đêm qua cháu thức trắng mà. Có chiếc tàu lạ bám theo mình suốt. Chú vào trong này!
           Ông Tám ngồi xuống mép giường:
          - Mặc nó chớ, trên biển thiếu gì tàu, hơi sức đâu...
          - Nhưng thằng này có triệu chứng đáng nghi lắm. Cháu phải cho tàu vòng lên hướng bắc nó mới thôi bám đấy.
          - Coi ra có bão Lê à!
          - Trời trong thế kia mà, chú!
          - Từ sáng tới giờ biển yên. Nhưng xem ra lại không yên. Đứng trên boong ngó xuống, tao thấy sóng lừng khác lắm. Từng đợt lên xuống đều đặn, tròn đầu, khoảng cách giữa hai đỉnh sóng dài, nom hiền lành, thứ tự. Triệu chứng báo hiệu có bão đó.
          - Chú cháu mình ra ngoài xem sao.
           Hai người bước trật trưỡng lên boong. Bầu trời cao, xanh, trong trẻo. Mặt biển gợn nhè nhẹ, trải ra ngăn ngắt. Con tàu chạy êm như đi trong sông. Xa xa, gần đường chân trời, từng vệt mây trắng xốp kết lại như chùm đuôi ngựa. Gần hơn, một dải mây mỏng giống chiếc khăn voan màu mỡ gà dăng lên nền trời.
           - Mây "ti"  chú ạ. Đúng là sẽ có bão. Trưa nay thể nào trên chẳng thông báo.
           - Tao lo cơn bão này to đó ...
           - Nếu mình biết trước, chủ động thì chẳng ngại.
           - Là tao cứ lo thế!
           Đến trưa có điện từ sở chỉ huy báo cho biết cơn bão số 10 đã hình thành ở toạ độ X, đang di chuyển theo hướng tây, tây bắc và sở chỉ huy cho phép ban chỉ huy tàu được toàn quyền xử trí khi gặp bão.

           Đo đạc và tính toán ở hải đồ, Lê biết vị trí tàu nằm ngay trên đường di chuyển của bão. Anh lập tức hội ý ban chỉ huy. Sau đó phân công mỗi người một việc. Lượng tiến hành tổ chức công tác chuẩn bị chống bão. Lê và Xuân hợp lực theo dõi hướng đi của bão để bằng mọi giá đưa con tàu chệch ra khỏi tâm bão. Công việc đòi hỏi phải quan sát các yếu tố khí tượng như gió mây, tình hình mặt biển, sự thay đổi của khí áp... để phán đoán và tính toán, tìm ra những kết quả làm cơ sở cho việc xử lý. Trách nhiệm ấy đặt lên vai Lê. Tính mạng hai mươi thủy thủ và số phận con tàu phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của anh. Nếu con tàu không có cách tách ra khỏi hướng đi của bão, hậu quả thật khó lường.

           Công việc chống bão tiến hành khẩn trương. Ông Tám Thạnh cùng bộ phận cơ điện kiểm tra lại hệ thống máy, hệ thống lái. Gặp bão, điều quyết định đầu tiên sự sống còn của con tàu là tình trạng máy, và hệ thống lái. Bộ phận mặt boong bịt kín các cửa sổ mạn, các lỗ thông xuống khoang, đóng chặt các nắp hầm hàng, chằng níu những vật dễ lắc... Mọi việc được làm rất gấp. Chính trị viên Lượng  kiểm tra tỉ mỉ từng khâu.

           Ba giờ chiều, Lê và Xuân, qua đo đạc và tính toán đã xác định được vị trí tàu đang nằm ở nửa vòng nguy hiểm. Cần nhanh chóng tránh xa tâm bão!

           Lúc này sóng chưa to, nhưng trên trời đã xuất hiện lớp mây như bức màn màu sữa. Sau đó mây thấp dần, biến thành màu xám, xơ xác từng mảng, bay rất nhanh và càng ngày càng nhiều. Lê biết đó là mây vũ tầng khổng lồ. Có nghĩa rằng tâm bão cách con tàu không bao xa.

           - Gió thực đo được bao nhiêu?
           - Báo cáo, cấp bốn! - Xuân trả lời.
           - Hướng?
           - Đông - đông nam!
            Lê ra lệnh:
           - Cho tàu chạy theo hướng sao cho có gió thực thổi chéo phía trước từ mạn phải khoảng ba mươi đến bốn mươi lăm độ!
           - Rõ - Xuân đáp và lệnh cho Linh đánh vô lăng sang phải.

           Gió nổi lên, giật từng cơn. Mưa bắt đầu nặng hạt. Bầu trời và mặt biển biến thành một khối xám đen. Sóng chồm lên dữ dội. Con tàu lắc mạnh.
           - Cho tàu đi gối sóng để luôn có gió thực thổi bên mạn phải! - Lê nhắc.

           Mặc dù sóng và gió ngày càng mạnh, nhưng Lê biết rằng con tàu đang chếch khỏi tầm bão. Còn phải vất vả chống chọi, nhưng sự nguy hiểm nhất đã được đẩy lùi.




-----------------------------
Chú thích:
1. Mây "ti": chỉ một loại mây xuất hiện khi có bão - Từ khoa học.
2."Nửa vòng nguy hiểm": Từ chuyên môn chỉ rằng: con tàu đang nằm trong vòng xoáy của bão, phía có thể bị cuốn vào tâm bão.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #29 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 08:36:31 am »


          Tàu chao, lắc như đưa võng. Mưa dội xuống xối xả. Biển đen kịt, quặn lên. Từng mảng nước dâng cao, rồi ập xuống, dồn mạnh vào thành tàu. Con tàu dồi lên, hẫng xuống, lại dồi lên. Bám chắc vào thành tàu, Lê đứng ở cửa buồng lái ngóng ra. Nước mưa và nước biển phả vào người anh ướt sũng.
          Nghĩ rằng mình đã xử lý đúng, Lê vẫn không hết lo lắng. Nếu cơn bão chuyển hướng, và tâm bão cứ đuổi theo tàu, điều đó có thể lắm, thì sẽ ra sao? Ai mà lường hết được. Nhưng chẳng lẽ lại có sự trớ trêu quái ác bất ngờ như vậy? Gió vẫn thổi bên mạn phải tàu kia mà! Gió thổi như thế chứng tỏ con tàu đang tách dần khỏi tâm bão với góc độ gần như thẳng góc với quỹ đạo di chuyển của bão. Trong lịch sử, chẳng đã có những con tàu gặp bão, nhưng biết tránh, vẫn thoát đó sao? Khi cơn bão ngày 3 tháng 3 năm 1927 hướng vào cảng Ma-đa-ga-xca, con tàu chở khách loại lớn Săm Bo và tàu chở khách viễn dương Duy-xét-xnơ đang ở ngoài khơi, đúng vào vùng bão sẽ đi qua, song nhờ sự xứ lý khéo léo và tài giỏi của những người thuyền trưởng, hai con tàu vẫn thoát khỏi tâm bão an toàn...

           Gió vẫn giật. Sóng vẫn chồm cao. Con tàu trước đại dương quá nhỏ nhoi, và trong sóng gió, số phận nó quá mỏng manh. Biển cứ vờn, con tàu cứ lặn hụp. Lê không rời cửa buồng lái, đôi mắt mở to chằm chằm nhìn xuống biển. Nước mưa quất vào mặt anh rát rạt. Gió thốc mạnh, chỉ chực giằng ra khỏi con tàu. Đôi tay Lê tê cóng.
           Chợt Lê có cảm giác như con tàu đang trôi xuôi sóng. Anh hoảng hốt quay mặt lại, hô to:
           - Trái mười lăm độ!
           - Mười lăm độ trái! - Linh cố xoay vô lăng. Nhưng liền đó bỗng kêu lên - Tàu không ăn lái!
           Lê buông tay, nhảy vào. Con tàu vật mạnh. Lê nhỡ đà văng vào vách. Anh cố đứng thẳng:
           - Tăng tốc độ tối đa!
           Lê rùng mình nghĩ rằng nếu tăng tốc độ mà con tàu vẫn không ăn lái, vẫn trôi theo sóng! Trôi theo sóng có nghĩa là vào tâm bão.
           Linh gò người giữ chặt vô lăng. Mũi tàu hơi rê sang trái, nhưng sóng vẫn cứ bạt xuôi chiều. Cá con tàu trôi theo hướng gió. Khuôn mặt đẫm nước của Lê nhợt nhạt. Nỗi sợ hãi khiến hai mắt anh trắng bạc. Vào tâm bão có nghĩa là đưa tàu vào chỗ chết!
          - Tăng tốc độ được nữa không, chú Tám? - Lê thảngthốt hỏi. Ông Tám Thạnh lúc đó đang đứng nhìn anh trân trân, ái ngại trả lời:
          - Tăng được chút xíu, nhưng dễ hỏng máy đó!
          - Chú cho hết vòng quay để thắng sức đẩy của sóng!
          - Đi gối sóng hả Lê?
          - Gối sóng!
          Con tàu rùng mạnh. Linh đánh lái. Mũi tàu chếch sang trái, đâm ngang sườn những đợt sóng.
          - Giữ nguyên hướng đó, chín mười độ !
           Con tàu vật vã lắc ngang, lắc dọc.
           Lê bám cửa nhìn xuống: con tàu đang cắt chéo sóng. Anh thở mạnh. Lúc này anh mới thấy rét run lên,toàn thân nổi gai. Đôi môi thâm tím. Tóc bết xuống trán.
           - Để tao theo dõi một lúc, Lê! - Ông Tám đề nghị.
           Không quay lại, Lê nói như gào:
           - Chú xuống trông chừng máy. Máy hỏng lúc này là chết!
           Ông Tám bám cầu thang, lần xuống khoang.
           Từ lúc biển trở chứng, đã có một số thủy thủ say sóng. Trước tiên là Mừng. Ban đầu anh chàng thấy choáng váng, lợm giọng, sau đó có gì trong bụng, ra bằng hết. Hai mắt nhắm nghiền, khuôn mặt nhợt nhạt, mệt mỏi, trông lép kẹp như con gián khô nằm dính trên giường. Đi biển, khổ nhất là say sóng. Hải không thuộc loại cứng sóng, nhưng anh đi lại được. Anh bám thành giường lần tới phía Mừng:
           - Thế nào, gần tới bến rồi, dậy chứ! Uống nước cam nhé?
           Lắc đầu!
           - Uống nước dứa nhé?
           Im lặng.
           Hải với chiếc chăn sợi đắp lên người Mừng. Bỗng tàu vặn mình, giật mạnh. Đang ở thế bất ngờ, Hải bị hất vào thành, đầu đập xuống khuỷu sắt, sưng vù. Mừng cũng bị hất khỏi giường. Cậu ta liền nhổm dậy. Thấy Hải ôm đầu nhăn nhó, Mừng toan chạy lại. Miệng vừa kêu được hai tiếng: "Anh Hải" thì bụng thót vào nấc thốc lên và tấm thân rũ xuống, trông thảm hại như chiếc phao bơi xẹp hơi.

           Từ lúc có bão, chính trị viên Lượng như con thoi chạy tới, chạy lui đốc thúc mọi người bịt chỗ này, chằng níu che chắn chỗ kia. Khi phần lớn thủy thủ đã say sóng, anh vừa động viên anh em, vừa làm thay phần việc của họ. Mệt rã rời, nhưng những lúc nguy nan, anh không thể ngơi nghỉ. Vừa thoáng thấy anh ở buồng lái, thoắt cái, đã có mặt ở phòng thông tin, rồi xuống khoang máy... Hầu như nơi nào cũng thấy mặt chính trị viên. Trong số thủy thủ của tàu, ngoài ông Tám Thạnh, người chưa bao giờ say sóng, còn có anh chàng Cang cũng xếp vào loại cứng sóng. Tuy ít tuổi, nhưng Cang được toàn tàu quý mến một phần nhờ lẽ đó. Từ lúc sóng gió nổi lên, Cang lần tới khắp các phòng trên tàu: Anh chàng làm liên lạc cho thuyền trưởng và chính trị viên. Cang men cầu thang xuống khoang máy.
           - Chú Tám! - Cang kêu to - Thuyền trưởng Lê hỏi tại sao tiếng máy nghe tưng tức thế, liệu có việc gì không?
           Tám Thạnh ngẩng lên:
          - Mày bảo với thuyền trưởng an tâm! Tao đã rành bệnh nó, đang chỉnh. Ngoài trời ra sao?
          - Gió đỡ hơn, nhưng mưa còn nặng lắm. Biển tối sẫm, nhìn ra chỉ thấy một mảng đen đặc.
          - Mưa to à? Mưa to là triệu chứng bão sắp tan đó.
          - Chà, thằng Lê khá! Đáng mặt đi biển.Tao tưởng chuyến này chú cháu mình chầu Thủy Tề ráo chớ. Mấy giờ rồi, Cang?
          - Chừng tám giờ. Cháu lên buồng lái, chốc nữa cháu xuống với chú.
           Một lúc sau. Ông Tám thấy Cang bước xuống.
          - Ở dưới này ít lắc hơn!
          - Chớ mày xuống chi đây cho váng tai, nhỏ? Nằm mà nghỉ.
          - Chính trị viên Lượng hỏi chú nấu cháo được không? Từ sáng tới giờ chưa ai có miếng gì vào bụng.
          - Sóng này nấu chi nổi! Mà thằng Lượng đâu?
          - Anh Lượng đang ngồi trong buồng thủy thủ trông nom mấy cha say sóng. Trên buồng lái chỉ còn thuyền trưởng, anh Xuân với thằng Linh.
          - Nấu rồi ai ăn? - Ông Tám phân vân - Mà nấu cách sao?
          - Cháu đã có cách.
          - Hử?
          - Ta thả màn vào nồi cho nước đỡ sánh!
          - Thả màn vào nồi? Thằng nhỏ này khá !
          Hai người loạng choạng lên khoang trên. Cang lần đi lấy màn. Ông Tám cho dầu vào bếp. Ông quẹt tới chục que diêm vẫn không nhóm được lửa. Gió tạt rất mạnh. Tàu lắc lư, tròng trành. Que diêm không kịp bén đã tắt. Lựa lúc sóng yên hơn, ông Tám buông hai tay, quẹt Que diêm vừa bén, ông đã chúi về phía trước, suýt va ngực vào nồi nước. Diêm lại tắt ngấm.
          - "Chà, đến nấu lấy cái mà ăn cũng khó. Trời với đất!" - Ông bíu thành tàu đứng lên, bực bõ lẩm bẩm. Bếp ở cuối tàu nên lắc cành mạnh. Ông Tám ngồi bệt xuống sàn, nhưng loay hoay mãi, vẫn không sao cho ngọn lửa bén bấc. Thấy Cang đưa màn tới, ông bảo:
          - Cang, tao ôm mày để mày quẹt diêm hí! - Đoạn một tay ông ôm ngang bụng Cang, tay còn lại bám chặt thành cửa.
           Ngọn lửa vừa bén, con tàu chợt nghiêng như muốn ụp xuống biển, ông Tám và Cang ngã dúi dụi, nằm đè lên nhau.
          - Xong! Có gạo rồi đó, mày thả màn vô.
          Chừng một giờ đêm cháo chín. Ông Tám đập thịt hộp đổ vào. Lượng múc ra xoong rồi cùng ông Tám và Cang lần đưa lên từng phòng. Tới buồng thủy thủ, Cang lay Mừng dậy. Anh chàng bẹp dí trên giường, từ từ mở mắt. Nhưng liền sau đó, từ từ nhắm mắt lại. Cang gọi Hải. Hải mệt lắm, nhưng vẫn cố gượng dậy. Anh biết rằng lúc này nếu buông xuôi, thiếu cố gắng thì khó đủ sức chống chọi với sóng gió trong những ngày tới. Từ đây đến bến, đường còn xa. Nhiều thủy thủ đã ngồi dậy. Kinh nghiệm cho biết rằng phải cố giữ sức lúc đi biển. Dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn, trông người nào cũng phờ phạc, mệt mỏi. Mừng và vài thủy thủ vẫn nằmbất động. Lượng ngồi xuống mép giường vỗ về, lay gọi từng người, nhưng họ vẫn như không hay biết.
           - Làm sao gọi chúng nó dậy ăn cho nóng! - Ông Tám ái ngại.
           - Để cháu!
           Cang cúi xuống sát người Mừng, hô to:
           - Báo cáo thuyền trưởng, hai khu trục Mỹ đang hướng tàu ta lao tới.
           Mừng và đám thủy thủ vội nhổm lên.
           - Cháo! Cháo! Ăn đi để lấy sức tụi bay! Bão sắp tan rồi.
           - Cháu mệt lắm mà, chú Tám! - Mừng nói thều thào rồi lại nằm vật xuống.
           - Thôi, thằng Lượng ở lại động viên tụi nó. Tao và thằng Cang đưa lên cho bọn trên buồng lái. Ông Tám và Cang lại lần đi.
          Lượng men tới từng giường, đỡ anh em dậy, bón từng thìa cháo. Mọi người nể chính trị viên đều gượng ngồi cả lên.
          Hải gắng húp hết bát cháo rồi đi tới chỗ Mừng. Da mặt Mừng nhợt nhạt.
          - Cố mà ăn cho có sức, sắp tới bến rồi? - Hải xúc thìa cháo đưa lên miệng Mừng.
          Mừng ngồi dậy, đỡ lấy bát cháo:
          - Anh để tôi !

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Bảy, 2009, 08:28:52 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM