Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:32:46 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người của biển  (Đọc 54779 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #70 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:39:15 am »


          - Nhưng làm sao để chiếc xe đi trước không phát hiện ra là ta đã chọn chiếc xe cuối, chú Ba? - Có tiếng hỏi.
         - Đó! Các đồng chí bàn coi cách chi không?
         - Tui có ý kiến! - Quế lên tiếng - Ta phục ở chỗ đèo Mông Máng, nơi có đường cua vòng vèo, lại bị núi chắn, xe trước khó lòng nhìn thấy xe sau.
         - Rồi răng? - Người ngồi bên cạnh hỏi.
         - Còn răng nữa! Ném lương thực xuống, giấu tạm đâu đó đêm mình ra lấy.
         - Còn chiếc xe?
         - Anh không biết đẩy nó xuống vực à?
         - Hay!
         - Ai có ý kiến chi nữa hè? - Ba Huỳnh gặng.
Mọi người im lặng. Có lẽ đó là cách hợp lý nhất.
         - Rồi đó! - Ba Huỳnh nói - Có điều ri, tôi bổ sung thêm: chúng ta không đẩy chiếc xe xuống vực ở nơi nó dừng lại. Sau khi đã lấy xong lương thực, chiếc xe vẫn phải tiếp tục chạy theo đoàn xe. Các đồng chí rõ ý tôi chớ?
         - Rõ, rõ ! - Quế trả lời.
         - Anh Quế vẫn chưa quên nghề lái xe?
         - Chú Ba cứ an tâm...
         
          Một tuần sau, được cơ sở ở thị trấn báo cho biết chi tiết Ba Huỳnh lập tức triển khai công việc.

          Vào một buổi sáng, khi sương mù còn chưa tan trên đỉnh đèo Mông Máng, một đoàn xe quân sự, có lính ngồi trên thùng, nối nhau từ phía bắc, hướng theo quốc lộ Một, xuôi xuống phía nam.
          Chiếc xe thứ nhất rù rì bò lên dốc rồi thận trọng lượn sát chân núi, xuống dốc. Chiếc xe thứ hai tiếp phía sau. Rồi chiếc thứ ba... Tất cả hành động đó đều không lọt qua mắt anh em du kích.
          - Cảnh giới hai đầu tốt chớ, Quế? - Ba Huỳnh hỏi khẽ.
          - Tổ của Sáu Thùy đảm nhận việc đó.
          Chiếc xe cuối cùng vừa chạm đỉnh dốc thì phanh lại: Một tiểu đội quân cánh chặn ngay phía trước.
          - Chở chi? Đi mô? Cho coi giấy tờ? - Ba Huỳnh bước tới trước mũi xe hách dịch.
           Tên sĩ quan từ trên ca-bin nhảy xuống, chưa kịp trình bày thì Ba Huỳnh hất hàm ra hiệu:
          - Khám xe?
          Tiểu đội quân cảnh trèo nhanh lên thùng. Và rất nhanh, những tên lính áp tải bị những khẩu AR.15 gí vào ngực.
          - Bỏ súng! Xuống hết! - Một người ra lệnh.
           Tên sĩ quan không khỏi ngạc nhiên khi thấy Ba Huỳnh rê khẩu "côn" vào mình.
          - Trói tất cả lại - Ba Huỳnh lệnh.
           Mọi người hối hả vần những bao gạo xuống đường. Anh em du kích từ các bụi rậm chạy ra, nhanh chóng vác đi. Gạo được giấu vào những hốc núi cạnh đấy.
          Dưới hai chân dốc, xe đi trên đường đều bị "quân cảnh" ách lại để khám xét và kiểm tra giấy tờ.
          Việc xem xét, chất vấn làm một cách chậm chạp. Còn việc bốc gạo ở xe làm tiến hành hết sức nhanh.
          Khi trên xe hết hàng, Quế và một "quân cảnh" nhảy vào ca-bin và mở hết tốc độ, đuổi bám đoàn xe trước mặt. Nửa tiếng sau, đến vị trí mà Quế nghĩ là thuận lợi, anh đưa ôtô sát một bờ dốc, rồi hai người nhảy xuống ca-bin. Họ ghé vai phía sau, ẩy mạnh. Chiếc ôtô lỡ chớn, lao sầm xuống vực.
         "Bây giờ chúng mày có thể quay lại đây mà tìm đồng bọn". Quế và người du kích lẩn nhanh vào rừng.

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #71 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:48:26 am »


30


          Mấy hôm nay Hải tỉnh táo. Tuy vậy anh vẫn yêu cầu Lê hoặc Lượng phải thường xuyên có mặt bên cạnh. Hình như anh bị ám ảnh về một điều gì đó, giống như người bị bệnh tâm thần, luôn luôn cảm thấy có mối đe dọa vô hình.
          Một buổi chiều, Hải vẫy hai người lại, kể cho nghe về cái chết của Mừng. Kể xong, Hải quát:
          - Có phải thằng Hải đã bắn thằng Mừng không? Rồi anh nắm chặt tay Lê, nhìn trừng trừng, rít lên:
          - Nói đi! Phải thế không? - Đôi mắt anh dại đờ vẻ hoảng sợ. Anh lại vật vã trên giường.
          - Không! Không phải tôi bắn nó. Không phải! Thằng Mừng bảo sau chuyến này nó sẽ cưới vợ. Mẹ thằng Mừng không phải sống một mình nữa. Tôi là chủ hôn, tôi đã hứa... Không! Không phải tao bắn mày, Mừng ơi!
          Trán Hải lấm tấm mồ hôi. Anh thở một cách mệt nhọc. Hải không đủ sức giãy nữa, đành nằm im. Đôi môi khô nẻ vẫn mấp máy gọi tên Mừng.Sự chăm sóc của mọi người cộng với thuốc men và một chế độ ăn uống được ưu tiên khiến sức khỏe Hải hồi phục mau hơn trong mấy tuần qua. Thần kinh đã phần nào lấy lại được trạng thái thăng bằng. Hải không ú ở gọi tên Mừng trong mơ và thỉnh thoảng không hét lên kể lể về kỷ niệm của hai người nữa. Anh bắt đầu đi lại và đã thích chuyện trò với mọi người. Tuy vậy, khi ý thức ra được tất cả, anh không khỏi ngạc nhiên rằng mình còn sống. Anh cứ ngỡ đã chết khô trên ngọn đồi. Và hình ảnh Mừng tuột tay khỏi thang dây máy bay thỉnh thoảng còn ám ảnh anh. Những lúc ấy anh lại lẩm nhẩm nói một mình:
          - Mày ngu quá Mừng ạ, mày tin chúng nó à? Mày ngu quá !
           Hải bảo với Lê:
          - Mà tôi cũng ngu, thuyền trưởng ạ. Thằng Mừng còn một mẹ già. Nó khoe có cô người yêu xinh lắm... Sau chuyến đi này thuyền trưởng định cho nó về phép hả?
           Lê thần người. Biết nói gì và an ủi Hải thế nào ngoài mấy lời khuyên giữ gìn sức khỏe, cố hồi phục lại, bởi trước mắt còn những thử thách, những gian khổ của chặng đường vượt Trường Sơn trở về miền Bắc, lĩnh một con tàu mới, tiếp tục nhiệm vụ.
           Hải cũng hiểu như thế. Và điều ấy khiến anh khỏe lại khá nhanh. Anh không muốn đồng đội dành cho mình sự ưu đãi nữa. Anh bắt đầu tham gia công việc như mọi người.

*


           Du kích ngồi trên bãi cỏ, dưới những tán cây to, mé chân đồi. Lá cây vươn ra che kín bóng nắng. Khu rừng yên tĩnh. Sáng sớm nên không khí trong lành, thoáng đãng. Mọi người đang vui. Thắng lợi trong việc đánh chiếm chiếc xe lương thực tuần trước vượt ngoài dự kiến. Tuần qua không bị cái đói hành hạ nữa. Bao gạo cuối cùng, qua nhiều trạm chuyển tiếp, qua nhiều đêm vất vả đã được đưa về tinh mơ hôm nay. Lúc này mọi người ngồi nghỉ trong căn cứ.
         - Chu cha, vác được bao gạo về tới đây, tưởng gãy xương sống luôn chớ, mấy cha! Cái lưng mỏi muốn chết. Hai đầu gối tưởng rời ra.
          Một người nói, anh ta khoảng bốn mươi, da mặt xanh xao. Rồi anh vặn lưng, kêu răng rắc.
         - Có những việc đau lưng, mỏi gối vẫn cứ ham đó, anh Thiềng.
         - Hứ! Lão Quế này - Một phụ nữ đã có tuổi, lườm mắt về phía đội phó - Cũng biết nể chị em ngồi đây chớ.
         - Chuyện thiệt mà chị Tư, bộ tôi nói sai sao? - Quế nhe răng cười hì hì, khuôn mặt nhăn nhở.
         - Đàn ông đội mình chỉ hay nói bậy. Đệ nhất là lão Quế.
         - Trời ơi, chuyện văn minh mà kêu nói bậy có cực không chớ. Bậy mà đố ai không qua ha - Quế cười, đám đàn ông cười theo.
         - Phải nói tụi mình giỏi thiệt, đường rừng tối om om vẫn đưa được gạo về - Người đàn bà tên Tư nói tránh sang chuyện khác.
         - Có những việc tối om om, vẫn lần ra đó, phải vậy không chị Tư? Quế lại nhe răng ra, trêu già.
          Người đàn bà đỏ mặt. "Với lão này...đã vậy cho lão biết" chị Tư nghĩ và nói sấn sổ:
         - Nè, anh mà nói bậy rứa, khi mô chết, tôi cứ nhằm mộ anh tôi ...tôi đái lên đó .
          Đám con gái quay mặt, không dám nhìn đám con trai nữa.
         - Trời ơi, lúc ấy tui ngu chi lại không biết mở mắt ra mà nhìn hè ?
          Mấy cô gái xô vào nhau, hứ, hẩm; còn cánh đàn ông thì cười ngặt nghẽo, ra chiều khoái chí...
          Ba Huỳnh cũng cười. Ông kể:
          - Trong đời, có những lúc người ta ngu thiệt. Cái đận sau năm tư, mình kẹt, không ra tập kết được, lại tiếp tục hoạt động. Trên bố trí đi bắt liên lạc với cơ sở. Để che mắt địch, mình vờ làm người bán võng, đi rao khắp cả làng. Có người ra mua, hỏi rằng võng mấy tay. Lúc đó mới ớ ra, nào có buôn bán bao giờ mà biết nó mấy tay, mấy chân...
          - Đời người phải có giai đoạn ở truồng chớ, chú Ba...
           Quế bị đám phụ nữ la ó, nhưng vẫn nhơn nhơn:
          - Không đúng răng, chớ hồi con nít, mấy bà bận cái chi? Tui biết thừa bụng dạ các bà. Miệng hứ hé, bụng lại thích người ta nói ...
           Người đàn bà có tên là Tư liền vớ một thanh củi, đi về phía Quế. Quế hoảng, bỏ chạy. Hai người đuổi nhau xuống tới sát chân đồi.
           Mọi người ôm bụng, cười lăn.
         
           Ở bên trái bãi cỏ, Lê và Sáu Thùy ngồi sát nhau.
          Cô gái đang kể cho Lê nghe về cuộc đời mình, về vùng Hòn Hàng, về những cơn động biển.
          - Anh biết người đi biển họ nói về gió răng không? - Sáu Thùy hỏi, mắt liếc sang Lê.
          - Họ nói thế nào?
           Quê em có câu:

Tháng giêng động dài
Tháng hai động tố
Tháng ba nồm rộ
Tháng tư nam non

          Tháng ba đi biển là khỏe, biển lặng như tờ. "Tháng ba bà già đi chợ" mà .
          - Tháng hai động tố là sao?
          - Là gió cũng to, nhưng không dài, vài ngày rồi thôi.
          - Vậy mà gọi là "tố"?
          - Chớ ông bà kêu rứa, cự chi - Sáu Thùy lườm.
          - Lại giận rồi...
          - Ghét anh Lê lắm. Nè, mình xuống suối bắt cua nghe.
          - Sáu Thùy dạy tôi nhé.
           Hai người ào xuống chân núi, rồi lần ra sau ngọn đồi. Con suối nép mình dưới những thân cây to, lượn bên rìa núi. Nước trong vắt. Những hòn đá cuội dưới lòng, trắng như thạch cao, lóng lánh.
           Sáu Thùy xắn quấn cao quá gối. Đôi bắp chân trắng mịn lấp loá giữa dòng nước.
          - Anh Lê đi lẹ nghe - cô nhắc - Cua nằm dưới những tảng đá ven bờ đó.
            Lê bám phía sau Sáu Thùy. Hai người đi ngược lên mãi vào sâu trong lòng núi. Thỉnh thoảng, Sáu Thùy quay nhìn Lê. Đôi má hồng hào và hai con mắt đen như than. "Vậy mà bảo con gái khu Năm không đẹp!". Lê thoáng bối rối.
          - Anh Lê, em cho anh con cua này - Sáu Thùy đứng chờ. Trên tay cầm con cua màu nâu nhạt.
Lê chạy tới:
          - Sáu giỏi quá. Cẩn thận nó cắp đấy.
          - Đừng để chú Ba biết nghe.
          - Sao?
          - Biết, chú rầy. Chú cấm ăn những con cua có trứng. Cấm ăn môn đốc cả củ. Chú bảo ăn vậy, lấy đâu nó sinh sản ra mà ăn nữa. Đói đừng kêu.
          - Vậy Sáu thả ra.
          - Nhưng em muốn luộc cho anh. Ưng không?
           Sáu Thùy nhìn Lê, và anh đọc được trong đôi mắt ấy cái tình cảm đang bừng lên.
          - Em bỏ vào hốc đá, chốc nữa quay về lấy - Rồi ù chạy. - Đố anh Lê bắt được em.
           Lê đuổi theo. Nước suối trắng phau té lên hai người. Lê không quen, anh chạy trật trưỡng. Sáu Thùy vừa chạy vừa cười lanh lánh.
           Họ chạy mãi, chạy mãi.
           Đến một bờ dá, Sáu Thùy dừng lại. Chờ Lê tới gần, cô vục nước, hắt vào người.
          - Ơ kìa, Sáu Thùy, ướt hết quần áo rồi - Lê kêu.
          Sáu Thùy đứng cười.
          - Thì chờ khô, ta về...
          - Chà, cô Sáu nghịch quá.
          - Để rồi em đền...
           Sáu Thùy ngồi xuống tảng đá bên bờ suối, hất mái tóc ra sau, đôi mắt mơ màng nhìn lên tán lá thở hổn hển.
         - Anh Lê, tới đây!
          Lê e dè ngồi xuống cạnh, đôi bàn chân vẫn ngâm dưới suối.
          Xung quanh vắng lặng. Dưới chân hai người, nước chảy lơ thơ, gió lao xao trên ngọn cây và trước mặt họ, nắng vàng hoe.
          Sáu Thùy ngồi sát bên Lê, vuốt vuốt nước trên người anh.
          - Anh Lê nói giỡn em, anh làm chi đã có người yêu. Ôi có con rịn cắn sau lưng em nè. Bắt giùm đi - Sáu Thùy đưa cặp mắt long lanh nhìn anh, chờ đợi.
          - Ta về thôi, Sáu! - Tiếng Lê rất thoảng.
          - Còn sớm mà. Anh không thích ngồi vậy sao?
          - À, nghe nói chú Ba có một người con tập kết ra Bắc cũng làm lính hải quân hả cô Sáu? - Lê hỏi và cặp mắt anh nhìn tận đẩu đâu.
         - Hỏi chi chuyện đó. Chuyện đáng hỏi thì không hỏi. Chán anh lắm. Nè... - cô cầm lấy bàn tay Lê, nắm chặt - Nè ... mai địch càn, em chết, em thù đó.
         - Chúng mình về nhé, Sáu Thùy! Ở đây lâu, anh em ngỡ lạc, lại cử người đi tìm.
         - Bộ anh tưởng họ cho mình là con nít sao? Anh muốn thì về một mình... Quần áo ướt vậy mà về? Người đâu khô như gỗ đá vậy?
          Lê rụt nhẹ bàn tay ra khỏi bàn tay Thùy, chân vẫn thả dưới suối . Rồi anh khoả thật mạnh để nước bắn toé lên.
          Sáu Thùy lại giật bàn tay Lê và ghé sát vào mặt anh:
         - Chi mà anh kỳ cục vậy?
          Lê nhấc mình khỏi tảng đá.
         - Nào, ta về!
         - Anh ác lắm!
          Sáu Thùy nhảy ùm xuống nước, không nhìn Lê, loạng choạng chạy ngược lên.
         - Sáu Thùy! Sáu Thùy!
          Lê hớt hải đuổi theo
          Và cuối cùng anh đuổi kịp. Anh kéo cô lên một bãi cỏ và ấn ngồi xuống. Hai người cùng thở gấp.
         - Sáu Thùy giận à? - Lê khẽ lay vai cô gái.
          Cô gái úp mặt xuống đầu gối, hai tay ôm chặt lấy mái tóc sổ bung. Giọng cô run run thổn thức:
         - Anh... Anh làm khổ em.
          Lê choáng váng, nhắc tay khỏi vai cô, người lặng đi. Không hiểu sao anh chợt nghĩ đến Thúy. Ở một nơi nào đó rất xa, Thúy của anh kia. Mùi lá sả. Mùi hương nhu...Hơi ấm. Và bao kỷ niệm của những ngày tháng yêu nhau... Lê nhìn Sáu Thùy cố nén không để bật ra tiếng thở dài.
          Chờ cô gái dịu cơn xúc động, Lê nói như dỗ dành:
         - Ta về, Sáu Thùy. Anh em đang chờ đấy?
          Sáu Thùy ngước cặp mắt đẫm nước nhìn Lê. Rồi cô vùng dậy. Như một người trong cơn mê, cô chệnh choạng bước thấp, bước cao đi ra khỏi khu rừng. Đôi mắt mở to nhìn về phía trước. Những tán lá như xoay tròn trong mắt. Lê lẳng lặng bước theo sau.

           Cả ngày hôm ấy Lê nhở Thúy đến tức thở, đến ngẩn ngơ. Nhớ đến rụng rời. Như một nhu cầu thôi thúc không thể đừng, buổi chiều, anh mắc võng vào nơi kín đáo và ngồi viết thư. Anh viết kín đặc mấy trang sổ tay. Rồi ngả lưng xuống võng, ngủ thiếp.
           Còn Sáu Thùy, khi tỉnh lại và ý thức được sự bồng bột của mình, cô thấy cần gặp Lê. Gặp làm gì, cô không rõ nữa. Cô chỉ biết một điều rõ ràng và cụ thể: cô yêu anh. Và cần phải nói ra điều đó. Sáu Thùy đi khắp khu đóng quân, cuối cùng, cô rón rén lại bên chiếc võng. Cuốn sổ tay đặt cạnh Lê. Cô nhấc khẽ lên, ngồi xuống, tò mò lần dọc từng dòng:
          " Anh viết cho em những dòng này trong khu du kích ở miền Nam. Điều đó chắc em không tưởng tượng nổi.
           Bọn anh đành phải huỷ tàu và lên bờ. Tình hình bắt buộc như vậy. Khi cài kíp vào khối bộc phá, anh nghĩ nhiều đến em, đến những người công nhân đã thi gan với bom đạn để làm ra con tàu.
          ... Trong những ngày này anh nhớ em đến nôn nao. Những kỷ niệm đã qua, không sao quên được. Hình ảnh em, tình yêu của em cổ vũ anh. Anh khát khao được sống bên em. Không rõ sao anh cứ nghĩ rằng khi chiến tranh kết thúc và nhất định thế, hai đứa chúng mình sẽ có một căn phòng nho nhỏ trong thành phố. Sáng sáng, anh đưa em đến nhà máy; chiều chiều, hai đứa dăng dẩy lai nhau về. Dù anh chỉ là một công nhân, em là kỹ sư thì có sao? Điều đó không đáng băn khoăn, hạnh phúc không bắt đầu từ sự tương xứng đơn thuần về hình thức. Điều cần nhất là chúng mình yêu nhau và biết là không thể vắng thiếu nhau trong cuộc đời mỗi đứa. Tối tối chúng mình sẽ học thêm, đọc sách và cũng có những buổi đi xem, đi chơi nhà bạn bè. Và ... chúng mình sẽ có con. Ôi, cái mơ ước giản dị ấy, để có được, đang phải chịu nhiều mất mát, hy sinh.
          ... Xa em đã bốn tháng năm ngày. Chúng mình còn phải xa nhau. Nhiều lúc anh nhớ em đến ngẩn ngơ. Anh nhớ, nhưng anh không buồn vì anh biết em luôn nghĩ đến anh ..."


           Sáu Thùy gấp cuốn sổ, để vào chỗ cũ. Cô thần người, ngồi nhìn ra xa. Hai giọt nước mắt lăn trên gò má. Có cái gì như thể vừa xấu hổ, vừa buồn, vừa ân hận dấy lên. Cô đứng dậy, chạy ào xuống đồi.

           Sáng hôm sau, khi đi xách nước, Sáu Thùy gặp Lê bên bờ suối. Cô luống cuống, muốn tránh, nhưng Lê bước tới gần:
          - Sáu Thùy, để tôi xách dỡ - Anh bảo.
          - !!!
          - Sáu Thùy ốm đấy à?
           Cô gái quay lại. Hai ngón chân di di trên cỏ:
          - Anh Lê ! Anh có giận em không?
          - Sao lại giận?
          - Con gái khu Nărn vụng về, anh đừng chấp.
          - Con gái khu Năm tốt, thắng thắn, trong sáng, mạnh bạo và yêu rất nồng nhiệt. Đó đều là những đức tính đáng quý!
          - Thiệt?
          - Thật! Bao giờ hết chiến tranh, tôi sẽ đưa Thúy vào thăm Sáu Thùy, được không?
          - Nói dóc - Sáu Thùy hơi ngước lên.
          - Nói thật mà. Cô Sáu không tin à ?
            Hai người bước xuống suối. Nước suối buổi sớm trong, có thể nhìn rõ từng viên sỏi dưới đáy.
          - Yêu không xấu chớ, anh Lê? - Sáu Thùy hỏi.
          - Tình yêu làm cho người ta đẹp lên!
           Sáu Thùy khẽ thở dài. Cô vục chiếc thùng xuống suối. Mặt nước sóng sánh tạo những vòng tròn, lan toả.
Sáu Thùy bập bõm xách thùng nước lên dốc.
          - Mày yêu thuyền trưởng Lê hả, Sáu? Ba Huỳnh vui vẻ hỏi khi Sáu Thùy bước vào lán.
          - Người ta đâu có yêu cháu.
          - Ủa, sao vậy?
          - Anh Lê đã có chị ấy.
          - Mày biết?
          - Ảnh kể. Người ta là công nhân kỹ thuật, mình chỉ là du kích, chỉ biết ngoéo cò, ăn nhằm chi.
          - Tao thấy thuyền trưởng Lê cũng quý mày.
          - Quý! Ai chú cũng bảo quý. Quý đến lúc cháu ở già luôn đó.
          - Con ni, bi quan ha. Khi mô thằng Xuyên về, mày ưng làm con dâu tao không?
          - Ảnh ra Bắc, được ăn học, thiếu gì người mê, cần chi thứ cháu.
          - Ba láp, mày. Tao cứ nhận mày làm con dâu đó Sáu, ưng chưa?
           Sáu Thùy cười. Khuôn mặt đượm một nét buồn.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Tám, 2009, 09:20:08 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #72 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:49:47 am »


31


           Linh cảm rằng Lê đã hy sinh, đầu tiên như một ý nghĩ thoáng qua trong Thúy. Dần dần in đậm, ám ảnh và cô tin điều ấy có thật. Những gì xảy ra có thể diềm định mệnh đưa tới báo trước  mọi lẽ chăng? Năm tháng qua, Thúy không nhận được tin tức của anh. Năm tháng, cô viết năm lá thư. Năm lá thư đi, mong mãi, vẫn không hồi âm. Có bao điều cần thông báo và bàn bạc. Vậy mà... Thúy rõ Lê, chưa bao giờ anh vô tâm đến thế; và nhất là sau cái đêm chia tay đầu mùa hè ấy. Thúy tin anh sẽ nhớ cô, yêu cô hơn. Anh sẽ nóng lòng, cứ suy từ Thúy ra thì rõ. Cô đã yêu anh biết chừng nào khi nghĩ rằng mình đã hòa vào trong anh. Thúy cũng viện ra đủ lý lẽ để bào chữa cho sự bặt tin. Rằng anh đi công tác xa! Rằng vì một nguyên cớ nào đó bắt buộc anh im lặng! Nhưng hình như càng cố tình đánh lừa mình,Thúy càng thấy tủi thân, đau buồn và sợ hãi. "Tại sao  anh cứ bỏ em mà đi, anh Lê? Chúng mình sắp có con đấy. Nó đạp khỏe lắm. Em tin là con trai và nhất địnhsẽ giống anh. Phải chăng có sự xui khiến của định mệnh,của số phận, nên trước lúc xa em mãi mãi, anh đã để lại  cho em kỷ vật vô cùng thiêng liêng này: Con của chúng ta. Không rõ sao em tin thế. Và đó là điều an ủi em, để em sống, để em vượt qua tất cả và để em làm được nhiều việc trong những ngày gian khổ, ác liệt này...".
          - Không nên mát hết hy vọng! Khi quá lo lắng, người ta thường nghĩ đến khả năng xấu nhất. Với Lê, không như Thúy nghĩ đâu. Rồi Lê sẽ trở về !
           Mỗi lần tới thăm Thúy, Lâm Khanh động viên cô như thế. Dịp này anh đến thường xuyên. Bất chấp dư luận, anh vẫn chăm sóc Thúy và không từ một điều gì để có thể giúp đỡ. Nhìn gương mặt xanh xao và dáng đi nặng nề, mệt nhọc của Thúy, anh ái ngại. An muốn làkhuyên cô một điều gì đó, nhưng cụ thể là gì, anh cũng không nghĩ ra. Anh lặng lẽ làm những việc mà cho rằng như thế có thể đỡ đần Thúy phần nào.
          Có hôm tới phòng làm việc, khi lôi bản thiết kế ra, Thúy ngạc nhiên thấy mọi tính toán đã hoàn tất. Ngước lên, bắt gặp đôi mắt thâm quầng của Lâm Khanh, Thúy hiểu tất cả: hôm qua anh đã thức để làm hộ cô. Thúy vừa cảm động, vừa buồn khổ. Thúy rõ tấm lòng cửa Lâm Khanh, anh không muốn Thúy mang tiếng là vì lẽ này,  lẽ khác, được giảm nhẹ công việc nhường lại muốn Thúy đỡ căng đầu vì những con số, đỡ phải làm việc nhiều.
           Đến lần thứ hai thì Thúy ngại:
          - Anh Khanh ạ, em vần đủ sức làm tròn phần việc của mình. Tới lúc nào cần em sẽ báo cáo xin giảm bớt khối lượng. Đừng giúp em như thế nữa, em áy náy lắm. Anh cũng cần giữ sức khỏe. Công việc còn dài...
           Lâm Khanh ngồi im. Rồi anh chống chế không được tự nhiên:
          - Buổi tối buồn anh mang ra làm cho khuây khoả.
          - Nhưng như vậy là anh tập cho em thói quen ỷ lại. Em vẫn cảm thấy mình có thể làm thêm được nữa. Thật thế, cũng không rõ tại sao.
          - Có gì khó hiểu khi người ta... yêu.
          - Vâng. Có lẽ thế. Anh Lê đi đã hơn năm tháng rồi và cho tới những ngày này thì em tin anh ấy đã hy sinh.
          - Anh nghĩa là Lê không chết.
          - Anh chẳng rõ dược linh cảm của tình yêu đâu? Em nằm mơ và giấc mơ đã mách bảo mọi điều.

           Khanh nhìn gương mặt thẫn thờ, đượm buồn của Thúy, thấy thương. Anh vẫn thầm ước, giá như có cách gì đó làm cho Thúy vui lên. Giá như anh làm được cái việc có thể giúp Thúy biết đích xác tin tức về Lê? Từ mấy tháng nay, nỗi buồn của Thúy ngấm dần sang anh. Khanh thấy trống trơ một điều gì đó: một nỗi buồn bâng quơ vô duyên cớ. Anh luôn tự nhắc: giữ sao để trong quan hệ với Thúy, chỉ là sự quý mến của tình bạn. Nhưng anh biết, khi đã buộc phải tụng niệm như vậy, có nghĩa là tình yêu của anh đối với Thúy chưa mất. Anh vẫn còn yêu Thúy lắm. Thực tình, đã có lúc anh hoang mang nhận ra rằng, ở một góc nào đó tận đáy lòng anh thầm nuôi một ý nghĩ, dù le lói, mong sao Lê đừng về. Nhưng điều ấy lập tức khiến anh sợ hãi.
          "Không, như vậy thì qủa ta là kẻ bất nhân và hèn hạ. Ta vẫn mong cho Lê trở về, đó là điều có thật!" - Anh hoảng hốt tự mắng như thế. Rồi anh lại tâm niệm: "Lê sẽ về với Thúy! Lê sẽ về với Thúy!", lấy đó làm vũ khí  để chống lại những tình cảm của mình. Những lúc Khanh an ủi Thúy rằng Lê không chết, cũng chính là lúc anh  muốn nói với mình. Anh đang cần có thêm sức mạnh để cưỡng lại chính anh. Khanh đau khổ chẳng kém gì Thúy.
          - Dù sao - Khanh nói - anh nghĩ giúp đỡ em, chẳng có lỗi. Dịp này em cần phải nghỉ ngơi nhiều hơn.
          - Em lại muốn rằng anh và mọi người đừng nghĩ sai  về em. Em gắng làm việc như chuộc lại một điều gì.
          - Không phải thế. Làm việc là nhu cầu tự thân. Anh cũng rõ công việc là niềm vui và sự say mê của em. Nếu bị tước đi điều ấy em sẽ buồn biết chừng nào.
          - Tức là anh đã tước đi một phần mềm vui của em?
          - Ý em không hẳn thế. Em còn làm được... Anh nên hiểu em.
           Họ ngừng câu chuyện ở đó, và vẫn như mọi ngày, Khanh đứng bên một góc tường, bâng khuâng nhìn bóng Thúy đi ra cổng.
         
          Đã thành thói quen, về tới nhà là Thúy ngồi xuống bàn và nói chuyện với Lê trong tấm ảnh. Mèo mướp ngỡ cô chủ nói với nó, nên nhảy lên, ngồi khoanh tròn trên đùi, ngước mắt nghe.
          Thúy mắng:
          - Nghe lỏm chuyện hả? Dơ!
          Con vật không hiểu, dụi dụi đầu vào bụng Thúy. Cô thấy vui vui.
          - Em bé đấy! Rõ chưa? - Thúy âu yếm - Sau này không được bắt nạt em bé nhé. Không được cào em bé. Phải chơi với em bé ...
          Mèo không trả lời, đưa cái lưỡi dài, mỏng ra liếm mép.
          Đêm ấy, Thúy mơ thấy một viên đạn rất to xuyên vào ngực Lê . Anh gọi tên em rồi ngã xuống. Thúy ôm anh, vật vã khóc. Tỉnh lại, Thúy bàng hoàng, sờ lên má, thấy đẫm nước mắt. Thúy không ngủ lại nữa, cô dậy nấu cơm và chuẩn bị đi làm.

          Lâu nay Thúy đi làm sớm. Cô biết mình cần nhiều thời gian hơn trước để đến nhà máy. Cô không thể bước nhanh và vội vã được nữa. Mấy lần Lâm Khanh có ý sáng sáng tới nhà đón cô đi và chiều chiều đưa cô về, nhưng Thúy không nghe. Cô không sợ dư luận. Thời  gian qua, cả nhà máy đều rõ tình cảm trong sáng của anh. Cô không muốn lạm dụng lòng tốt nơi anh. Cứ mỗi  tuần đều đặn ba lần anh tới xách nước, đã khiến Thúy ngại rồi. Với nữa, suốt ngày ngồi bên bàn thì sự vận  động bằng cách đi bộ là cần thiết. Chị Huệ cũng khuyên Thúy nên như thế: " năng đi lại, đến ngày đến tháng, dễ dàng hơn em ạ".
          Thúy bước thong thả , vừa đi vừa nghĩ lan man.
          Tới cổng nhà máy, Thúy gặp vợ chồng chị Huệ đứng đó như có ý định chờ.
          - Ồ, hôm nay sao có sự lạ thế này, anh Cựu lại đưa chị Huệ đi làm? - Thúy vui vẻ bắt chuyện.
          - À, ông trưởng bến phà muốn gặp em - Chị Huệ đùa.
          - Gặp em?
          - Phải! Mấy lần chị phàn nàn là dạo này em gầy và xanh, anh vặc: "Sao không bảo cô ấy thỉnh thoảng qua đằng này kiến cái gì bồi dưỡng thêm?". Chị cũng vặc: "Anh đi mà bảo!. "Không phải thách!". Anh ấy nói, và hôm nay thân chinh tới để gọi em trưa đến ăn cơm đấy.
          - Thế ạ? Em sẽ đến - Thúy đáp. Nhưng anh không đi làm ư?
          - Có, ca chiều.
          - Nào, nói gì thì nói đi để chị em tôi vào nhà máy kẻo muộn - Chị Huệ đưa mắt lườm chồng - Ở nhà thì hùng hùng hổ hổ: "Tôi sẽ kéo cô ấy về đây cho mà xem" sao lúc này đứng đực ra thế?
         - À, có gì đâu. Anh Cựu cười cười - hôm nay anh nghỉ, anh chị tới bảo Thúy chốc nữa lại đằng nhà ăn cơm cho vui.
           Nhìn dáng vẻ lúng túng của anh, Thúy cũng vui, và cảm động.
         - Thế, thế... lại nhé. Tôi đi đây.
           Anh nhảy lên xe, đạp nhanh vào phố.
           Chị Huệ cầm tay Thúy, hai chị em vào nhà máy.
         - Cứ để lão ấy đi chợ, làm cơm; trưa về, chị em chỉ việc ngồi ăn. Chị dặn rồi, hễ không biết nấu thì đừng trách - Chị Huệ nói và Thúy nhận ra trong giọng chị ẩn chứa mềm vui, sự hài lòng của người hạnh phúc. Chị Huệ nói tiếp - Lần trước, ra cái điều thương vợ, xăng xái rửa hộ rổ rau sống. Em biết làm thế nào không? Cho nửa bát muối vào chậu nước và ngâm vào đấy còn hí hửng khoe: "Tôi sát trùng đàng hoàng nhé?". Khi chị nấu xong nồi riêu cá quay lại thì, ôi thôi, một rổ rau sống héo quắt, chẳng khác rau luộc vớt ra không đầy chiếc đĩa con. Đã vậy còn cười hì hì , bảo: "Ví như nhà mình hôm nay ăn rau xào. Tức chưa.
          "Vợ chồng chị thật hạnh phúc". Thúy nghĩ lúc hai người chia tay.

          Thúy bước vội vào phòng kỹ thuật. Trên bàn làm việc  một mảnh giấy gấp tư, găm đó. Thúy mở ra: “Hôm nay Thúy xuống ụ  đà hiểm tra  việc ghép khung tàu mới theo yêu cầu của phòng kế hoạch. Anh bận họp ở  phòng giám đốc - L.K". T húy cho mảnh giấy vào túi, đi ra bờ sông.
          Cuộc họp kéo dài gần hai tiếng. Ngoài cán bộ chủ chốt, còn có thiếu tá Tư, đại diện Bộ tư lệnh Hải quân. Cuộc họp chỉ bàn một vấn đề : Làm thế nào để tăng nhanh tốc độ thi công, hạ thủy tàu sớm hơn kế hoạch. Kết thúc cuộc họp, ông Tư vui vẻ cảm ơn giám đốc An, cảm ơn mọi người.
          - Chú cho cháu gặp mấy phút, việc riêng thôi. Lâm Khanh nói nhanh khi thiếu tá Tư đưa bàn tay về phía anh. Hai người ra khỏi ngôi nhà hai tầng.
          - Có việc gì quan trọng không, đồng chí trưởng phòng?- Đoàn trương Tư hỏi vui khi họ bước trong sân nhà máy.
          - Đáng lẽ không nên nói ra, song cháu nghĩ mình làm điều tốt thì có gì phải băn khoăn - Khanh nói, anh bước chậm lại - Chú sẽ ngạc nhiên khi cháu điều này:
          - Cô Thúy và anh Lê sắp có con.
          - Có con? Lê và Thúy? - Đoàn trường Tư dừng lại sửng sốt hỏi.
          - Vâng, nhưng đó không phải là điều cháu có ý định thông báo. Sức khỏe của Thúy rất sút. Gần nửa năm nay cô ấy không có tin tức gì của Lê. Thúy đinh ninh rằng  Lê không còn. Và Thúy sống trong nỗi buồn đau ấy. Chiến tranh, mọi sự đều có thể xảy ra. Sự phấp phỏng khiến người ta khổ hơn là được biết chắc về điều bất hạnh. Cháu nghĩ thế và cháu tin là chú có thể giúp cô  ấy biết rõ sự thật.
          - Tôi hiểu - Ông Tư trầm ngâm - Thúy có thai à? Chắc là đợt cậu Lê về nhận tàu. . . Ừ, ở trường hợp Thúy, sự chịu đựng như vậy là quá sức. Hiện cô ấy ở đâu?
          - Thúy vẫn đi làm. Cô ấy là người nghị lực và đáng quý.
          - Tôi có thề gặp Thúy được không?
          - Lê vẫn sống chứ ạ?
          - Vẫn sống.
           Thoáng một nét bối rối trên gương mặt Lâm Khanh. Có cái gì đó thật vui, lại như thể nỗi buồn xen vào anh.
          - Chú chờ cháu, cháu sẽ gọi cô ấy - giọng Lâm Khanh không được tự nhiên. Anh bước hấp tấp ra bờ sông.
           Lát sau, Thúy hớt hải chạy tới. Vừa nhìn thấy đoàn trưởng Tư, cô khóc oà và gục đầu vào vai ông.
          - Chú ơi, cháu có lỗi với chú nhiều lắm!
           Đoàn trưởng Tư vỗ nhẹ lên vai Thúy:
          - Nín đi! Chú đã rõ mọi điều. Chú cháu mình tìm chỗ nào ngồi nói chuyện nhé.
            Hai người bước lại chiếc hầm trú ẩn và ngồi xuống.
          - Nào, nói đi, cháu sống vất vả lắm phải không?
          - Không đến nỗi ạ. Cháu chỉ buồn là anh ấy chết nhanh quá. Trước lúc hy sinh, anh ấy không biết mình sắp có con.
          - Hy sinh à? Cháu nói nhảm gì thế?
          - Chú đừng giấu cháu nữa. Cháu rất buồn và khổ. Nhưng chẳng phải vì thế mà cháu ân hận.
          - Như vậy là cháu có thai đã năm tháng, phải không?
          - Anh ấy hy sinh trong trường hợp nào ạ?
          - Cháu hỏi thế ư? Cậu ấy vẫn sống.
          - Cháu sợ chú đánh giá sai về cháu. Cháu có thể chịu đựng được. Chú đừng ngại.
          - Chú hiểu cháu. Nhưng cháu đừng bắt chú phải nói rằng Lê đã chết. Năm tháng nay không có thư của Lê, ừ, ừ đã năm tháng rồi... Lê đang trên đường về.
          - Nghĩa là anh ấy vẫn còn sống ạ? - Thúy ngước lên, nhìn đăm đăm vào đoàn trưởng Tư.
          - Cô bé này! Lẽ dĩ nhiên, chú không dối cháu.
           Thúy lúng túng, cô muốn gục đầu vào đoàn trưởng Tư, nhưng cô chỉ ngồi yên, thấy xốn xang "Anh ấy vẫn còn sống. Còn sống!” - Thật thế hả chú?
           Đoàn trưởng Tư gật đầu. Đôi mắt nhìn, thông cảm.
          - Vậy ra... Trời ơi, tại sao anh ấy không viết cho cháu một dòng, chú?
          - Đừng trách Lê. Điều kiện và hoàn cảnh mà, cháu. Lê không có lỗi.
          - Chú ơi, chú có giận chúng cháu không? - Thúy ngồi sát vào đoàn trưởng, giấu mặt vào vai ông, hỏi nhỏ.
          - Các cháu hơi vội. Nhưng đó là lời bàn của người ngoài cuộc, các cháu yêu nhau, đấy là quyền của mỗi một người. Nhưng xã hội lại có những niêm luật, những ràng buộc mà chúng ta là những thành viên, không thể  không tuân theo. Phải vậy không cháu?  Ai cũng bào  chữa cho mình để phá vỡ những niêm luật đó, xã hội sẽ ra sao? Việc đã rồi, chú chỉ ái ngại cho cháu. Cháu sẽ gặp khó khăn đấy. Sắp tới, sống một mình, việc sinh nở sẽ thế nào đây? Lại đang chiến tranh... Có lẽ chú thương cháu nhiều hơn là giận. Ơ kìa, sao khóc? Thôi nín đi, nín đi cháu.
         - Chú cho cháu khóc một chút... Thúy gục đầu vào ngực đoàn trưởng Tư và càng khóc nấc lên - Cô khóc vì thấy cuộc đời nhân hậu quá ! Người nào cũng tốt, người nào cũng quan tâm, săn sóc cô và điều ấy khiến cô lo rằng mình sống không xứng đáng với tình thương yêu ấy...
         - Chú tin Lê cũng luôn luôn xứng đáng với tình yêu  của cháu.
         - Chú có thể cho cháu rõ hơn về anh ấy không ạ?
          Thúy thôi khóc, ngẩng lên.
         - Cháu cứ biết là Lê còn khỏe. Công tác tốt. Còn mọi điều đến một lúc nào đó, Lê sẽ kể cho cháu nghe. Cháu có hiểu ý chú không, Thúy?
         - Vâng.
         - Và cháu nên tự hào về điều đó.
         - Điều gì ạ?
         - Những điều cháu nghĩ rằng mình cần vượt qua ấy. Thúy ngước nhìn đoàn trưởng Tư với sự biết ơn. Hai người ngồi một lúc nữa, rồi cô tiễn ông ra cổng.
         Khi quay trở lại, Thúy đi nhanh về phía ngôi nhà hai tầng, lòng phơi phới: "Vậy là trưa nay có chuyện để khoe với chị Huệ rồi".


« Sửa lần cuối: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:59:40 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #73 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 09:25:40 am »


          Chợt còi báo động rúc lên. Công nhân ngừng việc, người xách súng chạy ra hầm, người chạy tới những khẩu 12 ly 7. Nhà máy chuẩn bị chiến đấu.
          Thúy cho tài liệu vào hai cái cặp, rồi hối hả xách ra khỏi phòng. Hơn tháng nay, Lâm Khanh không để cô làm pháo thủ nữa, cô có nhiệm vụ thu cất tài liệu khi báo động. Thúy bước nhanh tới căn hầm lúc nãy cô và đoàn trưởng Tư ngồi. Trong hầm đã có dăm ba người. Họ đón cặp tài liệu và đỡ cô xuống.
          Tiếng súng nổ ran. Tiếng máy bay rà thấp. Tiếng bom ình ình. Căn hầm rung lên. Bom nổ nghe gần lắm. Phía cửa hầm, khói lùa vào, trùm kín. Mọi người ho sặc sụa. Thúy ngồi tựa vào vách. Cô cảm thấy tức ngực. Một tiếng nổ nữa. Căn hầm chao, lắc. Đất đá bắn trên miệng hầm rào rào.
          Chợt phía trên, có tiếng ai đó hô to:
          - Hầm sập! Hầm sập! Tổ cấp cứu làm nhiệm vụ Tiếng hô bị át trong nhiều âm thanh hỗn độn. Một vài người vọt ra. Thúy toài theo.
          - Bụng mang dạ chửa, định đi đâu? Ở yên đó! - Một bàn tay nắm lấy vai cô, giữ lại. Anh ta ấn Thúy xuống và nhảy vụt lên.
           Căn hầm rung bần bật. Thúy thấy ngạt thở và buồn nôn. Cô lần ra ngoài và nhô đầu lên. Nhà máy ngập trong khói và lửa. Đất đá ngổn ngang. Mặt đất bị cày xới nham nhở, Thúy nghe tiếng nhiều bước chân chạy hối hả về phía bờ sông.
           Ngớt tiếng máy bay, mọi người xúm quanh chiếc hầm sập. Tổ cấp cứu hối hả đào bới, Thúy lách vào. Cô tạng người, mặt biến sắc: Người phụ nữa sáng nay còn cười nói với cô ở cổng nhà máy, lúc này đã nằm sóng soài quần áo bê bết bùn đất. Khuôn mặt xanh lét. Mắt nhắm. Mái tóc bung xõa.
           Chị Huệ - Thúy bật gọi và cô quỵ xuống bên thi hài người xấu số. Xung quanh quay tròn. Chao đảo... Thúy lờ mờ nhận ra ai đó xóc nách cô, kéo dậy. Thúy lê bước theo người ấy, cảm giác như đang chấp chới trên không. Cô không khóc. Chỉ thấy một cái gì đau nhói trong lồng ngực, và lạnh buốt.
           Về tới phòng Thúy đổ xuống ghế, úp mặt lên bàn. Cô không dám nhìn ra cổng. Thúy sợ bắt gặp khuôn của anh Cựu mà cô biết chắc là lúc này đang ngấp nghển ngóng tin vợ. Trơi ơi! Mới sáng nay chị còn vui vẻ kể tội chồng, giọng tràn hạnh phúc... Trời ơi! Vậy là cháu Hồng không còn mẹ...
           Có cái gì đạp nhẹ trong bụng. Thúy nghẹn ngào và bỗng bật khóc nức nở. Xung quanh nén lặng lại. Không khí nặng nề bao trùm nhà máy.
           - Thúy! Anh Cựu... Có lẽ em... - Lâm Khanh từ ngoàibước vào. Anh định nói điều gì. Nhưng chợt đứng trơ ra và cả hai thấy bối rối .
           - Không! Em không đủ sức. Đừng bắt em làm việc đó - Thúy ngẩng lên, khuôn mặt đầm đìa nước mắt. Cô nấc to - Tại sao những người như chị Huệ lại chết? Tại sao?


32


            Đêm đã khuya, khu rừng im lìm, chỉ có tiếng lá lao xao trong gió. Ba Huỳnh nằm trên võng, điếu thuốc loé đỏ nơi môi. "Thế là sáng mai anh em lên đường trở lại miền Bắc", ông vất cái mẩu tóp, hai bàn tay đan nhau, để xuống dưới đầu. ông ngước lên: Những ngôi sao thấp thoáng sau tán lá. Một tình cảm lưu luyến, nhớ nhung ngấm vào ông, khiến Ba Huỳnh thao thức. Những thủy thủ ấy đã sống trong đội du kích mấy tháng nay, cùng vui, cùng khổ với mọi người; ông đã coi họ như những thành viên của đội công tác. Họ tham gia chống càn, chống đói, tham gia xây dựng đội. Tuy vậy, ông biết trong thâm tâm, họ vẫn mong ngày hôm nay, ngày có quyết định trở về. Cuộc đời của họ là trên biển, là sông nước. Ba Huỳnh quý trọng và hoàn toàn thông cảm tình cảm ấy. Ông chỉ áy náy một điều: những tháng ngày qua, ông không có điều kiện để chăm sóc thêm. Họ ăn uống kham khổ quá! Rồi đây, vượt hàng ngàn cây số đường rừng để ra ngoài ấy liệu mọi người có đủ sức? Trông người nào cũng gầy xanh.
           
            Mấy hôm nay Ba Huỳnh đã chỉ thị cho đội phó Quế  gắng kiếm chút gì đó, làm thực phẩm để anh em đi đường, nhưng Quế không lần ra. Ba Huỳnh tự vào thị trấn Thương Long, song ông cũng đành quay về không. Vậy là anh em chỉ có gạo và muối mang theo.
           - Có gạo và muối là quý rồi, chú Ba! Thuyền trưởng Lê bảo - Chú đừng áy náy quá. Bốn ngày sau, tới đường dây 559 là ổn, sẽ có mọi thứ.
           Đành rằng có gạo và muối là quý nhưng hành quân đường rừng, chỉ có gạo với muối sức khoẻ dễ sút, dễ phải nằm lại. Ba Huỳnh nghĩ mãi mà không có cách. Giá chi ông có được con heo để liên hoan và làm chút thực phẩm dự trữ cho mọi người. Chiều nay, trong bữa ăn, gọi là để chia tay, ngoài cơm và dưa rau tàu bay, có thêm món  thịt hộp nấu măng. Ông biết Quế đã cho khui những hộp thịt cuối cùng. Bữa ăn thật vui và cảm động...
           Ba Huỳnh trở mình trên võng, ông lại nhớ con.
           Thuyền trưởng Lê và chính trị viên Lượng đã kể tỉ mỉ về Xuyên với ông. Ai dè con ông cùng ở một đơn vị với những thủy thủ này. Con ông cũng đã mấy lần đưa vũ khí vào Nam. Nó làm thuyền phó cơ đấy. Biết đâu chẳng có ngày Xuyên chở súng đạn vào Hòn Hàng.  Nhanh thật, mới ngày nào còn bé tí...
           Hôm sau, Ba Huỳnh dậy rất sớm, nhưng Sáu Thuỳ và Mười còn dậy sớm hơn. Họ đang lúi húi nấu cơm. Đêm qua, hai cô không ngủ. Sáu Thùy mắc võng nằm cạnh Mười, chị em rỉ rả tâm sự. Mười thú với Sáu Thùy rằng cô yêu Cang. Mười và Cang đã hò hẹn là chờ ngày thống nhất. Sáng nay, câu chuyện vẫn chưa dứt.
          - Ảnh là con một, được má cưng lắm - Mười thì thầm - Ảnh khoe rằng trốn má để đi bộ đội đó.
          - Số Mười vậy mà sướng - Sáu Thùy chạnh lòng.
          - Chớ sướng chi? Sắp xa nhau, nhớ thấy mồ. Không yêu lại khoẻ.
          - Xin chú Ba theo luôn ra Bắc. Ảnh bảo chuyến sau lại vào mà.
           Sáu Thùy khẽ thở dài. Cô cúi xuống thổi cho lửa cháy to. Sáu Thùy cũng thấy nhớ. Một nỗi nhớ bâng quơ không rõ ràng. Và xen trong nỗi nhớ là nỗi buồn. Có cái gì đó trống trải luyến tiếc rất khó nói ra lời. Tối qua Sáu Thùy đắn đo mãi, có nên tặng anh chiếc khăn không, chiếc khăn cô bỏ bao thời gian để khâu, thêu. Ngoài Bắc chắc chẳng thiếu, cô mặc cảm nghĩ, liệu anh có đánh giá sai, hoặc chê? Song cô tự nhủ: đây là tình cảm chân thực của một đứa em gái tặng để kỷ niệm những ngày quen biết. Thế nhưng cô đã chần chừ. Ngồi  nói chuyện với anh mãi tận khuya, cuối cùng chẳng dám trao. Chiếc khăn vẫn nằm trong túi áo.
           Khi mặt trời rải nắng vàng xuống khu rừng, tốp thủy thủ lên đường. Ba Huỳnh và đội du kích tiễn họ tới  ngọn đồi trước mặt. Chia tay thực sự diễn ra ở đó. Ba Huỳnh ôm lấy từng thúy thủ, đôi mắt đỏ hoe. Ông chỉ  nói: "Đi mạnh!" và lặng người nắm lấy bàn tay họ. Những gì cần nói, mấy ngày qua đã nói cả!
            Mười bịn rịn bên Cang. Cô cắn vành môi, chỉ sợ khóc.
           - Em chờ đó nghe!
            Cô nói nhanh, rồi cúi vội xuống. Cang bối rối, cho mãi tới lúc này Cang mới thực sự thấm nỗi buồn xa cách. Anh luống cuống cầm bàn tay Mười:
           - Anh sẽ vào! Có tàu mới, anh sẽ vào...
            Họ đứng lặng bên nhau. Tim cùng đập rộn lên. Mười Sửa lại quai ba lô trên vai Cang, không nói câu gì, đột nhiên cô bóp mạnh bàn tay anh.
            Lê và Lượng bắt tay từng du kích. Đến bên Sáu Thùy, Lê dừng lại lâu lơn.
           - Không bao giờ anh quên Sáu Thùy và những tình cảm Sáu dành cho anh - Lê bảo.
            Sáu Thùy không nói. Cô không nhìn anh, chỉ gật gật  đầu và cúi xuống.
           - Sáu Thùy ở lại mạnh khỏe nhé.
           - Dạ ...! - Tiếng Sáu Thùy rất khẽ, cô quay nhanh,   tránh ánh mắt Lê. Nhưng khi anh bước đi, cô bật kêu:
           - Anh Lê !
            Cô chạy tới, dúi vào tay anh chiếc khăn. Rồi lẩn  nhanh bên gốc cây, ngóng ra.
            Tốp thủy thủ do Quế dẫn đường, đi về hướng tây. Được một đoạn, quay lại nhìn, Lê thấy Ba Huỳnh,  Sáu Thùy và anh chị em du kích vẫn đứng ngóng theo.
            Anh đưa tay làm loa, gọi lớn:
           - Chú Ba ơi, không bao giờ chúng cháu quên những ngày vừa qua. Xin hứa xứng đáng với chú và toàn đội...
            Rồi anh chạy theo tốp người.
            Quế đi đầu, mười ba thủy thủ hàng một, bước phía sau. Họ lầm lũi cắt rừng, đi tìm trạm giao liên.

            Đêm thứ tư, họ dừng lại trong cánh rừng già. Mọi người mắc võng nghỉ dưới những gốc cây to. Theo Quế cho biết, khoảng trưa ngày mai sẽ tới đường dây 559.
            Lê mừng. Tới được dường dây 559 là ổn. Theo đường dây, thủy thủ sẽ trở ra Bắc dễ dàng. Những thủ tục giấy tờ quân khu đã chuẩn bị cho đầy đủ.
            Mọi người phân công lấy nước, kiếm củi, gạo chỉ đủ ăn tối nay và ngày mai. Còn phải dành một ít để Quế trở lại khu du kích.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #74 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 09:32:48 am »

           
            Hôm sau, toán người lên đường sớm. Quá trưa thì họ tới khu rừng mà Quế bảo là trạm giao liên của 559. Khu rừng vắng vẻ. Đến bãi khách. Bãi khách vắng teo. "Quái, không thể lẫn được - Quế lo lắng - Rõ ràng ngày trước đã có lần mình mắc võng nằm nghỉ ở đây, ở chính bãi khách này".
           Quế đề nghị nghỉ tạm để anh đi tìm người của trạm.
           Mọi người mắc võng ở bãi khách. Lê, Lượng và Quế đeo AK, lần theo lối mòn đi sâu vào rừng.
           - Kia rồi! - Quế reo lên. Trước mặt họ, một căn lán xiêu vẹo nép dưới mấy gốc cây. Trên lối đi ẩm ướt, dấu dép cao su còn mới.
           Họ thận trọng bước tới, nấp bên vách nhìn vào. Một người tóc lút tai, cởi trần, chiếc mũ tai bèo nhàu nát, bạc phếch úp trên đầu, đang lúi húi nướng gì bên bếp. Cạnh đó, hai người nữa, mặc quần đùi, áo xanh lá cây phủ kín mông, ria che mép, nhồm nhoàm nhai gì đó.
           - Các đồng chí ơi! - Quế cất tiếng.
            Ba khuôn mặt ngẩng lên. Ba đôi mắt nhìn trừng trừng.
           - Cần gì?
           - Các đồng chí chỉ giùm chỗ đồng chí trạm trưởng - Quế nói. Lượng và Lê bước vào.
           - Các anh là ai? - Người cởi trần hỏi, mắt vẫn gườm gườm nhìn ba người lạ mặt.
           - Chúng tôi là khách, tới đây đi nhờ đường dây ra Bắc - Lê đáp - Có đủ giấy tờ hợp lệ.
           - Đường dây?- Người cởi trần cười gằn - Cuốn rồi.
           - Cuốn rồi? Cuốn đi đâu?
           - Cuốn lên biên giới. Ở đây để chết đói à?
           - Xa không?
           - Giỏi thì cứ việc dắt nhau lên đó mất mười ngày đường thôi. Này, các đằng ấy có gạo hả? Cấp cho tụi này một ít nhé. Cũng đang meo đây.
           - Các anh là ai? - Lượng khó chịu hỏi.
           - Cũng "Bê quay" cả, thích nhập bọn thì nộp lệ phí. Vài lon thôi.
           - Chúng tôi bị lạc... - Lê nói.
           - Thằng chó nào trốn đơn vị chẳng bảo là bị lạc. Cùng cánh đào ngũ với nhau, muốn nhập bọn thì ở luôn - Anh ta nói tiếp và bước tới trước mặt Lượng, chống tay vào hông, hai chân dạng ra như chiếc com-pa, đôi mắt ánh lên vẻ phớt dời - Như vậy chúng ta sẽ có sáu người. Kiếm đủ cái ăn cho sáu cái miệng cũng gay đấy, nhưng rồi sẽ tính. Cùng cảnh, đừng ngại. Thế nào, hay muốn đi khỏi đây để bỏ xác ngoài rừng cho thú nó ăn? Nếu vậy thì hãy đặt gạo xuống.
           - Các anh...? - Lượng bực, đôi mắt giận dữ nhìn người cởi trần.
           - Bình tĩnh! Đừng nóng thế, bọn này cũng ngán chiến tranh lắm rồi. Chúng ta thương lượng hòa bình vậy. Nào, suy nghĩ đi. Đã tới đây là không có lối ra đâu đồng chí cán bộ ạ. Ha ha, bỏ ba-lô xuống!
            Anh ta đưa mắt cho hai người mặt quần đùi. Hai người này lập tức xấn lại, giằng lấy ba-lô trên vai Lượng.
            Lượng lủi một bước, kéo cần cơ bẩm khẩu AK.
           - Xê ra không ta bắn.
           - Nào, giỏi thì bắn đi. - Người cởi trần xăm xăm tiến tới trước mũi súng của Lượng, rít lên - Đây cũng đang muốn chết. Bắn đi! Bắn.
           Lê gạt mũi súng AK nơi tay Lượng:
           - Các anh ở đơn vị nào? Nếu muốn về thì theo chúng  tôi. Chúng ta sẽ rời khỏi đây. Chúng tôi còn đông người. Chúng tôi không để các anh chết đâu.
           - Tìm đơn vị - Người cởi trần bật lên cười - Đừng ảo tưởng, đằng nào cũng chết, đừng chọn cái chết ngu xuẩn như thế. Trở lại đơn vị! Ra khỏi đây, không kiếm nổi củ sắn ăn đâu!
           - Sao bi quan thế? Hay đi theo chúng tôi.
           - Để đói rã họng ra phải không?
           - Vậy thì tạm biệt.
           - Không dễ thế đâu? Gạo?
           - Chúng tôi không có gạo.
           - Không có? Báo trước, các anh sẽ chẳng ra khỏi khu  rừng nếu không nộp lệ phí. Đó là luật rồi, rõ chưa?
           Lê không trả lời. Anh vẫy Lượng và Quế, bước đi.
           Anh chàng cởi trần và hai người mặc quần đùi nhìn theo và ré lên cười:
           - Quay lại tụi này nhường cho ít thịt nướng!
            "Họ đã trở thành người rừng" - Lê chua chát nghĩ - Họ đã không đủ sức thắng hoàn cảnh để vươn lên sống tốt đẹp hơn - anh cảm thấy có cái gì tê dại, xót ruột.
            Ba người trở lại bãi khách. Anh em đang chờ ở đấy.
            Lê gọi thêm thuyền phó Xuân và bốn người hội ý.
            - Tình hình trở nên phức tạp. Phương án đi tìm đường dây 559 không đặt ra. Từ đây lên đó rất xa, lại không thuộc đường. Quế đề nghị quay lại Hòn Hàng báo cáo và chờ thời cơ.
           - Quay lại à? - Lượng nhìn Quế bảo - Không được! Chúng ta phải tìm mọi cách trở về miền Bắc. Anh Quế hiểu cho, chúng tôi còn duyên nợ với những chuyến đi.
           - Tui rõ chớ - Quế nói - Chúng tôi rõ sự cần thiết phải có vũ khí. Nhưng hoàn cảnh không cho phép thì răng.
           - Hình như vẫn có đường dây liên tỉnh 1 mà, anh Quế - Lê bảo.
           - Đây tới trạm của tỉnh phải đi ba ngày đường.
           - Chúng ta có thể đi nhờ đường dây đó không?
           - Có thể. Nhưng đó là đường dây bên dân sự. Nếu đi, ta phải tự túc lương thực...
           - Tự túc lương thực à? - Lượng nói - Chẳng lẽ họ bỏ mình chết đói. Tôi đề nghị anh Quế cứ dẫn chúng tôi tới. Ta sẽ đi theo đuờng dây ấy. Đó là cách hợp lý nhất.
           Mọi người nhất trí phương án của Lượng.
           Họ bước lại phía anh em thủy thủ. Lượng nhìn khắp lượt mọi người. Họ đang nóng lòng mong được biết tình hình và cũng đã linh cảm thấy có điều trắc trở.
           Lượng nói:
           - Các đồng chí. Chúng ta không gặp may, đường dây 559 đã rút lên biên giới. Chỉ còn một cách là đi nhờ đường dây dân sự liên tỉnh. Lương thực đã cạn. Thực tình không ai lường tới tình huống này. Khó khăn, gian khổ đấy, nhưng không còn cách nào khác. Vừa đi, chúng ta sẽ cùng nghĩ ra hướng khắc phục. Tôi hy vọng, trách nhiệm đối với những chuyến đi mới, giúp ta vượt qua. Anh Quế tiếp tục là người dẫn đường. Các đồng chí, thu võng. Cần tranh thủ hành quân khi còn sức khỏe.
           Đoàn người nhanh chóng rời khỏi khu rừng. Quế xăm xăm đi trước. Xuân và Lê sau cùng.
           Đêm ấy, họ nghỉ lại cạnh ngọn núi đá. Gạo dự trữ  không còn mấy. Lê đề nghị để dành cho những hôm sau.
           Anh em thủy thủ toả ra đi kiếm rau tàu bay, môn đốc. Xuân và Cang lần ra bờ suối. Họ mò mẫm chừng nửa giờ, bắt được hơn chục con cua và ốc. Cang hí hửng cho vào chiếc túi con, rồi hai người vội vã trở lại chỗ nghỉ. Đang bước, Cang nghe thuyền phó Xuân kêu lên một tiếng. Anh quay lại: Xuân giãy giụa trên một cái hố,khuôn mặt nhăn nhúm, đau đớn.
           Cang ngồi xuống, mặt tái xanh hốt hoảng: một mũi chông to như ngón tay cái, dài vài gang xuyên qua bàn chân thuyền phó.
          - Ôi sao lại thế này? - Cang luống cuống kêu lên - Tôi rút ... rút ra nhé .
          - Rút ra à? - Xuân nhăn nhó - Ừ, đành thế ... rút thật nhanh đấy...
          - Nào, anh nằm xuống và... nhắm mắt lại.
           Cang đỡ Xuân nằm úp trên cỏ, Xuân gắng gượng duỗi thẳng chân.
           Nhìn mũi chông cắm ngập bàn chân Xuân, Cang gai cả người, mồ hôi đầm trán, anh thấy sợ. Nỗi đau của Xuân buốt tận óc Cang. Anh ngập ngừng, không dám chạm vào mũi chông.
          - Rút ra! - Xuân giục, anh úp mặt xuống cỏ, mắt nhắm, hai hàm răng nghiến ken két. Cang lúng túng, quệt mồ hôi rồi quỳ xuống.
          - Nhanh lên! - Xuân rên rỉ.
          - Tôi... Tôi rút ngay đây.
           Cang run run nắm lấy mũi chông, bặm môi và giật mạnh. Xuân nảy lên, hét to một tiếng rồi vật xuống đất, Máu từ bàn chân túa ra. Cang vội vàng xé áo lót  băng lại. Rồi anh xốc Xuân lên vai, chạy một mạch về chỗ trú quân.
           Đêm ấy, Xuân không sao ngủ được. Vết thương nhức tận óc. Anh nằm trên võng, lặng lẽ chịu đựng nỗi đau.
           "Mình sẽ đi thế nào đây - Xuân lo lắng - đâu phải ngày một, ngày hai mà phải hành quân liên miên trong vài ba tháng. Chẳng lẽ bắt anh em cõng. Họ lê thân họ còn  khó, làm sao đeo thêm mình?". Xuân thở dài, thấy buồn.
           Rừng đêm tĩnh mịch. Hơi núi đá phả ra lành lạnh. Đã là mùa đông. Ngoài Bắc, dịp này chắc đang rét.
           Xuân trở mình trên võng. Anh cố nén tiếng rên.
           Gần sáng, Xuân vừa chợp mắt thì có người lay dậy.
           - Bọn mình đã kiếm cho Xuân chiếc nạng bằng cành cây này - Lê cúi sát võng và nói - Cố gắng đi nhé, anh em sẽ thay nhau dìu.
            Lê đỡ Xuân dậy. Xuân co chân phải lên, hai tay víu vai Lê .
           - Cố bước thử xem nào? - Lê đưa Xuân chiếc gậy, phần trên có hai nhánh toè ra, như hình chữ "Y".
           Xuân chống nạng, tập tễnh bước một vòng quanh gốc cây.
           - Thế nào? - Lê hỏi.
           - Tôi sẽ cố. - Xuân ngước nhìn Lê. Cái nhìn như muốn bảo: "Anh đừng ái ngại. Tôi sẽ theo kịp mọi người".
           Cang mang tới bát canh rau tàu bay. Xuân ngồi xuống võng ăn ngon.
          - Nhạt, Cang ạ.
          - Vâng, gần hết muối.
           Nửa tiếng sau, đoàn người cuốn võng, lên đường. Cả ngày hôm đó, họ chỉ ăn rau tàu bay và lá tai trâu.


--------------------------------
Chú thích:
1. Đường dây liên tỉnh: Đường đi từ tỉnh này sang tỉnh khác, do từng tỉnh đảm nhận ở địa phận mình.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Tám, 2009, 02:56:32 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #75 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 09:42:40 am »


33


           Máy bay Mỹ ném bom thành phố liên tục. Còi báo động chốc chốc rúc lên. Nhà máy nhiều việc. Vài ba ngày tới cần hạ thủy gấp hai con tàu theo đề nghị của Bộ tư lệnh Hải quân.
           Thúy thường về muộn. Cô bước vào nhà lúc thành phố lên đèn. Tuy thế dạo này thấy khỏe hơn. Những trắc trở nhất đã qua. Dư luận không xì xầm cái họ gọi là "hiện tượng ở phòng kỹ thuật" nữa. Công việc đóng tàu cuốn hút, có bao điều khác đáng quan tâm.
           Thúy sống bằng mềm vui của người làm được nhiều việc trong sự  nhẫn chịu và tự hào.
           Đêm, lại có báo động. Còi rúc lần thứ hai Thúy mới giật mình choàng dậy. Quờ tay sang bên, không thấy mèo mướp, cô gọi to, rồi đẩy cửa chạy xuống cầu thang. Thành phố tối bưng. Tiếng máy bay rì rì phía đông nam.
           Thúy ngẩn ngơ đứng trong bóng tối, ngó ra xung quanh. Mọi lần mèo mướp vẫn ở cạnh cô, có nó, đỡ sợ, đỡ cô đơn hơn. Hôm nay mèo đi đâu? Chẳng lẽ nó không biết báo động mà về?
           Tiếng bom nổ rất gần. Thúy xuống hầm. Chớp đạn lia ngang, lia dọc. Rốc két bắn vào ngôi nhà bên cạnh. Thúy thấy lo: ừ, giá mình chết ở đây chắc chẳng ai biết. Một chớp lửa loé sáng. Căn hầm như thể bật khỏi mặt đất Tiếng nổ dội tới, hai tai Thúy ù đặc. Cô vòng tay vào thành hầm với ý thức bảo vệ cái bụng. Tiếng máy bay đảo qua. Đạn vẫn không ngớt nổ. Thúy ngồi lặng,  trán đầm mồ hôi. Cô sợ. Cô thấy lẻ loi, cô đơn và điều đó khiến Thúy tủi thân. Căn hầm tối om. Mảng sáng tròn tròn trên nóc chốc chốc lập loè.
           Thúy tựa lưng vào thành hầm, hai tay ôm ngang bụng, nước mắt ứa ra. Cô khóc tấm tức. Xung quanh bom đạn ầm ào mà sao vẫn thấy vắng lặng. Thèm được  nghe tiếng người quá! Ước gì căn hầm bên cạnh cũng có người núp và đttợc hỏi với sang một câu. Mèo mướp, này thật tệ, bỏ người ta lại một mình thế này à?
           Thúy ngồi bệt xuống đáy hầm, phó mặc cho số phận. Nước mắt lăn dài trên má.
            ... Đèn thành phố bật sáng một lúc, Thúy mới uể oải chui ra. Mệt mỏi và buồn tủi, Thúy đặt nhẹ từng bước lên cầu thang. Cô vật xuống giường, với tay bật công tắc điện và có cảm giác như mình không đủ sức chịu đựng nữa. Căn phòng trống lặng quá! Chắc đã khuya lắm.
           Thành phố yên ắng, hầu như không một tiếng động mạnh. Chỉ có tiếng gió lay cành bàng ngoài cửa sổ, và xa xa, ngoài bến sông, vẳng lại tiếng còi tàu nghe buồn bã, xa vời.

            Có tiếng động khẽ ở cầu thang Thúy bật dậy, lắng tai nghe. Hình như ai lần trên bậc gỗ. Rồi có tiếng thúc  yếu ớt vào cửa. Thúy rón rén bước tới. Cô mở cửa. Chợt Thúy kêu to, sợ hải: Mèo mướp bê bết máu, nằm sóng soài, miệng vẫn cắn chặt con chuột bằng nắm tay. Thúy ngồi vội xuống. Vết thương ở lưng mèo khá lớn, đang rịn máu; chắc mảnh bom đã phạt qua. Mèo nằm bất động, đôi mắt xanh đờ dại mơ to nhìn cô chủ như biết lỗi. Bụng thoi thóp thở. Thúy luống cuống, chưa rõ phải làm gì chợt mèo gắng gượng quờ quờ chân trước về phía Thúy hai mắt mở trừng trừng. Con vật giẫy mạnh, "meo" lên một tiếng ròi tắt thở. Con chuột tuột khỏi hàm răng. Thúy bật khóc, nghẹn ngào. Cô lặng lẽ vuốt mắt cho mèo. Nỗi buồn chán trùm lấy cô. Sao chúng độc ác thế, giết cả mày hả mèo? Từ nay, Thúy thực sự sống một mình trong ngôi nhà này. Chiều chiều đi làm về, sẽ không có mèo chạy ra đón nữa. Tối tối, biết trò chuyện  cùng ai? Và chẳng còn nó để thỉnh thoảng được mắng mỏ, giận hờn. Niềm vui cuối cùng khiến ngôi nhà đỡ trống trải, vắng lặng, đã ra đi.
            Thúy đờ đẫn ngồi bên xác con vật, không muốn đứng lên nữa. Có tiếng bước chân vội vã nơi cầu thang.Thúy quay nhìn: Lâm Khanh. "Anh ấy bao giờ cũng đến đúng lúc!".
            - Thúy! Làm sao thế này?
             Thuý  khóc to hơn.
             Lâm Khanh ngạc nhiên ngồi xuống sờ tay lên xác con vật.
            - Tội nó quá!... - Thì ra linh tính của anh đúng. Nghe bom nổ mạn này, anh nóng cả ruột. Hết báo động là bổ đến ngay. Đứng ngoài nhìn lên, thấy căn phòng vẫn sáng ánh đèn, lo quá!
            - Chúng mình chôn nó, anh nhé! - Thúy mếu náo.
            - Cứ mặc anh... Kiếm cái gì liệm cho mèo chứ!
             Thúy lúng túng mở tủ, lục lọi, cuối cùng lôi ra mảnh vải còn mới, đưa cho Khanh. Lát sau, hai người lặng lẽ xuống cầu thang. Khanh đào một cái hố bên gốc bàng.
            - Anh đừng về vội nhé! - Thúy nói khi họ ngồi trong căn phòng.
            - Trời sắp sáng rồi... Em sợ phải không?
            - Vâng! Em chẳng rõ rồi đây mình sẽ sống ra sao.
            - Thật khó mà tưởng tượng năm qua em đã sống một mình như thế. Anh nghĩ trong mỗi chúng ta đều có một điều kỳ diệu mà ta không nhận ra.
            - Em lo sắp tới, mình không chịu đựng nổi. Em vào nhà máy sống tạm một thời gian chăng?
            - Phải xa căn phòng này? Dễ gì em đã đủ sức. Anh không hiểu nổi đâu. Ừ, mà làm sao anh hiểu.
            - Anh hiểu. Em không thể xa nó. Nếu ở lại đây là cần thiết, em cứ ở, anh và Bình sẽ tới thăm nhiều hơn. Không sợ cô đơn đâu.
            Thúy ngồi lặng: Anh ấy tốt quá! Không có sự giúp đỡ của anh Khanh. Thúy sống khó khăn biết chừng nào!Lâu nay Thúy đã quen với sự giúp đỡ đó và chấp nhận như một hiển nhiên. Anh là chỗ dựa tinh thần. Những lúc khó khăn, biết có anh bên cạnh, Thúy vững tâm. Lắm lúc cô xấu hổ, nghĩ rằng mình lạm dụng anh quá nhiều. Nhưng làm thế nào được, hoàn cảnh không cho phép Thuý tránh chạy tấm lòng anh. Thỉnh thoảng, Thúy thường vơ vẩn nghĩ: Giá mình có chị gái, hoặc em gái nhất định sẽ giới thiệu cho con người này. Ai lấy được anh thật hạnh phúc! Nhưng chỉ nghĩ thế, đã đỏ mặt, cô tự mắng mình lẩm cẩm. Anh ấy cần gì ai giới thiệu, anh đủ sức, nói như mọi người là, quờ tay chỗ nào chẳng lấy được vợ. Trẻ đẹp, có tài lại biết chiều phụ nữ. Có lần Thúy đùa: "Anh Khanh khó tính chết đi ấy. Già  kén kẹn hom đấy". Anh ngước nhìn Thúy rất nhanh, khuôn mặt buồn xỉu. Thật tình Thúy ít nói chuyện đó,  cô quá rõ tình cảm của anh và đấy cũng là điều khổ tâm. Đối với anh, Thúy luôn giữ thái độ tự nhiên không câu nệ, không lảng tránh và quý trọng...
            Sáng hôm sau, hai người đến nhà máy.
            Theo lệnh giám đốc, công tác chuẩn bị hạ thủy con tàu thứ nhất phải xong trước 18 giờ ngày mai. Nhân viên phòng kỹ thuật xuống cả dưới ụ đà. Nhà máy tập trung vào nhiệm vụ hạ thủy.
            ... Thúy ra khỏi cổng nhà máy khá muộn. Mệt, nhưng thấy vui.
            Thúy bước thong thả. Trời tháng mười mát dịu. Gió thổi nhẹ khiến Thúy nao nao. Đến một ngã tư, Thúy  sững lại. Cô nhận ra cây phượng vĩ quen thuộc trở nên trần trụi. Mấy cành tướp xơ chìa ra như những cánh tay cụt. Thúy thấy tiếc. Cây phượng này mùa hè trổ những chùm hoa đỏ chói chang, mỗi lần đi qua, Thúy không thể không ngước lên. Thân cây giờ lỗ chỗ vết đạn. Ngọn đèn đường treo cạnh đó vẫn sáng...
           - Chào cô! - Có tiếng đàn ông.
            Thúy quay nhìn: một thanh niên tầm thước, khuôn mặt cháy nắng, đôi mắt sâu, cặp này hơi xếch, đứng ngay phía trước.
           - Cô quên tôi rồi - Người thanh niên hóm hỉnh - Còn tôi thì chưa. Dễ gì tìm trong thành phố một người... như cô. Cô còn nhớ năm ngoái, một đêm nào đấy máy bay vào đánh phá có người đã kéo cô xuống hầm trú ẩn công cộng cạnh vườn hoa và cô đã cào anh ta?
           - À, Thúy kêu to - Anh làm ở Cảng!
           - Hồi đó cô... khác hơn. Tôi vẫn nhớ cô khoe có con mèo mướp rất khôn, biết gọi cô dậy khi báo động.
          - Con mèo chết rồi - Thúy bùi ngùi báo tin.
          - Sao thế?
          - Trận bom đêm qua... Nếu đừng bỏ nhà đi bắt chuột thì mảnh bom ấy đâu có xuyên qua lưng nó. Tiếc quá!
          - Tội nghiệp! Thế tức là lần này cô thực sự sống một mình?
          - Không hẳn!
          - Không hẳn? Nhìn chung, con gái có những bí ẩn mà tụi đàn ông như tôi lúc nào cũng ngây ngô.
           Thúy cười to. Hai người bước nhanh hơn. Tới cổng nhà mình. Cô dừng lại:
          - Mời anh lên phòng tôi chơi!
          - Cám ơn! Tôi còn phải đi vòng khắp thành phố.
          - Anh lang thang suốt đêm à?
          - Ngày mai tôi xa nơi đây.
          - Anh đi đâu?
          - Có lệnh nhập ngũ. Người ta bảo đợt này tuyển bộ đội đi chiến đấu trong Nam. Tôi hy vọng mình ở trong số đó. Tôi không duy tâm, nhưng chiến tranh, ai dám nói rằng còn trở về ? Vì thế tôi muốn tạm biệt thành  phố. Thành phố với tôi... đã mấy chục năm qua... Nhưng cô đừng cho tôi là một gã bi quan.
          - Không! Tôi không nghĩ thế. Chẳng rõ sao tôi cứ tin rằng những người như anh không thể chết. 
          - Thế thì cám ơn. Chào nhé! Hòa bình, nếu còn sống, tôi sẽ trở lại ngôi nhà này. Ngôi nhà đẹp quá! Lúc đó chỉ ngại cô quên tôi.
          - Tôi tên Thúy. Hy vọng thế lắm. Tôi không quên đâu.
           "Lại thêm một người lính ra trận?" - Thúy đứng ở cổng nhìn theo người thanh niên xa dần.

*

           Phân xưởng trưởng phân xưởng ụ đà và trưởng phòng kỹ thuật Lâm Khanh bước vòng quanh con tàu. Chốc chốc họ dừng lại, quan sát và nói với nhau điều gì đó. Con tàu thơm mùi sơn, nghếch trên triền1.  Mặt sông phía trước đen thẫm. Từ dưới đó, đưa lên mùi ngai ngái lúc con nước đang cường. Sóng vỗ lao xao, nghe như tiếng gió thổi trên ngọn phi lao.
           Hai người chui xuống đáy tàu, ngước nhìn lên. Con tàu như một tảng đá khổng lồ, nặng nề chắn trên đầu họ. Khanh lần tới từng vị trí, kiểm tra lại lần cuối hệ thống tời, con trượt...
          - Tất cả đều bảo đảm! - Khanh trở về phòng giám đốc báo cáo - Mọi công tác chuẩn bị hạ thủy đã xong, đề  nghị đồng chí cho ý kiến cuối cùng.
          - Ta tiến hành theo đúng kế hoạch - Giám đốc An bảo, ông hỏi thêm - Mấy giờ nữa nước đứng?
          - Một tiếng nữa!
          - Cậu nên tranh thủ chợp mắt ít phút, một giờ sau ta có mặt ở ụ đà, mấy đêm nay cậu thức rồi.
          - Hạ thủy xong ngủ một thể ạ. Giám đốc An đặt tay lên vai người trưởng phòng.
           "Cậu ấy xứng đáng được đề bạt làm phó giám đốc. Một người có năng lực, có trách nhiệm" - Ông thầm nghĩ.
           Đúng 22 giờ 21 phút, giám đốc An phát lệnh cho tàu hạ.
           Bốn ngọn đèn pha bật sáng, hắt xuống triền đà. Phân xưởng trưởng phân xưởng ụ đà bật nút điện, tiếng động cơ ro ro lập tức phát ra, nhả tời. Con tàu nằm trên triền, rùng nhẹ, từ từ trượt xuống.
           Mọi người đứng vây quanh, hồi hộp. Thúy đứng bên cạnh Lâm Khanh, chếch trước mũi tàu, đôi mắt không rời triền đà: "Cầu mong đừng có máy bay vào giờ này". - Xung quanh yên lặng. Chỉ có tiếng động cơ nhả tời đều đều. Thúy nghe bên cạnh mình, hơi thở của Lâm Khanh. Không khí nhà máy như bị nén lại. Phấp phỏng. Lo âu. Theo lệnh giám đốc, tự vệ nhà máy phải có mặt ở các ụ súng, sẵn sàng bảo vệ công việc hạ thủy. Bên những khẩu 12 ly 7, họ ngồi lặng như những pho tượng, nghển nhìn ra bờ sông.
           - Ro...o, Ro...oooo...
           Tiếng động cơ chạy đều. Những sợi cáp dài dần, dài dần. Con tàu chậm chạp nhích từng đoạn, từng đoạn. Rồi nó chạm mí nước.
           Bỗng bốn ngọn đèn pha vụt tắt. Khu ụ đà tối bưng. Tiếng động cơ ngừng bặt. Phút chốc, tất cả chìm trong im lặng.
          - Còi báo động rúc lên.
          - Tiếp tục công việc! Thả tời bằng tay!
           Tiếng giám đốc An vang lên trong bóng tối, Lâm Khanh và người phân xưởng trưởng điều khiển việc thả tời.
          - Bên trái, xuống!
          - Chú ý mạn phải!
           Tiếng Lâm Khanh đều đều, tự tin. Anh đứng ngay đầu triền. Bóng anh nhoà lẫn, nhập vào con tàu. Khu ụ đà tối mờ. Con tàu lại rì rì nhích xuống, nhích xuống.
           Không có tiếng máy bay. Nhiều đường đạn đan trên bầu trời thành phố. Lâm Khanh chạy xuống mép sông, đôi mắt mở to:
          - Dừng lại!
           Cả chiếc triền và con tàu đã nằm trong lòng sông.
           Khanh thở phào. Anh lội xuống lần từng mối dây rồi ra lệnh:
          - Kéo tời!
           Chiếc triền đà rít lên ken két, nhả tàu.
           ... Khi đèn bật sáng, con tàu đã dềnh trên mặt nước nhè nhẹ lắc lư.
           Công nhân, tự vệ ùa xuống bờ sông, reo hò vang dội. Chỉ ngày một ngày hai nữa con tàu của họ sẽ ra cửa sông, ra biển và đến với đại dương. Cả nhà máy hân hoan. Khu bờ sông ầm vang tiếng nói, tiếng cười.
           Thúy thấy vui. Cô muốn nói một câu thật to. Cô cầm  bàn tay Lâm Khanh lúc nào không rõ. Khi nhận ra, cô hơi ngượng, vội buông ra, mặt nóng bừng.
           - Bao giờ chạy thử, anh Khanh? - Thúy hỏi.
           - Đêm mai! Phòng kỹ thuật phải cử hai người theo dõi trong thời gian tàu chạy thử.
           - Anh cho em đi nhé!
           - Lần này thì không được!
           - Sao vậy?
           - Còn sao nữa? - Khanh ý nhị nhìn Thúy.
            Thúy cười:
           - Ôi tiếc quá!
           - Anh và Sơn sẽ đảm nhận việc đó.
           - Xin chúc mừng phòng kỹ thuật - Người phân xưởng trưởng phân xưởng ụ đà hớn hở đứng trước mặt Lâm Khanh và chìa bàn tay to, thô về phía anh.
           - Sao lại chúc mừng phòng kỹ thuật? - Lâm Khanh bóp chặt bàn tay người phân xưởng trường - Phải chúc mừng toàn nhà máy chứ.
           - Nhưng trước hết, hãy cho bắt tay những người đã thiết kế ra nó - anh ta quay sang Thúy - Xin chúc mừng nữ đồng chí kỹ sư đã có sáng kiến, giúp cho nhà máy hạ thủy nhanh những con tàu.
            Thuý đặt bàn tay nhỏ bé của mình trong lòng bàn tay thô ráp của người phân xường trưởng:
           - Cảm ơn phân xưởng ụ đà đã góp phần hạ thủy con tàu an toàn, nhanh chóng...
           - Xin thêm: vì có sự giúp đỡ của phòng kỹ thuật, đặc biệt là đồng chí Lâm Khanh.
           - Tôi cải chính hai chữ "giúp đỡ bằng hai chữ "tham gia" - Khanh nói và cả ba người cùng cười.
            Người phân xưởng trưởng bước đi. Xung quanh, tiếng nói cười huyên náo. Ai cũng vui, ai cũng hỉ hả tự hào. Mọi người chúc tụng, bắt tay và cả đấm vào vai, vào lưng nhau.
            Chợt có tiếng phản lực rét qua, rất thấp. Công nhân nhanh chóng tản ra. Còi báo động chưa kịp rúc, tiếng súng, tiếng bom đã nổ loạn xạ.
           - Về vị trí! - Tiếng người nào đó hô to.
            Đèn tắt. Một quả rốc két nổ ngay cạnh ngôi nhà hai tầng. Khanh vội kéo tay Thúy, chạy lại chiếc hầm trú ẩn.
           - Anh Khanh! Tài liệu.
            Thúy giằng ra. Cô hớt hải nhào về phía phòng làm
           - Thúy! Thúy!
            Khanh đuổi theo. Anh nắm được tay cô và kéo ngồi xuống. Một lớp đất đá từ đâu phả vào người. Khanh xoay lại, che cho Thúy. Chớp lửa loé sáng, kế đó là một tiếng nổ. Đạn 12 ly 7 vọt lên.
           - Chúng đánh vào nhà máy... Em chạy ra hầm - Khanh nói hổn hển - Nhanh lên!
           - Tài liệu...
           - Anh hiểu rồi. Ra hầm, Thúy!
            Khanh khom người, bật đi.
           - Rốc két đấy, cẩn thận, anh Khanh! - Thúy hét với theo. Nhưng bóng Khanh đã nhoà trong khói.
            Khanh nhảy vào phòng làm việc. Cả phòng mịt mù. Mảnh bom văng vào kính choang choang. Hơi nóng hầm hập. Lửa đã bén đến cửa sổ. Khanh lần lại phía tủ. Anh giật mạnh cánh cửa, vơ nhanh hai chiếc cặp, vọt ra.
           Xung quanh, lửa cháy rần rật. Bom vẫn chớp lên và khói đen phủ trùm nhà máy.
           Đến giữa sân, Khanh khựng lại. Anh "ớ!' lên một tiếng. Hai mắt mờ nhoà. Có vật gì xuyên ngọt qua người. Hẫng, hụt. Khanh lảo đảo. Cặp tài liêu tuột khỏi tay. Trên ngực anh, máu ộc ra. Bầu trời quay tròn. Nhà máy xoay tròn. Đất sụt lở dưới chân. Dù thức về cái chết đến rất nhanh. Khuôn mặt mẹ chập chờn hiện ra. Và... khuôn mặt Thúy. Khanh muốn kêu to một tiếng, nhưng tất cả chìm vào hư vô ...



---------------------------------
Chú thích:
1. Triền: dụng cụ đặt con tàu lên đó để hạ thủy.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #76 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 09:52:59 am »


34

           Họ vẫn đi như thế, đã sang ngày thứ ba. Đói. Mệt, và đôi chân phồng rộp, mỏi rụng rời Quế vẫn bước trước đoàn người.
           Lê và Cang dìu Xuân đi giữa. Nhóm sau cùng gồm Hải, Lượng và Linh. Mọi người im lặng, thất thểu, mệt nhoè.
           Hai ngày nay, chỉ ăn rau tàu bay nấu lẫn môn đốc, ăn mãi một thứ ấy, chán ngắt. Những làm thế nào khi bắt buộc phải đi giữa rừng núi điệp trùng này?
           Sáng nay, Lê quyết định bỏ ra một số gạo còn lại trong cái ruột tượng nhẹ tênh, đeo toòng teng trước ngực  Cang, nấu cơm và sau đó chia cho mỗi người một nắm. Nhận suất cơm bằng quả trứng vịt, mắt người nào cũng sáng lên. Nhưng không ai ăn họ biết đó là khẩu phần trong ngày, phải dành làm bảo bối vượt đồi.
           Gần trưa, Lê tuyên bố:
          - Cố vượt qua quả đồi này, sang bên kia chân dốc, ta nghỉ ăn cơm.
           Nhắc tới cơm, mọi người thèm quặn ruột. Họ cố bước và tự an ủi: vượt qua dốc, sẽ có cơm. Nỗi háo hức sắp được ăn khiến mọi người bước mau hơn.
           Tới chân dốc, Lê bảo:
          - Gắng lên chút nữa nhé, các đồng chí. Đi hết cánh rừng, ta nghỉ một thể.
           Mọi người lại bước.
           Đi hết cánh rừng, Lê muốn nghỉ, nhưng anh sợ. Hết cơm, tức là hết cái đánh lừa mình để vượt những ngọn đồi khác. Lê lờ di coi như không có lời tuyên bố. Anh  dìu Xuân, không nhìn mọi người lầm lũi lần đi. Không  tiếng đòi hỏi, nhắc nhở, nhưng trong thâm tâm, ai cũng hiểu cần phải thế. Họ nhẫn nại bước, tự nhắc thầm: cơm còn đó, hết ngọn đồi kia sẽ ăn.
           Quá trưa, họ nghỉ bên bờ một con suối. Anh em tản ra kiếm môn dốc. Môn dốc ở đây không sẵn. Họ phải len lỏi, lần vào mãi rừng sâu. Kiếm được nắm rau, phải đi hàng tiếng. Những cây môn khẳng khiu như những ngón tay gầy. Lê dìu Xuân tới mép nước, tháo băng ở chân và rửavết thương. Bàn chân Xuân sưng húp, tấy đỏ. Vết chông xuyên qua chưa kịp kín miệng, những vụn thịt lầy nhầy, trắng nhợt đã lên mùi.
Xuân nằm ngửa, cái chân đau ghếch trên tảng đá.
          - Chịu khó nhé - Lê động viên - Mình rửa khẽ thôi. Biết cậu đau mà.
           Rửa xong, Lê xé áo lót băng lại. Vết thương đỡ đau, Xuân lắc nhắc chống gậy đi về võng.
          - Anh Lê - Cang từ đâu bổ về, gọi.
          - Ở đằng kia có người mình...
          - Người mình?
          - Bộ đội! Đang ngủ trên võng...
          - Hả?
           Hai người chạy xuống chân đồi. Lê đã nhìn rõ năm cánh võng, mắc cạnh nhau, lặng lẽ. Hai người ào xuống.
           Nhưng Lê sững lại. Trên mỗi chiếc võng là một bộ xương. Cạnh đó, chiếc mũ tai bèo dã mục và khẩu AK đã han nhoèn. Lê đứng lặng, đờ ra.
           - Họ bị đói, thuyền trưởng ạ. Cang thở dài - Chim rỉa hết thịt rồi. Khổ!
Lê không đáp, anh bước tới, lẳng lặng cuốn từng cánh võng. Hai người gắng đào năm cái hố...
           - Có việc gì đằng ấy thế, thuyền trưởng. - Hải hỏi khi Lê trở lại.
           - Không có gì cả - Lê đáp - Tôi và Cang đi tìm đào ít củ mài, nhưng chả có.
           - Trước đây khu rừng này nhiều củ mài lắm - Quế tham gia - Nhưng những năm gần đây hết rồi. Anh em mình đói mà ... Tôi e tới lúc rau tàu bay và môn dốc cũng không còn mà ăn!
       
           Ngày và đêm hôm đó, Lê bị ám ảnh bởi hình ảnh năm người chết lả trên võng. Họ chết như không có cái chết của họ ở cuộc đời này. Lê trằn trọc rồi anh nghĩ đến  số phận đoàn thủy thủ, nghĩ đến dăm ba lon gạo cuối cùng mà đoàn có được. "Từ ngày mai, số gạo đó sẽ không xâm phạm - Lê quyết định phải tận dụng rau rừng".
           Bên cạnh, Xuân trở nhẹ.
           - Cậu không ngủ được à? - Lê hỏi khẽ.
           - Cái chân, anh Lê ạ.
           - Buốt lắm phải không
           - Tôi đang nghĩ là nó cứ cụt hẳn đi lại hơn, đỡ vướng. Tôi có làm phiền anh em nhiều không, anh Lê?
           - Nghĩ quẩn rồi. Ngủ đi.
            Xuân im lặng. Rừng đêm tĩnh mịch. Tiếng giò xào xạc trên cành cây. Lê kéo võng Xuân sát lại võng mình:
           - Đói hả?
           - Này, nắm cơm của mình còn.
           - Anh không ăn à?
           - Cậu cầm lấy.
           - Tôi... Anh ăn đi!
           - Bảo là cầm lấy!
            Xuân với sang võng Lê. Nắm cơm nguội ngắt, khô cứng, Xuân bẻ đôi.
           - Anh ăn một nửa, tôi mới dám... Anh cũng đói chứ. Nhiều lúc tôi muốn chết quách đi cho rảnh. Sống chỉ làm khổ mọi người. Không có tôi anh em cũng đã vất vả lắm rồi.
           - Nhảm. Mai tới trạm, xin ít thuốc tím, mình rửa lại. Rửa vài ba bận là đỡ và sau đó sẽ khỏi hẳn.
           - Không khỏi được đâu, anh Lê ạ!
           - Sao không khỏi?
           - Thịt chỗ đó thối rồi. Tôi biết.
           - Cứ mặc mình. Bây giờ thì ngủ một chút, mai có sức mà đi.
           - Từ đêm mai, anh cho tôi mắc võng nằm xa xa ra nhé. Nghĩ ra điều nhảm nhí gì nữa thế?
           - Tôi hỏi thật, mùi hôi ở chân tôi có khiến anh em khó chịu không?
           - Đừng nghĩ bậy! Vết thương của cậu là vết thương của mọi người. Chúng ta là một cơ thể. Con ngựa không  ăn, cả tàu bỏ cỏ. Anh em thương và thông cảm với cậu lắm.
           Xuân khẽ thở dài. Miếng cơm trong miệng bã ra.
           Sáng hôm sau, Lượng đến bên võng Lê:
           - Hôm nay tìm ít củ chuối cho chắc dạ, ăn rau, đi một lúc là ngót bụng.
           - Hết muối rồi, củ chuối vừa đắng vừa chát, có nuốt nổi không!
           - Anh em họ đề nghị vậy!
           - Dễ gì kiếm ra.
           - Anh chàng Cang bảo chiều qua nhìn thấy mấy cây ở góc rừng đằng kia.
           - Cái thằng, tinh ra phết.
            Lê và Lượng lại chỗ Cang. Một lúc, ba người vác về hai cây chuối, có cả củ.
            Hôm đó tốp thủy thủ ăn món mới: củ chuối nấu với rau tàu bay.
            Ăn xong, lại lên đường.
            Khuya khuya, họ lần tới trạm giao liên của tỉnh.

            Trạm giao liên ở sâu trong cánh rừng, vài ba mái lán lúp xúp nằm rải rác.
            Lê cho anh em nghỉ trên bãi khách, ở đó lác đác đã dăm bảy chiếc võng của đoàn đến trước đung đưa. Anh và Quế đi về phía chiếc lán đầu cùng.
            Trước cái bàn ghép bằng thân vầu, dưới gốc cây to có tán lá xoè rộng, một người gầy gò, đã luống tuổi đang dí mắt sát vào tờ giấy. Cặp kính lão lúng liếng bên ngọn đèn dầu đã che kín ba mặt. Cạnh đó, mấy người khách đứng lặng, chờ đợi.
            Người trạm trưởng già lụng thụng trong bộ quần áo bà ba nâu, không có vẻ vội vàng, lần từng hàng chữ, đọc thong thả:
           - Đồng chí Nguyễn Hải Hùng!
           - Có! - Một người đứng sát đó lên tiếng.
           - Đoàn có bao nhiêu người?
           - Gần một tiểu đội.
           - Cụ thể?
           - Báo cáo, có sáu người tất cả.
           - Lên Tây Nguyên à?
           - Dạ.
           - Đủ lương thực chớ?
           - Báo cáo, tàm tạm.
           - Đồng chí cho anh em nghỉ ở bãi khách đằng kia, sáng mai đi sớm. Chú ý đèn lửa, nghe. Ở đây máy bay rà thường xuyên dó.
            Người trạm trưởng nhặt tờ giấy khác, ghé sát đèn:
           - Đồng chí... chữ nghĩa chi khó xem ri? Trà Văn Phong à?
           - Vâng, Trần Văn Phong ạ. Có!
            Lê lách lên và rút tờ giấy giới thiệu của quân khu vẫn để ở túi ngực, chìa ra trước ngọn đèn.
           - Chi đó, đồng chí? - Người trạm trưởng ngước lên hỏi.
           - Báo cáo, đề nghị đồng chí giải quyết cho luôn.
            Người trạm trưởng đón tờ giấy, soi gần đèn rồi ngước nhìn Lê:
           - Nhầm rồi, giấy này gửi năm-năm-chín (559).
           - Vâng, nhưng các binh trạm của đường dây năm- năm-chín rút lên biên giới. Chúng tôi muốn đi nhờ đường dây của tỉnh.
           - Đi ra à?
           - Đi ra!
           - Đi ra thì chờ. Tôi đang giải quyết người đi vào. Ông lại dí sát mắt vào tờ giấy lúc nãy:
           - Đoàn đồng chí Trần Văn Phong. Chỉ có hai người?
           - Dạ, hai. Chúng tôi đi họp.
           - Ba hôm nữa mới có người dẫn đường đó.
           - Báo cáo, nhưng chúng tôi...
           - Hoàng Mạnh Phong! Lại Phong nữa à?
           - Báo cáo đồng chí, chúng tôi cần vào cho kịp, đồng chí thông cảm - Người mang tên Trần Văn Phong sấn sát chiếc bàn, nhoài người trước ngọn đèn, cố phân trần - Nhỡ cuộc họp phổ biến tình hình này là gay lắm.
           - Đồng chí... - Người trạm trưởng ngẩng lên - Đã nói không còn người. Nào, đồng chí Hoàng Mạnh Phong.
           - Mười người, lại đi ra?
           - Vâng.
           - Cũng chờ!
           - Tức là ở lại trạm? Báo cáo trong đoàn có người bị thương.
           - Không có ngoại lệ. Đây đâu phải bệnh viện. Thông cảm.
            Lê và Quế đứng trong bóng tối. Lê hiểu rằng đi theo đường dây dân sự là đầy khó khăn. Ở đây người ta không có trách nhiệm đưa bộ đội đi ra, đi vào, họ chỉ làm nhiệm vụ đón cán bộ địa phương đi họp, đi công tác từ tỉnh này qua tỉnh nọ. Mỗi tỉnh đảm nhận vài ba trạm. Đi hết dịa phận coi như hết trách nhiệm. Nhưng biết làm sao, muốn trở về đơn vị, không còn cách nào khác.
           - Đồng chí Trần Vũ Lê.
           - Có! Lê bước vội tới.
           - Mười ba người?
           - Vâng, mười ba người.
           - "Đi ra miền Bắc có nhiệm vụ đặc biệt" - Người trạm trưởng lẩm nhẩm đọc rồi gỡ kính, ngồi xuống cây vầu bắc trên hai khúc gỗ, làm ghế.
           - Đồng chí cũng lại phải chờ.
           - Lâu không ạ?
           - Không rõ. Có thể dăm bữa nửa tháng. Có thể hơn Phía trước, địch đang càn. Lúc nào địch thôi càn mới đi được
           - Báo cáo thực với đồng chí trạm trưởng là đã bốn hôm nay anh em chúng tôi chỉ ăn rau tàu bay, cho nên...
           - Lương thực thì chúng tôi không giải quyết. Nhân viên trạm chúng tôi cũng ăn cháo mấy tháng nay. Một ngày có bao đoàn khách qua, chúng tôi giải quyết sao thấu, đã có quy định, khách đi trên đường dây, phải tự túc lấy lương thực, không rành sao?
          - Báo cáo, trong đoàn chúng tôi có đồng chí bị thương.
          - Bị thương à?
          - Tôi muốn xin ít thuốc tím.
          - Thuốc tím. Chờ nghe. Hoặc lát nữa tới!
          - Điều này nữa ạ, trạm cho chúng tôi chút muối...
          - Muối? Ngày mai nghiên cứu. Bây giờ khuya rồi.
         
           Lê cùng Quế quay lại bãi khách. Anh em ngồi cả dậy.
           - Tình hình thế nào? - Lượng sốt sắng hỏi
           - Ta phải nằm lại đây lâu đấy. Phía trước, trên đường đi địch đang càn. Điều đáng lo là phải tự túc lấy cái ăn.
           - Tự túc? Đào đâu ra?
           - Nói vậy nhưng chắc trạm không để mình chết đói. Nghỉ đã, mai bàn, anh Lượng ạ.
           
            Sáng hôm sau, mọi người chia tay với Quế. Lê ép Quế mang vài lon gạo, nhưng anh nhất quyết từ chối. Lấy cớ đi một mình, dễ dàng xoay được. Quế ứa nước mắt, ôm từng người, rồi vội vã ra khôi khu rừng. Lê và Cang tiễn anh khá xa.
           - Các anh quay lại, kẻo mệt - Quế giục.
           - Nhân thể chúng tôi đi kiếm rau mà.
            Đi hết ngọn đồi, Quế giục lần nữa. Cang và Lê đành dừng lại.
           - Anh cho bọn tôi gửi lời hỏi thăm chú Ba và anh chị em du kích. Riêng anh thì chúng tôi cảm ơn lắm.
           - Nhiệm vụ mà, anh Lê. Nếu nói ơn thì đồng bào miền Nam ơn các anh, ơn đồng bào miền Bắc nhiều chớ.
           - Các anh vất vả quá! Còn những hàng ngàn cây số lận...
           - Nhất định chúng tôi sẽ lại đưa vũ khí vào, anh Quế ạ !
           - Trong này tụi tui cũng sẽ cố gắng để khỏi phụ lòng mấy anh và đồng bào ngoài đó. Tôi đi nghe. Mong các anh mạnh giỏi.
           Quế bước xuống con đường mòn.

           Nhìn Quế khuất dần, Lê chợt nghĩ đến năm cánh võng tự dưng thấy sợ hãi. "Không một hạt gạo, Quế sẽ sống thế nào trong những ngày tới? Đường rừng, đi một mình, liệu có "ngủ quên" trên võng.
           
           Thủy thủ ngồi quây trên bãi cỏ, dưới những tán lá rậm rạp chờ Lê. Nhìn những khuôn mặt hốc hác, xanh rớt, Lê thấy nhói đau. Những gian khổ vừa qua chưa phải là những điều cuối cùng. Trước mắt mới là những  thử thách, mà mỗi người phải ý thức được để sẵn sàng đón nhận.
          - Các đồng chí! - Lê nói - Bây giờ hãy cùng nhau bàn cách sống, chờ ngày lên đường trở về đơn vị.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #77 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 07:54:45 pm »


35


           Chiếc xe đỗ dưới chân ngọn núi đá. Đại tá tư lệnh quân chủng trong bộ quân phục màu ghi, đẩy cửa bước xuống. Ông dừng lại một lát, ngó toàn cảnh khu vực đoàn bộ đoàn 25 rồi bước lại ngôi nhà ban chỉ huy.
           Cùng đi với tư lệnh có đồng chí trung tá trường phòng tác chiến và đồng chí đại úy, trưởng phòng quân báo.
           Đoàn trưởng Tư và chính ủy Bùi Kim cùng tham mưu trưởng Đặng, chủ nhiệm chính trị nhận được diện của Văn phòng Bộ tư lệnh, đã chờ sẵn, ra đón.
           Tư lệnh bắt tay từng người, rồi bước lại chiếc bàn dài, ngồi xuống. Mọi người cùng ngồi.
           - Nghe nói cháu đã ra khỏi trại cải tạo rồi, hả ông Tư? - Tư lệnh bỏ chiếc cặp lên bàn, vuốt mái tóc lưa  thưa và hỏi - Ông bà cũng chuyên chính gớm nhỉ?
           - Báo cáo, bất đắc dĩ thôi ạ. Nó hư lắm. Bà nhà tôi là người thương con, cuối cũng cũng phải dùng đến biện pháp ấy. Vào trại anh chàng tiến bộ hẳn. Vừa được ra hôm giữa tháng ạ .
           - Con hư, lỗi tại chúng mình một phần. Cứ đi biền biệt, lấy ai dạy dỗ, giáo dục? Tôi cũng có hai đứa con gái đầu lòng và một cậu ấm. Nhưng may là các cháu cũng "tương đối" cả, mình đỡ mệt... Ta làm việc được chưa?
           - Báo cáo được ạ.
             Tư lệnh đề nghị cán bộ đoàn báo cáo công tác chuẩn bị kế hoạch vận tải sắp tới theo chỉ thị của Bộ tư lệnh. Chính ủy Bùi Kim được đảng ủy phân công chuẩn bị, mở cặp tài liệu và trình bày. ông nói thong thá, mạch lạc, chốc chốc lại ngước nhìn vị đại tá và các cán bộ cùng đi. Chính ủy điểm lại một số nét chung về công việc chi viện cho chiến trường vừa qua của đoàn; những thuận lợi những khó khăn; tình trạng số tàu vừa nhận được  thêm của nhà máy đóng tàu Hải Phòng, tình hình địch, tình hình "bến"; tư tưởng cán bộ, chiến sĩ... Cuối cùng, ông trình bày phương án vận chuyển của đoàn. Theo phương án này, sắp tới sẽ tung ra một lúc bốn tàu, xuất  phát bốn ngày khác nhau, nhưng tính toán sao để cùng vào bốn bến trong một đêm. Kế hoạch đi biển, kế hoạch hợp đồng, kế hoạch lấy hàng đã vạch tỉ mỉ, chu đáo. Chỉ chờ ý kiến Bộ tư lệnh là tiến hành.
            Báo cáo xong, với vẻ tự tin, chính ủy bỏ kính, ngước nhìn mọi người chờ đợi.
            - Táo bạo đấy! - Tư lệnh buông bút - Nào, mời các anh.
            - Xin phép tư lệnh được hỏi đồng chí Bùi Kim - Đồng chí trung tá trưởng phòng tác chiến lên tiếng - Căn cứ yếu tố nào để đoàn có kế hoạch như vậy?
            - Báo cáo tư lệnh, và các đồng chí - Chính ủy Kim chậm rãi - Một là chúng tôi chấp hành chỉ thị của Bộ tư lệnh: khẩn trương chi viện gấp cho toàn chiến trường chuẩn bị chiến dịch 1 . Hai là căn cứ vào tình hình địch trên biển, căn cứ vào kinh nghiệm đối phó với chúng trong những chuyến đi vừa qua. Ba là căn cứ vào tình hình các "bến", đã sẵn sàng nhận vũ khí. Bốn là căn cứ vào số tàu nhà máy đóng tàu Hải Phòng vừa cung cấp cho ta.
            - Nghe nói nhà máy bị thiệt hại lớn do trận oanh tạc tháng trước? - Tư lệnh chợt hỏi.
            - Cũng có một số công nhân hy sinh ạ. Nhưng nhà máy vẫn cố gắng sản xuất được. Song việc tiếp tục hạ thủy những con tàu gặp không ít khó khăn. Tôi xin báo cáo tiếp: Năm là, căn cứ vào khả năng hợp đồng của đoàn, khả năng đi biển của số thuyền trưởng và anh em thủy thủ. Với nữa lần trước đồng chí tư lệnh quân chủng  và đồng chí chính ủy có gợi ý: nên chăng cùng một lúc  triển khai tổ chức cho nhiều tàu đi. Chúng tôi thấy ý kiến đó lúc này đã chín muồi. Đảng ủy chúng tôi đã bàn kỹ và hạ quyết tâm lập kế hoạch như đã trình bày.
           - Và chuyến đi của tàu 54, tàu 56 hồi tháng 7 là một thử nghiệm thành công? - Đồng chí trưởng phòng tácchiến hỏi.
           - Vâng, đúng thế! Khi tàu 54 bị lộ, đã tìm cách đánh lạc hướng địch để tàu 56 vào bến. Điều đó cho ta kết luận: có thể đi nhiều tàu một lúc nhằm dàn mỏng lực lượng địch và hỗ trợ lẫn nhau. Phương thức này sẽ hiệu quả và an toàn hơn.
           - Chúng ta vội vã quá chăng?
           - Hành động của chúng ta phụ thuộc vào sự đòi hỏi của chiến trường. Chúng tôi nghĩ là không vội vã. Nôn nóng, chủ quan sẽ dẫn tới thất bại. Nhưng rụt rè, cầu toàn và thiếu quyết đoán là bỏ lỡ thời cơ. Chúng tôi đã có nhiều bài học xương máu về vấn đề này.
            Tư lệnh gật đầu đồng tình. Lâu nay ông đã nghĩ đến những vấn đề mà chính ủy Bùi Kim vừa trình bày. Giai đoạn đi lén lút, hoàn toàn bí mật đã qua rồi. Thụ động chờ đợi một tình hình như thế là ảo tưởng và thiếu thực tế.
            Tư lệnh ngả người, tựa vào thành ghế, hai tay vuốt trán. Mỗi lần có điều gì vui vẻ, ông thường có những cử chỉ như vậy.
            - Đoàn yêu cầu gì đối với Bộ tư lệnh không? - Tư lệnh hỏi.
            -  Báo cáo, có chứ ạ. Chúng tôi đề nghị phòng quân báo cung cấp tin tức địch thường xuyên hơn - Chính ủy Bùi Kim trả lời.
            - Gì nữa?
            - Và theo dõi, chỉ đạo chúng tôi sát hơn.
            - Cụ thể?
            - Chúng tôi đề nghị cơ quan tác chiến thường xuyên bám sát tình hình các bến và có thông báo kịp thời để chúng tôi xử lý. Việc hợp đồng với bến là một trong  những khâu có tính quyết định sự thành bại của chuyến đi. Kinh nghiệm vừa qua cho hay rằng năm mươi phần trăm thắng lợi thuộc sự chuẩn bị của bến.
            - Hợp đồng với bến, Bộ tư lệnh sẽ lo. Nếu không có gì nữa, xin đồng chí tư lệnh cho được báo cáo phương án cụ thể. Phần này anh Tư sẽ trình bày.
            Tư lệnh gật đầu.
             Đoàn trưởng Tư rời ghế và bước tới tấm hải đồ treo ở vách. Ông diễn giải:
            - Báo cáo tư lệnh, chuyến đi sắp tới chúng ta sẽ đưa tàu vào bốn hướng. Tàu T.37 do thuyền trưởng Hòa và chính trị viên Đạm phụ trách sẽ vào Quảng Ngãi. T.37 có một thuận  lợi là đồng chí Đạm và hầu hết anh em thủy thủ đã vào đây một lần, vào cuối năm 1966. Và đồng chí Hòa là  một thuyền trưởng vững, có nhiều thành tích, dũng cảm.
            - Xin lỗi, tôi ngắt lời một chút. Có phải vùng Đức Phổ, Sơn Tịnh? - Tư lệnh quân chủng chợt hỏi.
            - Báo cáo, đúng.
            - Xã Đức Bình?
            - Vâng, xã Đức Bình. Tàu T.230 của thuyền trưởng Ngát sẽ vào vùng Hòn Hèo, Nha Trang. Hai tàu mới nhận của nhà máy cũng sẽ lên đường vào dịp này. Tàu thứ nhất mạng tên T.178 do thuyền trưởng Ba chỉ huy sẽ vào Bình Định. Quê đồng chí này ở đó, nên rất thông thạo luồng lạch. Anh em gọi đồng chí ấy là "ông Tám Thạnh phẩy". Chiếc thứ hai mang tên T.63 đi Cà Mau do đồng chí Thắng làm thuyền trưởng và đồng  chí Tâm làm chính trị viên. Chúng tôi dự kiến vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 22 các tàu sẽ cùng ở vị trí Z 1. Muốn vậy chuyến đi Cà Mau sẽ xuất phát sớm hơn ba ngày. Và tàu đi Quảng Ngãi xuất phát muộn nhất.
           - Cụ thể T.63 sẽ nhổ neo ngày nào? - Tư lệnh hỏi lại.
            Đoàn trưởng dựng chiếc que cạnh tấm hải đồ, bước tới bên bàn, thong thả trả lời:
           - Báo cáo, dự kiến đêm 18 ạ!
           - Đêm 18? - Vị đại tá nhắc lại. Một lúc ông bảo:
           - Đồng ý! Tôi đồng ý.
            Sau khi bàn bạc và trao đôi với đồng chí trưởng phòng tác chiến, trưởng phòng quân báo một số vấn đề có liên quan đến chuyến đi, ban chỉ huy đoàn xin ý kiến cuối cùng của tư lệnh. Tư lệnh hài lòng thông qua kế hoạch. Khâu tổ chức thực hiện giao cho đoàn cùng hợp đồng với phòng tác chiến.
            Trưa ấy, tư lệnh và những cán bộ cùng đi, ở lại ăn cơm. Theo chương trình, buổi chiều ông sẽ xuống thăm, đồng thời kiểm tra công tác chuẩn bị của tàu T.37 và tàu T.63, chiếc tàu mới nhận của nhà máy.
            - Người ta đồn rằng thuyền phó tàu T.37 là một tay ngang tàng, liều lĩnh phải không? - Tư lệnh hỏi chính ủy Bùi Kim khi hai người ngồi ở phòng khách.
            - Lời đồn bao giờ cũng chỉ là lời đồn thôi ạ.
            - Vậy anh chàng là người thế nào?
            - Tôi đã sống với Tòng hơn năm nay. Trước hết, đó là con người thích hành động và dám hành động.
            - Điều ấy đáng quý!
            - Vâng. Anh ta tự tin và không từ nan trước công việc, không lười nhác trong suy nghĩ. Sống thẳng thắn, trung thực, sống hết mình. Song, thường vội vã và nôn nóng. Tôi thích anh thuyền phó ấy.
            - Vừa rồi có ý kiến nên phục hồi chức thuyền trưởng cho Tòng, song đảng ủy còn đắn đo phải không?
            - Đảng ủy muốn thử thách Tòng thêm. Công việc của đoàn cần những người dũng cảm, nhưng phải chín chắn và tỉnh táo. Thực ra Tòng làm thuyền trưởng đã khá lâu về chuyên môn không phải bàn. Anh ta là thuyền trưởng đi biển giỏi, có trách nhiệm. Song còn nóng vội trong công việc. Báo cáo tư lệnh, chuyến đi vào Cà Mau  của T.37 vừa qua nếu không có suy nghĩ sáng tạo của Tòng, con tàu sẽ kẹt lại trong đó.
            - Tôi có nghe báo cáo chuyện "đèn khò - chân vịt"  ấy
             Đầu giờ buổi chiều, có điện thoại từ văn phòng Bộ tư lệnh gọi xuống: Mời tư lệnh về gấp, có công việc khẩn trên Bộ gọi. Ông đành bỏ dở kế hoạch làm việc ở đoàn 25. Trước khi ra xe, tư lệnh hỏi đoàn trưởng Tư và chính ủy Bùi Kim.
            - Anh em thủy thủ tàu T.67 đang ra sao?
            - Theo báo cáo từ "bến", anh em đã gặp trạm giao liên đầu tiên của tỉnh và đang tổ chức trở về - Đoàn trưởng Tư trả lời.
            - Hy vọng anh em sẽ an toàn. Bao giờ họ về, nhớ báo cho biết để xuống thăm.

             Thuyền trưởng Hoà đi công tác đột xuất, chưa về, thuyền phó Tòng cùng chính trị viên Đạm lên ban chỉ huy đoàn nhận chỉ thị, kế hoạch đi biển. Ngồi trong phòng họp lòng dạ Tòng lại để nơi con tàu. Mấy hôm  nay máy tàu T.37 không được tốt, theo đề nghị của Tòng, ban kỹ thuật đã cử người có chuyên môn giỏi xuống cùng anh em thủy thủ sửa chữa. Mọi người làm quên cả giờ, làm thâu đêm, tối qua thì sửa xong. Nhưng khi chạy thử, Tòng phát hiện ra ống làm lạnh bị rò. Hỏng hóc không lớn nhưng phải sửa kịp thời để chuẩn bị chuyến đi tới. Trước khi lên đoàn nhận lệnh, Tòng đã giao cho Khang, máy trưởng, lên ban kỹ thuật nhận vật tư để quấn bịt chỗ rò. Tuy vậy anh vẫn thiếu an tâm. 

             Ngồi nghe đoàn trưởng và chính ủy phổ biến nhiệm vụ, Tòng bứt rứt. Khi đoàn trường hỏi đến tình trạng máy, Tòng đứng dậy và trả lời dứt khoát:
             - Báo cáo, máy tốt. Đêm qua đã chạy thử ạ.
             Tuy thế, không khỏi áy náy, định nói thêm rằng ống làm lạnh bị rò, song nghĩ thế nào, lại thôi. Thêm nữa, anh tin là đến lúc này, Khang và anh em thủy thủ đã sửa xong. Vết rò cũng không lớn lắm.



----------------------------------
Chú thích:
1. Tức là chuẩn bị cho cuộc tiến công và nổi dậy đầu xuân 1968. Nhưng lúc đó không ai rõ cụ thể như thế.
2.  Vị trí Z: Vị trí quy định chuyển hướng vào bờ.

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #78 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 08:00:00 pm »


            Tan họp, Tòng bổ về tàu. Chính trị viên Đạm vừa đi vừa chạy mới theo kịp.
            Tốp thủy thủ đang túm tụm đầu mũi câu mực, không ai chú ý tới thuyền phó và chính trị viên đang đứng phía sau.
            - Rỗi rãi nhỉ? - Tòng lên tiếng - Thuyền trưởng về chưa?
            - Chưa thấy ạ - Một thủy thủ trả lời.
            - Thuyền phó Xuyên cũng chưa về?
            - Vâng! Thuyền phó lên hậu cần làm kế hoạch lấy dầu, lấy thực phẩm từ sáng.
            - Bịt xong chỗ rò rồi chứ, Khang? - Tòng hỏi.
             Anh chàng máy trưởng đang say với chiến công giật được chú mực to bằng bàn tay, toét miệng cười:
            - Báo cáo thuyền phó, lỗ rò ấy bịt khi nào không được ạ.
            - Nghĩa là chưa làm?
             Khang hồn nhiên:
            - Vâng!
             Tòng cau mày. Khuôn mặt đỏ bừng. Đôi môi run run.
            - Đồ tồi! Chấp hành mệnh lệnh như thế à? Ngay bây giờ có lệnh rời bến thì sao? Hả? Hả?
             Tòng quát, đôi mắt long lên, giận dữ. Và không để  Khang kịp phản ứng, anh sấn tới ôm thốc chàng máy trưởng ném tùm xuống nước.
            - Này thì câu mực - Tòng riết róng.
              Đám lính hớt hải, vội tản ra.
            - Đừng ỷ vào chuyên môn giỏi mà chủ quan - Tòng nói tiếp rồi hầm hầm rời tàu, bước về phía ngôi nhà của ban kỹ thuật.
             "Vẫn không sửa được tính nóng". Đạm nhìn theo dáng đi tất tưởi, vội vã của Tòng, lắc đầu.
             Khang lóp ngóp từ dưới nước lần lên boong. Người ướt sũng, anh ta bước vội lại chỗ Đạm vừa vuốt nước vừa hỏi, giọng lo lắng:
            - Được lệnh rời bến hả, chính trị viên?
            - Tại sao không cho anh em sửa máy? - Đạm vặn.
            - Tôi cứ tưởng...
            - Tưởng cái gì? Tưởng ở bên Đài Loan. Công việc thời chiến mà bê trễ thế đấy. Tôi sẽ phạt anh, không cho đi chuyến này nữa.
            - Tôi có lỗi, báo cáo, nhưng... tôi sẽ sữa chữa khuyết điểm ngay bây giờ ạ. Tôi sẽ lên ban kỹ thuật, tôi sẽ...
            - Tôi xin hứa là...
            - Hãy vào thay quần áo. Chuyện đó xét sau.
             Khuôn mặt xỉu như chiếc bánh mì vừa nhúng nước. Khang uể oải bước vào khoang.

            Ở ban kỹ thuật, một thiếu úy chừng hai ba, hai bốn, có nước da trắng đang dông dài thuyết trình với Tòng những nguyên tắc trong công tác cấp phát vật tư. 
            - Nói ngắn chứ! - Tòng gắt.
            - Muốn lấy vật tư, các anh phải kê vào bảng dự trù, sau đó lên xin đoàn duyệt. Duyệt xong lại đưa xuống chúng tôi để làm kế hoạch. Một chiếc ê-cu cũng phải dự trù, phải nằm trong kế hoạch, đừng quên rằng quân đội chúng ta đang từng bước tiến lên chính quy, hiện đại. chiến tranh hiện đại đòi hỏi...
            - Anh học thuộc như vẹt những điều ấy ở trường phải không?
            - Trường học là nơi...
            - Vất mẹ nó mớ lý luận dài dòng ấy vào sọt - Đang sẵn bực, Tòng xẵng - Ngày mai tàu đi biển mà hôm nay máy hỏng thì phải cấp vật tư cho người ta sửa máy, rõ  chưa? Đừng máy móc, thiếu thực tế, chỉ biết ngồi sau  bàn tụng những điều trong sách. Xuống tàu mà làm lính vài ba bữa.
            - Có những điều thuộc về nguyên tắc, chúng ta là những sĩ quan, phải tôn trọng. Ví như...
            - Tôi hỏi, anh có phát không?
            - Ví như trong việc...
            - Tôi hỏi anh có phát không?
              Tòng sấn lên, đôi mắt gườm gườm. Chàng thiếu úy hơi hoảng, lùi lại.
            - Ờ, đương nhiên tôi sẽ... sẽ phát, nhưng đứng về mặt thủ tục thì...
            - Tôi không có nhiều thời gian đâu. Tối nay tàu rời bến.
             Anh thiếu úy trẻ lấm lét nhìn Tòng rồi mất hút trong kho. Lát sau, anh ta mang ra một cuộn vải chống nhiệt để trước mặt Tòng.
            - Ký vào đây! - Anh ta cộc lốc.
            - Như vậy có phải tốt hơn không? - Tòng vui ra mặt, chộp lấy cổ tay anh chàng thiếu úy lắc lắc mấy cái rồi mặc cho anh ta đầu mày chân tóc ngứa ran vì xấu hổ.
             Tòng cắp cuộn vải chống nhiệt, rảo cẳng bước về tàu.
             
             Việc Tòng ném Khang xuống nước, không cánh mà bay tới cơ quan chính trị. Ngay chiều hôm đó, một trợ lý xuống tàu T.37 xem thực hư ra sao. Song, điều khiến người trợ lý ngạc nhiên là khi gặp thủy thủ trên tàu, họ đều nhất loạt trả lời rằng không có chuyện như thế.
            Anh ta gặp Khang.
            - Có lẽ người ta trông nhầm, lúc đó, quả thuyền phó Tòng bực, nhưng chuyện anh ấy ném tôi xuống nước là không có - Khang báo cáo trơn tru, đôi mắt nhìn người trợ lý với vẻ thành thật - Tôi đang câu mực, vì muốn gỡ cước nên đã nhảy xuống. Chuyện có thế.
            Anh ta ranh mãnh nhìn Khang, cái nhìn như muốn bảo: "Đừng sạo anh bạn, tôi rõ cả". Cuối cùng anh gặp Đạm.
            - Tôi ngỡ anh em thủy thủ họ đã trả lời đồng chí rồi chứ - Đạm thong thả đáp.
            - Anh nghĩ về những người trợ lý chúng tôi thế nào, anh Đạm - Người của ban chính trị ý nhị nhìn Đạm, tủm tỉm cười - Các anh tưởng tôi ngây thơ lắm à? Chả  lẽ tôi không rõ được điều gì đã xảy ra?
            Cuối giờ chiều, Đạm kể lại với Tòng. Anh cũng lưu ý Tòng về sự nóng nảy vừa rồi.
            - Tôi biết tật xấu của mình. Tôi đã thiếu tôn trọng anh em.

             Buổi tối, khi lên giường nghe bên phòng thủy thủ nhiều tiếng rì rầm, Tòng lắng tai. Một thủy thủ trách:
            - Ông dở ẹc. Đáng ra phải tổ chức làm cho xong cái công việc bịt vết rò nơi ống lạnh rồi mới câu mực chứ.
            - Chủ quan! Hôm nay mà tàu được lệnh nhổ neo thì ông vào tù.
              Tiếng Khang:
            - Thì người ta đã phải nói dối ông trợ lý chính trị rồi còn gì.
            - Phải dùng đến biện pháp ấy là xoàng. Phải không các bố?
            - Ai chẳng hiểu thế! Nhưng nếu không vậy, nhỡ anh Tòng lại lên bờ? Này, mà đừng tưởng ông trợ lý không biết gì nhé .
            - Lỗi là tại cái tên Khang này. Chỉ mải câu mực.
            - Đáng ra chiều nay cậu phải tới xin lỗi thuyền phó.
            - Cũng định thế, nhưng ngại.
            - Ngại? Cậu cầm tinh con cáy hả? Đã có lỗi mà biết lỗi thì phải dũng cảm lên.
             Tòng nằm im. Xin lỗi ư? Chính anh mới phải xin lỗi Khang. Anh đã nóng, anh đã quá giận mất khôn. Anh đã biểu hiện thái độ gia trưởng. Vậy mà mọi người đã tìm cách bao che, tha thứ, có một cái gì nao nao. Tòng thấy sống mũi cay cay. Tình cảm mọi người khiến Tòng  xúc động. Thì ra anh em không cố chấp, nếu mình luôn luôn vì công việc. Hai giọt nước mắt rịn ra, lăn trên gò má. Đã lâu lắm Tòng không khóc, vậy mà lần này...
             Tòng thấy mình gắn bó với anh em thủy thủ, gắn bó với con tàu T.37 hơn lúc nào hết. Anh bật dậy, định bước ra ngoài và nói to: "Các đồng chí, chính tôi là người có lỗi". Nhưng nghĩ sao, lại nằm xuống, lặng lẽ nhìn lên trần.

             Gió thổi qua cửa sổ se se lạnh. Thời tiết đang vào đông. Ngoài khơi, những đợt gió mùa đông bắc sắp tràn về và nhất định mặt biển lại cồn lên.
             Đêm đó, Tòng không ngủ được.


Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #79 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 08:04:57 pm »


36


            Bình đưa Thúy về đến đường Trần Phú, trời tối đã một lúc. Thành phố sáng đèn. Hai người bước lên cầu thang, vào nhà. Thúy nằm ra giường, kêu mệt.
            - Ngồi sau xe cũng mệt - Bình bảo - Mệt thì cứ nằm nguyên đó, bao giờ tao nấu xong thì dậy.
            - Bình này - Thúy nói xuống - Chị Thu sinh chín đứa, đều đẻ rớt đấy. Đứa thứ nhất, đang gặt thì thấy lâm râm đau bưng, chị liền chạy vào gốc đa bên đường ngồi nghỉ, ai ngờ đẻ luôn đó. Đứa thứ hai còn dễ hơn, đặt gánh rạ xuống, vừa kịp lần vào giường là đẻ. Đứa thứ ba thì rơi trong ruộng mía. Mấy dứa sau đều tương tự thế. Đẻ dễ hơn gà. Vậy mà mình, đi một đoạn đường đã thở không ra hơi .
            - Ngày xưa, chửa đẻ là chuyện vặt.
             Hai người đi thăm mộ Lâm Khanh về. Nghĩa trang không xa thành phố, đường dễ đi, nhưng phải qua một chiếc cầu. Trong những ngày này, có việc đi qua cầu ai cũng ngại.
             Từ ngày Lâm Khanh hy sinh, Thúy buồn và trống trải. Đã mấy lần cô định xuống nghĩa trang thăm anh, nhưng công việc bận quá, lần lữa mãi hôm nay mới thực  hiện được. Cái chết của Lâm Khanh khiến phòng kỹ thuật gặp nhiều khó khăn. Khối lượng công việc anh làm, mà toàn việc chủ chốt, gấp hai, gấp ba người khác, bây giờ trút lên đầu Thúy và Bình. Hôm nay hai người  quyết định dành ít thời gian để thăm anh. Thăm anh chỉ có nén hương và dăm bông hoa trắng. Nhưng là tình cảm của Thúy. Hai người ngồi bên mộ, thầm kể vài ba điều ở nhà máy, đến khi nhang tàn, họ lặng lẽ ra về. 
             Lâm Khanh mất đã gần một tháng. Gần tháng qua Thúy mặc cảm rằng hình như cái chết của anh, phần nào đó lỗi ở mình. Vì thế, một tình cảm như thể sự ân  hận khiến Thúy day dứt. Cô biết anh yêu cô. Anh yêu cô không có lỗi, và cô đã có người yêu, cũng không có lỗi. Song cái chết cửa anh vẫn làm Thúy áy náy. Thúy thương anh, tiếc anh. Con người rất tốt, trong sáng và cao thượng. Kinh nghiệm chuyên môn đang ở thời kỳ làm được việc, đang ở giai đoạn mà năng lực sáng tạo đã tới độ chín.
             Vì thế, phần việc của Lâm Khanh còn dang dở, Thúy xin đảm nhận. Cô mang hết tâm trí cho công việc. Thúy cũng ngạc nhiên, không rõ sao mình có thể làm được  một khối lượng đáng kể như thế, hầu hết chi tiết của sườn tàu đều do cô vẽ và tính toán. Thúy làm cả trưa, cả tối cô mang bản vẽ về nhà, làm ban đêm. Mọi người bất ngờ trước khả năng chuyên môn ấy.
              Giám đốc An biết chuyện, khuyên nên giữ gìn sức khoẻ và nhiều lần tỏ ý rằng kỳ họp tới, sẽ đề nghị đề bạt cô lên phó trưởng phòng, quyền trưởng phòng.
              Quyết định chưa Thúy, trong nhà máy đã có tiếng to tiếng nhỏ nói vào, nói ra, rằng con người "không chồng mà chửa", con người "ăn cơm trước kẻng" lại được đề bạt? Nghe đâu Hành đang xúc tiến chuẩn bị dư luận để mở chiến dịch phản đối.
              Ăn cơm xong. Thúy đưa chuyện ra kể với Bình.
             - Nếu giám đốc giao việc, mày nghĩ sao? - Bình hỏi.
             - Mày thấy thế nào?
             - Còn thế nào! Phải nhận. Nhận cho những kẻ xấu bụng thấy mình không hèn, không sợ họ, cái gì thuộc về lẽ phải sẽ thắng.
             - Tao lại nghĩ khác!
             - Thối chí hả?
             - Không! Tao sẽ nhận...
             - Đúng.
             - Nhưng tao nhận chẳng phải để thách thức và khiêu khích mọi người. Không trẻ con như vậy. Tao nhận vì nghĩ rằng mình dám đương đầu với những thử thách, ác   liệt. Dám đương đầu với những công việc bộn bề trong  phòng. Nhận để gánh thêm trách nhiệm. Tại sao lại  không dám chịu trách nhiệm trước công việc mà tin mình làm được? Với nữa, Bình ạ, tao thấy cần phải tiếp tục cái hoài bão anh Khanh để lại. Chối bỏ có lỗi với anh ấy. Đề tài anh đang nghiên cứu "Cách thi công khi gá vỏ tàu" còn dở. Không rõ sao tao nghĩ mình phải hoàn thành. Mày hỗ trợ với tao đấy.
            - Nghĩ thế nào mặc. Nhưng từ chối chân phó phòng là đã phủ nhận mày, phủ nhận tao và những quan niệm về cách xem xét con người của giám đốc và những người ủng hộ mày.
             Đêm ấy Thúy và Bình làm việc với khuya. Họ chong đèn trên bản vẽ, đánh vật với những con số. Gần tháng nay Bình xin phép gia đình đến ở với Thúy. Bình thấy  cần đỡ đần Thuý trong những ngày khó khăn. Có Bình, Thúy đỡ cô đơn, đỡ vất vả. Bạn gái, lại dễ tâm sự.
             Một đêm, ôm ngang lưng Thúy, Bình hỏi:
             - Mày thích đẻ con trai hay con gái?
             - Con trai.
             - Sao thế nhỉ? Người phụ nữ nào cũng mong đẻ con trai. Nếu có chồng, tao sẽ đẻ con gái. Con gái dễ bảo và nhiều tình cảm.
             - Thích con trai, chẳng hẳn là ý muốn của người phụ nữ mà ý muốn của người chồng đã nhập vào họ nên thành ý muốn của họ. Người vợ yêu chồng nào chẳng muốn làm toại nguyện ý thích người chồng.
             - Mày cũng vậy?
             - Tao tin anh Lê thích con trai!
              Mỗi lần nói về đứa con tương ai, Thúy lại nghĩ đến Lê. Nỗi nhớ anh dâng lên. Và cô không giấu bạn tình cảm mình. Nói ra được, cô thấy đỡ khổ, đỡ nhớ hơn.
              Nghe Thúy kể, Bình thở dài.
             - Mày thật sướng!
              Lúc đó Thúy xoay người, ôm bạn, nao nao thương bạn, thương anh Nam.

              Sáng hôm sau giám đốc An cho gọi Thúy lên họp.
              Trưởng phòng Hành gặp cô ở cầu thang, mỉa:
             - Cô nhầm rồi. Trên này là chỗ họp cán bộ.
             - Có lẽ anh nhầm chứ không phải tôi.
             - Hả? Cô đừng nói kháy. Tôi đã làm chân trưởng phòng đến dăm bảy năm nay...
             - Đo năng lực con người lại không có thang giá trị thời gian.
              Hành đỏ mặt, nện chân lên bậc gỗ thinh thình.
              Khi ông An đọc quyết định đề bạt Thúy làm phó phòng và giữ chức quyền trưởng phòng, mọi người xôn xao. Nhiều ánh mắt đổ về phía cô. Lác đác có tiếng vỗ tay.
             - Tiêu chuẩn cán bộ là đạo đức chứ!
             - Đúng! Cô này làm phó phòng e không ổn.
             - Trẻ quá! Sợ thiếu chín chắn. Rồi phòng kỹ thuật sẽ ra sao.
              Đáng lý sau khi đọc quyết định, cuộc họp chuyển sang công việc khác, nhưng thoáng nghe có lời bàn tán, ông An dừng lại.
             - Xem ra trong chúng ta còn có người chưa nhất trí với quyết định của giám đốc, vậy ai có ý kiến về việc này, xin phát biểu công khai - Ông đưa mắt nhìn mọi người - Nào, nào xin mời phát biểu, cứ tự do.
             Im lặng.
             Rồi Hành đứng dậy. Anh ngó trước, ngó sau tìm những ánh mắt đồng tình, hắng giọng và nói:
            - Báo cáo giám đốc, thay mặt số lớn anh em làm việc lâu năm ở nhà máy, tôi xin phát biểu. Việc đề bạt cô Thúy lên làm phó phòng kỹ thuật là một quyết định hơi vội và sẽ bị anh em công nhân phản đối. Là kỹ sư nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng nên đã (e hèm) đã có thai. Điều này nằm trong phạm trù đạo đức của người cán bộ. Tôi lo quyết định của giám đốc sẽ gây nên hậu quả không tốt. Báo cáo, hết.
            - Nào, mời đồng chí khác!
            - Cô ấy trẻ quá ạ - Có tiếng ai đó nói bâng quơ.
            - Đúng đấy ạ! Vừa trẻ lại vừa thiếu ạ!
            - Ai nữa? - Giám đốc An gặng hỏi.
             Im lặng.
             Giám đốc đứng dậy, nhìn khắp lượt, ông nói:
            - Tôi tạm tóm tắt nhá. Việc đề bạt cô Thúy có hai ý kiến. Tôi xin nói từng điểm. Trẻ quá, trước hết, điều đó không có lỗi. Không ai đặt ra tiêu chuẩn làm lãnh đạo phải là những người già nua tuổi tác. Tiêu chuẩn trước hết là người đó đảm đương nổi công việc hay không? Còn đạo đức ư? Như thế nào là có đạo đức? Khái niệm này khá rộng. Đạo đức người công nhân chúng ta hiện nay là gì? Phải chăng trước hết phải tận tụy, để hết  tâm lực cống hiến thật nhiều cho nhà máy. Và sau đó phải có năng lực làm việc. Năng lực, vâng, năng lực làm.việc phải được xét là một tiêu chuẩn của đạo đức. Năng lực trước hết là năng suất chất lượng và hiệu quả... Chúng ta không chấp nhận một thứ năng lực chung chung, chỉ thiên về hô hào mà lại thiếu kiến thức, thiếu khả năng để cống hiến. Những tiêu chuẩn ấy, chúng tôi thấy cô Thúy đều có.
            Về việc riêng cô Thúy, tôi không bảo rằng đúng. Nhưng khi xem xét, chúng ta nên có tình và có cái nhìn nhân hậu, không nên thành kiến. Cô ấy và thuyền trưởng Lê yêu nhau. Chúng ta không chỉ ủng hộ mà còn ca ngợi. Khi xét một sự việc, hãy đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể, điều kiện cụ thể, có như vậy, cách đánh giá mới chính xác. Thành kiến để làm gì? Thành kiến có giúp người ta tốt hơn không? Nâng đỡ cô ấy tạo điều kiện cho cô ấy tiếp tục công tác, tiếp tục cống hiến hết  khả năng chẳng là đạo đức ? Hay là ý kiến của tôi sai, các đồng chí? Nếu các đồng chí thấy cô Thúy không đủ tiêu chuẩn giữ cương vị mới, hãy tiến cử một người khác xứng đáng và có năng lực hơn để ban giám đốc chúng tôi xét. Nào, mời tất cả!
             Phòng họp im lặng. Có thể còn ý kiến chưa nhất trí, nhưng cái lý, cái tình để bảo vệ những ý kiến đó quá mỏng manh, nên không ai lên tiếng. Ông An chuyển hội nghị sang mục khác.
             Cuối buổi họp ông hỏi Thúy:
             - Công việc sắp tới nặng đấy, cháu thấy thế nào?
             - Cháu rõ và nghĩ mình làm được. Cho nên cháu dám nhận và dám chịu trách nhiệm trước tổ chức. Cháu tin cháu và tin vào mọi người trong phòng.
             Ông An gật gật đầu, hài lòng.

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM