Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:36:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người của biển  (Đọc 54799 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #30 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 08:40:47 am »


17


           Sáng hôm sau, ngỡ bão ngớt, nhưng liền đó, một cơn lốc lại nổi lên, mưa dai dẳng. Tới chiều, bầu trời sáng dần rồi quang hẳn. Biển xanh tím như vừa qua lần lột xác trở nên mới mẻ, dịu dàng.
           Con tàu vẫn đi theo hướng đã vạch sẵn.
           Lê lảo đảo bước ra khỏi buồng lái, lên boong. Anh mệt rã rời, có cảm giác châng lâng, nhẹ bẫng như đang lơ lửng trên không. Cái gì cũng như không thật nữa. Anh hít một hơi sâu vào lồng ngực, làm vài động tác thể dục, rồi đốt điếu thuốc, ngồi tựa ca bin, ngó xuống biển. Lê không khỏi ngạc nhiên khi nghĩ rằng mình vừa trải qua những giờ phút có thể coi như trong cơn ác mộng.
          Tiếng chính trị viên Lượng ở ngay phía sau anh:
          - Ta báo cáo chiến thắng về "nhà" cho "các cụ" mừng đi chứ!
          Lê quay lại, mỉm cười, gật đầu. Nhưng thoáng chút suy nghĩ, Lê bảo Lượng:
          - Mà khoan đã anh ạ. Có lẽ anh cùng với anh Xuân cho các bộ phận dọn dẹp, kiểm tra, củng cố lại tàu; còn tôi sẽ xác định thật chính xác vị trí tàu ta hiện tại và xem lúc nào chuyển hướng vào bến. Mọi việc gọn ghẽ, ta báo cáo luôn một thể. Mất chừng một tiếng chứ mấy. Anh thấy thế nào?
          - Đồng ý! - Loáng cái đã thấy tiếng Lượng dưới khoang - Thôi đừng tán dóc nữa, các tướng. Có bao việc cần làm đây: Bộ phận đồng chí  Hải phơi lưới. Cơ điện, dọn phòng ngủ. Hàng hải lau vũ khí. Thông tin kiểm tra máy. Còn lại, xuống hầm hàng...

           Bằng linh cảm và kinh nghiệm của người đi biển lâu năm, ông Tám Thạnh cũng rõ được rằng hiện giờ con tàu đang ở vào khoảng nào. Ông giao máy cho anh em rồi lẳng lặng bước lên boong, đứng nhìn về phía đất liền. Phía ấy mờ mịt, xa xăm, chỉ có một vệt rất mờ, ranh giới giữa trời và biển, song ông có cảm giác như mình đã nhìn thấy ngọn núi Một, nhìn rõ eo Lồng Cú, nhìn rõ những hàng dừa chạy viền mép nước, trên bãi... Chẳng lẽ đây là sự thật: Sau hơn hai mươi năm xa vắng, đêm nay Tám Thạnh lại đặt chân lên vùng đất ấy? Vùng đất tứ thời sặc sụa mùi cá, mùi tôm, mùi mực tươi và mùi bọt bể. Mấy tiếng đồng hồ nữa Tám Thạnh sẽ lại được ngửi hít mùi tanh lợ quen thuộc ấy sao? Cái mùi đã ngấm vào từng lỗ chân lông khiến cơ thể Tám Thạnh luôn tỏa ra hương vị quê hương. Tám Thạnh sẽ lần từng gốc dừa mà chuyện trò, mà hỏi han... Bao nhiêu điều cần biết sau khoảng thời gian đằng đẵng ấy. Bãi cát xế chợ có dài rộng ra? Thêm bao nhiêu nóc nhà mọc lên đó? Tám Thạnh vẫn hình dung ra vị trí túp lều đơn chiếc của mình nép dưới gốc dừa già, kề mép biển. Bao năm tháng côi cút cô đơn, Tám Thạnh đã chui ra, chui vào căn lều le te ấy. Tối tối chỉ biết chuyện trò với cây dừa, với bãi cát, với sóng. Đã ai chặt cây dừa hay nó vẫn đứng ngóng ra biển chờ Tám Thạnh về? Chắc dừa cũng đã già cỗi lắm! Có còn không những hàng quán lúp xúp ở chợ Thương Long? Cái chợ đầy tràn cá mỗi chiều, cái chợ lúc nào cũng ồn ã chao chát giá cả và lúc nào cũng tanh tưởi. Mà sao có tên là Thương Long, Hòn Hàng? Cớ chi kêu vậy chớ? Và bà Ba-cá-hồng, ông vẫn nhớ cái dáng núc ních của bà chạy lắt thắt trên bãi ra đón. Không phải bà đón Tám Thạnh, bà đón cá. Cái môi bìu ra như quả chuối khi ai đó kêu giá không vừa ý, ông nhớ rõ lắm... Và ngôi nhà cạnh chợ Thương Long... với người đàn bà ấy? Ừ, dẫu sao thì cũng một thời có người gọi ông là chồng và ông kêu họ là vợ; một thời da dẻ đỏ au của ông cũng có lúc mát lạnh tay đàn bà; ông đi biển về cũng có người thổi cho miếng cơm mà ăn, nướng cho con cá mà nhậu... Có những kỷ niệm thật vặt vãnh, nhưng thật khó quên...
           Ông Tám cứ đứng mãi thế, buồn buồn, vui vui, háo hức...

           Sau khi tác nghiệp hải đồ, Lê ước tính chỉ còn ba, bốn tiếng đồng hồ nữa đến vị trí chuyển hướng vào bờ. Lê mời bí thư Lượng và chi ủy viên Tám Thạnh lên để báo cáo quyết định của mình. Tất cả đều nhanh chóng nhất trí. Lê khẩn trương ra lệnh cho chiến sĩ thông tin mở máy để báo cáo lại tình hình T.67 vượt tránh cơn bão vừa qua và xin chỉ thị chuyển hướng vào bờ của sở chỉ huy. Song chờ mãi không thấy người chiến sĩ thông tin ra; nóng ruột, Lê xộc thẳng vào buồng máy. Người chiến sĩ thông tin run run bỏ "tráp" ra khỏi tai, khuôn mặt trắng bệch ngước lên, miệng lắp bắp:
           - Báo cáo... Máy hỏng. Có lẽ nước biển đã tạt vào nhiều quá !
           - Máy hỏng!?
           Hai tiếng đó giống như một nhát búa giáng vào Lê, khiến anh choáng váng. Mặt Lê bạc trắng chẳng khác da mặt người lính thông tin. Đôi chân run run như muốn quỵ. Máy hỏng! Máy thông tin hỏng có nghĩa là con tàu đã trở nên mù loà, chơ vơ quờ quạng giữa đại dương. Máy hỏng có nghĩa là không rõ tình hình trong bến, không rõ địch trên bờ, và như vậy tức là mọi hành động lúc này chẳng có nghĩa gì. Chao ôi, tác hại cửa cơn bão...
           Lê bíu chặt hai tay vào cửa và đứng thế cho tới lúc có tiếng chân của Lượng phía sau. Lượng hỏi:
           - Ý  kiến "các cụ" thế nào?
           Lê quay lại:
           - Không liên lạc được với sở chỉ huy!
           - Không liên lạc được với sở chỉ huy?
           - Máy thông tin hỏng, anh Lượng ạ.
           Lượng bước nhanh vào phòng thông tin. Hai chiến sĩ đứng như trời trồng. Họ định thanh minh rằng sóng gió, nhưng cả hai đều nín thinh trước cặp mắt của chính trị viên. Lê quay sang Lượng:
           - Cứ để các đồng chí ấy kiểm tra một lần nữa, đồng thời ta cho chạy máy phụ cấp điện. Có thể ắc quy yếu. Còn nước còn tát.
           Bên ngoài trời đã ngả chiều. Tất cả yên lặng. Chỉ có tiếng máy tàu rung lên đều đều.

           Thủy thủ trên tàu đã hiểu điều gì đang xảy ra. Họ đứng quanh cửa buồng thông tin nghe ngóng. Thời gian trôi chậm, nặng nề.
           Lê đứng cạnh hai người lính thông tin. Họ đang loay hoay với cỗ máy. Anh cố không biểu hiện rằng mình sốt ruột.
           Phía ngoài, tiếng sóng vỗ mạn đều đều, ì oạp. Và tiếng gió lướt trên mặt boong rin rít.
Một lúc, người chiến sĩ thông tin đờ đẫn ngước lên, lảng tránh cái nhìn của Lê.
          - Báo cáo, do nước vào, bộ phát sóng hỏng. Cuộn dây dao động bị đứt.
           Lê buông thõng tay. Anh lẳng lặng bước ra. Lượng cũng buồn bã ra theo: Đám thuỷ thủ ùa vào buồng lái.
           Lê nhìn xoáy ra trước mũi tàu. Yù nghĩ rối lên. Vào bến? Quay trở về? Sự quyết đoán và tỉnh táo của người chỉ huy lúc này mới cần thiết làm sao! Hoàn cảnh không cho phép chần chừ.
           Phía sau Lê , đám đông thủy thủ đang đứng lặng, chờ đợi Con tàu cứ đi thẳng. Thời gian cứ trôi.
           - Đề nghị các đồng chí bình tĩnh về vị trí của mình - Lượng nói - Mọi việc để chi ủy và ban chỉ huy quyết định. Mời chú Tám và thuyền phó Xuân vào hội ý.
           Khi chỉ còn bốn người, Lê nêu ý kiến:
           - Quay trở Lại thôi, anh Lượng và các đồng chí ạ.
           Xuân sững sờ:
           - Sao? Quay trở lại à? - Và đôi mắt Xuân nhìn đăm đăm vào Lê.
           - Theo tôi thì không thể khác được. Chúng ta đã không rõ tình hình bến.
           - Quay lại là bỏ lỡ thời cơ. Không thể thế được! Chiến trường đang cần vũ khí. Chúng ta không được  phép hành động như vậy. Đêm nay nhất thiết chúng ta  phải vào bến! Các đồng chí, tôi đề nghị chúng ta hãy bàn cách vào.
           - Đúng, phải vào bến!
           Phía ngoài cửa có tiếng một thủy thủ nói vào. Rồi nhiều tiếng xôn xao:

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Bảy, 2009, 08:34:55 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #31 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 08:14:03 pm »

       
           - Chúng ta đi nhiều chuyến còn nguy hiểm hơn, khó khăn hơn.
           - Vượt bão vào đây không phải để quay về!
           - Trên tàu chẳng một ai run sợ, thuyền trưởng ạ!
           Ánh mắt Lê lướt qua từng gương mặt thủy thủ, rồi anh điềm tĩnh nói:
           - Tôi xin lưu ý các đồng chí rằng: Trên tàu là một tổ chức quân đội; có người lãnh đạo, có người chỉ huy. Trong tình huống cấp bách, các đồng chí hãy trật tự để chi ủy và ban chỉ huy lựa chọn phương án - Lê nói tiếp - Các đồng chí ạ, điều chúng ta cần nhất lúc này là tình hình bến, song chúng ta không nắm được... Chúng ta cần phải quay ra.
           - Quay ra? - Xuân cau mặt. Rồi anh quay nhìn ông Tám Thạnh, lại nhìn chính trị viên Lượng. Lượng vẫn đứng im, suy nghĩ.
           Một lúc sau, thuyền phó Xuân, mặt tái lạnh, giọng run run, anh nhắc lại những lời căn dặn của trên và lời hứa của toàn tàu trước hôm T.67 lên đường. Cuối cùng giọng Xuântrở nên mạnh mẽ, đầy thuyết phục:
          - Quay về ? Chúng ta còn mặt mũi nào nhìn thấy cấp trên. Chúng ta đâu còn xứng đáng với các đồng chí của chúng ta đã hy sinh... Thà chết vinh quang còn hơn sống nhục nhã. Chúng ta nhất định phải đưa vũ khí vào bến đêm nay...
           Tiếng ồn ào lại nổi lên. Nét mặt mọi người hăm hở như đã sẵn sàng lao vào nơi hiểm nguy. Lê bước lên một bước. Dưới ánh sáng ngọn đèn, khuôn mặt Lê nhợt nhạt, nhưng cặp mắt lạnh sắc.
           - Tôi hiểu nỗi lòng của đồng chí Xuân và số anh em thủy thủ. Tôi hoàn toàn thông cảm với tình cảm ấy. Thật đáng hổ thẹn khi trong mỗi chúng ta không còn tình cảm đáng quý đó. Nhưng thưa tất cả các đồng chí, trước tình cảnh hiện tại, tôi muốn mỗi một thành viên trên con tàu này hãy sáng suốt và tỉnh táo, biết kìm nén tình cảm, lấy lý trí để xét đoán. Các đồng chí cũng  rõ là sự nôn nóng sẽ đưa chúng ta tới đâu và hậu quả như thế nào rồi! Trong năm qua, chúng ta đã mất bốn con tàu. Bao nhiêu đồng đội bỏ mình trên biển, chúng ta quên điều đó rồi sao? Những người đã chết không cho phép chúng ta có quyền phiêu lưu. Tình hình bến ra sao, ở đây ai rõ? Chúng ta như người đã bị mù. Đưa tàu vào bến trong hoàn cảnh như thế là mong chờ vào cái gì? Mong chờ vào sự may rủi! Tính mạng hai mươi con người, và cao hơn, ý nghĩa có tính quyết định của chuyến đi, sự cần thiết phải bảo vệ con đường vận tải trên biển mà tôi và các đồng chí đều hiểu, không cho phép chúng ta mong chờ ở sự may rủi. Có phải vậy không, đồng chí Xuân?
            Xuân lúng túng, hai tai dỏ ửng, nhưng cái nhìn của anh vẫn không biểu hiện sự nao núng.
            - Khi đưa tàu trở về, các đồng chí nghĩ rằng tôi không đau lòng sao? - Lê tiếp - Đồng chí tư lệnh gọi tôi lên hỏi cặn kẽ tình hình và sau đó trực tiếp giao nhiệm vụ thực hiện chuyến đi này. Sao tôi không rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của nó? Ai tiễn chúng ta đi? Phải, cũng chính là đồng chí tư lệnh. Và chúng ta đã hứa thế nào, tôi rõ lắm ...
            Lượng quay sang ông Tám Thạnh:
            - Giờ xin mời chú .
            Ông Tám nhìn Lê, nhìn Xuân, nhìn Lượng, rồi quay nhìn tốp thủy thủ.
            - Các đồng chí, Tám Thạnh xin thưa vài lời - Giọng ông run run - Tàu ta chạy tiếp mấy tiếng nữa là đến Hòn Hàng. Trước mắt là quê tôi đó. Hai mươi năm rồi, tôi chưa một lần trở lại nơi ấy. Nhớ lắm! Thương lắm! Ở Hòn Hàng có những điều chua chát, nhưng vẫn là quê hương. Ở đó có những cây dừa già, có mùi tanh của cá ...Tôi rất thèm được nhìn lại vùng đất ấy, vùng biển ấy lần cuối cùng trước lúc nhắm mắt xuôi tay. Thật lạ lùng làm sao, chuyến này lại cho tôi sự may mắn đó. Không ai ao ước, nóng lòng muốn đêm nay tàu vô đó bằng tôi. Các đồng chí ạ, đã mấy đêm nay tôi trằn trọc không ngủ. Cứ nghĩ rằng chỉ ngày một ngày hai nữa là mình sẽ đặt chân lên đất quê mà nao cả lòng... Khi đi trai trẻ , lúc tuổi tác đã cao mới trở về, liệu còn được trở về nơi sinh ra mình lần nữa không chớ? Khó lắm! Bão tan, tàu ta nguyên vẹn, tất cả các đồng chí đều mừng, mà người mừng nhất là tôi: Sắp vào Hòn Hàng rồi! Sắp được về quê rồi! Thế nhưng các đồng chí nghĩ thử coi: nếu phía Hòn Hàng địch đang giăng lưới bẫy ta? Ừ, đành rằng gặp địch thì đánh vô, cần hy sinh thì hy sinh, có chuyến ta đã như vậy. Nhưng liệu sự hy sinh đó có mang lại cái gì, hay mất cả hàng, lộ cả bến? Các đồng chí cân nhắc đi, có phải đưa tàu vô là liều không? - Ông Tám Thạnh đột ngột dừng lời, ông thở hổn hển. Những thớ thịt ở má như giật mạnh hơn. Cặp mắt vàng đục. Rồi ông nói tiếp: - Thuyền trưởng Lê nói đúng đó, chớ mong chờ vào sự may rủi. Hồi xưa tôi đi đánh cá, cũng mong vào sự may rủi. Nhưng đánh cá và đánh giặc khác nhau chớ... Chính trị viên Lượng hỏi ý kiến tui, thì ý kiến Tám Thạnh là: Tàu 67 ta nên quay trở về! Xin hết!
           - Chú Tám! - Lê nghẹn ngào.
           Ông Tám Thạnh gắng nén xúc động. Tiếng thở nặng nhọc như vừa làm việc gì quá sức. Và chợt ông bật khóc. Mọi người đứng im thít. Lê nhìn ông, lòng tràn ngập những tình cảm tốt đẹp; sự tôn kính, sự biết ơn lẫn sự thương cảm. Anh muốn ôm lấy ông, muốn gục đầu vào khuôn ngực nở nang, rắn chắc của ông mà khóc, mà nói rằng: Nhất định có ngày con đưa chú về thăm mảnh đất ấy! -  Anh quay vội đi, khoé mắt anh ánh nước.

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Bảy, 2009, 08:39:19 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #32 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 08:19:45 pm »


18


          Tư lệnh quân chủng bước thong thả trong phòng. Người hơi gập, đầu cúi. Nét mặt trầm tư. Những vết rạn chân chim in rõ hai bên khoé mắt. Điếu thuốc cháy trên tay. Xung quanh yên vắng. Chỉ có tiếng giày của ông gõ lên sàn đều đều. Công việc bộn bề khiến ông lo nghĩ. Địch thả bom từ trường rào chắn các cửa sông. Việc tháo gỡ những quả mìn ấy chưa có kết quả khả quan, vẫn trên bước mò mẫm và thử nghiệm. Sự thông luồng trở nên khẩn cấp. Trung tá Tường phụ trách công việc điện về trình bày rặt khó khăn là khó khăn, anh ta xin thêm cán bộ kỹ thuật, xin thêm thợ lặn. Xem ra nhiệm vụ tiến hành chưa được bao nhiêu. Đó là một con người rụt rè và thiếu quyết đoán, đúng hơn là ngại việc và sợ trách nhiệm, lúc nào cũng nhăm nhăm xin ý kiến cấp trên. Đã có lần ông nổi nóng:
          - Sao việc ấy anh lại hỏi tôi? Anh chỉ huy đơn vị anh phải biết và anh phải làm chứ. Bộ tư lệnh chỉ giao việc và chỉ thị chủ trương, còn cái cụ thể, người chỉ huy trực tiếp phải lo lấy!
           Tư lệnh không mấy thiện cảm với loại người thiếu chủ động, sáng tạo, chỉ đâu đánh đấy hệt cái máy như thế. Song không thể để anh ta ở trên cơ quan mãi được. Những người ấy để ở cơ quan càng chóng giảm năng lực. Phải đưa xuống đơn vị mà cụng đầu với thực tế. Chưa quen rồi quen. Thói lười suy nghĩ sẽ không có chỗ ở những nơi đó ...

           Tư lệnh rít từng hơi thuốc. Nhiều lo toan như cùng dồn đến... Hôm qua địch ném bom mạn Hòn Gai; thêm một tàu của đoàn 71 trúng rốc két. Bọn Mỹ đang mở chiến dịch săn tìm và tiêu diệt tàu hải quân. Máy bay xăm soi trên trời, tàu chiến nghênh ngó ngoài khơi. Đơn vị tàu phóng lôi mấy lần xuất kích đánh khu trục Mỹ đều quay về. Cần có phương thức tác chiến mới. Không thể ăn non, đưa tàu phóng lôi ra biển làm mồi cho máy bay Mỹ. Cần tạo được yếu tố bất ngờ. Tạo sự bất ngờ như thế nào, đó là vấn đề cần nghiên cứu... Đồng chí chính ủy ra ngoài ấy làm việc mãi đến giờ vẫn chưa về. Như vậy, tình hình đã hết sức phức tạp.

           Mấy hôm nay, điều khiến tư lệnh lo lắng nữa là việc tàu T.67 của thuyền trưởng Lê chở vũ khí vào Nam đi đến vùng biển ngang Quảng Ngãi mất tích. Sau cơn bão số 10, ông được cơ quan tác chiến báo cáo: mất liên lạc với T.67. ông đã chỉ thị dùng các biện pháp để dò tìm, lần kiếm, nhưng xem ra mọi sự cố gắng của cơ quan tham mưu đều vô hiệu. Năm ngoái, khi tàu T.65 "mất tích", trước đó ít phút, cơ quan tác chiến còn nhận được bức điện: "Chúng tôi gặp địch". Và mấy ngày sau, qua tin tức của địch, qua đài phương Tây và từ bến báo ra, ta rõ được sự việc: Tàu T.65 bắt buộc phải đâm vào tàu địch, nhận sự hy sinh. Còn trường hợp này? Khi mất tích, T.67 nằm vào vị trí cơn bão đi qua, chẳng lẽ con tàu đã bị bão dìm xuống biển. Qua cục tác chiến, tin tức từ bến đưa lại cũng không cho phép có kết luận gì cụ thể; bến vẫn đợi, và vẫn không thấy tàu vào. Vậy con tàu đi đâu? Tại sao đứt liên lạc?

            Ngày nào trên Bộ cũng điện xuống hỏi tình hình T.67, càng khiến tư lệnh lo lắng. Ông biết chuyến đi của T.67 được sự quan tâm đặc biệt trên Quân uỷ. Hôm lên Hà Nội báo cáo tình hình vận chuyển chi viện cho chiến trường, khi ông trình bày kế hoạch vận chuyển mới, mở đầu bằng chuyến đi khu Năm của thuyền trưởng Lê, các đồng chí trong Quân uỷ nghe rất chăm chú. Người nào cũng biểu hiện sự vui lòng, hài lòng. Cuộc họp rất sôi nổi, các đồng chí trong Quân ủy lần lượt bắt tay ông và chúc Quân chủng Hải quân đạt nhiều thắng lợi trong việc chi viện cho chiến trường. Tiễn ông ra cửa, đồng chí bí thư Quân uỷ còn dặn: "Mặt trận khu Năm đang rất cần vũ khí. Các anh trong đó điện ra khẩn thiết yêu cầu được chi viện gấp. Anh về động viên, tổ chức anh em phát huy tính sáng tạo, thông minh, tài giỏi thời gian qua, trước mắt gắng đưa được vài ba chuyến vào đó. Có vũ khí, coi như ta đã thắng một nửa. Anh em trong ấy đang ngóng chờ lắm...". Và ông đã hứa quyết tâm chấp hành chỉ thị của trên. Vậy mà...

           Tư lệnh rít tiếp một hơi thuốc dài, thả mẩu thuốc vào chiếc gạt tàn rồi đến bàn làm việc. Bác sĩ đề nghị ông bỏ thuốc, ông đã thôi một thời gian, vài ba hôm nay bỗng dưng nghiện trở lại.

           Ông nhìn lên tấm hải đồ: Ký hiệu tàu T.67 vẫn nằm nguyên vị trí con bão số 10 đi qua.

           Điều gì sẽ xảy ra sau việc tàu T.67 mất tích? Con đường vận tải trên biển sẽ gặp những trở ngai gì? Tiếp tục đưa vũ khí vào khu Năm và toàn Miền bằng phương thức nào?... Những câu hỏi ấy là ẩn số chưa có lời giải.

           Tư lệnh ấn chuông. Đồng chí trung úy dong dỏng cao lập tức có mặt.
           - Hỏi phòng thông tin tình hình liên lạc với H.03  (tức T.67) và gọi cho tôi đồng chí trưởng phòng quân báo.
           - Rõ!
           Mấy phút sau, đồng chí đại úy đậm người bước vào.
           - Theo đồng chí thì tại sao T.67 mất tích - Tư lệnh hỏi, mắt ông nhìn thẳng vào người đang đứng trước mặt.
           - Báo cáo, rất có thể vì một sự cố ngẫu nhiên; hỏng máy thông tin chẳng hạn! - Đồng chí trưởng phòng quân báo trả lời và xin phép ngồi xuống.
           - Thế còn bão?
           - Không loại trừ khả năng ấy, nhưng báo cáo, theo chỗ chúng tôi biết, thuyền trưởng tàu T.67 là người có chuyên môn vững, lại giàu kinh nghiệm đi biển, không dễ gì bị bão cuốn trôi nhanh chóng và dễ đàng như vậy. Thêm nữa, sau khi bão tan, hồi 17 giờ, chúng tôi nhận được tin bọn địch thông báo cho nhau: Lúc 15 giờ, máy bay trinh sát Hoa Kỳ phát hiện một tàu đánh cá lạ trong vùng biển quốc tế, ngang Quy Nhơn, cách bờ gần một trăm hải lý, chúng cho đó là tàu của Phi-líp-pin hoặc của Hồng Kông bị trôi dạt do bão. Riêng chúng tôi phán đoán, rất có thể đó là tàu T.67 của ta. Vì theo kế hoạch, thời gian ấy, tàu T.67 phải ở vào khoảng vị trí đó.
           - Liệu T.67 có lặp lại trường hợp T.65 năm ngoái? - Tư  lệnh hỏi tiếp.
           - Báo cáo, điều ấy chắc là không. Bởi cho đến hôm nay, tin tức chúng tôi thu lượm được qua nhiều nguồn, chứng tỏ những ngày qua hải quân Mỹ và hải quân Sài Gòn không hề có một sự đụng độ nào trên biển. Trước đó quanh đường đi của T.67 cũng bình yên.
           - Nếu vậy thì nhất định T.67 sẽ quay về!
           Tư lệnh ngả người ra sau ghế, những nếp nhăn trên trán hơi giãn ra.

*

           Mấy đêm qua, chính ủy Bùi Kim và đoàn trưởng Tư thức trắng. Hai ông không rời sở chỉ huy. Nỗi lo và trách nhiệm đè xuống khiến hai ông gầy sọp. Chính ủy đã lệnh cho các mạng thông tin mở máy túc trực suốt ngày đêm, nhưng cho đến hôm nay vẫn không nhận được một tín hiệu nào từ phía con tàu. Đảng ủy họp, mọi phán đoán, mọi giả thiết đều được đặt ra, nhưng vẫn chưa có câu trả lời.
          Đã qua đêm thứ ba.
          Đoàn trưởng Tư bước ra khỏi sở chỉ huy. Người mệt rã rời, đầu nặng trĩu, ông lần về phòng nghỉ.
          Hôm nào đồng chí cần vụ cũng đưa về bát cơm nguội ngắt, khẩu phần ăn sáng của đoàn trưởng, nhưng mấy bữa nay ông không đụng đũa.
          Nhìn cái cằm nhọn tua tủa râu, da mặt tái xám, đôi mắt thâm quầng của đoàn trưởng, cậu lính trẻ ái ngại:
          - Hôm nay đoàn trưởng cố ăn bát cơm nhé! Có trứng, lại có canh.
          - Đâu ra mà lắm món thế? - Ông hỏi.
          - Canh thì tôi nấu. Còn trứng thì... Mà thủ trưởng ăn đi đã. Mấy anh trong cơ quan mắng tôi rằng dạo này chểnh mảng thế nào để đoàn trưởng gầy thế.
          - Lại lấy trứng ở nhà bếp hả?
          - Dạ không -Anh chàng vội phân bua - Con gà của thằng Rành bên cảnh vệ đẻ được mấy trứng, nó bắt tôi đưa về làm thức ăn cho thủ trưởng. Nó bảo rằng tụi mình còn trẻ, ăn uống thế nào cũng xong, còn đoàn trưởng thì không thể. Nhìn "cụ" lúc nào cũng bận rộn, lo lắng, thương lắm. Nó nói bố nó bằng tuổi thủ trưởng, ở nhà chỉ việc trông cháu. - Nói xong, anh chàng đứng ngây ra nhìn.
           Đoàn trưởng âu yếm:
           - Các cậu cũng vất vả lắm. Mình biết!
           - Tôi lấy sẵn nước kia! Thủ trưởng rửa mặt rồi ăn cơm. Hôm nay tôi quyết định thủ trưởng phải ăn...
           Đoàn trưởng cười, ông với chiếc khăn, đi ra hiên:
           - Cứ an tâm. Mình chưa quỵ đâu anh bạn ạ. Ra cảng nhắn anh Tập tàu 28 chiều nay lên cho mình gặp nhé.
          - Nhưng thủ trưởng đừng bỏ cơm - Nói rồi, cậu ta chạy vụt đi.
         
           Sau khi vã nước lã lên mặt, đoàn trưởng thấy tỉnh táo hơn. Ông ngồi vào bàn. Lúc này mới có thì giờ bóc lá thư ra xem. Lá thư của vợ, ông nhận được chiều hôm qua.
           Nội dung lá thư làm ông bực. Vợ ông phàn nàn về thằng con trai út, ngày càng thêm hư hỏng. Theo bà, chỉ mỗi biện pháp xem ra còn hy vọng cứu vớt là gửi nó cho công an nhờ giáo dục hộ, thực ra là cho đi cải tạo. Vợ ông bất lực và xin ý kiến ông. Cách đây mấy hôm nó gây sự đánh nhau và đâm bị thương con ông giáo Đạt ở bãi chiếu bóng.
          "Tệ thật, sao lại sinh đốn ra thế?" Đoàn trưởng cố nén tiếng thở dài.

           Sự lo lắng của vợ qua lời lẽ trong thư làm ông nghĩ ngợi. Vợ chồng ông không đông con, chỉ có ba đứa. Khi ông đi "Vệ quốc đoàn" vợ ông, cô gái bán trầu cau ở chợ ngày nào, đang mang thai. Thực tình ông cũng muốn vợ đẻ cho mình đứa con trai nhưng con đầu lòng lại là gái. Tuy nhiên, điều đó mãi ba bốn năm sau, khi ông về thăm nhà lần đầu mới rõ. Ông rất vui vì con gái ông bụ bẫm, rất giống ông và biết nói những câu ngộ ngộ: "Bố ơi trên mũ bố có cờ"; "Bố ơi, mẹ bảo bố đi nghệ quốc đoàn"; "Con hái ông sao ở mũ bố xuống nhá"...

           Lần ấy, vợ chồng ông có thêm đứa thứ hai, cũng lại con gái. Hay tin, anh em trong đơn vị trêu ông không biết đẻ, toàn vịt giời. Ông cười và nghĩ rằng gái trai gì cũng được, miễn là sau này nó nên người.

           Hai cô gái đầu đều học hành đến nơi đến chốn. Cô lớn hiện là giáo viên cấp hai. Lấy chồng, dạy cùng trường. Hai vợ chồng vừa biên thư khoe với ông họ đã có con trai. Cô thứ hai đang thi vào đại học. Vậy mà chẳng rõ sao thằng thứ ba trở nên hư hỏng.

           Không phải đến bây giờ, khi chẳng còn cách nào khác, người vợ đành báo, ông mới rõ sự lêu lỏng của con. Những lần về phép, ông đã nghe nhiều người ca thán về nó. Nào là chuyện gây gổ đánh nhau. Nào là lập hội ăn cắp. Mới tí tuổi đã nghiện rượu, nghiện thuốc. Ông bực lắm. Ông rày vợ là không biết dạy con, nuông chiều nó quá mức. Người vợ chỉ tấm tức khóc. Ông gọi con vào, đe nẹt, dọa mắng, thậm chí bực quá, có lúc đánh. Uy quyền người bố khiến nó sợ và tỏ ra biết điều. Nhưng ông đi, nó lại tính nào tật ấy. Lại lấy tiền của mẹ rủ rê bạn bè đi biệt hàng tuần.
           Và lần này nó đâm bị thương con người ta.

           Đoàn trưởng thấy thương vợ. Lấy nhau chưa đầy mùa lúa, ông bỏ nhà đi. Từ bấy đến nay, hơn hai mươi năm, nếu tính chi li ra, người vợ chỉ được sống cạnh chồng không đầy người hai tháng. Niềm vui, nỗi an ủi, nơi để bộc lộ tình cảm là những đứa con. Khi hai đứa con gái lớn ngộc, bà đang lo chỉ ngày một, ngày hai là chúng lấy chồng, bỏ lại bà trơ trọi một thân một mình thì bà lại có thai vào dịp tiểu đoàn phó Tư nghỉ phép để chuẩn bị bổ sung sang Quân chủng Hải quân. Năm sau bà sinh con trai. Bà trẻ trở lại. Mừng quá! Tất cả tình thương của người mẹ, vợ ông dồn cả cho đứa con út. Nó được nuông chiều, nâng niu; nó được chăm bẵm, quý mến. Nó là niềm vui, là sự bù đắp khi hai đứa con lớn, lại như ông, ra đi. Có ai ngờ rằng... Đến bây giờ, khi vợ ông, là người vốn có đức chịu đựng đã không kiên trì được nữa đành nhờ pháp luật can thiệp để cứu vớt đứa con mình rứt ruột đẻ ra thì chắc rằng sự hư hỏng của nó đã trượt quá xa rồi.

            Đoàn trưởng ngồi thừ bên bàn. Những ngón tay gầy guộc, xanh xao ôm lấy khuôn mặt.

            Buổi sáng mùa đông ẩm sương. Hơi nước tỏa ra như khói mỏng lởn vởn quẩn quanh chân núi. Bầu trời mờ mịt như có tấm màn chăng qua. Phía đường cái, tiếng động cơ ôtô rù rì vọng lại. Cơ quan đoàn vắng vẻ.

            Có tiếng chân lật bật bước trên đá dăm. Đoàn trưởng quay lại: khuôn mặt xương xương thô vụng và cái dáng lêu đêu của Tòng hiện ra ở cửa.
           - Báo cáo đoàn trưởng, tôi xin vào! - Giọng Tòng oang oang - Mấy hôm nay tôi đi tìm thủ trưởng suốt.
            Bỗng anh chàng hốt hoảng nhào lại phía đoàn trưởng:
           - Đoàn trưởng cảm phải không? Trời ơi, sao xám xanh thế này?
           - Đâu có. Mình vừa ở sở chỉ huy về.

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Bảy, 2009, 08:50:56 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #33 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2009, 09:00:40 pm »


            - Nhìn sắc mặt thủ trưởng không được khỏe. Tình hình thế nào ạ?
            - Tình hình gì? - Đoàn trưởng xoay lại - Tay này chỉ thóc mách!
             Tòng cười:
            - Thủ trường đừng giấu tôi! Cả cơ quan đang ồn lên về vụ tàu T.67.
            - Tức là cậu rõ rồi?
            - Vâng, cũng nghe hơi...
             Tòng kéo ghế, ngồi xuống.
           - Cậu có nghĩ rằng hậu quả là do cơn bão số 10?
           - Không! - Tòng trả lời chẳng chút ngần ngại - Thằng Lê chả ngu đến nỗi để sóng gió ăn sống nuốt tươi con tàu dễ như thế. Tôi rõ nó lắm. Làm thuyền trưởng lại không biết điều khiển con tàu thế nào để tránh bão, còn ra cái thá gì nữa! Chắc trục trặc gì về máy móc đây.
           - Hy vọng thế!
            Đoàn trưởng xếp gọn mấy thứ trên bàn rồi xoay ghế, ngồi đối diện với Tòng.
           - Nào, gặp mình có việc gì? Muốn xin về mấy ngày thăm cô Lụa chăng? - Giọng ông vui vẻ trở lại.
           - Dạ, tình hình này, đâu dám ạ! Nhưng cũng chịu thủ trưởng đấy! Gỡ được cái xích đó ra khó thật. Tôi luôn cố, mà nó vẫn lằng nhằng quá. Xin tiếp tục cố nữa ạ!
            Đoàn trưởng cười:
           - Đùa vậy thôi. Mình hiểu cậu chứ! Bây giờ nói vào công việc đi!
           - Vâng, muốn báo cáo với thủ trưởng chuyện này - Tòng hơi cúi xuống, khuôn mặt thoáng nét buồn - Việc anh Mánh chết, tôi cũng đau lòng lắm chứ ạ. Có ai muốn thế! Khi quyết định cho tàu ra khỏi vòm đá, tôi cũng biết là liều, nhưng không thể khác được. Tàu đã lộ.Nếu chúng tôi chấp hành mệnh lệnh một cách cứng nhắc, thương vong chắc sẽ lớn hơn... Bây giờ mọi việc đã rồi và nghe đâu trên có ý định kỷ luật chúng tôi về hành động đó.
           - Mới có một vài ý kiến đề nghị. Đảng ủy chưa quyết định.
           - Tôi xin một nguyện vọng!
           - Cậu cứ nói.
           - Nếu trên xét kỷ luật, tôi xin nhận cả. Nếu con tàu ra khỏi vòm đá là khuyết điểm thì khuyết điểm ấy thuộc về tôi. Tôi chủ động và quyết định mọi điều. Tôi đã làm, tôi xin chịu trách nhiệm. Anh Đạm không đáng bị kỷ luật... .
           - Ghê nhỉ? Định làm một người hùng mai danh ẩn tích chăng? - Đoàn trưởng Tư nhìn Tòng bằng ánh mắt giễu cợt và ánh mắt ấy khiến Tòng bối rối, thoáng như xấu hổ. Đoàn trưởng nói tiếp - Và nếu hành động vừa rồi của tàu T.37 đáng được tuyên dương anh hùng thì cậu lại bảo rằng công lao thuộc về chính trị viên Đạm phải không?
           Khuôn mặt Tòng chợt đỏ. Anh lúng túng, miệng lắp bắp định nói câu gì nhưng không bật ra thành lời.
           "Cụ Tư ghê thật". Anh nghĩ và không dám ngước lên.
           - Cậu xoàng lắm! Đạm không thường như vậy đâu. Đạm cũng dám chịu trách nhiệm về hành động của mình chứ!
           " Đúng là mình xoàng thật! Ngu quá! Biết chuyện chắc anh Đạm phật lòng lắm. Sao lại coi thường anh ấy như vậy?"
           - Mà ai đã kỷ luật các cậu...
           - Vâng là tôi cũng cạn nghĩ vậy thôi... - Tòng không ngẩng lên, nói lí nhí. Đoàn trưởng nhìn vẻ luống cuống của người ngồi trước mặt, thấy hài lòng. Dẫu sao anh chàng cũng còn biết hổ thẹn với ý nghĩ đó cua mình.. Điều ấy đáng quý. Tòng về đoàn chưa lâu, nhưng ngay từ đầu ông đã có cảm giác tin con người này. Anh ta có thể vụng về nóng vội trong nhiều việc, song sự nóng vội đó không bắt đầu từ ý đồ cá nhân. Tự trọng và tự ái là hai khái niệm khác nhau. Những người biết tự trọng luôn có cái mặc cảm xấu hổ với những việc làm sai của mình. Những người mang động cơ cá nhân lại thường huyễn hoặc, đánh lừa mình và đánh lừa mọi người. Khi người ta đã không biết tự xấu hổ, người ta sẽ mắc rất nhiều khuyết tật. Khuyết tật lớn nhất là nói dối và điều ấy mặc nhiên như một thói quen. Sự nói dối xa lạ với con người đang ngồi trước mặt ông.
           Đoàn trưởng toan nói một điều gì để anh ta rõ được tình cảm của mình, nhưng ông biết con người này không thích sự vuốt ve.
           - Gặp đoàn chỉ để đề đạt ý định nhận mọi khuyết điểm về mình thôi sao? - Đoàn trưởng nói và Tòng nhận ra trong giọng nói ấy đã có sự cởi mở.
           - Báo cáo, còn một nguyện vọng nữa ạ! - Tòng ngẩng lên, khuôn mặt hớn hở - Báo cáo thủ trưởng đoàn, toàn bộ thủy thủ tàu tôi nhất trí đề nghị lên thủ trưởng cho được nhận nhiệm vụ . Cụ thể là xin được giao trách nhiệm chở vũ khí chi viện cho chiến trường. Hơn nửa năm nay tàu T.37 sống trong cảnh chờ đợi rồi...
           Tòng lần túi lôi ra một mảnh giấy gấp làm tư:
           - Đây là đơn có đủ chữ ký của mười chín anh em trong tàu gửi lên thủ trưởng đoàn.
           - Các cậu định làm reo đấy à? Cậu đầu têu việc này phải không?
           - Đó là nguyện vọng chung của anh em, tôi thấy hợp lý nên mới làm người chấp bút. Làm anh lính thuỷ mà chỉ biết neo tàu vào các vòm đá để trốn máy bay cũng ngượng chứ ạ!
           - Thế đấy, cả một tập thể biểu tình đòi nhận nhiệm vụ...
           - Còn một việc nhỏ nữa ạ!
           - Lại việc gì nữa thế?
           - Tàu chúng tôi cũng có tí vốn liếng nho nhỏ. Anh em muốn gửi về giúp gia đình anh Mánh, gọi là chút tình cảm quý mến của tàu đối với người đồng đội đã khuất. Xin ý kiến thủ trưởng đoàn.
           Tư nhìn Tòng. Giọng ông trìu mến:
           - Việc ấy mình ủng hộ. Nhưng cậu cần báo cáo để chính ủy rõ .
           "Sắp tới hắn còn nghĩ ra điều gì nữa đây?". Nhìn thân hình cao lênh khênh của Tòng hớn hở bước trên con đường đá dăm về cảng, đoàn trương Tư thấy vui vui. "Tay này nếu nhốt lại, không cho làm việc, chắc điên".
           Sương tan dần. Bầu trời sáng hơn. Hơi ẩm từ ngọn núi tỏa ra hăng hắc, lành lạnh.
           Chợt có một loạt đạn cao xạ từ đâu đó vọng lại và tiếng động cơ máy bay lướt nhanh trên ngọn núi. "Hôm nay chúng trinh sát sớm vậy?". Đoàn trưởng ngả người ra sau ghế. Ông hít một hơi thật sâu vào lồng ngực, thấy dễ chịu hơn.
           Lấy thư vợ đọc lại lần nữa rồi gấp cẩn thận bỏ vào ngăn bàn, đoàn trưởng đi lên sở chỉ huy.
           Ở sở chỉ huy lúc này có mặt hầu hết cán bộ trong đoàn. Chính ủy Bùi Kim ngồi lặng lẽ như nán chờ đợi một cái gì.
           Căn phòng yên vắng.
           Gần trưa một sĩ quan tác chiến, người đầy bụi vội vã bước vào phòng:
           - Báo cáo, tàu T.67 đã quay trở về
           Mọi người dường như cùng lúc bật cả dậy.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #34 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2009, 09:05:52 pm »


19


           Lê lên đoàn nhận nhiệm vụ đã ba ngày, hẹn hôm nay về vẫn chưa thấy, khiến Lượng rất sốt ruột. Chẳng lẽ việc con tàu sẽ tiếp tục ra đi cấp trên còn cân nhắc lâu như vậy. Hay có gì trục trặc chăng? Từ hôm tàu phải quay về, Lượng rất buồn. Hôm đi cùng với Lê lên đoàn báo cáo, anh có cảm giác mấy tay thuyền trưởng và chính trị viên tàu bạn cứ nhìn mình. Xung quanh hình như có nhiều tiếng bàn tán: "Tàu của tay Lượng và Lê đi theo chiến thuật hình chữ "O" - Lại phải ậm ạch mang cái "bụng chửa" về à?... Họ đâu rõ hoàn cảnh cụ thể và cách xử lý cự thể của các anh! Buồn, nhưng trong anh vẫn nuôi mối hy vọng: Anh và con tàu T.67 chắc chắn được tiếp tục làm nhiệm vụ.
           Lượng đứng trên boong, ngóng vào bờ. Trời ngả về chiều. Mây lãng đãng vờn quanh đỉnh núi. Nắng nhạt, trời mỏng trên mặt biển.
           Gần tối Lê về. Chiếc thuyền con vừa cặp mạn, Lượng đã xô ra, hỏi ngay:
           - Thế nào, trên đồng ý chứ?
           - Có nhiều việc phải bàn gấp với anh đây - Lê bám dây, đu lên boong.
           Hai người vào buồng thuyền trưởng.
           Đám thủy thủ biết Lê về, đứng ngấp nghé ở cửa thấp thỏm ngóng chừng. Lượng quay lại, xua tay:
           - Nghe lỏm cán bộ hội ý là xấu, rõ chưa.
           Mấy tay "tham mưu con" nhìn nhau rồi lấm lét đi lên boong. Họ biết chính trị viên dạo này khó tính.
Lượng khép cửa, ngồi xuống mép giường:
           - Bao giờ nhổ neo? - Anh nóng lòng hỏi.
           Lê ngồi đối diện với Lượng:
           - Chờ con nước! - Lê nói - Ngày giờ ra đi chưa rõ. Trên lưu ý anh em mình, tình hình địch căng, nơi ta vào chúng vừa điều về một giang đoàn. Bọn này mới thành lập nên hăng hái sục sạo, và đang máu mê chiến tích. Mấy bữa vừa rồi anh em trong đó ngóng ta suốt. Ám hiệu nhận nhau không đổi.
           - Sao trên không cho nhổ neo sớm. Chờ tới bao giờ? Chật cứng cả một tàu đầy đạn, chẳng may "ăn" phải quả rốc két là đi tong hết. Các ông trên không tính tới chuyện đó. Anh em thủy thủ thì nóng ruột. Mấy hôm nay nhấp nha nhấp nhổm mong thuyền trưởng đi họp về để biết tình hình. Đó, họ đang bàn tán, đoán già đoán non trên boong.
           - Nhưng, còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện chứ anh! Trước mắt, ta có mấy việc làm gấp anh ạ - Lê nói.
           - Tôi cũng nghĩ là những ngày tới sẽ bận - Lượng xoay người về phía Lê - Tôi đã lệnh cấm từ nay không được một ai lên bờ. Cận ngày đi, để anh em la cà trên phố rồi hối không kịp.
           - Thứ nhất, cột giả giá lưới đánh cá quá cao làm mất độ ổn định của tàu, phải tìm cách hạ thấp xuống. Có thể sắp tới ta vẫn gặp sóng gió - Lê vẫn nói theo ý nghĩ của mình - Thứ hai là phải sơn lại tàu, kẻ lại biển số, bố trí lại mặt boong. Trên báo rằng chuyến đi vừa rồi, máy bay Mỹ đã chụp ảnh tàu ta. Vì vậy phải cải dạng theo kiểu khác. Rồi cho người đi nhận thực phẩm, chuẩn bị lấy nước, lấy dầu. Và vẫn phải ngụy trang tàu kín hơn nữa... Những việc đó cần khẩn trương. Ngày nhổ neo chắc cũng gần thôi.
           Lượng im lặng. Người hơi lắc lư: "Tất cả những việc ấy huy động anh em làm trong vài ngày là xong".
           Tối đó Lượng cho họp. Anh phổ biến và phân công việc cho từng bộ phận, rồi về phòng mình. Anh có ý định ngủ sớm, đã mấy đêm nay hầu như không chợp mắt. Ngày mai có bao công việc đang đợi.
           Bóng tối phủ đặc mặt nước. Những ngọn núi nhoà trong màu đen của biển. Sóng đưa vào mạn ì cặp. Con tàu dập dềnh nhè nhẹ. Đâu đó như có tiếng bom ì ầm vọng lại và thoáng có tiếng ù ì cửa động cơ máy bay.
           Lượng nằm yên, lắng nghe những âm thanh từ xa vọng tới. Anh có cảm giác như mình trôi trên một vùng biển lạ .
           Phòng thủy thủ, mọi người cũng chưa ngủ. Tiếng nói chuyện nghe mỗi lúc một rõ. Hải cười lúc búc:
           - Tớ hả? Tớ đếch mong thư ai cả. Vợ mình không có thời gian tắm cho ba ả thị tẹt, lấy đâu ra sự rỗi rãi mà viết thư. Các tướng tưởng chăm ba đứa con nhàn lắm hả?
            - Ai bảo anh tham, đẻ nhiều? - Giọng Linh khiêu khích.
            - Vâng, còn đời các bố đấy? Lấy vợ rồi lại không sòn sòn như gà, cứ mang đầu tớ ra mà chặt.
            - Phải biết cai chứ?
            - Cai! Chờ đấy mà cai. Đi biền biệt, vài ba năm mới về thăm bu cháu một lần, có mà cai cái cóc khỉ.
            - Lấy vợ phải chọn tiêu chuẩn gì đầu tiên, anh Hải? - Cang hỏi.
            - Làm vợ phải biết... sợ ma!
             Mọi người bật lên cười.
            - Sợ ma cũng còn khá hơn những kẻ say sóng - Cang phản kích, thủy thủ đếch gì mà chưa trông thấy biển đã nôn? Cứ như con rệp khô dính trên giường. Lần sau đi biển, đề nghị thuyền trưởng sắm cho cái túi ni lông mà đeo như cái rọ treo ở miệng con bò ấy.
           - Em cũng là một phương thuốc chống say đấy các bố nhé - Linh tham gia - chứ không à? Mình nghiệm ra thế! Hễ nghĩ đến người yêu là cậu nào, dù úa héo tới đâu cũng tươi tỉnh lên ngay. Sở dĩ cậu Mừng nhà ta là vua say sóng bởi chưa có em nào để mà nhớ, để mà nghĩ lúc sắp say. Đúng vậy không Mừng? Trước khi làm thủy thủ, phải yêu đã.
           - Xì! Đã say sóng thì đếch có thuốc nào chữa được ráo. Em mà nằm trong bụng cũng cứ nôn ra tuốt.
           - Ha ha! - Tiếng cười vang khoang tàu.
           - Lúc nãy là mình nói đùa, chứ tiêu chuẩn người vợ của cánh lính như chúng ta, trước tiên là sự chung thủy. Lòng chung thủy, rõ chưa? Lênh đênh trên biển có trăm thứ phải lo: lo bão, lo say sóng, lo gặp địch, lo không vào được bến...lại còn cộng thêm nỗi canh cánh về sự không chung tình của vợ nữa thì thà sống quách một mình cho sướng cái thân đời.
           - Anh Hải nói chí phải!
           - Cậu thì biết đếch gì mà cũng chõ vào. Mảnh tình vắt vai chẳng có.
           - Điều cần nhất là lòng chung thủy! Đồng ý!
           - Chung thủy!
           
           Lượng trở người, cố nén tiếng thở dài. Anh toan quát một tiếng, nhắc mọi người đi nghỉ, nhưng lại nằm im. Anh nghiêng người, xoay mặt vào vách. Lòng chung thủy! Phải, tiêu chuẩn đầu tiên của người vợ là lòng chung thủy! Lượng nhắm mắt, cố ngủ. Nhưng những hình ảnh của quá khứ bấy lâu anh chôn chặt, bỗng chờn vờn hiện ra. Và đôi mắt người đàn bà ấy lại tự dưng nhìn anh, rõ thế. Bao năm rồi, tưởng đã quen được, vậy mà sao ánh mắt ấy vẫn cứ ám ảnh anh? Cuộc đời thật chẳng dễ dàng một điều gì...
         
          ...Khi anh quyết định lấy cô ta, đã không ít người gàn. Nhưng anh bỏ ngoài tai hết, mặc dù không sao trả lời được câu hỏi: cớ gì Đào muốn làm vợ mình? Anh biết hồi đó trong làng phải đến trên dưới nửa tá đàn ông theo đuổi cô gái mắt đen, sắc như lưỡi dao cau, trắng trẻo, mỡ màng, lúc nào cũng nẩy phây đầy sự quyến rũ này. Trong số đó, có người giàu có, dư của ăn của để, khối người có địa vị và cũng khối kẻ sẵn sàng suốt đời làm nô lệ cho Đào. Nhiều người giải thích: "Vì mày dễ dãi cả tin, lấy mày để nó dễ bề "đây đó" chứ sao?". Lượng không tin, và điều này như một chứng minh: Cưới nhau xong, vợ chồng anh sống hạnh phúc, biết chiều nhau và cặp kè như sam. Tuy vậy lúc bấy giờ vẫn có người, chẳng rõ vì thực tình ái ngại cho anh hay vì ghen ghét đã bảo thẳng: "Không biết giữ, có ngày mất  vợ. Đâu có loại dàn bà gặp anh đàn ông nào cũng ưỡn ẹo liếc nhìn lẳng lơ như ả Thị Mầu...". Anh tặc lưỡi: "Ôi dào, miệng thế gian...". Anh biết làm vừa lòng vợ và nghĩ rằng đã là vợ chồng thì phải tin nhau.
           Khi Lượng có ý định nhập ngũ, Đào một mực không thuận. "Anh đừng đi, nếu họ bắt tù tội thì em nuôi. Cớ gì để vợ vò võ một mình?". Anh nghĩ rằng người vợ nào thương yêu chồng, lúc xa cách chẳng biểu hiện như vậy, nên lấy làm vui.
           Đêm trước ngày lên đường, Đào quàng tay ôm lấy anh, thút thít khóc và không rõ đùa hay thật, bảo: " Anh đừng đi, em sợ mình không giữ được cho anh. Anh mất vợ đấy!". Coi Đào vì quá yêu mình mà dọa thế, anh mắng: "Bậy nào, đi rồi về, chứ chết hẳn".
           Hai năm sau anh về, Đào đã hai lần phá thai. Không đợi nghe lời xì xào nhỏ to cửa người ngoài, ngay đêm phép đầu tiên, Đào đã thú hết tất cả. Chị chàng còn trách: "Tại anh cả. Con gái có thì, anh biền biệt thế, ai chịu được".
           Lượng choáng váng. Anh có bực, anh có tức, anh cảm thấy cay đắng. Nhưng rồi lòng vị tha, bao dung đã thắng. Anh bỏ qua. Với nữa, những kỷ niệm êm đẹp sống với Đào hồi mới cưới khắc đậm trong anh, không quên được. Chuyện cũng đã qua, bới ra chỉ thêm xấu.
           Lần thứ hai anh về, người vợ rất chịu ơn, khóc lóc và tỏ ra ân hận, hứa hẹn nhiều điều trước ngày trả phép lần thứ nhất, đã bất chấp dư luận, bất chấp luật pháp, công nhiên đến sống chung với lão thợ may lớn hơn cô nàng mười lăm tuổi ở đầu phố chợ, như vợ, như chồng.
           Lượng những tưởng sự độ lượng của mình lần trước khiến con người tội lỗi ấy ăn năn, biết điều và tu tỉnh lại, ai ngờ cô ấy trơ trẽn, không còn biết xấu hổ là gì nữa.
           Nỗi đau ngoài sự suy nghĩ trung thực, đôn hậu của anh khiến Lượng choáng váng. Con người trầm tính, kín đáo ít bộc lộ tình cảm ra ngoài ấy không tự chủ được, rũ xuống như một tàu lá héo. Đêm đêm anh đi vẩn vơ ngoài cánh đồng như một kẻ tâm thần. Chẳng phải anh nuối tiếc người đàn bà ấy, mà anh ngẫm nghĩ về sự đời.
           Nhưng người đàn bà đó đâu đã tha anh.
           Vào một đêm tối trời mưa gió đùng đùng, chị chàng lách tới nhà. Chị ta vật vã khóc lóc, tự nhận hết mọi lỗi lầm, van vỉ anh tha thứ và đưa cả cái chết ra thề thốt. Người đàn bà bảo rằng chị ta sống không thể thiếu anh, rằng tội lỗi đã rõ ấy, anh muốn trừng phạt thế nào cũng cam, nhưng xin đừng bỏ rơi chị ta.
           Lượng biết tình cảm của người đàn bà lúc này rất thật song không rõ sao anh lại dửng dưng, nguội lạnh như thế. Anh trơ ra. Đào cứ gục vào vai anh khóc sướt mướt và một điều không ngờ xảy đến: đôi mắt long lanh của người đàn bà bỗng ngước lên nhìn Lượng, hai cánh tay trần, trắng nần nẫn bất ngờ quàng lên cổ anh và chị ta run run cầu khẩn xin được ở lại đây với anh đêm nay. Chị ta bảo rằng chị không đủ sức nhìn anh đêm đêm như một bóng ma tiều tụy thơ thẩn ngoài ruộng. Chị thương anh và...
           Lượng bàng hoàng. Anh vụt đứng dậy. Đôi mắt người đàn bà rực lên khiến anh bối rối. Trong một lúc, anh đờ đẫn như người mất hồn. Anh lờ mờ nhận ra hương sả, hương nhu, mùi lá thơm từ mái tóc đang xoã trên ngực mình. Anh lịm đi. Nhưng ý thức về cuộc sống, về những gì trong lành; ý thức về sự phũ phàng của những ngày tháng qua và một cái gì như thể lòng tự ái thôi thúc anh. Anh dứt ra khỏi đôi cánh tay mềm mát, trắng tròn, thơm tho và như một ngươi đang trong cơn mê, anh hoảng hốt vùng chạy ra sân. Trời vẫn mưa xối xả.
           Mờ sáng hôm sau. Lượng khoác ba lô, âm thầm trốn khỏi làng.
           Từ bấy đến nay anh chôn chặt chuyện riêng tư. Nếu có nhu cầu tâm sự, anh cũng chỉ dừng lại ở câu chuyện phụ tình mà thôi.
           Sự mất mát lặng lẽ, ê chề khiến Lượng trở nên bẳn tính và hay nóng nảy mỗi khi gặp điều gì quá căng thẳng.
           Tuy vậy mỗi lần buộc phải nhớ lại chuyện cũ, chưa bao giờ Lượng nghĩ xấu về hành động của người đàn bà nọ trong cái đêm mưa gió đó. Trong thâm tâm, anh vẫnnghĩ ràng cô ta không có ý định thủ đoạn, lợi dụng tìm kiếm cho mình điều gì cả. Chỉ thương anh thực lòng và trước lúc biết rằng phải xa hẳn anh, chị muốn bù đắp bằng cái mà người phụ nữ có thể có được.
           Chuyện đã khá lâu, nhưng vết thương không lên da non để thành sẹo, mỗi lần có cái gì phạm tới, dù khẽ, anh lại đau, lại suy nghĩ và buộc phải nhớ đến... "Ừ, có lẽ tại cái số của mình nó vậy. Trong làng trong xã, bao nhiêu người đi bộ đội, vợ ở nhà vẫn chung thủy, đảm đang. ông Lung đầu làng, cưới vợ được ba hôm thì đi, năm sau có tin mất tích, bà vợ vẫn chớ vẫn đợi. Bà Tính vò võ bảy năm vừa nuôi con, vừa nuôi bố mẹ chồng, không một điều tiếng...vậy mà mình !!! .... " .
           Lượng thở dài. Đôi mắt mở to nhìn ra mảng đen qua khung cửa sổ vài ngôi sao li ti, mờ nhạt.
           Bên buồng thủy thủ đã yên lặng. Từ phía đó phát ra  tiếng thở đều đều. Chắc mọi người đã ngủ ngon.
           Phía ngoài, gió lùa vào những hốc núi ù ù nghe mơ hồ như tiếng xay thóc. Đâu đó, chắc trên đỉnh núi, có tiếng tác của con thú đi ăn đêm. Và hình như có tiếng vỗ cánh của con chim nào đó bay qua. Sóng vẫn vỗ vào mạn đều đều. Về khuya nghe càng rõ.

          ... Mấy ngày sau, vào một buổi chiều, chính ủy Bùi Kim trực tiếp xuống trao nhiệm vụ cho tàu T.67. Ông không nhắc lại chuyện cũ. Ông chỉ dặn một số điểm cụ thể để ứng xử trong những trường hợp khó khăn. Trước khi về, ông siết chặt tay chính trị viên Lượng và thuyền trướng Lê:
          - Thủ trưởng và Đảng ủy đoàn rất tin ở các bạn. Bọn mình chờ tin thắng lợi.
          Và ngay trong đêm ấy, con tàu được lệnh nhổ neo, lặng lẽ trườn qua mặt vịnh, ra biển.

« Sửa lần cuối: 06 Tháng Bảy, 2009, 09:11:54 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #35 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2009, 02:11:30 pm »


20


           Đêm cuối năm, sương mù xuống nhanh và trời se se lạnh. Thị trấn Thương Long nhập nhoà dưới ánh sáng của hàng chục ngọn đèn măng sông treo trước các cửa hiệu, hàng quán. Những ngôi nhà hai tầng, một tầng đủ dạng kiểu, cái nhô ra, cái thụt vào, cái cao, cái thấp ken sát vào nhau. Nhìn qua cũng có thể biết nơi đây phồn thịnh lên chưa lâu. Tiếng nhạc nhoà nhợt tràn ra phố. Các quán nhậu đã vãn người. Thỉnh thoảng vài ba tên lính bá vai nhau, từ trong quán xiêu vẹo bước ra, ngất ngưởng đi về phía đồn Vạn Hải, bên mép biển. Trong chợ, mấy cô gái son phấn loè loẹt, áo thun ngắn mặc hở bụng, quần loe quét sát đất lởn vởn lượn qua lượn lại đón khách.
           Sắp tới giờ giới nghiêm.
           Một người vận đồ quân cảnh cưỡi hon đa 90, mở hết tốc độ tắt qua mé chợ đi ra con đường dẫn xuống mép biển. Ngồi sau người ấy có cô gái trạc hai hai, hai ba, mảnh dẻ khuôn mặt xinh xẻo, bận áo bà ba đen. Đó là Ba Huỳnh, người phụ trách việc đón hàng đêm nay và Sáu Thùy, chiến sĩ trong đội công tác của ông.
           Chiếc hon đa rú ga ầm ào, nhảy chồm chồm trên con đường gồ ghề. Sáu Thùy bám chặt vào Ba Huỳnh, cả hai đều im lặng.
           Ba Huỳnh chừng năm mươi tuổi, dáng cao, to, da mặt sạm đen. Người thô, khuôn mặt vuông, miệng rộng. Vậy mà trông ông hiền khô. Ông hoạt động ở vùng này đã khá lâu, lúc hợp pháp, lúc giấu mặt. Mọi người trong đội công tác thường trìu mến gọi ông là bố, bởi Ba Huỳnh có cậu con trai năm nay khoảng hai lăm, hai sáu tuổi, ông gửi theo người bạn đi tập kết ra Bắc từ năm 1954 và nghe nói hiện nay cũng làm cán bộ chỉ huy tàu. Đã bao lần nghe tiếng còi tàu từ biển dội tới, ông nôn nao. Lần này được cấp trên giao cho việc tổ chức bến chuẩn bị đón tàu từ Bắc chở vũ khí vào, ông vừa lo, vừa mừng lại vừa thấp thỏm. Cuộc đời có thể có những sự ngẫu nhiên bất ngờ: biết đâu thằng Xuyên, con trai ông chẳng đưa tàu vô? Chỉ nghĩ đến thế, ông đã thao thức không ngủ. Ông chỉ có mình nó, sau kháng chiến chín năm, đã ngờ rằng mình sẽ cùng vợ con tập kết ra ngoài đó. Mọi sự chuẩn bị đã xong, ai ngờ trên đường đi, bà vợ kẹt lại. Ông đành phải lộn về tìm. Mà cái cớ khiến bà kẹt lại mới vớ vẩn chớ? Chỉ vì nhảy xuống mua quà cho bố con ông, nên nhỡ xe. Khi lộn lại đưa được vợ tới Quy Nhơn thì thằng con ông đã xuống tàu cùng Năm Hớn,  người bạn hoạt động với ông trên huyện, đi ra Bắc. Và ai lường đó lại là chuyến tàu cuối cùng chở những người tập kết. Ông an ủi, dỗ dành vợ và đưa bà về quê. Ít lâu sau ông lên cứ, tiếp tục hoạt động. Cuộc đời hoạt động cách mạng thật nhiều điều lý thú. Ông có ngờ đâu mình lại trôi giạt tới mạn này và được tổ chức phân công nắm tình hình vùng Hòn Hàng...
           Cả vùng Hòn Hàng biết tiếng Ba Huỳnh và thêu dệt nhiều giai thoại về ông. Người ta đồn rằng ông là một tay xuất quỷ nhập thần, có tài biến hóa như Tôn Ngộ Không. Lại có thể bắn bách phát bách trúng, và ra vô đồn địch giữa ban ngày như đi chợ. Việc đồn đại ấy có cớ. Quả ông đã làm bọn địch đóng trong vùng phải kiềng mặt. Năm ngoái, đúng lúc giao thừa, trong bộ quần áo sĩ quan ngụy, ông đột nhập tiệm nhảy Hoa Long, nơi bọn tướng tá Mỹ, ngụy và bọn công chức vai vế trong vùng tập trung ăn nhậu, đàn đúm đón tết. Khi tên thị trưởng đang ba hoa, trộ dọa trước bọn đàn em và trước mấy ả ăn mặc nửa kín nửa hở thì Ba Huỳnh nhảy lên đứng ngay trên bàn tiệc. Bọn này chưa kịp ngạc nhiên thì ông giáng mạnh chai rượu vào giữa mặt tên thị trưởng rồi vọt ra cửa, tung tiếp mấy quả lựu đạn. Tiệm Hoa Long thất đảm. Bọn sĩ quan và đám gái Thiên Nga đạp lên nhau, la hét om sòm. Thị trấn Thương Long náo động. Lính đổ ra kín đặc vây suốt đêm giao thừa và cả ngày mồng Một tết. Hôm đó thật may, Ba Huỳnh chỉ bị một viên đạn xuyên qua bắp vế. Từ đó ông đi hơi lệch người.
           ... Chiếc hon đa vẫn lùi lũi lao đi. Tới ngã ba, xe giảm tốc độ, rẽ sang trái. Lộ nhỏ, nhưng mịn, toàn cát xe đi êm. Mặt biển mù sương hiện ra. Gió phả vào mặt Ba Huỳnh ẩm mặn, tanh tanh. Hương vị quen thuộc khiến ông nôn nao.
           Tới bên ngọn đồi nhô ra biển, xe dừng lại.
           - Chú Ba hả? - Có tiếng người đội phó hỏi - Sương mù xuống dày quá mà. Nhìn ra không thấy chi hết.
           - Chuẩn bị xong cả rồi chớ, Quế?
           - Tất cả đã sẵn sàng. Hai tiểu đoàn của quân khu ém sẵn bên kia ngọn đồi, chờ tàu vô là nhận vũ khí luôn. Tổ công tác đã triển khai theo đúng ké hoạch.
           Ba Huỳnh nhìn chiếc đồng hồ dạ quang đeo ở tay:
           - Ta ra mép nước! - Ông bảo.
           Mặt biển đầy sương, mịt mù. Sương cồn lên, lấn vào trảng cát, phủ kín mọi người. Cách vài ba mét đã không nhìn rõ nhau. Trên những chiếc xuồng gối đầu lên bãi, tốp du kích lo lắng xì xầm bàn tán. Chốc chốc, ánh đèn pin lại rọi ra phía biển, chớp lên ba lần.
           - Sương mù quá trời mà, chú ba - Một người lên tiếng khi Ba Huỳnh lại gần - làm sao tàu nhận ra tín hiệu mà vô?
           Ba Huỳnh không trả lời, ông ngồi xuống cát, châm thuốc hút, mắt đảo về phía đồn Vạn Hải cách đó không xa. Đồn Vạn Hải cũng bị chìm trong sương mù, nếu không có ánh đèn pha cách vài ba phút lại lóe lên rà đi quét lại thì thật khó nhận .
          - Việc cảnh giới sao rồi, Quế? - Ba Huỳnh hỏi.
          - An tâm mà chú Ba. Động là biết liền.
           Ba Huỳnh quay sang Sáu Thùy:
          - Đo mức nước thử coi, Sáu!
           Cô gái đẩy chiếc xuồng xuống nước, nhảy lẹ lên. Cô đưa cây sào đã khắc vạch làm thước, cắm xuống.
          - Không mét bảy!
          Mọi người im lặng chờ đợi. ánh đèn pin không ngừng phát tín hiệu.
          - Không mét chín! - Tiếng Sáu Thùy đọc to.
          Ba Huỳnh bập từng hơi thuốc, khuôn mặt bất động. Ông đã thật sự lo lắng. Sương mù này làm sao tàu lách qua núi Một, qua eo Lồng Cú? Làm sao nhận ra "bến" mà vô? Đến người rành luồng lạch trong vùng, trời trong, vô còn khó.
          - Một mét chẵn!
          Chẳng lẽ lần này lại đón hụt như lần trước? Hai tiểu đoàn của quân khu đang háo hức chờ vũ khí, ém sau đồi. Nếu sương mù cứ dày đặc mãi thế này thì tính sao? Hồi chiều, khi liên lạc của quân khu xuống cho biết tàu bắt đầu chuyển hướng vô bờ, Ba Huỳnh đã khấp khởi mừng. Thế là mọi việc coi ra suôn sẻ. Tình hình bến cũng êm.

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #36 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2009, 02:20:19 pm »


           Cơ sở cho biết có hai mươi bảy xe tăng địch về hồi sáng nhưng trên cân nhắc và cho rằng đó là hành động thường xuyên của chúng, không có gì đáng ngại, cứ điện báo lên để tàu vô.
          - Một mét ba! Nước đang cường mạnh.
           Vậy mà ông trời dở chứng dăng mù kín biển, thiệt tai ác!
          - Sắp tới giờ thủy triều đứng đó chú Ba, quá giờ hẹn gần hai tiếng rồi. - Có tiếng ai đấy nói phía sau.
           Ba Huỳnh đốt điếu thuốc nữa, bước ra mép nước.
           Ông đứng lặng ngó vào sương mù hồi lâu. Xa xa, tiếng đi bác ầm ĩ vọng lại, nghe khá rõ. Và trên lộ Một, vẫn tiếng động cơ ôtô nhà binh.
           Một cô gái từ trên bãi cát hớt hải chạy xuống mé biển.
           - Chú Ba đâu, các anh? - Cô hỏi vội vã.
           Ba Huỳnh quay lại:
           - Chi đó, Mười?
           - Dạ, báo cáo chú - Cô gái thở hổn hển - anh Hiến từ trong đồn ra báo cho biết mọi việc đều êm. Không có triệu chứng chi chứng tỏ bọn địch biết tàu vô và bộ đội mình về lấy hàng. Còn xe tăng chúng về là để mai mốt càn trên Chà Lá.
           - Biểu thằng Hiến cứ tiếp tục nghe ngóng, có chuyện chi phải tìm cách ra báo liền, hí?
           - Dạ!
           Cô gái biến vào sương.
           Sóng đã lặng. Nhưng dường như sương mù càng dày đặc thêm.
           - Một mét tư năm phân. Nước bất đầu đứng! - Tiếng Sáu Thùy thất vọng cất lên.
           Ba Huỳnh cảm thấy choáng váng. Ông căng mất nhìn ra, vẫn mịt mùng, vẫn không có tín hiệu nào chứng tỏ tàu vào. Trước mặt là một khối hơi nước khổng lồ trắng đục. Vài tiếng nữa nước xuống và kế hoạch bị phá vỡ hoàn toàn.
           Mọi người cùng đứng nhìn ra biển. Im lặng.
           - Anh Quế! - Chợt Ba Huỳnh gọi - Cho thực hiện phương án hai.
           - Toàn đội thực hiện phương án hai! - Đội phó Quế nhắc lại, cố ghìm để tiếng nói của mình đừng quá to - Tổ một đi về hướng bắc, tổ hai toả ra hướng nam. Còn lại hướng về phía núi Một. Đã nhớ ám hiệu, mật hiệu cả chưa?
           Những chiếc xuồng được đẩy nhanh xuống nước. Một lúc sau, tất cả đều tan biến trong sương mù.
Chiếc xuồng đi về hướng núi Một có hai người. Sáu Thùy ngồi phía trước, đội phó Quế ngồi chèo phía sau.
Cả hai đều cố giỏng tai nghe ngóng.
           Chợt Sáu Thùy khẽ reo lên:
           - Anh Quế, hình như có tiếng máy tàu!
           - Hả? Hướng mô?
           - Tay mặt! Phía bên tay mặt!
           Quế lái mũi xuồng chếch sang phái, buông mạnh mái chèo. Trước mặt vẫn mịt mùng.
           - Đúng có tiếng máy nổ, nghe rõ không anh Quế?
           - Rồi!
           - Em bấm đèn nghe?
           - Đừng vội! Trúng tàu địch là đi đứt đó.
           Chiếc xuồng lướt nhanh về phía có tiếng máy tàu.
           - Đúng tàu anh em mình mà! Tàu địch thì nó trưng đèn, bật pha chớ đâu chịu mò mẫm ri?
           - Bấm tín hiệu coi!
           Chiếc đèn pin trong tay Thùy loé sáng ba lần. Từ phía trước, cũng có ba vệt sáng đùng đục đáp lại.
           - Đúng ám hiệu rồi! Đúng ám hiệu rồi!
           Sáu Thùy cuống quít nhấp nhô trên xuồng. Rồi cố cúi rạp xuống, lấy tay khỏa nước.
           Lát sau, trước mũi xuồng lờ mờ hiện ra một khối đen lẫn trong sương.
           Sáu Thùy đứng dậy chụm tay làm loa gọi với:
           - Trên tàu có mực tươi, cá khô đổi dừa không?
           - Bao nhiêu một ký dừa? - Tiếng Tám Thạnh đáp lại - Đổi cá chứ?
           - Cá gì?
           - Chim, thu, nhu, đé, đổi bằng tiền.
           - Trời ơi, anh em mình thiệt rồi! - Sáu Thùy mừng run cả người. Cô luống cuống vục tay xuống nước, đẩy xuồng đi, miệng giục - Xáp vô, xáp vô, lẹ lên anh Quế.
           Chiếc xuồng trườn tới, áp sát mạn tàu. Sáu Thùy kêu to :
           - Các anh ơi! Các đồng chí ơi, mạnh cả chứ? Trời ơi thiệt là tàu mình, mong các anh đỏ con mắt. Anh Quế ơi, thiệt rồi nè! - Và cô cười, hai giọt nước mắt từ từ lăn trên gò má. Một lát, Sáu Thùy ngước lên boong tàu, giọng run run:
           - Các anh, có ai đó nói lên một tiếng coi. Sao vô chậm rứa?
           - Trời mù quá mà, cô. Bến yên chứ? - Trên tàu có tiếng hỏi.
           - Bây giờ các anh cho tàu rẽ tay phải nghe. Nước bắt đầu xuống đó.
           - Có vào được không?
           - Vô được! Chu cha, tàu của mình to quá, đẹp quá ha. Vô được đây các anh giỏi thiệt. Có ai tên Xuyên không đó?
           - Người yêu đồng chí à? Không có đâu. Bây giờ đồng chí chèo xuồng đi trước, bấm đèn rọi về phía sau, chúng tôi sẽ theo.
           - Dạ ! - Cô đưa tay gạt nước mắt, quay lại bảo Quế - Ta vô thôi, anh!
           
            Đội phó Quế như người chợt tỉnh, cho xuồng quay mũi, chèo mạnh. Sáu Thùy cũng vục nước cho thêm nhanh. Con tàu lì rì bám phía sau. Trên tàu, mọi người như trút được gánh nặng. Gặp "bến" ra đón, mừng hết chỗ nói. ông Tám Thạnh và tốp thủy thu đứng trên boong nhìn theo chiếc xuồng. Trong buồng lái chỉ còn Lượng, Lê và Xuân.
           Lúc này Lê mới thấy thư thái. Từ lúc mù dăng khắp biển, anh đã sợ hãi nghĩ đến chuyện phải neo tàu lại.  Nhưng ông Tám Thạnh không nghe. Ông quả quyết:
           - Tới vùng này, mày để tao! Tao nói vô được là vô được!
           Và ông thực là một hoa tiêu tài giỏi. Hình như ngoài giác quan của con người bình thường, ông còn có thêm một giác quan nào khác nữa. Sương chắn tầm nhìn mà ông vẫn bình tĩnh đưa tàu lách luồn qua những mỏm núi an toàn.
           - Sang phải, vậy, phải nữa. Trước mắt là bãi cạn đó, quẹo hết lái sang phải.
           Nhìn ông điều khiển cho tàu vào, Lê có cảm giác như ông nhìn thấu xung quanh.
           Bây giờ thì mọi việc xem ra đã ổn. Từ đây tới vị trí thả hàng chắc không còn xa.
           Chừng nửa tiếng sau, con tàu đang đi chợt rùng lên, chững lại.
           - Mắc cạn!
           Lê hốt hoảng hô, rồi nhoài ra khỏi buồng lái. Mọi người lo lắng đứng ngóng xuống mạn tàu. Nhưng phía dưới chỉ thấy sương và sương.
           Con tàu loay hoay, tiến, lùi, xoay ngang, xoay dọc nhưng không sao ra khỏi cái bãi cái đã bồi, lên phục ở đấy
           Chiếc xuồng của Quế và Sáu Thùy quay lại.
           - Từ đây vào bờ còn xa không? - Lê hỏi.
           - Chừng cây số rưỡi! - Quế đáp.
           - Cho tôi vào gặp ban chỉ huy bến!
           - Anh cứ xuống xuồng!
           Hội ý nhanh với Xuân và Lượng, Lê vội vã theo xuồng của Quế và Sáu Thùy vào bờ.
           Quế và Sáu Thùy đưa Lê tới gặp Ba Huỳnh. Ban đầu Lê sững lại, chột dạ: trước mắt anh là một quân cảnh ngụy. Nhưng anh nhanh chóng hiểu ra và trấn tĩnh lại. Quế giới thiệu Lê, Ba Huỳnh liền nhào tới, dang đôi cánh tay to khỏe của mình ôm lấy anh:
           - Trời đất, thiệt sung sướng. Như thể trong mơ, hí. Ngóng các anh vô hết nước hết cái... Vậy là có vũ khí thiệt rồi! Có vũ khí thiệt rồi! Các anh trên tàu mạnh cảchớ, chú? Mà chú tên chi?
          - Dạ, Lê !
          - Thằng con trai tui cũng trạc tuổi chú. Chà, thuyền trưởng mà trẻ quá ha !
           Hai người ngồi bệt xuống cát.
          - Trời sắp sáng, nước thủy triều xuống thấp, tàu bị cạn không thể vào tới nơi quy định được, phải neo cách bờ một hải lý - Lê lo lắng bảo - Ta lấy hàng sao đây?
          - Sẽ chuyển hàng bằng thuyền, bằng xuồng. Bọn tui đã tính tới trường hợp đó. Vô tới bờ có lực lượng nhận, không lo. Bốc xong hàng ta sẽ hủy tàu, hí. Chà, sương mù làm lỡ cả kế hoạch.
          - Hủy tàu à? - Lê ngần ngừ - Chuyện hủy tàu tính sau. Cần phải có đủ thuyền, đủ xuồng để nhận hàng thật nhanh. Thời gian không còn mấy. Việc đưa hàng xuống thuyền, anh em thủy thủ sẽ đảm nhận.
          - Ta cho làm ngay chớ, thuyền trưởng!
           Ba Huỳnh quay sang nói với Sáu Thùy:
          - Anh em ngoài Bắc vô, đang mệt. Mi gọi thêm mấy đứa rồi nấu nồi cháo thiệt bự, có bao nhiêu thịt thà, gà qué của đội cho vô hết, rồi chở ra tàu. Còn Quế cho người tới báo với hai tiểu đoàn của quân khu ra nhận vũ khí gấp.

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #37 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2009, 02:29:13 pm »


           Công việc được triển khai nhanh chóng. Tất cả xuồng, thuyền đều tỏa xuống mặt nước. Lúc này sương mù lại trở thành đồng minh của những người vận chuyển. Thuyền, xuồng - xuồng, thuyền hối hả ra tàu, hối hả vào bờ. Mái chèo thi nhau khua động mặt nước.
          Trên bờ, anh em bộ đội giải phóng thuyền, xuồng khẩn trương. Thuyền vừa cập bãi, súng đạn dược bốc lên ngay rồi chuyền nhau, đưa về sau ngọn đồi. Một người luống tuổi, vừa nhận hòm đạn từ tay Quế, chợt sững lại một lúc, rồi nghẹn ngào bật khóc:
          - Vũ khí! Anh em ơi, chúng ta có súng. Có đạn thiệt rồi!
           Và ông quỳ xuống, ôm hòm đạn vào lòng.
           Ở ngoài tàu, không khí lấy hàng sôi nổi. Thủy thủ bỏ từng hòm đạn xuống. Du kích đứng trên thuyền đỡ lấy xếp vào thuyền. Thuyền nào đầy vội chèo đi liền. Người trên tàu không nhìn rõ người dưới thuyền, người dưới thuyền không rõ người trên tàu. Họ chỉ nghe tiếng nói của nhau. Vừa làm, mọi người vừa chuyện trò rôm rả.
           Cô Mười ngước lên đỡ hòm đạn từ tay một thủy thủ, cất tiếng hỏi:
          - Nè, anh thứ mấy?
          - Tôi con một!
          - Ủa, má đẻ ít vậy sao anh Hai? Em thứ chín trong nhà đó. Anh tên chi?
          - Tôi tên là Cang. Tên xấu phải không? Còn cô tên gì?
          - Đã biểu em thứ chín mà? Cang à? Bộ anh còn ít tuổi ha?
          - Ít tuổi? Sao cô biết?
          - Nghe giọng còn con nít mà!
          - Con nít lại biết làm thủy thủ? Cái cô này...
          - Dễ chừng em hơn tuổi anh đó nghe. Tàu ra, anh cho em theo với.
          - Làm sao đi?
          - Bộ anh không thích gái khu Năm sao?
          - Thích! Nhưng phải chờ thống nhất.
            Có tiếng giục:
          - Đi thôi Mười, thuyền đầy rồi!
           Cô gái và con thuyền nhòa trong sương. Tiếng cô vọng lại:
          - Chuyến sau anh lại vô nghe, anh Cang.
            Ở mạn bên, nhiều tiếng trò chuyện lao xao:
          - Chớ chú quê đâu ta?
          - Cháu ở Bắc Ninh, nơi hay hát Quan họ đấy.
          - Nè cháu, chợ Thương Long còn không?
          - Dạ còn, chú biết chợ Thương Long?
          - Dịp này vẫn sẵn cá chớ?
          - Dạ, cũng không sẵn lắm. Có bao nhiêu, ôtô nhà binh vét đưa lên tỉnh ráo trọi.
          - Cháu con nhà ai đó?
          - Ủa, chú cũng quê Hòn Hàng sao, chú?
          - Mấy cây dừa ở mé biển sát chợ còn chớ? Có một cây...
          - Hồi trước trúng đạn chết hết rồi chú ơi!
          - Cháu có biết bà Ba bán cá ở chợ. Con gái bà ấy... cái cô ...mà bà chớ, bà Hai ...
          - Bà Ba à? Ở chợ có mấy bà Ba bán cá lận.
          - Bà Ba cá hồng mà!
          - Dạ , cháu không rõ ...
          - Ủa, sao ùn lại thế? Trời sắp sáng rồi, lẹ lên! Lẹ lên!
          - Bao giờ các anh lại vô, anh Tư? Chốc nữa cho em cái gì để làm kỷ niệm miền Bắc nghe. Ở ngoài đó chúng ném bom dữ lắm hả?
          - Tôi tên Hải, cô tên gì?
          - Cha mẹ ơi, lần này toàn đạn B.40 đó. Tha hồ đánh xe tăng. Chu cha, các anh vô được đây giỏi thiệt, giỏi thiệt!
          - Bà con mình ngoài đó sống ra sao, chú? No đủ chớ? Nghe nói vô hợp tác làm chung, hưởng chung, có không?
           Ba Huỳnh nhắc:
          - Anh chị em mình vừa nói chuyện vừa gắng lấy hàng thiệt nhanh. Mù tan, trời sáng là kẹt đó.
           Ông đỡ một hòm đạn, chuyển cho người đằng mũi xếp vào thuyền, rồi cởi chiếc áo sĩ quan quân cảnh vất vào góc, cúi xuống cầm lấy mái chèo, đẩy thuyền đi. Tấm lưng trần to bè của Ba Huỳnh cúi rạp sát thuyền. Hai người chèo vội vã. Xung quanh, tuy không nhìn rõ, Ba Huỳnh cũng biết nhiều con thuyền đang hối hả ra, vô. Bỏ hết hàng, Ba Huỳnh và người du kích cho thuyền quay ra. Đi được một đoạn thì nghe tiếng nổ bạch bạch của chiếc thuyền gắn máy gần đó.
          - Chú Ba, hình như tiếng lốp chà 1! - Người du kích ngồi phía sau kêu khẽ.
          - Trời mù, chúng đi có việc chi hè!
          - Tiếng máy nghe mỗi lúc mỗi rõ.
          - Châm đèn đất lên và mang điều câu 2 ra? - Ba Huỳnh nói, rồi xoay người, đưa mái chèo đỡ nước cho thuyền dừng lại.
          Hiểu ý, người du kích quẹt diêm châm đèn. Ánh sáng ngọn đèn đất bừng lên, xuyên qua sương mù, tỏa một vùng sáng đùng đục trên biển.
          - Sáng nữa lên!
           Ba Huỳnh nhắc và quăng điều câu xuống nước.
           Tiếng máy nổ to dần. Có lẽ bọn địch tên lốp chà đã nhìn rõ ngọn đèn.
          - Gần bờ, không được nổ súng nghe? - Ba Huỳnh dặn - Cứ ngồi câu, hí.
           Chiếc thuyền máy giảm tốc độ, nhoài vào tầm sáng ngọn đèn.
          - Ê, thuyền đi mô? - Từ trên thuyền máy có tiếng xấc xược vọng xuống.
          - Mấy ông đi tuần khuya vậy nè! Tụi tui lựa trời mù, ra câu kiếm ít mực xài mà.
           Vừa nói, Ba Huỳnh vừa kín đáo ngó sang: chúng có hai tên
           Mũi chiếc thuyền máy đụng vào con thuyền. Một thằng lính cầm AR15 xấn xổ nhảy sang:
          - Giấy tờ? Đưa coi - Nó hoạnh.
           Ba Huỳnh đưa mắt ra hiệu cho người du kích. Người này hiểu ý, cố đẩy chiếc thuyền sát vào chiếc lốp chà.
           Ba Huỳnh lần túi quần và khi thấy chiếc thuyền cập sát chiếc lốp chà, ông đưa tờ căn cước cho tên lính. Tên này cúi xuống soi vào ngọn đèn.
           Lúc đó có tiếng mái chèo cắt nước óc ách đưa tới. Ba Huỳnh nghiêng tai nghe. Nguy rồi! Những chiếc thuyền hở vũ khí đang đi vào. Tại sao họ không nhìn thấy đèn hiệu? Trời mù quá chăng? Tiếng động nước to dần. Và tiếng mái chèo chém xuống nước đã có thể nhận ra.
           Tên lính bỗng ngẩng lên, quay lại. Khuôn mặt hắn thuỗn ra và đôi mắt ánh lên vẻ ngờ vực.
           Phải hành động thôi! Ba Huỳnh hất hàm về phía người du kích rồi bất thần vung tay thụi mạnh vào bụng tên lính. Tên này "hự" một tiếng, lảo đảo. Ba Huỳnh bồi tiếp quả nữa và khi . Nó ôm bụng cúi xuống, ông chém mạnh sống tay vào gáy. Phía sau, người du kích đã kịp phang mạnh chiếc bơi chèo vào đầu tên lính thứ hai. Không để nó kịp trấn tĩnh, anh nhảy sang lốp chà, thúc mạnh đầu gối vào chỗ hiểm, tên này lập tức ngã nhào xuống nước, chìm nghỉm.
            Ba Huỳnh giụi ngọn đèn, nhảy sang chiếc lốp chà, tắt máy, nắm lấy một đầu xích của nó, nhảy sang thuyền mình.
            Những chiếc thuyền tiếp tục đưa hàng vào bờ.
           - Có chi mà đỏ đèn vậy, chú Ba? - Người du kích ngồi trên chiếc thuyền đi sát thuyền Ba Huỳnh hỏi.
           - Không có chi hết, biểu anh em cố lên. Trời sắp sáng rồi đó.
            Mặt biển râm ran, sôi động.
            Mấy tiếng sau, hàng chuyển hết lên bờ an toàn.
            Chiếc thuyền cuối cùng chở Lê và Lượng vào tới nơi, trời đã gần sáng. Sương mù mỏng dần.
            Đám du kích đang tất tả í ới phân công nhau cất thuyền, cất xuồng và chuẩn bị rút khỏi "bến".
            Lê và Lượng bước theo Ba Huỳnh đi về phía chân ngọn đồi. Họ ngồi xuống dưới gốc cây cụt ngọn.
            - Chừ ta tính chuyện hủy tàu, hí? - Ba Huỳnh vào chuyện, giọng ông toát ra một cái gì đấy rất vui - Việc đó hai anh có kinh nghiệm, mời hai anh nói trước. Ta bàn nhanh, làm nhanh, còn rút vô cứ cho kịp.
           - Có nhất thiết phải hủy tàu không, đồng chí Ba? - Lê nói - Đành rằng trên cho phép và hoàn cảnh cũng cho phép .
           - Ủa! - Ba Huỳnh ngạc nhiên - Chớ không hay sao? Còn tính mạng anh em mình? Với lại địch nó kéo vô Nha Trang triển lãm, bôi xấu mình đó. Đưa được vũ khí vào trót lọt như ri, thắng lợi quá trời rồi.
           - Chúng ta chưa bị lộ - Lê nói tiếp - Điều căn bản là chỗ đó. Với nữa, nếu hủy tàu lúc này, ở tại đây, là ta đã đánh động cho địch rõ mọi chuyện, chúng sẽ tung quân lùng quét và số vũ khí vừa rồi có chuyển khỏi đây an toàn không? Bến lộ, ta cũng không thể đưa tàu vào lần thứ hai.



--------------------------------
Chú thích:
1. Lốp chà: loại thuyền con đã cải tiến, gắn máy, bọn địch thường đi tuần ven biển, dân trong vùng gọi là đi chà.
2. Điều câu: gồm dây, chì, phao, lưỡi câu dùng để câu cá, câu mực.

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #38 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2009, 02:35:28 pm »


           - Tôi nhất trí với ý kiến đồng chí Lê - Lượng lên tiếng - Không hẳn trường hợp nào cũng phải hủy tàu. Mất một con tàu, Đảng và Nhà nước mất hàng triệu bạc.
           - Có lý! Vậy các anh có cách chi? - Ba Huỳnh hỏi. Vùng này nhiều tàu đánh cá của dân không, đồng chí Ba? - Lê hỏi.
           - Nhiều. Phần đông là của gia đình bọn ngụy.
           - Chúng có hay vào đỗ ở vùng này?
           - San sát! Chúng cụm dưới đồn Vạn Hải kia nữa.
           - Vậy là được rồi ! Tôi đề nghị một phương án - Giọng Lê sôi nổi - Anh em thủy thủ sẽ rút cả lên bờ, chỉ để hai người dưới tàu. Coi như tàu ta là tàu đánh cá mắc cạn. Nếu lộ, người ở lại sẽ có trách nhiệm hủy tàu. Như vậy địch sẽ không lấy được tàu ta ...
           - Tính mạng anh em mình...
           - Đành vậy thôi, đồng chí Ba!
           - Tôi sẽ ở lại! - Lượng hưởng ứng.
           - Chà, mạo hiểm quá ha! Đêm qua tôi đã tiêu của chúng chiếc lốp chà.
           - Lúc nào, đồng chí Ba? - Lượng ngạc nhiên hỏi.
           - Đụng nó khi đang chuyển vũ khí. Thỉnh thoảng tụi tôi vẫn phải xử trí như vậy.
           - Tức là không phải biến cố đột xuất - Lê nói, vậy vẫn còn hy vọng. Thêm nữa, tàu của ta cũng là tàu đánh cá mà! Và nếu có phải hủy tàu, lúc đó anh em bộ đội mình đã đưa vũ khí đi xa, chúng biết, cũng bó tay...
            Ba Huỳnh ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo:
           - Mấy anh làm tôi khó nghĩ quá! Thôi, các anh đã quyết thì ta thực hiện phương án đó.
            Lê quay sang Lượng:
           - Đề nghị anh cho tôi và chú Tám ở lại tàu. Hy vọng rằng đêm nay, anh em mình lại gặp nhau.
           - Để mình ở lại, Lê ...
           - Tôi ở lại hợp lý hơn anh. Lúc thủy triều lên, tôi có thể đưa tàu ra khỏi chỗ cạn.
            Lượng không nói gì thêm, chăm chắm nhìn bạn.
            Ba Huỳnh đưa Lê và Lượng ra mép nước. Ông ôm lấy Lê hồi lâu, hôn lên má anh. Lê nhận ra những giọt nước mắt ấm nóng của người đội trưởng lan trên má mình.
           Sau đó Sáu Thùy chèo thuyền đưa Lê trở lại tàu và đón anh em thủy thủ vào bờ. Lúc này, sương đã loãng dần.
           - Anh Lê quê ở đâu? - Sáu Thùy bắt chuyện.
           - Tôi ở Hải Phòng. Cô Sáu có nghe nói đến Hải Phòng bao giờ không? Ở đó có nhiều tàu nước ngoài vào ăn hàng, trả hàng. Ở đó có nhà máy xi măng, nhà máy đóng tàu.
           - Con tàu này cũng đóng ở đó sao, anh Lê? Miền Bắc mình giỏi thiệt. Khi nào em được ra đó hè?
            Con thuyền cặp mạn. Lê quay lại phía Sáu Thùy:
           - Cô Sáu ở lại mạnh khỏe, đánh giặc giỏi nhé. Cho tôi chào hết thảy anh em trên bến.
           - Anh Lê, đừng quên em nghe. Chuyến sau anh lại vô đó. Anh đi mạnh...
           Hai người tần ngần trên thuyền một lát rồi Lê đu người lên boong. Anh vẫn còn nghe tiếng Sáu Thùy phía dưới :
           - Đừng quên em nghe, anh Lê?



21


            Hai người hồi hộp, căng thẳng như thế đã lâu.
            Ông Tám Thạnh ngồi trên đống dây mồi đầu mũi tàu hút hết điếu thuốc này, lại châm điếu thuốc khác. Ông lặng lẽ ngóng vào bến, nét mặt tư lự. Dưới chân, đầu mẩu thuốc lá như kén sâu, vương vãi.
Lê ngồi trong buồng lái nhìn ra, chốc chốc, ngó lên cái núm nhựa màu đỏ bằng chiếc nút chai gắn trước mặt. Chỉ cần chạm ngón tay vào đó, năm tạ thuốc nổ cài dưới đáy tàu, ở ca bin, ở khoang máy tức khắc nổ tung và con tàu sẽ tan ra từng mảnh như xác pháo. Lê và ông Tám đã kiểm tra kỹ mấy cái kíp nổ, anh vẫn thấy lo. Trời sáng dần. Sương mù đã tan, nhưng trên mặt biển hơi nước còn lởn vởn mờ mờ. Mặt trời giống quả khinh khí cầu nhô ra từ sau dãy núi chắn trước mặt, tròn vạnh, hồng tươi, lơ lửng bay lên. Nước cạn, đứng trên tàu nhìn vào có thể trông rõ bãi cát trơ ra khô cằn, đầy ngấn sóng. Và mặt biển trải ra mới lạ, khỏe khoắn như vừa tỉnh lại sau giấc ngủ dài mê mệt.
           Lúc này Lê mới nhìn rõ vùng Hòn Hàng. Nó khác nhiều với sự tưởng tượng của anh. Ngọn núi Một chắn trên biển khiến con đường vào bãi tẽ ra như hai cửa sông. Trên bến, chếch về phía bên phải, bãi cát kéo dài sát lộ Một, những ngọn núi lô nhô như bát úp, choài ra tận mi nước. Phía bên trái là làng chài, có tên Vạn Hải. Mấy ngôi nhà gạch chắc mới cất sáng màu ve chen giữa những ngôi nhà lá lụp xụp thấp thoáng sau rặng dừa. Lưới dăng dầy trảng cát ven làng. Trên ngọn đồi khá cao kề đó, chiếc lô cốt đen trũi in hình lên nền trời. Đứng trên ấy nhìn xuống chắc tróng rõ cả vùng biển này. Bao quanh chiếc lô cốt, dăm ba ngôi nhà lợp tôn thấp tè mà từ trên tàu nhìn tới, Lê có cảm giác như những mụn vá đắp lên quả đồi. Quây lấy những mụn vá đó mấy lớp hàng rào dây thép gai kéo sát lưng chừng đồi. Dưới chân đồi, trên mặt nước, những chiếc tàu, những chiếc thuyền đánh cá nằm rải rác, im lìm. Cạnh đó, mấy chiếc lốp chà của lính cụm sát vào nhau.
           Thị trấn Thương Long mà chú Tám thường nhắc tới ở chỗ nào? Có phải sát lộ Một, nơi mấy ngôi nhà gạch lờ mờ?
           Mặt trời cao dần. Sương tan hẳn. Nắng hắt xuống khiến vùng biển sáng lên. Sóng lăn tăn nối nhau vỗ nhẹ vào mạn tàu. Cách con tàu vài ba chục mét, dăm bảy chiếc thuyền con hớt hải đi ra biển. Những người trên thuyền gò lưng xuống sát mái chèo, dáng vội vã, chẳng ai chú ý đến chiếc tàu mắc cạn. Xa xa, quá ngoài núi Một, loáng thoáng bóng mấy chiếc tàu đánh cá đi về hướng đông và một vài chiếc vơ-đét của hải quân ngụy chạy dọc bờ.
           Con tàu hoàn toàn trơ ra giữa vịnh.
           Lê ngước nhìn chiếc lô cốt cạnh làng Vạn Hải, có cảm giác như từ trên đó, bọn địch nhìn rất rõ con tàu, thậm chí thấy cả ông Tám đang lo lắng ngồi đốt thuốc triền miên đằng mũi và anh đang phấp phỏng trong buồng lái. Con tàu đã lọt vào tầm nhìn, tầm đạn của chiếc lô cốt. Chắc bọn địch đang hí hửng: "À, tàu Bắc Việt giả dạng tàu đánh cá, mắc cạn..." và đang thú vị vì con mồi mắc bẫy.
           - Chú Tám! - Lê gọi nhỏ - Cho cháu hỏi điều này!
            Ông Tám Thạnh đứng dậy, chân mập, lưng bè, điếu thuốc cháy trên môi, bước thong thả tới buồng lái. Đôi mắt ông bạc nhợt vẻ lo âu và nét mặt căng thẳng:
           - Liệu trên đồn nó có nhận ra mình không, chú? - Lê hỏi - Cái biển số mình gắn lúc đêm đúng số đăng ký của tàu đánh cá vùng này chớ?
           - Đừng lo. Bọn du kích biểu đúng - Ông Tám đủng đỉnh trả lời và đưa mắt nhìn Lê - Lúc này mày phải bình tĩnh hơn tao...
           - Cháu đâu sợ! Cái biển số mình gắn chặt rồi hả chú?
           - Chặt? Tao soát lại lần chót. Mày ra boong ngồi cho thoáng, đỡ căng thẳng. Đứng chi đây cho ngạt. Mình đã xác định chết cùng với con tàu con ngán chi.
           - Cháu đâu ngán, nhưng đứng đây, nếu có sự gì, mình hủy tàu cho kịp.
           - Chưa! - Ông Tárn ngó xuống biển - Nước cạn, chẳng có tàu lớn nào xáp vô nổi để soát tàu mình. Cứ ra boong ngồi cho đầu óc nó đỡ rối.
           Hai người lững thững bước ra boong và ngồi xuống mũi tàu. Lê nhìn xung quanh, thấy con tàu hôm nay sao to cao, cứ bè bè, chênh ềnh giữa vịnh trông thật chướng.
          - Lúc nào thủy triều lên, chú? - Lê hỏi, đôi mắt nhìn xuống mấy con thuyền đang lướt lại gần.
          - Hôm ni mồng chín, chừng quá ngọ.
          - Hơn năm tiếng nữa!
           Hai người ngồi im. Lê đốt điếu thuốc, rít từng hơi mà chẳng có cảm giác gì. Chỉ thấy miệng đăng đắng. Mấy chiếc thuyền đánh cá từ đồn Vạn Hải đi tới, chạy sát chiếc tàu. Có tiếng bâng quơ đưa lên:
          - Tàu lớn, vô chi đây cho cạn, hè?
          - Đêm qua mù mà? Các cha tham, cho chết.
           Lê đưa mắt nhìn những người trên thuyền, nhưng anh vội quay : "Sao họ cứ nhìn mình lâu vậy? Thật ngốc, nhỡ họ nhận ra mình không phải là người vùng này..."
           Bất giác, Lê đưa tay sờ lên mặt.
          - Chú Tám, tàu ta sơn màu sáng quá phải không? Ở đây tàu đánh cá họ có sơn màu này?
          - Tàu đánh cá thì sơn tùm lum, kể chi màu sáng, màu tối.
          - Cháu lo cái cột treo lưới của mình cao quá đó!
          - Tao biểu mày không được nghĩ nhiều. Cái chi cũng sợ địch nó nghi! Bình tĩnh chớ!

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #39 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2009, 02:37:19 pm »

         
          - Nếu có sự gì, chú cháu mình sẽ đâm tàu vào chiếc tàu nào lớn nhất của nó, mạng đổi mạng chú nhé!
          - Chớ sao? Để nó lấy tàu dong vô Sài Gòn thì ngồi đây chi .
          - Anh em trên bờ chắc đang lo cho chú cháu mình lắm đấy!
          - Tội nghiệp! Mình lo một, bọn hắn lo đến mười. Đứng dưới gốc lo hơn người trèo lên ngọn. Mong sao cho trời chóng tối, hí!
         
           Lê lại nhìn lên đồn Vạn Hải, nghĩ miên man. Thời gian chậm chạp trôi. Mỗi phút đi qua ví bằng một ngày. Lê nghĩ rằng chắc gì mình đã chịu nổi cảnh chờ đợi này thêm mấy tiếng nữa! Thần kinh căng lên tưởng không có thể đứt phựt cả màng não. Giá bọn địch cứ cho tàu xáp vào và Lê cùng với ông Tám hoặc dùng B.40 hoặc dùng ĐKZ đánh trả, hoặc sẽ ấn vào nút điện cho tàu nổ tung lên thì đỡ hơn bao nhiêu. Trò ú tim này đến vỡ lồng ngực mất.
          Ngó vẩn vơ lên nóc tàu. Lê chợt hỏi:
          - Cái cờ ba que mình treo trên dó mới quá hả chú Tám? Giá nó cũ đi một chút.
          - Mày nhìn mấy chiếc thuyền vừa đi qua đó, độc treo cờ ba que mới. Chớ ngại. Bọn chủ tàu thích treo cờ mới cả. Nè, mình phải ăn uống chút gì chớ? Từ chiều qua tới giờ chưa có chi vào bụng lận.
          - Chú đói à?
          - Không đói, nhưng tao nghĩ mình phải ăn mà giữ sức. Mấy giờ rồi?
          - Mười giờ! Cháu vào lấy ít đồ ăn nhé!
          - Vô đi!
           Lê mang ra mấy gói lương khô, hai hộp thịt, hai hộp dứa. Nhưng khi mở ra không ai đụng tới, chỉ nhấm chút nước dứa rồi lại ngồi đốt thuốc. Nuốt không trôi. Ông Tám ngó chừng xuống mạn tàu rồi quay lại, bảo Lê:
          - Có triệu chứng nước lên rồi đó. Lạy Trời Phật, biết đâu mình thoát hả Lê ...
           Từ dưới đồn Vạn Hải, một chiếc lốp chà lách qua  đám thuyền bè, đâm mũi hướng về phía chiếc tàu. Mặt ông Tám biến sắc:
          -Thuyền máy tụi nó đó nghe! Bình tĩnh, mày! - Ông nói, mắt không rời chiếc lốp chà đang mỗi lúc mỗi gần - Có chi để tao ứng phó. Nghe tiếng mày, nó nhận ra người khác vùng, nó bắn liền đó.
          Lê kín đáo lên đạn khẩu súng ngắn, lận vào người rồi giả bộ đứng dậy ngó ra biển, mặt tỉnh khô.
          Chiếc thuyền máy rạch nước lướt qua con tàu. Được một đoạn, chợt nó giảrn máy, lộn lại.
          - Mặc tao nghe, không được nóng vội đó! - Ông Tám nhắc.
          Chiếc lốp chà áp sát mạn tàu.
          - Ê, chủ tàu? - Tên lính đứng dạng chân trên thuyền, gọi lên.
          - Dạ, chú cho gọi! - Ông Tám bước tới mép tàu, khuôn mặt cố tươi tỉnh, dáng nhanh nhẹn như không có điều gì xảy ra.
         - Bị cạn hí? - Tên lính ngửa mặt lên hỏi - Mù mà, đêm qua thằng Năm rỗ lái chiếc lốp chà đi ăn mảnh, lạc vô chỗ nào chưa thấy về. Coi chừng lại biếu mấy tay du kích. Nè, có con cá con mực nào ngon ngon quẳng xuống một ít tụi này lai rai chơi.
         Ông Tám thấy an lòng, cố nén tiếng thở mạnh.
         - Dạ, đêm qua tưởng kẹt ngoài khơi chớ. Kiếm được ít cá bọn chợ ra nài, bán hết trơn rồi. Dạ, nhưng có cái ni biếu các chú uống cho đỡ sầu - ông Tám quay lại phía Lê - Út, vô lấy chai rượu Pháp để biếu mấy chú, nghe.
         - Rượu Tây hả chú Ba? Chà chà... - Khuôn mặt tên lính giãn ra, vẻ thích thú.
          Hiểu ý, Lê lấy chai rượu còn nguyên nhãn đưa ông Tám. Ông Tám cúi xuống đưa cho tên lính. Nó rướn người, với tay đón lấy.
         - Ủa, chú Hai kiếm đâu ra của quý này ta? - Mắt tên  lính sáng lên khi nhận ra chai rượu ngoại.
         - Hôm qua gặp tàu nước ngoài, xáp vô. Họ đổi tôm.
         - Chà, chú Ba không uống sao đưa tụi tui?
         - Tui quen đế, uống thứ ni nhạt.
         - Ông già quê quá ha. Rượu loại nhứt đó!
          Tên lính cho chai rượu vào túi, toan quay vào, chợt nó ngẩng lên hỏi:
         - Thằng nào trắng như con gái vậy chú Hai? Bộ không phải dân vùng biển.
         - Dạ, quên trình mấy chú - Giọng ông Tám suôn sẻ - út đằng vợ ba tui đó. Kêu hắn là Chín.
          Tên lính nhe răng cười:
         - Chu cha, già mà lắm "đĩ" vậy, cha nội?
          Ông Tám cũng cười:
         - Cũng chỉ có ba. Thằng này là cháu ngoại bà Mỹ Thạnh, hiệu vàng lớn nhứt Sài Gòn. Chắc chú biết hiệu kim hoàn Mỹ Thạnh.
         - Biết! Biết! Tôi rành Sài Gòn lắm.
         - Từ nhỏ nó sống ở đó. Nhưng tui không muốn nó cớm nắng. Tui đưa nó ra đây cho nó tập làm quen với biển. Nó vừa ở Sài Gòn ra mấy hôm ni. Má nó la tui dữ quá...
         - Cậu ấm đi biển hả chú Năm? Đầy chi nó cho khổ.
         - Dạ, cũng thử cho nối nghiệp coi sao.
         - Tụi tui đi nghe. Lần sau có loại rượu Mác-ten này, chú cứ đổi về thiệt nhiều, bọn này chuộc lại, đừng sợ thiệt. Tụi tui sòng phẳng mà. Bai nghe! Còn phải đi tìm thằng Năm rỗ.
         - Dạ, mấy chú đi!
           Chiếc thuyền vừa tách khỏi mạn tàu, Lê loạng choạng ngồi xuống. Da mặt tái nhợt, mồ hôi túa đầm người. Sự căng thẳng khiến anh như người bị choáng. Ông Tám ái ngại nhìn Lê: mới từ đêm qua tới giờ mà trông hắn khác quá! Hắn lo cho con tàu, lo cho công việc dữ!
          - Nước đang cường đó Lê. Vài tiếng nữa ta ra khỏi chỗ cạn, tàu cơ động được là đỡ lo...
          - Vừa rồi cháu hãi quá? Chú đóng kịch giỏi thật!
           Gió bắt đầu nổi lên. Sóng vỗ vào mạn nghe đã rõ lắm. Ông Tám lắng tai và có phần an tâm.
           Hai người nhìn ra bốn phía. Vùng Hòn Hàng giờ này tấp nập thuyền bè. Thuyền đánh cá, thuyền chở hàng qua lại hối hả.
           Thời gian trôi nặng nề, chậm chạp.
           Khi mặt trời rọi nắng thẳng góc xuống boong tàu, thì có tiếng máy bay sà thấp, rẹt qua rồi mất hút ngoài biển.
           - Kệ nó, đừng hốt!
           - Cháu đâu có hốt. Nó chụp ảnh mình chăng?
           Hai người ngóng theo và cùng lắng nghe, chiếc máy bay không quay lại.
           - Nó bay thẳng, không lo? - Lê nói - Vụ Vũng Rô ngày trước cũng do máy bay phát hiện ra tàu ta rồi gọi tàu chiến và quân lính tới bao vây đấy!
           - Tao nhớ! Nhưng lần này mình công khai. Tàu cá có treo cờ quốc gia, có biển số đăng ký, lại đậu ngay chân đồn... Bắc Việt nào dám thế?
           Khoảng quá trưa, một chiếc thuyền con treo cờ ba que, có lưới, có chài từ phía Bắc đi lại. Tới ngang con tàu người đàn ông chèo phía sau cho thuyền dừng hẳn, áp sát mạn.
           Lê và ông Tám hoảng hốt kín đáo nhìn xuống.
           Nhưng Lê nhận ra người con gái ngồi trước mũi thuyền gở lưỡi là Sáu Thùy. Anh chạy lại mép boong.
           - Kìa, cô Sáu, có tin gì đó? - Lê cúi xuống, lo ngại.
            Sáu Thùy đưa mắt ngó quanh, rồi đứng dậy:
          - Ban chỉ huy bến và mấy anh trên đó biểu em ra nói với anh: đặt giờ cho tàu nổ, còn anh và chú Tám theo thuyền vô bờ luôn - Sáu Thùy nói, mắt vẫn liếc ra bốn phía - Các chú và mấy anh nhận định máy bay dã chụp hình tàu mình, chắc lộ. Hủy tàu càng sớm càng hay. Trên bến đã chuẩn bị êm mọi việc.
          - Sao lại hủy tàu? - Lê ngạc nhiên nói, đôi mày nhíu lại - Sáu Thùy về bảo với các anh trên đó rằng tàu chưa lộ đâu. Nếu nghi, máy bay nó đã đảo lại. Đồn Vạn Hải cũng chưa động tĩnh gì mà .
          - Vô thôi anh Lê! - Tiếng Sáu Thùy khẩn thiết - Ở lại nguy hiểm lắm đó. Trên đã có lệnh... Em lo cho anh quá!
          - Sáu Thùy cứ an tâm. Đêm nay tàu sẽ ra được. Nước đang lên rồi. Nhắn với anh Lượng là tôi sẽ chờ anh em ở chỗ ngọn núi nhô ra biển nhé.
          - Anh Lê, đừng...Vô đi ! Cơ sở trong đồn báo ra là bọn hải thuyền mới về đang muốn lập chiến tích đó...
          - Sáu Thùy đi đi kẻo chúng nghi?
           Đôi mắt đen ngước nhìn Lê hồi lâu.
           " Người đâu mà gan! - Cô cho chiếc thuyền rời khỏi tàu - Thuyền trưởng. Anh ấy trẻ quá, dễ thương quá. Trời ơi, nếu có điều chi...".
          - Sao đó Lê? - Ông Tám hỏi khi Lê bước tới gần.
          - Các anh bảo hủy tàu, nhưng cháu không nghe.
          - Hủy tàu? Nước lên mạnh rồi, hủy tàu chi? Các cha chỉ lo không đâu... Ta nổ máy được rồi đó.
          - Chờ nước lên lúc nữa cho ăn chắc, chú!
          Hai người thấp thỏm chờ. Biết tàu đang dềnh lên, Lê mừng lắm. Nếu lúc này cũng còn cơ động được, ít cũng đổi một mạng tàu của chúng, đã dễ gì bắt sống nhau lúc này! Anh đi đi lại lại trên boong, vẻ mặt tươi tỉnh hơn.

« Sửa lần cuối: 07 Tháng Bảy, 2009, 02:43:46 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM