Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 07:00:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phản trắc  (Đọc 38336 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #30 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 05:01:37 pm »

Chương 10
Đưa bé Thúy con gái của mình cùng với bạn nó đi học rồi, khép cánh cổng lại, nghe tiếng rít của chiếc bản lề khô dầu từ cánh cổng rền rĩ như tiếng thở dài của người đàn bà thất vọng, Hảo đứng thẫn thờ, một tay chị loạng choạng vịn vội vàng vào một nhánh cây hoa giấy non mỡ màng, đang phơ phất trong gió chiều mệt mỏi. Mặt trời đã lặn, nhưng đèn đường chưa lên, hoàng hôn như một cái chảo gang từng trải dầu mỡ, loang loáng màu tím sẫm úp xuống một góc thành phố, ngột ngạt. Tiếng cánh dơi bay phần phật trên đầu, ngẩng lên Hảo bắt gặp những con dơi màu đen quái dị như những tùm giẻ ma trơi, giăng chéo, lượn vòng, nhộn nhịp và bí hiểm. Căn nhà càng lúc càng đen lại, bóng tối ụp xuống rất nhanh. Cài chốt cánh cổng lại, Hảo lững thững trở vào. Trong nhà đèn cũng chưa bật, chỉ nghe có tiếng nước chảy long tong từ đâu dó, trong bể trữ nước, nhịp nhàng, cần mẫn và ru ngủ.
Hảo đi thẳng vào bàn ăn, mùi thức ăn quen thuộc cùng với mùi bếp núc chật hẹp lan tỏa, lẩn quất trong những góc khuất, khiến Hảo cảm hấy yên tâm. Chị ngồi xuống chiếc ghế cạnh bàn ăn, tiện tay mở cái lồng bàn, một vài món đậu xào, cá chiên, canh hẹ... hiện ra. Hảo úp lại, rồi im lặng, hai tay để lên đùi, ngó qua ô cửa sổ, thấy ánh đèn chập chờn của cánh đồng như một bầu trời hiếm sao, nhấp nháy...
Có tiếng chuông điện thoại. Thoạt đầu, Hảo vội vã xô ghế đứng dậy, như một người chờ đợi tiếng chuông reo. Nhưng được hai bước chân, chị đứng sững lại, mặc cho tiếng chuông điện tử hối hả. Đến hồi chuông thứ tư hay thứ năm gì đó, Hảo nhấc máy. Quả không sai, tiếng a lô đầu dây bên kia đúng là của Kiệm, chồng chị. Và cũng chẳng cần dài lời, Hảo dạ liên hồi trước những lời giải thích của chồng. Cuối cùng chị hỏi lại như một thủ tục: "Chừng nào anh về?". Thế thôi, cuộc đàm thoại chấm dứt.
Con mèo thấy bà chủ nhà không bật đèn, mà cứ đi lại như một người lạ, nó chạy đến cà cà cái đầu của nó vào bắp chân để trần của Hảo, tiếng gừ gừ trong cái cổ họng nhạy cảm của nó, khiến Hảo chạnh lòng. Chị cúi xuống ôm nó lên tay rồi ra phòng khách, bật đèn, tiện thể mở luôn ti-vi. Hảo ôm con mèo ngồi vào ghế salông, một tay cầm rờ-mốt bấm tìm các kênh truyền hình. Chị bấm lần lượt tám kênh truyền hình và thất vọng khi tất cả đều chiếu phim Hồng Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc... Ngước nhìn chiếc đồng hồ treo tường chỉ sáu giờ rưỡi, Hảo để cái điều khiển từ xa xuống mặt bàn, mặc kệ cho màn hình ti-vi đang nhảy nhót, đưa đẩy những hình ảnh sặc sỡ và những câu nói bằng tiếng Việt rõ ràng, nhưng lạ tai, đợt giọng lưỡi, rất khó chịu. Nội dung bộ phim không cần xem kỹ cũng đoán ra, đó là câu chuyện về cuộc tình giữa các nhà doanh nghiệp, họ vờn nhau, khi thì nâng đỡ, tâng bốc, khi thì mạt sát, chửi mắng nhau, nẫng tay trên của nhau, những miếng mồi ngon, một tình nhân xinh như mộng, hay một khoản lợi nhuận kếch sù...
Hảo cứ ngồi một mình như thế, bởi vì con mèo cũng khó chịu, nó phóng khỏi tay chị, lao vào một góc tối nào đó, tìm mồi, tìm bạn, hay đơn giản, nó cũng tìm sự yên tĩnh, cô đơn như bà chủ đài các mượt mà của nó.
Hảo bỗng bàng hoàng tự hỏi: không biết mình ngồi một mình một bóng như thế này đã bao lâu rồi, đã bao nhiêu lần rồi? Cái không khí đầm ấm gia đình đối với chị đã xa vắng từ lâu. Từ khi nào chị cũng không nhớ rõ, chỉ biết rằng, giờ đây chị cảm thấy thích thú, yên tâm khi được đối diện với chính mình, mà không còn cảm thấy bị bỏ rơi, hắt hủi. Cái cảm gác không bị cật vấn, không bị sự quan tâm tưởng như mặn mà, nhưng rồi chỉ là một sự phải phép, hời hợt. Từ lâu rồi, các thành viên trong nhà, chồng và cô con gái, chạy như chong chóng, lao vào công việc, học hành, vui chơi, bầu bạn... Họ cảm thấy mỗi người trong ngôi nhà này đối với nhau chỉ còn ràng buộc bởi nghĩa vụ, bởi tính pháp lý, mà không phải là sự cần có nhau, sự nương tựa vào nhau, tự nhiên như cây rừng, cá bể... Họ lao tới phía trước, tới tương lai như con thuyền gặp gió, lúc nào cũng căng phồng, phần phật, vun vút...
Chồng Hảo là một người tốt, một trí thức được đào tạo dưới chế độ cũ. Khi được trở lại làm công tác giảng dạy ở một trường Đại học, anh đã bộc lộ hết tất cả sự nhiệt tình, chỉ với một mục đích không bị loại bỏ. Đó là thời kỳ hạnh phúc nhất trong cuộc đời Hảo, chị được yêu, được làm việc, được sống bằng nỗi khao khát cống hiến của mình. Khi họ lấy nhau, một đám cưới đạm bạc được tổ chức trong một căn phòng nhỏ dùng làm lớp học của sinh viên, nơi anh làm cán bộ giảng dạy. Thời ấy, nhu cầu làm việc, và được làm việc trong cơ quan nhà nước của con người là trên hết, là cứu cánh, dù tiền lương không đủ ăn, thu nhập không xứng với năng lực. Làm việc như đi hội! Sáng ra, ăn uống qua loa, vội vội vàng vàng lao đến bằng cơ quan trên chiếc xe đạp cũ kỹ. Đến nơi, chào nhau, gật đầu, mỉm cười rồi ngồi vào bàn nghe đọc báo. Ai nhỉ? Hồi ấy ai đã đọc những bài báo vừa hùng hồn, tha thiết, vừa rao giảng, răn đe? Thế nhưng, bao giờ những buổi đọc báo như thế cũng là những giờ khắc nghiêm túc, thậm chí vô cùng thiêng liêng. À, phải rồi, anh Tụ, chính anh Tụ đã nhận lãnh đọc những bài xã luận, có tính định hướng tư tưởng, vạch ra những mục tiêu chiến lược. Giọng Tụ êm ái, chuẩn mực, đanh thép. Tiếng Tụ không ngân nga, mà ròn rã, người ta bảo, anh giỏi tiếng Nga lắm, học những bốn năm bên ấy cơ mà, nên giọng anh dứt khoát, vang lên như những tràng vỗ tay, kiểu nói của người Nga là thế đấy! Hảo học tiếng Anh, cái thứ tiếng bị coi là vô dụng, thứ tiếng chỉ dùng trong buôn bán. Tiếng Nga là tiếng nói của Lê-nin, của chủ nghĩa xã hội.
-"Zờ-đờ-rát-xtvui-che!" Xin chào! Tụ đã dạy Hảo những câu như thế. Rồi Hảo ghi tên, đóng tiền vào những buổi học tiếng Nga ban đêm. Chị vật lộn với những chữ cái lạ lẫm, mà đến cả năm trời vẫn lẫn lộn, cả khi đọc lẫn khi viết. Nhưng Hảo không nản, vì có chủ nghĩa xã hội, có bạn bè, và có Tụ luôn luôn bên cạnh! Khi đã có chồng rồi, Hảo vẫn không ngừng thích thú với công việc. Ngày nào không lên cơ quan chị cảm thấy trống vắng, cảm thấy như mình bị tách ra khỏi cộng đồng!
Hảo học tiếng Nga say sưa cho đến ngày nó không còn được trọng vọng. Cùng với sự tan rã của nhà nước Liên bang Xô viết vĩ đại, tiếng Nga ra đi, giành chỗ bá chủ cho sự trở lại của tiếng Anh. Thời gian mai một, tiếng Nga lùi vào đâu đó trong trí nhớ Hảo, đôi khi, thi thoảng nó lại xuất hiện, nhưng buồn bã, đầy mặc cảm. Hảo biết có nhiều người là giáo viên dạy ngoại ngữ tiếng Nga phải đưa đi "đào tạo lại", coi như một sự lẫm lẫn! Hảo không dạy học, không kiếm cơm bằng tiếng nước ngoài, nên chị lẳng lặng cất nó vào dĩ vãng. Kỳ lạ thật, đến lúc đó, Hảo mới thấy tiếng Nga thân thiết làm sao. Học rồi, biết rồi, làm quen nhau rồi, khi chia tay ai chẳng thoáng buồn.
Trong cái thứ tiếng đa âm tiết xa lạ, cùng với loại mẫu tự khó viết ấy, tự nhiên Hảo thấy thích nhất từ "Tạm biệt!".
-Đa Xviđánhia!
Khi nói "đa...", rồi ngưng lại trong tâm tưởng, trong ý nghĩ, một khoảng thời gian tính bằng centi-seconds, rồi mới nói "xviđá...", đấu sắc lên cao, tựa như một lời hẹn, cao vút, sáng trong... khẳng định ngày gặp lại, để rồi nói "nhi-a..." trầm xuống, trùng xuống, như một sự có lỗi, không ở bên nhau được nữa! Chia tay, nhưng không chia ly...
Vào cái ngày sắp sửa lên xe hoa, Hảo đã ngồi hàng giờ trong phòng Tụ. Chị im lặng nghe anh nói, nhỏ nhẹ nhưng chính xác, ấm áp nhưng khảng khái. Anh nói về hạnh phúc, về những miền tối sáng trong tâm hồn, những đau thương của nhân loại, của cá thể mỗi con người. Hảo nghe những muốn trào nước mắt. Thỉnh thoảng chị lại lật cuốn sổ tay mà trong đó chị đã kẹp sẵn tờ thiếp hồng, báo ngày chị lấy chồng. Gọi là thiếp hồng, nhưng nó được in trên giấy trắng bằng phương pháp in lụa thủ công, lem nhem hàng chữ, lem nhem cả đôi bồ câu, như chúng không chịu nằm im trên nền giấy trắng ngà, mà muốn vung cánh, rời nhau ra, để bay đi, để tìm một khung trời mới. Cuối cùng chị đứng dậy, cung kính và thân ái, dùng cả hai tay đưa cho Tụ tấm thiếp hồng. Tụ nhận lấy, tỏ một chút bất ngờ, rồi lặng lẽ mở ra, đọc những gì viết trong đó. Lâu sau, anh ngẩng lên, nhìn vào đôi mắt mở to của Hảo, môi mấp máy:
-Vậy là...?
Hảo cúi xuống một lần nữa rồi ngẩng lên, nhìn thẳng vào đôi mắt sâu, linh lợi và chan chứa ý nghĩ của Tụ, nói một câu bất thần:
-Đa Xviđánhi-a...!
Những ngày đó, con thuyền nhỏ bé của gia đình Hảo do một tay chị chèo chống. Từ cân gạo, mớ rau, con cá, lạng bột ngọt... đến những chuyện lớn hơn như việc giỗ tết gia đình bên chồng, Hảo đã chắt chiu, so đo, toan tính cho tròn vẹn. Chồng chị, sau những năm tháng nhiệt thành công việc, đến một ngày nào đó, anh bỗng trở nên chán nản.
-Chúng ta sống hay đang chuẩn bị sống? Chúng ta đang phấn đấu cho cái gì đây? Chủ nghĩa xã hội mà như thế này ư? Làm quần quật, con người từ trí não đến cơ bắp bị đem ra làm thí nghiệm, bị vắt kiệt như tấm áo mục, thì cũng có ngày rách toạc ra chứ! Tôi không tin là chúng ta làm được cái gì trên mảnh đất này, ngoài việc tự đào huyệt chôn sống mình. Các người cứ nói "chủ nghĩa tư bản tự đào mồ chôn mình", nhưng từ nay đến khi đó, chúng ta đã tự chôn xong mình rồi...
Hảo thương chồng, thương một anh đàn ông bất lực trước thời cuộc, trước bạn bè và cảm thấy vô dụng ngay cả đối với vợ con. Vượt biên? Anh đã nói với chị như thế. Hảo biết nhưng không dám can ngăn, dù rằng chị không muốn xa chồng. Người đàn bà của chúng ta lạ lùng là thế! Họ yêu chồng, nhưng vẫn có thể thương yêu một ai đó, một người nào đó, có khi đến mức thần tượng. Họ thương chồng, không muốn xa chồng, không muốn chồng khổ ải, nhưng lại sẵn sàng để chồng làm một việc gì đó ngoài ý muốn. Chị để cho anh vượt biên đi tìm miền đất hứa. Rủi thay, (hay may thay?) việc không thành, anh bị bắt lại. Nhờ Tụ, rồi qua Bích vợ Tụ, rồi lại qua bàn tay của một ông lớn nào đó chịu ơn Bích, chồng Hảo không những không bị sa thải, mà còn được xóa tội, nhận về trường cũ. Mối quan hệ là lực lượng sản xuất, sau này Tụ đã nhiều lần giảng giải cho Hảo nghe những điều như thế hoặc tương tự, Hảo càng thấm thía. Nhưng có lẽ người thấm thía sớm hơn lại chính là vị giáo sư tương lai, chồng của Hảo. Anh đã lột xác, và cảm nhận được một điều: số phận! Nếu số phận đã cột anh vào một cái cột nào đó, dù đó là cột tử hình, thì cũng không có cách nào thoát được. "Con người sinh ra để thích ứng với hoàn cảnh", anh đọc được Các Mác câu này, rồi anh còn đọc được từ W. Gớt "Mất của cải là mất hết, mất danh dự là mất nhiều, mất can đảm là mất hết". Anh đã mất gì nhỉ? Người trí thức có gì để mất? Của cải: không! Danh dự: có! Can đảm: có thể có, có thể không! Anh đã suýt một lần để mất danh dự làm kẻ chạy tốn bị bắt quả tang, bị cạo trọc đầu nhốt trong kho chứa phân đạm một tháng. Cố lên! Can đảm lên!
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #31 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 05:02:02 pm »

Họ quyết định có một đứa con. Hảo biết quyết định có con vào lúc này là muộn so với cái tuổi hai mươi bảy của chị, nhưng lại quá sớm so với sự nghiệp. Bé Thúy ra đời, gánh nặng càng thêm nặng. Có điều, như một người gánh kệnh, gánh lệch, bên nặng bên nhẹ, bên có bé Thúy nặng chĩu xuống, còn bên kia, bên chồng nhẹ dần, nhẹ dần, khiến chị như người gánh vã đường trường, cứ lâu lâu lâu lại phải dừng lại trở vai, và vô công vít cái đầu nhẹ gánh ấy xuống, cho được cân bằng. Chị gánh mà đâu có biết gánh chính cả cái sức nặng do mình tạo nên.
Quãng nghỉ ấy, Tụ lại xuất hiện!
Nhưng mỗi khi như thế, Hảo tưởng Tụ có sức làm cho cái gánh giang san ấy cân bằng, nào ngờ nó lại càng lệch, khiến chị lại càng phải cố sức vít đầu cái đòn gánh bất minh ấy xuống!
                                                              *
Với chồng, và với gia đình chồng, Hảo hết òng lo toan chu tất. Mỗi tiếng thở dài ngao ngán, mỗi cái nhăn mắt, vỗ trán của chồng, chị đều thấy mình đau quặn. Người đàn bà bất lực, họ khóc, nước mắt trôi đi, gột rửa nỗi niềm; còn người đàn ông bế tắc, vô vọng, họ nung nấu kỹ trong ruột trong gan, như ngọn núi lửa trầm tích, âm ỉ. Tâm sự của người đàn ông trí thức được cất giấu trong cái hộp đen, chỉ khi nào nó nổ tung ra, rời khỏi cái máy bay bị phát hỏa, người ta mới hy vọng hiểu được đôi phần. Nỗi thất vọng buồn bực của chồng chị cũng gánh, dù anh không muốn san sẻ. Đôi khi Hảo thấy chồng mình như cái nồi áp suất Liên Xô, quà tặng của Tụ cho chị ngày lấy chồng, khi đã đậy nắp, xoáy van rồi thì chỉ còn biết canh lửa, canh giờ. Những gì đang vận động, đang chín, đang mục rữa ở trong cái nồi nhôm bít kín ấy làm sao biết được? Chị thương chồng lắm, nhưng Hảo cũng biết, hễ chị can thiệp vào cái van an toàn thỉnh thoảng lại xì ra một luồng hơi nước nóng bỏng ấy, để nói khỏi bức bối, khỏi gây hấn, lộn xộn.. lập tức cái nồi sẽ nổ tung! Lúc ấy, ôi thôi, tình yêu, nghĩa vụ, nhân cách... sẽ văng ra như xương, như gân, như thịt, như cà rốt, khoai tây... xà bần xắng cấu!
Đêm tối bỗng như những ngọn đèn đường cao áp thủy ngân rọi một thứ ánh sáng xanh ngắt, sắc lẻm rọi vào tâm trí Hảo. Ti-vi đã chuyển chương trình, trên màn hình một ông quan to nào đó đang nói về vận mệnh đất nước. Giọng nói lừ đừ, cao đạo của ông khiến Hảo không mấy tin vào những gì sẽ hiện ra sau bàn tay vung lên, xua ngang, chém dọc của ông. Rồi cô xướng ngôn viên có bộ ngực lép, chiếc áo lót ngực nổi cộm lên những đụn vải, xê dịch trong chiếc áo dài quá chật. Hảo bỗng bật cười nghĩ đến một cái trật tự xếp hàng một như đàn kiến trên con đường danh giá. Đứng đầu là ông nguyên thủ quốc gia, thứ tự đến ông bộ trưởng, rồi cứ thế... cứ thế kéo dài mãi ra! Hảo đứng ở đâu? Tụ đứng ở đâu? Chồng Hảo, Ngô Kha, bác bảo vệ? Mà họ hơn nhau ở cái gì để đứng ở những vị trí khác nhau nhỉ? Trí tuệ mẫn tiệp, ý chí kiên cường, sức vóc tráng kiện, hay đơn giản chỉ là sự tình cờ, sự sắp xếp, ngẫu nhiên của người đến trước, đến đúng lúc?
Một sự cố ngẫu nhiên đã đến với gia đình Hảo, hay đúng hơn là với chồng Hảo. Nói ngẫu nhiên là nói với Hảo, với chồng chị, những cái vỏ kén, những cái nồi áp suất âm ỉ, nhưng thực ra sự biến động này thuộc về những vận động ở bề trên, ở những bộ óc đứng hàng đầu về trách nhiệm cũng như quyền lợi. Cùng với sự lùi vào hậu trường của tiếng Nga, sự xuất hiện trở lại đến mê hoặc của tiếng Anh đã là một biến cố mang nhiều điềm may đến cho họ. Hảo vốn thụ động, sợ suy luận nhưng lại có trí nhớ tốt, tốt đến lạnh lùng, nguy hiểm. Khi học tiếng Nga, chị được Tụ truyền cho lòng nhiệt tình bằng câu nói: "Tiếng Nga là tiếng nói của chủ nghĩa xã hội, tiếng của những người bạn, tiếng của đồng chí cùng giai cấp, cùng lý tưởng. Còn tiếng Anh là tiếng nói của thương mại, của con buôn!". Thế rồi, khi tiếng Nga đã mất chỗ đứng trên đất này, tiếng Anh là công cụ, là thời trang, Tụ học tiếng Anh ngày đêm, và tiến bộ rõ rệt. Tất nhiên, một trong những người Tụ coi là thầy dạy tiếng Anh lại là Hảo. Một lần đùa Tụ (dần dà, Hảo cũng biết đùa), Hảo nhắc lại câu chuyện "tiếng Anh là tiếng của con buôn", Tụ trả lời ngay, không đắn đo:
-Đã đến lúc chúng ta phải nhìn lại mình, nhìn bạn bè và nhìn ra thế giới. Và cũng đã đến lúc chúng ta phải xác định lại cơ cấu kinh tế, phương thức làm ăn...
-Nghĩa là phải coi trọng nghề buôn?
-Đúng thế! Buôn bán chính là tác nhân giúp cho xã hội phát triển.
-Thế còn những người bạn, những người đồng chí?
Tụ say đắm nhìn vào lá cờ đỏ sao vàng nhỏ xíu cắm trước mặt (Hảo nghĩ là mốt của những nhà lãnh đạo, trừ ngoại giao và cấp chính phủ, chứ cỡ Tụ, chưa hẳn đã cần đến quốc kỳ bên cạnh), trầm ngâm:
-Chúng ta đã phải trả giá đắt cho những suy nghĩ ấu trĩ của mình, cho cả một hệ thống lý thuyết đầy non nớt, ngây thơ. Trong cơ chế thương trường, khái niệm "bạn" hay "đồng chí" rất tương đối. Bạn hay đồng chí phải là những người có ích cho ta. Cái rõ nhất trong thương trường là "đồng bọn", "đồng lõa" "đồng lợi ích"... và nó chỉ tồn tại trong một thời gian, có vai trò lịch sử của nó...
-Thế còn lại? Hảo băn khoăn nhìn Tụ, hỏi khá gay gắt, đủ biết chị đã hiểu được phần nào về con người này.
-Phần còn lại của thế giới ư? Đó chính là một "bầy đàn tiêu thụ"...
-Ra thế? Hảo thở dài, nhìn lên bức tranh chép vẽ những phụ nữ thời trung cổ, mông to, vú nở... treo trên tường.
Tụ vẫn say sưa theo ý nghĩ của mình:
-Một bầy đàn tiêu thụ, đúng thế. Họ bị lừa phỉnh bằng những món hàng hào nhoáng, những tiện nghi lười biếng, thậm chí cả những ảo tưởng may mắn. Nhưng để có được những thứ đó, để tiêu thụ hàng đống sản phẩm họ phải trả giá bằng sức lao động cật lực và cả sự mông muội của mình...
Hảo thật sự phục Tụ, một con người có lối suy luận rất nhanh, những suy đoán hợp lôgíc một cách chóng mặt. Nhưng trong những sự thông thái mà Hảo nhận thấy ở anh, dần dà chị còn biết được cả sự quay quắt khá linh hoạt, như người ta vẫn hay gọi bằng cái từ bí hiểm: hoạt đầu!
Trong sự thay đổi, những biến động của xã hội, của kinh tế làm mọi người như bừng tỉnh. Tất cả nháo nhào lên, họ lao vào làm ăn, thi đua mở cửa hàng, cửa hiệu, lập công ty. CHANDCO cũng bừng bừng chuyển động, mở thêm nhiều cửa hàng bán lẻ, đại lý, chi nhánh phụ... Hàng hóa chuyển động ầm ầm, kế toán tối mắt tối mũi vì công việc vì chứng từ, công nợ, tiền mặt, chuyển khoản... Bận quá, Hảo bắt đầu có những chiều về muộn. Bé Thúy được ba đón về, ngồi chơi đồ hàng một mình trên giường, đói quá lăn ra ngủ, không cơm nước, không tắm rửa, mặt mũi lem nhem, một ngấn nước mắt trộn bụi bặm, đọng khô dưới mí mắt con bé. Thương con quá, Hảo bế con vào giường ngủ không nỡ đánh thức, nhưng lòng dạ chị quặn thắt, nước mắt ứa ra, tủi hờn. Định nói với chồng câu gì đó cho bớt đi nỗi xót xa, nhưng nghĩ lại, không muốn chạm vào "cái nồi áp suất" đang xì ra luồng hơi nóng đầy vẻ ích kỷ đang âm ỉ ấy, Hảo ôm con đi ngủ luôn, cả mẹ cũng chẳng buồn ăn uống, tắm giăt.
Thấy Hảo về muộn, lại không ăn uống gì, chồng chị vạch mùng ngó vào:
-Sao? Không cho con ăn gì mà lại bắt nó đi ngủ luôn à?
Hảo ôm con thật chặt, đụng phải cái bụng lép kẹp của nó, nuớc mắt chị trào ra, như thác, không sao ngăn nổi. Tiếng chồng:
-Dạo này em hay về muộn quá! Công việc cơ quan thế nào mà quên cả chồng con?
Hảo tràn cơn uất ức, chị ngồi dậy:
-Anh cũng vừa phải thôi chứ! Em về muộn vì công việc nhiều quá, thì anh cũng làm cái gì cho con nó ăn chứ...
-Làm cái gì? Em biết là anh không biết làm cái gì cả mà! Từ lâu rồi, anh đã là thằng đàn ông vô dụng, chỉ ăn hại cơm trời, làm khổ vợ con... Chả có lần em đã bảo thế rồi còn gì?
Hảo nhấc bỗng bé Thúy lên, ôm chặt nó vào lòng, nức nở:
-Em không nói thế! Em có nói thế bao giờ đâu? Em chỉ nhờ anh những việc nhỏ như cho con ăn, khi em bận. Anh đừng nghĩ oan cho em. Em biết là để con đi mẫu giáo anh không bằng lòng, nhưng em còn phải đi làm. Nếu em nghỉ ở nhà thì...
Hảo chợt thấy mình lỡ lời, như thể lỡ tay đụng vào cái lỗ xì hơi bên dưới cái van an toàn của chiếc nồi áp suất đang ninh hầm, ùng ục.
Cuộc thay đổi vĩ đại, như một cuộc cách mạng đã đột nhập vào ngôi nhà của Hảo. Anh Kiệm chồng chị bỗng dưng tất bật hẳn lên, đi sớm hơn, về muộn hơn, và thu nhập cũng nhiều hơn. Thoạt đầu Hảo hơi ngạc nhiên, nhưng cũng không dám hỏi chồng, nhưng rồi chị cũng hiểu ra:
-Nhu cầu học hành của mọi người bỗng dưng tăng lên ghê gớm, đôi khi như những kẻ phát rồ. Kiệm đã giải thích như vậy. Học vi tính, mọi người cố gắng bằng mọi cách để tìm hiểu cái máy tính. Em nhớ chứ? Hồi em học đại học, cũng có hẳn một học phần về vi tính, nhưng toàn là những câu chữ và hàng loạt thuật ngữ mơ hồ, chưa được sờ vào cái máy tính, thậm chí còn chưa được trông thấy cái máy tính. Tự nhiên thiên hạ nhao nhao lên, cố chứng tỏ mình không phải là những người lạc hậu. Học gõ bàn phím, học chương trình DOS, học soạn thảo văn bản trên những phần mềm sơ luợc. Rồi cũng chứng chỉ A, B, C... Rồi học tiếng Anh, thứ tiếng mà có một dạo bị coi như bỏ xó, bây giờ thì ai cũng cố biết lấy vài chữ, vài tiếng. Ứng dụng, sử dụng vào đâu chưa biết, nhưng có thể nổ chơi, với bạn, với đời... Nào "Gút-bai", rồi Ô-kê, "Si-du-ờ-ghen"...
Hảo nhìn chồng say sưa kể lể bằng một giọng đầy chất châm biếm, rồi mỉm cười thêm vào:
-Chuyện học hành là muôn thuở, Lê-nin đã từng nói "Học! Học nữa! Học mãi!...", đấy thôi! Với lại, có thế thì nghề dạy học của anh mới có cơ hội!
-Đúng! Quá đúng! Hoan hô bà xã! Sao hôm nay em bỗng thông thái đột xuất thế? Nghĩ lại mà hay, ngày xưa mình vượt biên chót lọt thì bây giờ đâu còn cơ hội! Kiệm nhìn vợ khoái chí như vừa phát minh ra được một điều gì kỳ thú hoặc quái đản lắm.
Đôt nhiên Hảo nghĩ đến Tụ, và cả những người đàn ông quanh đời mình. Họ thông minh, sâu hiểm, nhưng bao giờ cũng nhanh chóng để lộ ra cái chân tướng bất nhẫn, đắc chí, nhất là khi cảm thấy mình bỗng trở thành thông thái.
Khi bị đồng tiền hắt hủi người ta tìm đến tình yêu, làm như tình yêu là người bạn đồng hành, là pháo đài cố thủ, là cứu cánh của cuộc đời, nhưng khi tiền bạc mỉm cười với anh, một nụ cười có ma lực mãnh liệt, thì anh bị cuốn hút theo nó, nó mới là người bạn chân thành, chí cốt. Kiệm, chồng Hảo cũng không thoát ra ngoài cái quy luật có tính định mệnh ấy. Khi những quý ông, quý bà, có chức, có quyền và có tiền bỗng có nhu cầu học tập để tiến thân, để giữ ghế, và cũng không thể loại trừ những người hiếu học thật sự, phải bỏ tiền ra để mua kiến thức, thì nghề dạy tiếng Anh của Kiệm có cơ hốt bạc. Có tiền nguời ta nghĩ ra nhiều thứ, có những thứ bị lãng quên, bị chôn vùi thì nay bỗng sống lại, ngọ nguậy rồi nhảy lên địa vị độc tôn. Chẳng hạn như tình yêu... đa hệ, một thứ tình vừa chân thực, vừa ngụy biện. Lấy cớ bận rộn, Kiệm luôn luôn vắng nhà, và thế là một... chủ thuyết "mới" đã ra đời:
-Trong thế giới hiện đại, mọi khái niệm đều được gọi bằng tên của nó và đều được đo lường bằng những đại lượng đặc thù. Đồng thời với những đại lượng đo được ấy, người ta biết được cách điều tiết nó...
Hảo chẳng hiểu chồng định nói gì, muốn gì, nhưng chị cũng không muốn hỏi lại. Tranh luận, hay thậm chí trao đổi với chồng những điều vụn vặt trong đời sống hàng ngày, Hảo cũng thấy là không cần thiết, không nên, không được phép. Với một kiểu giáo dục phong kiến đậm tính hủ nho trong gia đình từ bé thơ, dù có học hành theo kiểu mới, thì Hảo vẫn luôn tỏ ra cam chịu, nhất là trong gia đình, trong quan hệ vợ chồng. Thấy vợ im lặng, Kiệm cho rằng Hảo sẵn sàng lắng nghe, anh tiếp:
-Tình yêu giữa đàn bà và đàn ông là một thứ tình nhạy cảm nhất trong các lọai tình cảm, đồng thời cũng khó dự đoán những diễn biến của nó nhất. Tuy thế, trong đời sống hiện đại mà khoa học phát triển như bão táp, người ta vẫn có thể đo được, đếm được liều lượng và cường độ của tình yêu, và qua đó... qua đó... Kiệm im lặng đột ngột như thể để thăm dò phản ứng của vợ. Nhưng thực ra Kiệm đang bí. Cái điều anh muốn nói thẳng ra thì rất khó nói. Hảo thở dài:
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #32 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 05:02:26 pm »

-Em hiểu anh muốn nó đến cái gì rồi.
-Em hiểu thế nào?
Hảo thấy cần phải tỏ thái độ:
-Anh muốn nói đến tình yêu của chúng ta đang lạc hậu?
Kiệm làm như bị xúc phạm:
-Anh không nói thế, sao em lại hiểu lầm anh đến vậy? Anh chỉ muốn nói đến sự phức tạp nhưng đơn giản của tình yêu, của...
-Anh không nói thế nhưng anh nghĩ thế.
-Em bảo anh nghĩ thế nào?
-Anh nghĩ thế nào thì chỉ có mình anh biết. Anh lại nghĩ về tự do, về sự ràng buộc, về trách nhiệm... phải không nào? Em cũng nói để anh biết, em mệt mỏi lắm rồi, chỉ muốn mọi cái được rõ ràng, sáng tỏ.
-Chính vì thế, Kiệm bỗng trở nên hào hứng như được gợi ý đúng mạch. Tự do là một khái niệm tương đối, nhưng lại luôn luôn hướng tới sự tuyệt đối. Chẳng hạn như anh và em ràng buộc bằng tình yêu, bằng tình nghĩa, thậm chí bằng luật pháp, nhưng biết đâu trong ý nghĩ, mỗi đứa vẫn có những khao khát tự do một cách tuyệt đối. Đó là một khoảng trời riêng cho cánh chim ý nghĩ được tung cánh...
-Khoảng trời riêng? À, em hiểu rồi. Thì ra lâu nay anh vẫn có ý nghĩ ấy? Hảo cảm thấy nhịp tim mình đập nhanh hơn, hối hả hơn, nhưng da thịt lại lạnh toát. Tùy anh, nhưng em nói để anh biết, em không hẹp hòi đâu, anh muốn thế nào cũng được, em không cản anh...
Kiệm nhìn theo tấm lưng tròn lẳn, đang độ mặn mà của vợ khuất sau cánh cửa phòng ngủ. Ngoài trời đột ngột đổ mưa, tiếng xe máy vội vã lao trên đường. Kiệm đứng dậy khép cánh cửa sổ, anh nhìn thấy một bóng người đàn bà lặng lẽ đội mưa, rẽ gió đi trong ánh đèn mờ tỏ... Anh chợt nghĩ: trên đầu người thiếu phụ ấy, hẳn có một khoảng trời riêng, nặng nề hay thanh thoát, tự giác hay bắt buộc... thì chỉ có người ấy mới biết được.
Chương 11
Tài nằm mãi cũng đã bắt đầu cảm thấy mệt mỏi, hình như y bắt đầu nhận thấy một cảm giác hối hận dù rất mong manh mà suốt từ khi y nuôi rắp tâm bắn vào ngực Tụ, chưa bao giờ xuất hiện trong bộ óc đặc sệt sự ngoan ngoan ngu muội của y. Sự buông trôi, chán ngán và còn xen cả cảm xúc hoan hỉ như kẻ tử vì đạo trong lòng Tài khiến cho khi vào căn phòng tạm giam này, y chỉ muốn ngủ một giấc thật dài, thật sâu, thật đã đời, để rũ sạch mọi nỗi muộn phiền, âu lo, để rồi khi thức dậy có đủ tinh thần và sức lực đón nhận sự phán xét của tòa án, sự trừng phạt của công lý.
Hai hôm đầu Tài không muốn ăn, y không muốn ăn phần vì y nghĩ không cần ăn, không cần sống. Y thích một cái chết đến càng nhanh càng tốt, càng nhẹ nhàng không cần thủ tục rườm rà, càng tốt. Y không sợ chết, lòng mong đợi cái chết y đã chực sẵn, như một sự can đảm phi thường, mà thực ra chỉ là sự chán ngán, sự lo sợ sự sống. Nhưng y không tự tử, lại càng không dám tự tử, vì như thế sẽ mất đi một dịp để y thỏa lòng thù hận. Y biết và chấp nhận sự đền mạng, vì đằng nào thì cũng thế, đằng nào thì cũng là cái chết, vì có sống y cũng chẳng ra hồn người, ra thằng người, mà chỉ là một cái thây bèo nhèo bám vào sự vinh hoa do người ta ban phát.
Tài tự nhận thấy mình không phải là kẻ hèn mọn, mà đáng ra y phải là một con người đàng hoàng, có thể không có chức vụ, quyền hành và quyền lợi nhưng phải đàng hoàng, để không một ai có thể coi thường y. Nhưng con đường tham lam và cầu tài, cầu lợi đã đưa y đến một tình thế nhục nhã. Người đời đã coi y như một kẻ ăn bám mà không phải ăn bám bình thường, không phải chỉ vì miếng cơm hay manh áo mà ăn bám lợi danh lòe lọet đấy, sa hoa đấy, nhưng chỉ là con chó giữ nhà của một nhà giàu (tội nghiệp, nhà chủ cũng không đến nỗi giàu lắm)... Vì sao y lại sa đà đến thế? Y không hiểu được, y không lý giải được vì từ bao giờ tới giờ Tài không quen lý giải, không có cái đầu suy xét mà chỉ có một nếp suy nghĩ duy nhất là làm thế nào để thực hiện được ý muốn, tất cả mọi ý muốn (nói xin lỗi, cả ý muốn đi đái) của cấp trên…
Chợt kẻ sát nhân cảm thấy lạnh toát từ đâu đó trong cơ thể. Y sực nhớ ra lời người công an già, từng trải và bình thản nói với y "sẽ có người vào thăm anh ta". Ai nhỉ? Lần đầu tiên, kể từ khi vào căn phòng tạm giam này, Tài cảm thấy hồi hộp, dù trước đó không lâu, y đã gạt sang một bên cái ý nghĩ khiến y hồi hộp ấy bằng cách cho rằng cái lão công an cáo già kia chỉ đánh đòn cân não y thôi. Nhưng bây giờ thì không thể thế, không thể thế được nữa. Đúng là có người sẽ vào thăm y. Nhưng mà ai?
Không lẽ lại là Nhung? Tài nhớ đến Nhung, cô vợ quái đản của y. Đúng là quái đản, và còn hơn thế nữa, sự ma mãnh, quá quắt của Nhung, cô vợ hiền của y đã làm tan nát cuộc đời Tài, mà theo y, đáng lẽ đời y không đến nỗi tan nát như thế.
Tài bỗng thấy chập chờn, trong mắt y như có hàng trăm, hàng trăm con bướm đủ màu đang chấp chới. Những con bướm hăng hăng mùi nước đái ngựa cứ lởn vởn. Không cưỡng nổi, Tài nghiêng người nằm xuống, nhưng đôi mắt vẫn he hé nhìn qua khoảng trống dưới chân cánh cửa, tiếng loạt xoạt của lá cây chạy trên sàn xi măng, và thỉnh thoảng, tiếng gót giày nện khô khốc xuống đất, nghe đều đều, buồn chán. Y đang đợi, đợi nhiều thứ, đợi một người nào đó đến thăm, đợi một tiếng quát khô khan gọi lên thẩm vấn, và… y đợi chết. Dứt khoát y phải đợi chết!
Đột nhiên, y nhớ đến Nhung, nỗi nhớ cồn cào và cay đắng. Một ngày đẹp trời đầu thu, Tài gặp Nhung. Lần đó, theo chân Tụ đến thăm một cán bộ quân đội. Đó là một ông tướng. Ông bệ vệ, khề khà và khá chân thành tiếp Năm Tụ. Qua câu chuyện, Tài biết đó là một cán bộ cấp tiểu đoàn thời kháng chiến, bạn hữu và cũng là đàn em của Bộ trưởng Đức Hoàn. Vì thế, qua sự giới thiệu ưu ái của Bộ trưởng, Năm Tụ nghiễm nhiên trở thành đàn em của ông tướng. Bây giờ, Tài lại là đàn em của Năm Tụ, lúc đó, nghĩ đến điều đó, Tài lâng lâng hạnh phúc, thứ hạnh phúc như có người gãi vào đâu đó, chỗ nhạy cảm nhất của da thịt. Đó chính là cái tầm thực dụng của y…
Nhung là con gái của ông tướng, và ông tướng sau này là bố vợ của Tài. Định mệnh là thế, định mệnh hay là sự vun đắp khéo léo, đầy nghệ thuật thu phục đàn em của Năm Tụ đã thu phục được cả trái tim cô tiểu thư đài các, mà chỉ trong vòng không lâu sau đó, cuộc hôn nhân đã tàn phá cả hai cuộc đời.
-Thưa anh, anh Đức Hoàn có gọi cho em, nói sức khoẻ anh mấy hôm nay không được khá…
-À… thế hả? Anh Hoàn gọi cho cậu lúc nào?
-Mới lúc bốn rưỡi chiều nay. Em phục các anh thật đấy… Tụ buông một câu lửng lơ trước ông tướng giỏi trận mạc nhưng cũng khá khờ về nghề đãi bôi.
-Anh Hoàn anh ấy cứ làm cho quan trọng lên thôi, chứ cánh mình bây giờ, sức khoẻ lúc nào chả có vấn đề. Nhưng cậu bảo phục cái gì?
Năm Tụ nâng tách trà dâng cho ông tướng:
-Phục cái tình của các anh. Bao nhiêu năm gắn bó sống chết với nhau trên chiến trường, lúc có tuổi, về chiều mà còn lo toan đến từng cơn biến động trong đời sống của nhau. Phục! Em phục quá… Không biết đến khi như các anh, liệu chúng em có được như thế không?
Năm Tụ bỗng không nén nổi thở dài, đầu hơi cúi xuống, một cách rất tự nhiên. Thấy thế, Tài cũng cúi đầu nhìn xuống mặt bàn sa lông chặn kính, lòng y hình như đượm buồn, những tấm ảnh con nít bụ bẫm cười toe toét dưới lớp kính cùng với Tài, lây cái buồn tự vấn của Năm Tụ. Nhưng Tài hiểu thấu cái cụm từ của Năm Tụ nói ra: đến khi "như các anh", câu này không phải để nói đến khi tuổi tác và sức khoẻ "như các anh", mà ở đây là quyền lực và chức vụ "như các anh", là những ông tướng, những ngài bộ trưởng…
Yêu thương, hẹn hò và cả những hờn dỗi làm nên hạnh phúc đầy ắp tâm hồn vốn rất xôi thịt của Tài. Đã nông cạn lại bị che lấp bới hào quang bóng vía của Năm Tụ, nên Tài không nhận ra khoảng cách không cân xứng, không "môn đăng, hộ đối" của mình và Nhung. Tiểu thư Nhung đẹp lạnh lùng, kiêu hãnh lạnh lùng đã chiếm đoạt toàn bộ con người Tài. Rồi đám cưới và cuộc sống "chó chui gầm trạn" ngắn ngủi của Tài làm bật dậy một thứ tình cảm vốn lâu nay bị dằn xuống. Đó là lòng căm hận mù quáng và sự khao khát trả thù.
Đứa con được sinh ra không may lại bị một thứ bệnh quái ác: quái thai! Đứa con gái ngay từ lúc sinh ra nó đã có cái đầu quá to, dường như la di truyền của cha nó, là Tài. Nhưng cái đầu của Tài dù có quá to so với những cái đầu người thông thường, cũng chưa đến nỗi sần sùi, gồ ghề, và càng lớn nó càng lớn nhanh một cách kỳ lạ, khiến cái cổ của nó không đủ sức cất nổi. Bộ tóc đen, hai con mắt to và cũng đen nhánh luôn nhìn bất động làm thành khuôn mặt già nua, chứa đầy chất hận thù.
Ba tuổi, đứa con gái của Tài và Nhung vẫn co quắp như một con ấu trùng khổng lồ, nằm gọn lỏn trong chiếc giường trẻ sơ sinh, bởi hai chân và hai tay của nó như những cái chân của loài nhện, những mạch máu li ti, những đoạn xương bé tẹo hiện rõ dưới lần da thịt mỏng dính của con bé, như thể được rọi trước ánh đèn điện. Điều đặc biệt kỳ lạ và cũng rất hãi hùng là cái bướm của nó, của một đứa con gái mới ba tuổi mà đã mọc chằng chịt những sợi lông đen nhánh, và cứ đều đặn, mỗi tháng một vài giọt máu đỏ tươi lại xuất hiện. Nó ăn khoẻ, có lẽ cần tập trung dinh dưỡng và năng lượng của cái đầu, nhưng tiếng nói của nó chỉ toàn những đoạn be be đứt nối, mỗi khi nó có nhu cầu gì đó. Cái miệng móm mém và với cái lưỡi dài, luôn thè ra, màu hồng nhạt.
Ông tướng, ba của Nhung thật rầu rĩ mỗi lần nhìn thấy con gái xinh đẹp và thằng chồng khoẻ mạnh của nó ngồi ngây ra nhìn đứa con, sản phẩm tình yêu của chúng. Ông đau buồn vì không biết bất hạnh từ đâu lại rơi vào đúng gia đình ông. Suốt một thời chinh chiến liệt oanh, ông xông xáo và tận tuỵ để mong có hạnh phúc. Vợ ông đã khuất. Bà ra đi thanh thản nhưng lại rất phức tạp. Cả đời bà là một người, ăn ở, hoạt động, hưởng thụ những vinh quang… dưới tư tưởng vô thần. Chính bà đã tự tay truy quét đến tận gốc rễ sự mê tín dị đoan bám sâu vào trong đầu óc những người đàn bà thôn quê, khi bà làm chủ tịch Hội phụ nữ một tỉnh ngoài Bắc. Đầu tượng bụt, bát hương, độc bình bằng gỗ mít dưới tay bà lần lượt thành tro bụi. Thánh giá nhà thờ, cờ hiệu, hoa xoan và những nghi lễ Thiên chúa luôn làm bà tức tối, vì nó cản bước tiến bộ của bà. Thế rồi, khi chiến tranh kết thúc, ông bà ca khúc khải hoàn vào nhận được một căn biệt thự của một tay thiếu tá chế độ cũ. Tự nhiên mà có, như cuộc đời binh nghiệp của ông, không đánh trận nào mà nên công trạng, danh giá, bất chiến tự nhiên thành, ai ai trong số bạn bè, người quen, kể cả họ mạc của ông bà cũng đều nói như thế.
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #33 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 05:02:56 pm »

-Sao lại tự nhiên mà có? Đây là công lao, mồ hôi xương máu của chúng tôi! Kẻ địch thua trận phải tháo chạy, phải vào tù, thậm chí phải chết, thì tài sản của chúng, chính là của chúng tôi, của những người chiến thắng.
Sau hai sự kiện ghê gớm xảy ra trong gia đình ông bà: thằng con trai thứ hai chết tan xác trong một trận đua xe với bạn bè. Nó tự giết nó, hay ai đã giết nó? Mới mười sáu tuổi đã không hề biết thế nào là thiếu, là nghèo, là luật pháp, là sợ. Ông bà lần lượt đi xin cho nó thoát khỏi tội. Nó ham xe phân khối lớn, tốc đô cao, bà cho nó mua, để rồi nó phạm luật, ông đi xin cho nó ra khỏi chốn lao lý... Nhưng đến khi nó vỡ đôi đầu trên mặt đường, thì chính bà lại đến đem xác nó về. Đám ma thằng con đầy những nghi lễ tôn giáo, nhưng không có tiếng khóc. Đứa con gái lớn, là Nhung xinh đẹp như một bông hoa quý. Nhưng cũng giống như bông hoa quý, càng quý, càng phải bảo vệ, giữ gìn, chăm sóc… Bà và ông cùng nhau chăm sóc, trau chuốt, nhưng không thể giữ gìn. Nó là con gái, nó không thích tốc độ, nhưng nó lại thích những thứ khác mà hồi trẻ bà có nghĩ đến, nhưng không bao giờ được thưởng thức. Đó chính là thuốc ngừa thai.
-Đó chính là sự lạm dụng thuốc ngừa thai!
Bà lạnh lùng nhìn đứa cháu ngoại quái thai, nói với con gái.
-Không phải. Cô con gái xinh đẹp cãi lại. Đó là sự quả báo!
-Ai? Quả báo ai? Mày hay tao?
-Còn ai nữa mà mẹ phải hỏi? Mẹ thử nhớ lại xem đã bao nhiêu chùa chiền, tượng phật bị mẹ chẻ làm củi đun? Bao nhiêu ngai bệ bị mẹ đưa vào làm hố xí hai ngăn...
Hai tai họa giáng xuống ngôi biệt thự thâm nghiêm. Ngôi nhà càng ngày càng được giá, nhưng tinh thần và sức lực của bà tướng ngày càng suy sụp. Bà chết! Trước khi nhắm mắt, bà có nguyện vọng được làm ma tại nhà thờ!
-Cả đời tôi có làm một số việc thất đức, nhưng suy cho cùng, tôi không gặp được Đức Chúa. Bây giờ tôi biết có Nước Chúa. Ở đó có sự phục sinh, nghĩa là có thể sống lại… Sau khi tôi chết, các người hãy đưa phần xác tôi cùng vối linh hồn tôi vào nhà thờ để được ban phước… Để xin được Cha xứ làm phép giải tội cho tôi!
Điều đó không khó, cánh cửa nhà thờ dưới mặt đất, cũng như cánh cửa thiên đường của Thánh Pi-e trên Trời luôn rộng mở cho những ai thích thú và có tiền... Một kẻ vô thần, thậm chí chống đối quyết liệt, chợt một ngày muốn được vào nhà thờ, có lẽ không khó, thậm chí đến cả cửa Thiên đàng cũng co thể "lót tay" được, nhưng với một bàn tay chàm, chắc không bao giờ trắng trở lại.
Trong ánh sáng lung linh của hàng trăm ngọn nến rực chiếu, giọng của Chúa ngân nga:
..."Nhờ công ơn lân tuất của Chúa ta, Đấng đã từ cao cho ''Mặt trời mọc" đến thăm viếng. Và soi sáng cho những ai còn ngồi trong u tối và trong bóng chết, để dắt chúng ta trên con đường an lạc".
Không có tiếng khóc, không có tiếng nhạc "bát âm" với bản hoà tấu Lưu thuỷ, bản Hành vân… theo điệu ra bộ, bước nhịp Boléro, buồn nhưng không rã rời theo lễ nghi phong tục của những người ngoại đạo… Còn ở đây, những bản thánh ca trong sáng, như bay như lướt trên cỗ quan tài, đậu xuống vai các con trai, con gái, con dâu con rể người chết bằn những lời có cánh:
"Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin ta thì dù có chết sẽ được sống lại, và ai sống mà tin ta thì không phải chết đời đời".
Tài không thiết tha gì với đạo Chúa, cũng chẳng đau xót gì nhiều cho sự ra đi của bà nhạc. Thậm chí, trước khi ông tướng quyết định làm ma cho vợ theo nghi lễ Nhà thờ Thiên chúa giáo, đã đem chuyện này ra "bàn lại một lần nữa", Tài có được hỏi ý kiến, nhưng y chỉ ậm ừ:
-Tôi sao cũng được! Nhưng mà… làm đếch gì có chuyện phục sinh với chả sống lại. Thật vớ vẩn!
Câu trả lời vừa mất dạy, vừa bất hiếu đã gây ra không biết bao nhiêu sự bực tức ghét bỏ. Tất cả đều trút lên đầu Nhung mắt nai. Nhưng khi cần buồn, Tài buồn da diết, buồn nẫu ruột, thấu gan. Ăn không được, bưng lên lại đặt xuống. Nói không được, mở miệng là cà lăm! Y hùng hục, y quần quật làm những việc tạp vụ cho tang chế. Cái băng tang màu đen trên tay áo Tài, to nhất, nổi bật nhất. Tiếng Cha xứ, vẫn ngân nga:
"Lạy Chúa, xin thương người quá cố này là tôi tớ Chúa. Xin đừng theo việc làm mà phán xét họ, họ vốn một lòng một ý với Chúa. Lạy Chúa xin cho linh hồn được yên nghỉ muôn đời và được hưởng ánh sáng nghìn thu…".
Lập tức Tài hát theo:
-Nghìn thu…u… uuu! A-men!
Tài ngồi bó gối trong tư thế chờ được gọi. Ai gọi cũng được, đi đâu cũng được, càng nhanh càn tốt, càng nhiều càng hay, chứ cứ ngồi thế này... Có tiếng bước chân, tiếng các giày sắt nện trên sân xi măng. Tiếp theo là tiếng sợi xích sắt va vào cánh cửa. Khi cánh cửa mở, luồng ánh sang tràn vào, Tài thấy hai mắt như bị một nắm muối ném vào. Nước mắt xót, mặn tràn xuống, y lấy ống tay áo che. Khi mở ra, tạm nhìn thấy người công an, y nghe được.
-Đứng dậy!
Chiếc còng và sợi xích được tháo một đầu khỏi cây cột sắt, để còng vào chân thứ hai của Tài, có cảm giác nhói đau nơi cổ chân, nhưng lại làm cho y thấy thoải mái hơn, khi được tháo khỏi cái bàn kính sắt. Xong xuôi, Tài nghe được:
-Đi ra!
-Đi đâu?
-Tôi nhắc lại, không được hỏi trống không thế!
-Thưa cán bộ, tôi được đưa đi đâu ạ?
-Cứ đi sẽ biết!
Tiếng xích sắt khua dưới chân làm Tài hơi mỉm cười. Y đã học được rất nhanh cách trả lời, và cả cách đi đứng trong nhà tạm giam.
                                                          *
Viên đạn do Tài bắn ra từ khẩu súng các-bin, tuy rất gần, rất trúng, nhưng lại không giết chết ngay giám đốc Trịnh Quang Tụ. Một viên đạn quá gần đôi khi lại không nguy hiểm bằng khi nó được bắn ra ở đúng khoảng cách. Khi Tụ lầm bầm rồi bất thần quát vào mặt tài rằng y là một tên hèn, một thằng vô lại, ăn hại đái nát... Rượu nói, Tài nghĩ thế và ai cũng nghĩ thế, nhưng trong mối quan hệ đồng chí, thầy trò, anh em như thủ túc, còn có một mối quan hệ nữa mà Tài nghĩ rằng, chỉ mình y biết, nào ngờ, đến phút này, y mới biết là Tụ cũng đã biết. Đó là mối quan hệ chủ-tớ, mối quan hệ của người chủ và con chó trung thành. Bất chợt, một ý nghĩ nhục nhã tràn ngập trong tâm hồn vốn đã chật hẹp của Tài.
Lúc này đây, khi rượu đã nhạt trong máu, thì nỗi uất hận bùng lên. Nỗi hận, không là men, không có men nhưng nó đủ làm cho con người trở thành con vật. Tất cả mọi con người đều là con vật! Uất ức không đến nỗi khó khăn để biến con người trở thành, mà rất mau lẹ gúp con người trở lại làm con vật. Nhưng khi đó con-vật-người rất nguy hiểm, vì nó đã nhiều năm sống trong tập thể con người, nó am hiểu, tường tận và nhạy cảm với con người.
Đôt nhiên Tài nghĩ đến một chuyện, mà đáng lẽ suốt đời không bao giờ y được nghĩ đến, đúng hơn là nghĩ lại. Nghĩ lại, tưởng tượng lại không chỉ là mối nhục nhã của thằng đàn ông bị cắm sừng, mà còn là sự bất kính với người mình kính. Nhưng hôm nay đã khác…
Người ta đồn, người ta nói sau lưng vị lãnh đạo, người mang tiền lương và tiền thưởng, mang giấy giới thiệu và công lệnh đến cho họ, rằng: Năm Tụ là một tay cuồng dâm và thủ dâm.
Cuồng dâm và thủ dâm là một, là hệ quả và sản phẩm tất yếu của nhau. Mới đầu Tài hoàn toàn hiểu nó theo nghĩa bóng. Mà Tài hiểu đúng thôi. Cuồng dâm và khao khát chiến thắng, khao khát danh vọng là hai đứa trẻ sinh đôi. Nó bất trị một cách dễ thương, cũng như người lớn vẫn thường say sưa nhìn lén một đứa bé trai cũng đang say sưa mâm mê "con chim" của mình. Hình như, lần đầu tiên trong đời, nó đã thành công. Năm Tụ là người khao khát thành công, khao khát đến mức, bất chấp mọi trở ngại, bất chấp những lời hứa hẹn, cam kết, dù chỉ trong nháy mắt. Tài phục Anh Năm của mình và tình nguyện đi theo anh, vì anh Năm bao giờ cũng có rất nhiều chiến lợi phẩm.
Thủ dâm là "tự sướng", là tự thỏa mãn. Những kẻ cuồng dâm trong óc, trong não, trong dương vật, nhưng không được làm gì, hay không làm gì được thì quay sang thủ dâm. Hệ quả là như thế, tất nhiên. Xin lỗi bạn đọc, đừng nên tưởng tưởng quá mức đến những hành vi bỉ ổi đáng thương, dù đúng là có như thế thật. Vào một lúc nào đó, trong một hoàn cảnh nào đó, một người đàn ông nào đó "tự khai" rất thành thật và thỏa mãn, đầy tự hào về những "chiến tích" của mình đối với đàn bà, con gái, đó chính là kẻ đang "tự sướng"! Đối với những nhân vật này, trong mắt họ, tất cả các bà, các chị, các cô và các cháu gái trong cơ quan dưới quyền đều là của ông ta. Ông ta hầu như đã từng "làm" rồi. Hơn thế nữa, tất cả những đối tác, những đối thủ, những người có quan hệ làm ăn, hay đơn giản chỉ là quen biết, xã giao, một cô gái hầu bàn, một cô bán bánh canh lam lũ ngoài đường… cũng đã ở trong tầm tay(!). Thậm chí oanh liệt hơn, với những người đàn bà con gái ở tận đâu đâu, xa vời, dù đó là hoa hậu, ca sĩ, và đến cả… bà bộ trưởng, bà thủ tướng nước người, cũng là "đối tượng" của ông ta! Ai cấm ước mơ? Ai cấm tưởng tượng? Ao ước, mong mỏi không bao giờ là tội!
Thủ dâm, tự sướng và ảo tưởng chiến thắng cũng có quan hệ máu mủ. Nó cũng dễ thương, chân thành, vô hại nếu như nó thật sự vô hại. Người ta cần phải hàng buổi, hàng ngày thông tầm để ngồi nghe Năm Tụ giảng giải, đánh giá, tuyên dương những thành quả của "công ty chúng ta", do anh lãnh đạo.
-Tại sao chúng ta lại không tin vào thành quả của mình? Hãy nhìn xem, anh em ta đã vất vả, đã lao tâm khổ tứ để làm ra, thế mà có người lại không tin, lại có ý coi thường. Các anh chị không đi nhiều, không quan hệ nhiều nên không biết. Gặp tôi, ai cũng đánh giá công ty chúng ta rất cao, kể cả các đồng chí lãnh đạo các vụ đến đồng chí bộ trưởng. Các anh chị thử nghĩ xem, trong khi mọi người được nghỉ thì cả thứ bảy, chủ nhật, tôi, đồng chí Tài và mấy anh em nữa nằm bò ra phân tích, hệ thống, điều động… Phải biết quý trọng công sức của anh em chúng tôi chứ?
Ai cũng nín lặng, đăm chiêu nhìn về đâu đó. Hình như mọi người có tán thành, tâm phục những lời phát biểu hùng hồn của giám đốc. Tự nhiên Kha khều Hảo, đưa cho chị một mảnh giấy nhỏ, có ghi "Máy lạnh mát quá". Quả đúng! Có lẽ đây là điều đúng duy nhất trong cuộc tuyên dương công trạng của chính mình này. Hảo cười. Hảo không nghĩ gì cả, chị chỉ cười, và không nhìn vào ai cả. Nhưng chị thoáng nghĩ: những ngày nóng 37 - 38 độ, thứ bảy chủ nhật biết đi đâu? Mà đi đâu cũng tốn tiền. Giá mà được lên cơ quan, nằm khoèo trên ghế sa lon, phòng lạnh… Ước gì! Đột nhiên Hảo nghĩ tới câu nói của Tụ "thứ bảy chủ nhật, tôi và anh Tài phải nằm dài ra". Lúc này chị mới qua sang nhìn Ngô Kha, cười. Rồi Hảo cúi xuống viết tiếp vào mấy chữ của anh: "vừa thôi nhé".
Tài không nghĩ đến nghĩa đen của khái niệm cuồng dâm và thủ dâm mà thiên hạ dành cho anh Năm. Trước hết phải thật khách quan mà công nhận, Tài không đủ sức nghĩ. Nhưng điều hệ trọng hơn là Tài không dám nghĩ. Vì thế Tài đã lầm.
Khi Nhung sinh con, theo gợi ý của Năm Tụ "anh chị em nên đến thăm cho phải đạo". Tất nhiên, điều đó là phải đạo, nhưng lời khuyến cáo có tính chất "định hướng" của lãnh đạo làm nhạt đi cái đạo thăm nom. Rồi sau đầy tháng, chính Năm Tụ đến thăm hai mẹ con Nhung. Vẻ đẹp của gái một con lại được nghỉ dưỡng trong nhà dài ngày, khiến Nhung như bùng nở. Từng thớ thịt trên người nàng như giãn ra, cuồn cuộn đạp vào mắt Tụ. Từ lâu, Nhung vốn đã là đối tác, đã nằm trong vòng tay (cố nhiên là tưởng tượng thôi) của Tụ. Trong lúc Tài chạy đi kiếm đồ nhậu thì Nhung… cho con bú! Cặp vú trần vĩ đại căng sữa tràn trề chảy trên mép đứa nhỏ, khiến Tụ thèm thuồng. Tụ cúi xuống ghé sát và mặt đứa bé, mùi sữa hoi hoi xông vào mũi anh, khiến Tụ thấy máu trong người chảy xiết như thác. Tụ lập cập cúi xuống hôn lên má, lên cái đầu to bất thường của đứa bé, nhưng phần lớn áp vào vú mẹ.
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #34 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 05:03:51 pm »

-Cún con ơi! Bác này, Bác Năm này…
Nhung cũng cảm thấy gây gây nhồn nhột, da gà nổi lên và bầu vú đã cương càng thêm cương cứng. Nàng hùa theo bác Năm:
-Con ơi! bác Năm đến thăm mẹ con mình nè…
Năm Tụ đứng dậy, lấy tờ giấy bạc trị giá 100.000 đồng, vuốt thẳng, đặt vào giữa hai bầu vú Nhung:
-Con ơi! Bác cho con cái này nè…
Nhung ngước cặp mắt nai, nhìn Tụ. Tụ cũng nhìn lại bằng cặp mắt ấy, nhưng lại nói với đứa bé:
-Bác cho con cái này, con cho bác cái gì nào?
Đứa bé, tất nhiên chẳng nói được. Còn mẹ nó thì biết bác Năm nói gì. Tụ tiếp tục:
-Con cho bác cái này nhé!
Vừa nói, Năm Tụ quỳ gối xuống đất, đầu gối lên đùi Nhung, dùng mấy ngón tay vuốt nhẹ lên một bên vú người sản phụ. Nhung rùng mình, nàng khẽ nghiêng đùi, nhấc cao cái đầu to của con gái lên bởi miệng nó sắp tuột ra khỏi núm vú bên này. Gần như cố ý, bầu vú bên phải được dịp ghếch lên, ngang tầm với miệng Tụ. Anh không ngần ngại, vì máu trong người đang chảy ngược như thủy triều, Tụ ghé miệng vào ngậm đầu vú người mẹ trẻ, dùng hết sức lực để trở về tuổi nằm nôi. Mạnh quá, Nhung nấc lên, nhưng bầu vú dần dần xẹp xuống, nhẹ nhõm hẳn đi. Khoan khoái và dễ chịu, dù gai ốc nổi khắp sống lưng. Lúc sau, Nhung thì thào:
-Thôi anh…
Không rời khỏi núm vú, Tụ lục bục trong miệng:
-Cháu nó đồng ý rồi, thế mẹ nó không đồng ý à?…
Cùng với tiếng cười khùng khục, là những hơi mút mạnh, khiến Nhung cảm thấy tê dại ở đâu đó. Đúng rồi, cái chân nàng đã tê cứng vì máu bị nghẽn. Nàng khẽ rên lên một tiếng nhỏ và… hất mạnh Tụ ra. Tụ ngẩng lên nhìn Nhung, thấy đôi mắt trắng thất thần của nàng đang hướng ra cửa. Anh quay lại thì chỉ thấy một cái lưng to bè vừa bước nhanh như trốn chạy. Đấy là tấm lưng quen thuộc của Tài… Tụ vội vàng đứng dậy, xốc lại áo sơ mi…
Trong lúc nâng cốc chúc mừng công dân mới, vừa cạn ly, Tài đứng dậy lấy chiếc khăn ướt vốn để lau bát chén, đến bên anh Năm:
-Anh để em lau mấy vết ố trên áo cho anh. Khiếp, cái gì nó rây vào thế này. Áo trắng mà ố vàng thế này nhìn kỳ quá… Không lau ngay, để lâu giặt không ra đâu!
Tụ cúi xuống giật mình: những tia sữa từ bầu vú căng mọng và chắc nịch của Nhung, đã bắn vào lúc nàng hất anh ra. Còn Nhung, nàng cười một cách thích thú:
-Không sao đâu! Có OMO(1) lo gì anh Năm…!
Chú thích:
(1) Bột giặt (đang quảng cáo rầm rộ ở Việt Nam)
Chương 12
Cuối cùng thì người ta cũng bố trí để cho Tài được gặp Nhung, người vợ đã ly thân của y.
Công việc này có khó khăn, vì Tài đang trong giai đoạn điều tra. Ngay cả luật sư cũng chưa được phép gặp bị cáo. Nhưng nhờ một nhà khoa học tâm lý tội phạm, một tiến sĩ trong ngành công an đề xuất. Họ hy vọng qua cuộc gặp gỡ này, sẽ tìm ra căn nguyên của hành vi giết người.
Tài được dẫn ra bàn đợi, có người giám sát. Khi Nhung vào thì họ lẳng lặng, đứng dậy rất lịch sự, nhưng Nhung thừa biết, họ đã bố trí theo dõi rất kỹ càng. Ở đây không cần lịch sự. Một người công an nói với Nhung một câu gọn lỏn:
-Chị có được một giờ.
Sau đây là nội dung cuộn băng ghi âm.
TÀI: Cô vào đây làm gì?
NHUNG: Thật xấu hổ. Tôi thật xấu hổ khi phải vào chỗ này. Người ta đã cầm súng dẫn tôi như dẫn giải một tội phạm.
TÀI: Con bé thế nào?
NHUNG: Sao nó lại sống kia chứ. Tôi mong nó chết đi, mà nó không chết.
TÀI: Cô độc ác quá. Tôi mong họ cũng sẽ dẫn cô như dẫn tội phạm. Tôi biết thế nào cô cũng giết nó.
NHUNG: (lấy khăn mùi-soa thấm má) Sao ở đây nóng thế? Anh ngủ chỗ nào?
TÀI: Nhà giam làm sao mà mát được. Tôi nằm ở chỗ nằm của một tên tội phạm giết người. Cô muốn xem không?
NHUNG: (cười) Tôi cũng muốn xem thử xem nó thế nào. Từ nhỏ tôi hay tò mò lắm. Người ta có bắn anh không?
TÀI: Làm sao họ tha cho tôi được. Lúc đó cô có đi không? Đi xem họ bắn tôi ấy?
NHUNG: Không! Tôi sợ tiếng súng, sợ máu đổ.
TÀI: Thế mà hôm tôi bắn Tụ có cô ở đấy nhỉ? Hắn đổ gục xuống, ngay trước mắt tôi.
NHUNG: Tôi không muốn hỏi anh đâu, nhưng người ta gợi ý cho tôi hỏi anh. Vì sao anh bắn anh Tụ?
TÀI: (nghĩ ngợi một lát) … Hắn đáng bị bắn, tôi ghét hắn!
NHUNG: Đáng bắn thì nhiều lắm, không chỉ riêng Tụ. Nhưng sao người bắn anh Tụ lại là anh. Anh là cấp dưới, cấp phó, là người được ưu ái, được nuôi dưỡng trong ống tay áo của anh ta kia mà?
TÀI: Cô chưa nói hết, tôi còn là một con chó trung thành của hắn.
NHUNG: Thì đúng rồi. Một con chó cắn lại ông chủ. Đó là một con chó tồi.
TÀI: Khi con chó tồi, thì đấy chính là lúc nó sắp sửa được hóa kiếp.
NHUNG: Thành kiếp gì?
TÀI: (cười méo mó) Kiếp người thì hơi khó. Nhưng mà cũng có thể. Người độc ác, xấu xa, như cô ấy…
NHUNG: Không nói chuyện tôi. Anh bắn anh Tụ nhằm mục đích gì?
TÀI: Làm gì có mục đích. Đã gọi là tội ác thì không có mục đích. Các ông công an cũng hỏi tôi câu này, không phải một mà nhiều lần. Tôi đều trả lời như thế.
NHUNG: Trả thù chẳng hạn?
TÀI: Trả thù thì thiếu gì cách mà phải bắn. Để mang tội.
NHUNG: Tôi thật không hiểu được anh!
TÀI: Thế mà có lúc cô bảo chả khó khăn gì cô cũng hiểu được tôi. Rằng tôi nông cạn, dốt nát, rằng tôi tham ăn, tục uống, rồi lại hèn nhát…
NHUNG: Thì anh đúng là thế!
TÀI: (cười) Bây giờ thì tôi không thế nữa phải không? Tôi đã quay một-trăm-tám-mươi độ rồi! Tôi can đảm, không sợ chết, không tham ăn, không còn hèn nhát nữa. Cô đừng có bĩu môi như thế! Nếu tôi chưa chết, tôi được tự do ra ngoài, tôi sẽ thành người đàng hoàng. Sẽ không ai khinh tôi được, sẽ có nhiều người trọng vọng tôi…
NHUNG: Anh nghi ngờ tôi và anh Tụ à?
TÀI: "Sự nghi ngờ giết dần giết mòn người ta, nhưng sự thật thì giết chết ngay". Tôi không nghi ngờ.
NHUNG: Anh cũng đọc sách kia đấy?
TÀI: Tôi không đọc sách. Tôi nghe điều này được ở Tụ. Sách vở là thứ vớ vẩn mất thời gian. Tôi chỉ đọc báo, đọc những báo cơ quan mua cho tôi.
NHUNG: Tức là Tụ đã cho anh sự thật.
TÀI: Không bao giờ. Tụ không bao giờ có sự thật nào hết. Chính tôi đã điều tra ra sự thật.
NHUNG: Về tôi?
TÀI: Về cô? Đúng là có sự thật về cô. Về sự bội tín, phản trắc, lăng loàn. Nói chung đó là sự thật về một con điếm được che đạy bởi cái vỏ bọc tiểu thư.
NHUNG: (đâp bàn) Ở phòng ngủ, hay thậm chí trong phòng ăn trước mặt ba tôi, anh có thể nói như thế. Nhưng ở đây, anh không được phép.
TÀI: Tôi được phép và thậm chí bắt buộc phải nói hết. Cô không tin à? Có cái micro trước mặt kia kìa. Cô sợ bị vạch mặt à?
NHUNG: Anh là một thằng đàn ông tồi. Cho nên anh Tụ xếp anh ngang hàng với loài chó cũng không có gì lạ.
TÀI: (bình thản) Nhưng sự thật ấy vẫn chưa đủ. Cô chỉ là nạn nhân thôi.
NHUNG: Còn gì nữa?
TÀI: Cô vào thăm tôi kia mà. Người ta đã nói với tôi như thế. Không phải cô đến để thẩm vấn tôi đấy chứ.
NHUNG: Thăm! (lấy một bọc đồ ra đặt lên bàn rồi đẩy tới trước mặt Tài). Tôi là một người vợ thăm chồng đang bị bắt giam.
TÀI: Cám ơn vợ. Có những gì trong này? Có giũa hay cưa sắt gì không?
NHUNG: Anh tự khám phá lấy. À, anh có thư đây.
TÀI: (hồi hộp) Của ai thế?
NHUNG: Có lẽ của anh trai anh ở quê?
TÀI: Sao lại có lẽ? Thế ra cô chưa đọc?
NHUNG: Không! (lấy phong thư đưa cho Tài). Tôi được dạy dỗ từ bé, không đọc thư người khác.
TÀI: (xăm soi lá thư, rồi ngẩng lên). Tí nữa về buồng giam tôi sẽ đọc.
NHUNG: Sợ người ta không cho.
TÀI: Sao lại không? Có thể cô không đọc, nhưng công an người ta đọc rồi. Chắc lại toàn những điều ông anh quý báu chửi rủa tôi chứ gì?
NHUNG: Anh có được ăn no không?
TÀI: Quan trọng gì. Tôi đã ăn hiều ở ngoài đời rồi. Xuống địa ngục lại ăn tiếp. Tôi mong cho mau chết. Này, sau khi họ bắn tôi, cô sẽ nhận xác tôi chứ.
NHUNG: Tất nhiên. Tôi sẽ xây cho anh một ngôi mộ. Có gắn tên và…
TÀI: Cám ơn! Nhưng đừng ghi tội trạng của tôi lên đó.
NHUNG: (cười to) Anh cũng sợ à? Giết người không gớm tay mà cũng sợ à?
TÀI: Tôi không sợ cho tôi, mà cho những người khác bắt chước. Thế gian này lắm kẻ bắt chước lắm.
NHUNG: Anh tưởng ai cũng như anh sao?
TÀI: Không nói chuyện ấy nữa, buồn quá. Sức khỏe ba thế nào?
NHUNG: Bình thường. Ba tôi vẫn nhắc đến anh.
TÀI: (giọng ân hận) Tôi tiếc là không có cha như ba. Nếu tôi có được một người cha như ba, chắc tôi đã đi theo hướng khác.
NHUNG: Không! Ngu dốt, lưu manh là bản chất của anh rồi. Ba tôi đã chả coi anh như con ruột là gì?
TÀI: Tôi cũng cảm thấy thế. Nhưng giữa coi như và sự thật khác nhau xa. Tôi không thích ai thương hại tôi.
NHUNG: Thực dụng như anh mà cũng đòi lý sự. Bao nhiêu năm làm đầy tớ cúc cung, anh Tụ cũng dạy cho anh được nhiều thứ đấy nhỉ?
TÀI: Toàn là điều nhảm nhí. Duy chỉ có hai điều là tôi thật sự cám ơn Tụ.
NHUNG: Những gì thế?
TÀI: Thứ nhất, hắn dạy cho tôi biết bắn súng?
NHUNG: Huh
TÀI: Thật đấy. Tôi có đi lính nhưng chưa bắn vào ai. Lần đầu tiên tôi bóp có vào một người cụ thể.
NHUNG: Còn điều thứ hai?
TÀI: Là giặt đồ lót cho đàn bà?
NHUNG: Cái gì? Anh nói lại xem nào?
TÀI: (cúi xuống, chảy nước mắt) Nhung ơi, em tha lỗi cho anh. Những năm tháng chúng ta là vợ chồng, anh chưa giúp em giặt được một lần áo quần. Vậy mà anh lại đi giặt không chỉ quần áo mà cả đò lót cho người ta…
NHUNG: (giận dữ) Ai? Cho ai?
TÀI: Em đừng trách anh. Anh cũng không ngờ, anh hèn hạ ở đâu thì cũng có thể được. Anh giặt cả đồ lót cho vợ và con gái Tụ…
NHUNG: (nghiến răng) Trời ơi! Sao mà anh hèn thế? Tôi ghét anh, thù anh, coi thường anh, lừa dối nhưng tôi chưa đến nỗi chà đạp anh như thế? Anh chết đi! Chết ngay đi…
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #35 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 05:04:24 pm »

TÀI: (vẫn khóc) Anh sẽ chết, sẽ chết…
NHUNG: (ôm cả bọc đồ ném về phía Tài) Anh ở lại đây mà đợi chết. Khốn nạn thât…
TÀI: (nhoài qua nắm áo Nhung) Khoan đã, đừng bỏ anh lại đây…
NHUNG: Buông ra!
(Tài vẫn níu kéo. Nhung vung tay tát mạnh vào mặt Tài)
NHUNG: Khốn nạn!
Thế là có cuộc xô đẩy. Bàn ghế đổ rầm rầm. Hai người công an chạy ra. Họ tra còng vào tay Tài dẫn đi
Nhung ngồi gục xuống, nức nở. Một người công an lay vai cô:
-Hết giờ rồi, mời chị ra ngoài cho!
                                                         *
Phải khó khăn lắm, Kha mới đẩy được chiếc Honđa cà tàng của mình vào nhà xe, trước con mắt chằm chặp của bà chủ bãi. Cái nhìn của bà giữ xe có lẽ cũng bình thường như mọi ngày, đối với mọi người, nhưng đột nhiên hôm nay, Kha cảm thấy có gì lạ lắm, khiến anh phải lên tiếng:
-Có chuyện gì mà nhìn tôi dữ vậy, chị Tám?
Bà Tám là một phụ nữ tuồng năm mươi tuổi ngoài, thuộc típ người tinh mắt, thính tai và cũng mau miệng:
-Cậu đi đâu mà mấy ngày nay không thấy về nhà? Sắp có vợ mới rồi hả?
-Vợ con gì! Kha thở dài, dửng dưng.
Bà Tám đứng lên khỏi chiếc ghế của minh, đứng tựa vào cây cột căng sợi dây giũ tấm bạt che nắng, giọng giả lả:
-Lúc chiều nay có người tới kiếm cậu.
Thấy Kha im lặng, không có vẻ gì "ep-phê" trước thông tin của mình, bà Tám tiếp:
-Người đẹp lắm à nghen, ăn mặc rất mô-đen. Hỏi tên gì không nói, cứ nhất định ngồi chờ "anh Kha". Mãi tới tôi hù mới chịu đi…
-Vậy hả? Kha trả lời chiếu lệ trước một bà Tám có "thâm niên" về nghề "buôn dưa lê chuyên nghiệp", rồi khoác chiếc túi bạt gai của mình đi lên cầu thang. Tuy làm ra vẻ lạnh lùng nhưng Kha vẫn không thể không nghĩ: ai tìm mình nhỉ? Lại là đàn bà ăn mặc mô-đen? Đã từ lâu, từ khi từ bỏ cái gia đình ảm đạm của mình, Kha trở nên lãnh đạm với những mối quan hệ mà anh cho là lằng nhằng, rắc rối. Vậy thì ai?
Mải suy nghĩ lẩn thẩn, Kha đã đứng trước cánh cửa nhà mình, anh tra chìa khóa vào cái ổ khóa lỏng lẻo bước vào nhà. Một mùi ẩm mốc, cũ kỹ xông lên. Kha dừng lại trước tấm lịch và nhận ra: đúng, đã ba ngày rồi anh mới về nhà! Từ hôm ở xóm Mả Cùi của tiến sĩ Han, hôm sau công ty chẳng có việc gì, Kha đi Long Khánh với lời rủ rê của ông bạn huyện đội trưởng.
Tự dưng Kha cảm thấy mệt mỏi rã rời, anhvào phòng tắm, dội qua mấy gáo nước có lẫn cả loăng quăng trong cái thùng phuy trát nhựa đường, rồi quăng mình lên giường. Nhà mình đây rồi! Phải ngủ một giấc mới được, Kha tự nhủ.
Đầu óc trống rỗng nhưng giấc ngủ vẫn không chịu đến. Những mảnh vụn của bao biến cố trong mấy ngày hôm nay cứ trôi lơ lửng trong ý nghĩ Kha. Đôi khi chúng tụ lại thành những mảng mây màu chì xám nặng nề, rồi vụt cái chúng lại tản ra, loé sáng. Tuy nhiên, mọi hình ảnh vật vờ chỉ độc có một màu đen trắng và xám, không màu, tựa như những gì mắt của loài méo nhìn thấy. Mãi lâu sau, Kha mơ màng, như đang trôi vào một mảng sương mù chuyển sang màu sữa dày và đặc sệt nặng chĩu, thì có tiếng đập thình thình dội vào trong đầu anh, như chính những âm thanh dữ dội ấy phá phách đâu từ phía trong đầu óc bung ra chứ không phải từ bức tường của nhà bên cạnh. Kha biết đó là cái gì rồi. Anh cuộn tấm chăn kín xung quang đầu thật chặt, kín cả hai bên thái dương, nhưng tiếng đập rất đanh và khô vẫn không chịu nhỏ đi, mà càng như khiêu khích anh một cách tàn nhẫn. Kha cong người lại, hai chân co lên tận ngực, còn hai tay quắp lấy hai bên thái dương, trong tư thế của một kẻ đang bị tra khảo. Chát! Bịch! Cốc! Rắc! Rầm rầm…
-Trời ơi là trời! Kha bỗng gào lên. Không biết kiếp trước con ăn ở vô tình bất nghĩa thế nào mà kiếp này con khổ thế này, hả Trời? Tiếng gào không to, không đủ át đi những âm thanh vô đạo, vô đức, vô văn hóa kia, nhưng bỗng lôi anh ra với hiện thực. Kha vùng dậy, khoác tấm mền mỏng lên người rồi thò đầu qua cửa ngó sang nhà bên cạnh, nơi đang có cuộc hành hung tra tấn.
Đó là hàng xóm, láng giềng tắt lửa tối đèn của anh.
Đó là một gia đình có công với cách mạng. Đúng hơn, một con người có công với cách mạng. Cuộc kháng chiến của các anh và cuộc cách mạng của chị ta. Chị là một cô gái sinh ra và lớn lên trên vùng Củ Chi đất thép. Gia đình chị và cá nhân chị đã anh dũng hy sinh từng phần và toàn bộ sức lực và tính mệnh của mình cho cuộc chiến đấu chống Mỹ của dân tộc. Hơn một lần, và mãi mãi Kha cúi đầu kính phục công trạng và tấm lòng của chị.
Chị làm y tá của một bệnh viện trong thành phố và được cấp một căn phòng trong chung cư như Kha và như tất cả mọi người có công khác. Cuộc kháng chiến thắng lợi đã đem lại một khối lượng quả thực rất khiêm tốn cho toàn dân, nhưng lại chỉ vừa đủ cho một số cán bộ. Tướng giặc bỏ chạy, thì tướng chiến thắng vào nhà tướng bại. Tá cũng thế, tá thua di tản, thì tá thắng vô ở. Chứ không thế thì ai? Ai có quyền đó? Chỉ có binh sĩ là khó xử. Binh lính thua không bỏ chạy, mà binh lính thắng trận thì lại quá đông. Cuộc sắp xếp nhà cửa không tròn vẹn, nhưng rồi cũng cứ cho là ổn. Ổn định. Những người như Kha, như chị du kích Củ Chi đất thép cũng có phần, một gian nào nó của một chung cư (vốn là nhà xây hàng loạt để kinh doanh của một tư sản mại bản nào đó) để sống, để hưởng niềm hạnh phúc sau ngày toàn thắng.
Nhưng cuộc đời có những đoàn tầu trái chiều. Nếu gia đình của Kha ly tán, cô vợ bỏ về nhà mình, thì chị du kích Củ Chi cưới về một ông chồng Hóc Môn. Hóc Môn cũng là một vùng đất anh hùng hào kiệt. Nhưng cả Củ Chi lẫn Hóc Môn không phải là thành phố. Khi những con người này đổ vào nội thành, họ đã mang theo đầy đủ những phẩm chất của đất thép, của đất quê ta mênh mông vào đây. Chị du kích lấy chồng, chồng chị sửa xe ngoài đường và gần một tiểu đội anh em con cháu của anh ấy cũng theo về. Họ sẵn sàng coi cả cái thành phố này như một cái ấp nhỏ, và xung quanh nhà họ là một cái chuồng bò. Rác và nước thải, hò hát và chửi bới, đục đẽo và nhảy múa… Cứ rầm rập và ào ào.
Chung cư, cái kiểu xây nhà chung tường này vốn không yên ổn. Đêm vắng, chỉ cần trẻ nhỏ làm rớt một viên bi cũng đủ gây ra những tiếng động cục cằn khó chịu. Một cái kéo nhẹ chân bàn cũng đủ làm giật mình ba phía sát vách.
Hôm nay bên ấy có gì nhỉ? Một cuộc vui? Một sự giận dữ? Dù gì đi nữa, thì Kha biết, miễn góp ý, không thể xây dựng. Mà đã có lần Kha nhỏ nhẹ "Anh chị thông cảm, nhẹ tay một chút, tôi cần phải nghỉ để còn đi làm". Họ im lặng, không tỏ ra đã nghe rõ lời đề nghị của anh. Nhưng khi anh vừa quay vào phòng thì nghe được một câu văng tục: "ĐM, có một mình mà được nguyên căn, sướng thấy mẹ còn bày đặt!".
Kha biết mình phải ra đi. Không thể ra đi vĩnh viễn được, thì hãy "di tản chiến thuật" tạm thời. Bất giác Kha nhớ đến câu thơ của một người bạn trẻ, bạn nhậu: Nhà cửa ấm êm, láng giềng tử tế. Đó là hạnh phúc, đó là lý tưởng để tranh đấu. Nhưng Kha đã không có. Hay nói đúng ra, anh có vợ con, láng giềng, chỉ có điều không được ấm êm, cũng chẳng mấy lương thiện, tử tế. Kha xỏ vội quần áo, nhảy ba bước xuống cầu thang. Đến khi nhìn thấy bà Tám trông xe, anh mới chợt nghĩ ra: ai đã tìm mình hồi tối hôm qua?
Kha cho xe chạy lòng vòng một hồi mà vẫn không nghĩ ra ai là người đã đến tìm mình tối qua. Mỹ Liên? Rất có thể? Thôi đúng rồi! Chứ nếu không liệu còn ai đến tìm mình nữa đây. Chợt Ngô Kha chua chát nghĩ đến cái tuổi này, cái sự nghiệp này của anh, bạn cũ thì cứ rơi rụng dần trên chặng đường dài hun hút công danh cơm áo, còn bạn mới thì vô cùng khó. Đã có lúc Kha nghĩ, dù đến một ngày nào đó, anh không còn một người bạn nào, không ai đến với anh, không ai hỏi thăm, trò chuyện… Đến lúc đó vẫn phải sống, phải làm việc và làm việc đẹp hơn, sống đẹp hơn. Thế còn Mỹ Liên?
Mải nghĩ ngợi lung tung, Kha nhận ra mình đang đi về phía xóm Mả Cùi. Trời đã ngả chiều, mùi khoai lang nướng từ bên đường của một bà nhà quê nào đó đem cái mùi vị đồng quê về xâm lấn thành phố. Khi qua cầu, Kha nghĩ: trong xóm Mả Cùi này có đến ba địa chỉ mình có thể đến: Tiến sĩ Han, Năm Tụ và… quán "Hai chị em" Mỹ Liên và Mỹ Châu. Nhưng anh sẽ đến với ai vào cái giờ cuối ngày này? Cái giờ mà người ta cần yên tĩnh, đoàn viên. Hôm rời nhà Năm Tụ, anh nói với Bích:
- Cô cứ yên tâm! Sẽ chẳng có chuyện gì nguy hiểm đâu. Số Tụ cao lắm, bao nhiêu năm trong chiến trận, rồi lại đi đông về tây còn chẳng việc gì nữa là viên đạn của thằng Tài!
Nhưng Bích vẫn lặng lẽ như một cái bóng đen, vật vờ. Chị nói rất khó nhọc:
-Không! Em không tin là anh Tụ qua được. Người ta có thể thoát khỏi đường đạn của kẻ thù, nhưng làm sao tránh được họng súng của bè bạn, nhất là khi họ đã bội phản. Bội phản vì cái gì đi chăng nữa, vì trả thù hay chỉ vì miếng lợi của riêng mình. Em nghĩ đó là một thứ quả báo…
Quả báo thì không có, làm gì có! Nhưng hậu quả, không hệ quả thì có lẽ có thật. Hậu quả thì có thể né tránh được, còn hệ quả thì không, nó tất yếu mất rồi. Kha định nói với Bích những điều anh vẫn thấy và vẫn nghĩ về mối quan hệ của họ, tức của Tụ và Tài. Thật không gì đau lòng và thất vọng khi những con người đã từng là bạn bè, là chiến hữu, là đồng chí của nhau bỗng một ngày nào đó, không, chỉ một giây, một phút nào đó, họ quay lưng hoặc đối mặt lại nhau. Quay lưng đã là tồi tệ rồi, thì đối mặt còn tệ hại hơn. Nếu Tài là kẻ thâm hiểm và xấu xa hơn chắc y đã không bắn vào tim Tụ. Nếu Tài là kẻ độc ác và mưu mô hơn, y sẽ tiêu diệt "Anh Năm của mình" bằng cách khác. Không bắn Tụ, cũng không cần giết Tụ, nhưng y sẽ có cách để có thể làm cho Tụ trở thành thân bại, danh liệt, ê chề trước cuộc sống và cuộc đời. Kha muốn nói: "Dù sao Tài vẫn còn điểm "coi được", đó là y đã nhận tất cả cái xấu về mình, để trở thành tên "xấu nhất", bằng một viên đạn bắn gần sau bao nhiêu năm y khoác áo "chỉ được cái tốt".
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #36 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 05:04:53 pm »

Nhưng xét đến cùng tận của vấn đề, của mối quan hệ "thầy trò" giữa Tài và Năm Tụ, không một ai, kể cả những nhà tâm lý học có bằng cấp và chuyên môn cao, cũng không thể lường được cái hệ quả bất trắc đó.
Kha quyết định chọn quán thịt chó Nam Hà của Sản Huê làm điểm đến. Mới chập tối, quán còn thưa khách, hay còn một lý do gì đó khiến cái quán vốn xô bồ, bát nháo nhưng tin cậy này hôm nay vắng khách. Thấy Kha bước vào, thằng Bèo Chột nhìn anh lom lom rồi nó nhận ra người quen, nhoẻn cười, theo kiểu vẫy đuôi của một con chó:
-Ông thầy? Ông thầy mới tới?
Kha phì cười. "Ông thầy"? Hay nhỉ! Trong con mắt của Bèo Chột, một đứa trẻ du thủ du thực, lưu manh, ma cô… thì hễ ai có vẻ tỏ ra có chút học thức, đều được chúng trọng vọng, bằng những "học vị", "học hàm": tiến sĩ, giáo sư, ông thầy. Mà là trọng thật sự, không hề giả dối như những đồng nghiệp chúng ta! Sau này, đã có lần Kha nói với Hán những ý nghĩ ấy của mình. Kha kéo ghế ngồi, vẫy Bèo Chột lại gần:
-Lại đây chú hỏi chuyện.
Bèo không ngần ngại, nó kéo ghế và tựa lưng một cách tự tin và sành điệu:
-Ông thầy kiếm chú Tiến sĩ hả?
Kha mỉm cười nhìn đôi giày hiệu Adidas sờn chỉ nhưng còn khá chắc dưới đôi chân nhỏ lòi ra dưới ống quần jean gấp lên mấy gấp của Bèo đang đu đưa:
-Chú Tiến sĩ có nhà không?
-Ổng mới chạy qua đây. Chắc đến nhà trẻ… Ông thầy nhậu liền hay chờ ổng?
-Chú ngồi đây được không? Chú chờ ông Tiến sĩ. À, tiến sĩ Han đi đón con à?
-Ngày nào cũng vậy hà!
-Thế mẹ nó, vợ chú tiến sĩ ấy, bận gì mà không đi đón?
Bèo Chột nheo mắt ngắm nghía cái bật lửa Zippo trong tay nó, thỉnh thoảng lại mở ra đóng vào, choanh choách:
-Đời nào! Nó kéo dài giọng. Sức mấy ổng để cho bả đi đón. Phải tự tay ổng đón con gái kia, còn hun nó nữa chớ…
Thằng Bèo đáp như một ông già, trong giọng nói của nó, Kha nhận thấy một vẻ diễu cợt về những chuyện yếu đuối của ông thầy nó, Tiến sĩ Han. Kha xoay sang chuyện khác:
-Cháu có hay đến quán cà phê Hai Chị Em không?
-Ít lắm. Thằng Bèo bỗng trở nên buồn buồn. Nhưng chú Tiến sĩ thì đến đó thường lắm. À, ông thầy thấy hai chị em Mỹ Châu có đẹp không?
Kha không trả lời, mà hỏi lại:
-Bèo? Năm nay cháu mười mấy rồi?
-Mười bảy. Thua Mỹ Châu hai tuổi.
-Cháu thấy Mỹ Châu có đẹp không?
Thằng Bèo giương con mắt còn lại của nó chiếu thẳng vào Kha:
-Đẹp lắm chớ! Ông thầy thấy sao?
Kha cười nhẹ:
-Chú cũng thấy đẹp, cả hai chị em…
-Nhưng con thấy Mỹ Châu đẹp hơn. Nhưng mà…
Kha không muốn hỏi nữa, anh đã hiểu. Ngoài con mắt bị hư, thằng Bèo là một thanh niên tuấn tú, và khá lễ phép, mặc dù nó là một thằng ma-cô. Thằng ma cô đang xúc động. Nhắc đến Mỹ Châu, nó đang xúc động thật sự. Thấy Kha im lặng, thằng Bèo nói tiếp:
-Con có nhiều tiền, con sẽ đưa cho Mỹ Châu, bảo đừng đi nữa.
Bỗng dưng lòng dạ Kha se sắt. Anh không muốn ngồi đây nữa, anh không muốn nghe gì nữa, anh muốn rời khỏi cái xóm Mả Cùi, nửa hồng hồng, nửa xám xám này ngay bây giờ. Bỗng thằng Bèo reo lên, hồ hởi như nó chưa hề buồn:
-Chú - tiến - sĩ - tới!
Chương 13
Lê Quốc Hán chống xe rồi kéo ghế ngồi trước mặt Kha:
-Hôm qua Mỹ Liên đến tìm cậu, mà cậu không có nhà?
À, ra thế. Kha chợt thấy vui vui khi thấy mình đã đoán đúng ra người đến tìm anh là Mỹ Liên.
-Làm sao cô ấy biết chỗ mình ở?
-Tớ. Tớ cho cô ấy địa chỉ mà cậu đưa. Cô ấy tìm cậu có việc đấy…
-Việc gì? Kha ngạc nhiên hỏi ngay. Tớ thì làm được cái gì cho cô ấy?
Tiến sĩ Han phất tay:
-Tớ không biết. Cậu gặp cô ấy mà hỏi. Bây giờ… nhậu chứ?
Không đợi Kha trả lời, Han vẫy tay vào trong nhà Sản Huê:
-Sản ơi! Có cái gì mơi mới đem ra đây. Nhanh lên không ông về bây giờ đấy!
Sản Huê lạch bạch đi ra:
-Hấp, nướng, nhựa mận, lòng dồi… Tất cả đều mới.
-Hấp trước. Rượu Ngang.
Kha cười nhìn tiến sĩ Han:
-Cậu thành thục nhỉ? Hôm trước rượu Vân, hôm nay rượu Ngang. Rượu Vân thì mình biết, rượu làng Vân, chứ còn rượu Ngang thì mình có nghe nhưng không biết xuất xứ…
Han móc bao thuốc lá Bastos-lux ra đặt xuống mặt bàn nhờn mỡ chó, đủng đỉnh:
-Rượu Ngang cũng là rượu làng Ngang.
-Thật không đấy?
Han châm thuốc, phả khói. Mùi khói khét lẹt của thứ thuốc rẻ tiền bay tạt qua mặ Kha.
-Sao lại không thật! Làng Ngang ở Hà Đông, Cậu có nghe chuyện này không? Giai thoại thôi.
Kha nheo mắt:
-Kể đi.
-Ở Hà Đông có một làng nấu rượu ngon nổi tiếng. Làng ấy có tên chữ là Nga My, nghĩa là lông mày con ngài. Nhưng dân làng thì cứ gọi nôm là làng Ngang. Khi ông Hoàng Cao Khải về hưu mua đất ở cạnh đấy lập ấp đặt tên là Thái Hà, cái tên ghép giữa Đông Thái, quê của ông ta ở Hà Tĩnh, với Hà Đông, như bây giờ người ta vẫn nói là quê hương thứ hai của cụ. Làng Ngang vốn nấu rượu lậu, nên đẻ ra một bọn người vốn cũng gian thương, lậu tế.
Lúc bấy giờ có cụ Nguyến Khuyến ở Hà Nam, đỗ đầu trong ba kỳ thi, nên gọi là Tam nguyên. Tam nguyên làng An Đổ, tuy đỗ đạt hàng đại khoa nhưng ghét chốn quan trường, về quê ở ẩn. Nghe danh Nguyến Khuyến, Hoàng Cao Khải bèn cho người xuống vời cụ Tam nguyên về làm gia sư. Khốn khổ, cụ Tam nguyên cương cường, nhưng vì miếng cơm manh áo, không nhẽ cứ ngồi nhà ăn bám, nên cũng đành nhận lời, dù biết Hoàng Cao Khải là kẻ hôn quan, tàn ác. Cụ Nguyễn Khuyến tuy điếc mũi nhưng hay rượu. Biết thế bọn buôn rượu làng Ngang nhân dịp sắp Tết, mới vào nói với cụ đồ rằng: "Làng Ngang có rượu ngon nổi tiếng, cụ đồ có thích thì chúng con để cho. Không dặn trước, sợ đến Tết không còn". Cụ Tam nguyên nghe thế thì vét tiền đưa cho chúng, và phấn khởi chờ đợi. Thế nhưng, ba mươi, rồi mùng một, bọn bán rượu làng Ngang vẫn mất tăm. Biết là bị lừa, ức lắm, nhưng làm gì được…
Han ngưng kể, ngước lên nhìn cô Hai Hành, con ông Tám Kiệu, vợ Sản Huê bưng một đĩa thịt chó hấp ra.
-Em mới anh Tiến sĩ với anh dùng. Con này nhà em mới dặn đem từ Bình Dương về. Bên VIP cũng có mấy ông đặt…
-Rượu đâu?
-Dạ, nhà em đang chiết. Rượu cũng mới chuyển vào.
Han khịt khịt mũi:
-Cái công ty chó của nhà thằng Sản nhộn nhịp thật đấy. Vào lấy rược đi. Uống hay kể tiếp? Han hỏi Kha.
-Cứ kể đi, chừng nào rượu ra thì uống.
-Ừ, thế là cụ Tam nguyên ức lắm. Nhưng nhà nho, trí thức, lại gia sư thì làm gì được. Tớ đố cậu Nguyễn Khuyến sẽ làm gì?
Kha mủm mỉm cười:
-Có thể mách với Hoàng Cao Khải, ông ta có thế của Cụ Lớn!
Han cười to, như tuồng đồ:
-Sai bét! Cậu nghĩ Nguyễn Khuyến hèn thế à? Không, trí thức tuy có hèn, nhưng không cầu cạnh, nhất là giữa Nguyễn Khuyến với Hoàng Cao Khải. Hèn của trí thức là hèn nhược, chứ không hèn cầu. Tri túc tâm thường lạc, Vô cầu phẩm tự cao. Hãy nghe sự trả thù vặt của trí thức Việt Nam đây. Cụ Tam nguyuên mới dò hỏi về ông Thành Hoàng làng Nga My. Tao sẽ trị đến tận ông Thành Hoành nhà chúng mày. À mà này, Kha, có điều tao không hiểu nổi, hoặc hiểu rất lơ mơ…
-Cái gì?
-Ở làng xã Việt Nam mình từ xưa, hễ làng có động, người ta thường cậy đến các cụ nhà Nho, có học và đỗ đạt, tức là các bậc tri trí, chứ không hỏi đến các quan, thuộc hàng "dân chi phụ mẫu"?
Kha hơi bực mình, câu chuyện đang vui, đang có vẻ gay cấn, thì thằng cha tiến sĩ lại quay sang hướng khác.
-Có thể… Kha lưỡng lự. Có thể dân làng tin vào các bậc học giả có mối liên hệ với thánh thần, ma quỷ?
Không ngờ Han tán đồng:
-Rất có thể là như thế. Cái ông Thành Hoàng làng Ngang vốn là một tay… thủ dâm! Hắn nghèo, lại xấu trai, xấu tính không lấy được vợ nhưng lại có tính dâm dật. Thế là hắn thường trèo lên ngọn cây si ở bờ ao, nhìn trộm bọn đàn bà, con gái trong làng tắm truồng dưới ao. Mãi rồi thành quen. Lần ấy hắn sướng quá, đê mê thần thái, run rẩy thế nào, lôn cổ xuống ao, chết tươi. Thật đáng đời, kẻ thủ dâm, tự sướng…
Rượu Ngang đã đem ra, đựng trong một cái nậm Bát Tràng hình quả bầu khô. Han rót ra hai cái ly nhỏ, lẩm bẩm:
-Uống rượu Ngang, nói chuyện Làng Ngang. Hay nhỉ!
Kha uống trọn ly, thoạt đầu là cái cảm giác xót ở môi, ở vòm miệng rồi xuống cổ. Xót như cồn sát trùng. Nhưng chỉ thoáng qua, nó êm trở lại, để dư vị chạy âm âm trong lồng ngực. Nếu chỉ uống một ly này thì thích, nhưng khi đã uống đến ba, bốn ly, cho đến ngất ngư, mọi loại rượu rồi cũng như nhau, Kha thầm nghĩ.
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #37 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 05:05:20 pm »

-Ngày xưa cũng có kẻ tự sướng à?
-Thời nào chả có. Cái bọn đàn ông bất trị và bất lực thì thời nào chả có. Nhưng cậu biết không Kha?
-Biết cái gì?
-Cái tay thủ đâm làng Ngang ấy! Hắn chết phải giờ thiêng, đúng hơn là "được" giờ chết. Thế mới quái chiêu chứ! Ở đời, khối kẻ sống chả ra chó gì, ấy thế mà lúc chết lại hoá ra anh hùng! Thành hoàng làng Ngang, dù là được phong làm Thành hoàng rồi, nhưng vẫn chứng nào tật nấy. Nghĩa là vẫn thích… dòm cái số ta của chị em. Bởi thế cho nên mới có tên là miếu ông Thần Dòm! Miếu ông Thần Dòm cạnh đường chính vào làng, có một vũng lội. Hễ san bằng cái vũng đó thì con trẻ trong làng lăn ra ốm. Hoá ra, vũng lội ấy có "tác dụng" là để chị em đi qua phải… vén váy lên. Thế là ông Thành Hoàng được đã mắt…
Han cười khơ khớ, Kha cũng cười theo, nhưng sao anh có cảm giác phạm thượng. Ừ thì dù xấu, dù tốt, đã là bực thần thánh như ông Thành Hoàng rồi mà vẫn báng bổ, nghe ra không thuận lý. Nhưng Han thì không, vẫn cái giọng khùng khục:
-Khi phát hiện ra Thành Hoàng làng Ngang có một cái lý lịch đen xì và sở thích quái gở đó, cụ Nguyễn Khuyến mới "khai bút" vào sáng mùng Ba tết. Bài khai bút như sau:
Đầu làng Ngang có một vũng lội
Cạnh miếu Thành hoàng thờ ông Cuội
Đàn bà đi qua vén váy lên
Có chỗ tới háng, chỗ đến gối
****
Ông Cuội ngồi trên tủm tỉm cười
-Cái gì trăng trắng như con cúi?
Đàn bà khép nép đứng liền thưa:
-Con trót hớ hênh, ông xá tội!
****
-Không! Không! Con có tội chi đâu
Lại đây ông cho giống thằng Cuội.
Từ đó làng Ngang đẻ thằng nào
Toàn là con cháu của nhà Cuội!
Han tợp một hớp rượu, khà một miếng thịt chó, nháy mắt cho Kha:
-Đấy! Rượu Ngang là như thế đấy. Nhưng mà rượu Ngang ngon thật. Cái thằng Sản mặt rỗ này thế mà biết kinh doanh. Nếu được bỏ phiếu để chọn ra "nhà kinh doanh trẻ năng động", tớ sẽ bỏ cho nó. Nghe chuyện tớ kể, thế mà nó bằng mọi cách, liên hệ móc nối thế nào đó, lùng bằng được nguồn cung cấp rượu Ngang chính cống. Có người bảo rượu Ngang bây giờ pha tạp rồi. Cũng phải thôi, cái gì mà chả bị pha trộn, đảo lộn huống chi là rượu. Rượu Ngang có thể không còn ngon vì chẳng còn ai biết uống, thế thôi. Nhưng cậu có biết sau cái bài ấy, tình hình làng Ngang thế nào không?
Kha lắc đầu, vẻ như không muốn nghe nữa, nhưng Han vẫn đang hăng:
-Bài thơ của cụ Tam Nguyên làng An Đổ ấy được dán trước cửa miếu Thần Dòm, làm rung động cả làng Nga My. Quan chức chính quyền cho truy lùng tác giả, bắt cho được đem về hặc tội. Biết là của Nguyến Khuyến, họ định bắt, nhưng sợ động đến Cụ Lớn Hoàng Cao Khải, nên họ chỉ điều tra, hỏi dò, tìm ra bọn gian thương đã lừa rượu cụ gia sư, nên họ bắt bọn chúng phải xin lỗi và trả rượu cho Nguyến Khuyến. Một điều quan trọng nữa là Thần Dòm sau khi đọc bài thơ ấy cũng biết xấu hổ, không dám hạch sách đám đàn bà, con gái trong làng như trước. Cái vũng lầy được san phẳng, chị em đàng hoàng đi qua mà không phải "đóng thuế háng" nữa.
-Bịa! Kha phản đối.
-Tất nhiên là không chắc chắn, giai thoại mà! Tiến sĩ Han chân thành. Nhưng dù sao cũng mua vui cho người đời, nhất là cánh uống rượu…
Hai người uống đến "xị" thứ hai thì từ ngoài đầu ngõ có tiếng xôn xao. Sự xôn xao to dần, Kha hỏi Han:
-Có chuyện gì thế?
Han không nhìn lên:
-Ở cái xóm Mả Cùi này thì chuyện gì chả có. Như cơm bữa ấy mà…
Nhưng sự việc không như Han nghĩ. Thằng Bèo Chột từ đâu hớt hải chạy về, trông thấy Han và Kha đang ngồi, nó nói một câu gì đó, giống như chào, rồi chạy vào trong, hét to:
-Anh Hai! Anh Sản ơi!…
Sản Huê đi ra, trên tay vẫn cầm con dao bầu, chắc hắn đang dở thái thịt;
-Cái gì mà mày làm như cháy chợ vậy Bèo?
-Thằng Tư Khỉ…
-Nó làm sao?
Bèo Chột hướng con mắt sáng rực của nó ra phía sân. Sản Huê chạy ra, thấy một chiếc xích lô đang đẩy vào, trên đó là xác thằng Tư Khỉ. Một nửa khuôn mặt khỉ của nó nhuốm máu tươi, chảy tràn xuống cổ áo. Han đứng dạy, bước tới gạt Sản Huê ra, hỏi to:
-Làm sao?
Thằng Bèo lí nhí:
-Nó đánh nhau với tụi Hầm cá dồ! Lúc con tới thì thằng Tư đã lụi một nhát vào bụng thằng Bé Lãi. Nhưng thằng Tư cũng bị một nhát mã tấu…
Han bế thằng Tư vào cái ghế cạnh đó, nhìn Sản Huê hét to:
-Lấy cho tao cái khăn sạch dấp nước nóng ra đây!
Vết chém bằng mã tấu xẻ nửa khuôn mặt của thằng Tư Khỉ, lật hẳn một mảng thịt để lộ một phần cánh mũi toàn sụn đang sủi bong bóng sau mỗi nhịp thở của nó. Thằng bé chưa chết, Kha nghĩ. Hai Hành vợ Sản Huê bưng thau nước nóng ra vắt khăn đưa cho Han:
-Anh Tiến sĩ ơi, cứu nó với. Giọng chị run rẩy. Tội nghiệp thằng nhỏ. Ai kêu đi gây sự với tụi Hầm Cá dồ làm chi không biết…
Han nhúng lại chiếc khăn vào thau nước rồi vắt, nước chảy ra dưới tay Han đỏ ngầu máu thằng Tư Khỉ. Tiến sĩ làm một cách thành thục, nhẹ nhàng. Kha kinh ngạc khi thấy thằng Tư tuy bị thương nặng như thế nhưng nó không hề kêu rên.
Lại một lần nữa, Kha tin rằng những đứa trẻ côi cút, sống không có cha mẹ bên cạnh có một bản lĩnh ghê gớm. Bản lĩnh đó thể hiện ra ở sự phải tìm cách để tự bảo vệ lấy mình. Những đứa trẻ bình thường, sống bên cha mẹ luôn nhận được sự dạy bảo, truyền dạy kinh nghiệm tồn tại, và nhận được sự che chở. Như những con gà con, hễ có dấu hiệu hiểm nguy, nó liền rúc vào đôi cánh của gà mẹ. Nhưng những đứa trẻ côi cút, hoặc vì một lý do gì đó bị tách khỏi mẹ, thì khác. Nó sớm biết phải tự vệ. Mà bằng cách nào? Trước hết nó co lại, cố giấu mình, nguỵ trang để không bị tấn công, làm hại. Sau nữa, chúng luôn có cách tấn công kẻ khác để "tự vệ từ xa", nếu cảm thấy có mối nguy hiểm.
Đột nhiên Kha nghĩ đến Tài. Một đứa trẻ bị vất ra lề đường, rìa chợ từ bé như Tài, làm cho y học được những bài học tồn tại đầy tính bản năng. Nhưng rồi y cũng biết cách thu mình lại, giấu kín hoặc nguỵ trang bằng những hành vi tốt đẹp nhất. Nhưng không như những người bình thường, khi nào y cũng thấy một mối hiểm nguy đang rình rập tấn công. Những Huân chương, Bằng khen, và những lời khen tặng không làm cho y yên tâm… Buồn thế đấy!
Ngô Kha quay lại chỗ của mình, nhưng không cảm thấy say, tuy anh và Lê Quốc Hán đã uống khá nhiều. Kha rót một ly đầy, uống cạn, lại một ly nữa. Rượu làng Ngang bây giờ không còn xót như cồn sát trùng nữa, mà cũng chẳng êm ái gì, nó chạy tuột vào sâu trong lục phủ ngũ tạng, trơn tuột như một thứ nước vô vị. Thế rồi ý nghĩ cứ kéo đẩy Kha đến những vùng cảm xúc khác, không kìm lại được. Chiến tranh không chỉ giết người cầm súng, mà nó còn giằng ra khỏi tay những bà mẹ đứa con của họ. Trường học sơ tán, cha mẹ một nơi, con cái một nẻo. Ở đấy chúng đánh nhau bằng gậy tre và xích xe đạp. Lớn hơn tí nữa, trường thiếu sinh quân chẳng hạn, tuy có kỷ luật thép, nhưng chúng vẫn kéo nhau đi đánh lộn bằng dao găm, xanh-tuya-rông! Trường học sinh miền Nam, những đứa trẻ xa quê hương ngàn dặm đường trường, cha mẹ chúng là những liệt sĩ, là những dũng sĩ, những anh hùng, hay những cán bộ cao cấp đang ở chiến trường. Chúng được ưu tiên, chúng được dạy bảo ân cần, nhưng chúng vẫn xông vào nhau mà cấu xé. Chán chê, chúng tìm kẻ khác, bất kỳ kẻ khác là ai, hễ chúng thấy không vừa mắt, hoặc chúng nghi có dấu hiệu tấn công chúng, là chúng đánh ngay. Đánh nhau để thử thách, để thể hiện bản lĩnh, để an toàn.
Rồi đây, những đứa trẻ như thằng Tư Khỉ, thằng Bèo Chột, những thằng bé như Bé Lãi ở Hầm Cá dồ chúng là gì, thành cái gì thì chả cần tinh ý lắm cũng thấy rõ. Ma cô, đâm thuê chém mướn, tù tội… đó là con đường khó tránh khỏi. Thế nhưng giả dụ, có một phép màu nào đó, chúng lại trở thành những ông quan, những nhà lãnh đạo? Lúc đó thì cái gì sẽ xảy ra? Chịu!
Con người hơn con thú ở ngôn ngữ. Nhờ cái sản phẩm, cái công cụ quý báu đó để con người thành con người. Khi có ngôn ngữ, con người ta có thể nghe được những lời sâu thẳm của lương tri. Nhưng biết đâu lương tri cũng có hai mặt của nó. Với một kẻ trong tay có khẩu sung như Tài chẳng hạn, lúc đó tiếng nói lương tri sẽ thì thầm:
-Không được bắn! Năm Tụ là anh của mày, là thầy của mày, là sếp của mày!
-Bắn đi! Bắn đi! Năm Tụ là tên độc ác, nó sử dụng mày như một con chó săn, một thằng hầu của nó. Nó đang cướp tương lai của mày đấy!
"Đoàng!" Một phát súng. Phát nữa, và phát nữa…
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #38 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 05:06:10 pm »

Hoá ra Kha đã gục xuống mà ngủ trên cái mặt bàn nhờn mỡ chó, mặc cho xung quanh ồn ào đầy tiếng la gọi, giục hối. Khi Tiến sĩ Han lay vai, Kha ngước lên nhận ra nụ cười còm cõi của ông bạn thời chiến tranh. Anh sực nhớ ra:
-Thằng Tư Khỉ thế nào rồi?
-Xong! Xong rồi! Han uể oải thả mình xuống cái ghế nhựa.
-Hả? Kha trợn mắt. Xong là thế nào? Nó chết rồi à?
-Nó đã chui vào đống rơm thui chó ngủ rồi. Ngữ như những thằng ấy chết thế nào được. Vết thương cũng xoàng thôi.
Kha rùng mình. Vết thương như thế mà gọi là xoàng được à? Thế thì như thế nào mới là nghiêm trọng? Kha nghĩ thế nhưng lại hỏi khác:
-Tại sao chúng nó đâm chém nhau ghê thế?
-Tranh giành quyền lực! Han trả lời thản nhiên, không bình luận. Nhưng Kha thì không yên tâm:
-Quyền lực đếch gì ở cái xóm bần cùng này?
Tiến sĩ Han cầm cái quả bầu bằng sành đựng rượu lên lắc lắc, tiếng chất lỏng bên trong vẫn còn ong óc. Anh hất chỗ rượu cũ trong ly vào góc cột rồi thong thả rót ra hai ly. Vừa cầm cái ly đầy rượu trên tay, Han vừa cười cười nhìn Kha:
-Quyền lực thì ở đâu mà chả có! Một bầy thú trong rừng sâu cũng vẫn có sự phân chia, tranh giành quyền lực nữa là con người. Ở đây là quyền được chỉ huy cái đám ma cô. Mà Kha này, quyền lực là một thứ ma tuý của loài động vật. Con người đã nghiện từ trong bào thai rồi. Tớ đi đón con ở nhà trẻ mà cũng thấy có sự phân chia đẳng cấp. Nhìn những đứa trẻ túm tóc, nắm áo nhau để giành giật những khoảng trống trong sân, những con giống đồ chơi. Để làm gì? Chẳng để làm gì cả. Một khoảng trống xung quanh đứa bé chiến thắng và những thứ đồ chơi bằng nhựa nằm bất động trước sự mãn nguyện của nó, thật buồn cười.
-Tại sao các cậu không báo cho công an can thiệp?
Han lắc đầu:
-Cậu không sinh sống ở cái môi trường thổ tả này, nên cậu rất ngây thơ, hay vặn vẹo. Báo công an cũng thế thôi, họ sẽ đến xem qua rồi nhắc nhở, hay cao hơn là sự đe doạ trừng phạt, kiểu gia đình. Ngay cả nếu có án mạng thì cũng chẳng có phiên toà nào. Bị can lủi mất, bị hại đem chôn, thế rồi cũng cho qua. Với lại mọi sự tranh giành quyền lực giữa những thành viên trong tập đoàn với nhau, người ngoài thường không mấy quan tâm.
-Ai bảo cậu là người ta không quan tâm? Kha nhấp một hớp nhỏ, vặn lại.
-Thì cậu vẫn thấy đấy. Đối với những người lương thiện thì những tên du thủ du thực như thằng Tư Khỉ, Bèo Chột… là thiểu số, chúng chỉ là một nhúm người. Số còn lại là hàng ngàn, hàng vạn người sống yên lặng và có hàng trăm mối quan tâm khác, thiết thực và quan trọng hơn. Bọn thiểu số có tranh giành quyền lực đến mức đâm chém nhau, thậm chí bắn giết nhau, cũng là chuyện vặt. Ngay ở trong cơ quan, công ty, hay cấp chính quyền, nếu chẳng may có một sự đấu đá, tranh quyền, chiếm ngôi, thì quần chúng, những người nhẹ dạ và an phận cũng có quan tâm đâu…
Kha không nói gì, mà cũng chẳng nghĩ gì đến cái mớ lý sự nửa đùa, nửa thật của Han. Anh nghĩ đến số phận thằng Tư Khỉ. Rồi nó sẽ ra sao khi trước mặt nó còn cả một quãng đời dài vài chục năm. Rồi sẽ phải đổi thay, cũng như cái xóm Mả Cùi, nửa hồng hồng, nửa xám xám này cũng phải thay đổi.
Câu chuyện của Han và Ngô Kha không biết sẽ còn kéo dài đến đâu, mà chủ yếu người nói là tiến sĩ Han, thì bỗng có một người đàn ông lặng lẽ đi đến bàn họ, nở nụ cười cầu tài. Thật không khó khăn lắm, Kha nhận ra đó chính là người bán vé số. Anh hơi ái ngại, khi nhìn đồng hồ đã quá chín giờ đêm. Vào giờ này, mà ông ta vẫn lụi cụi, lần mò đi kiếm sống, khiến Kha cảm thấy có một cái gì đó giống như sự căm giận. Anh ngẩng lên nhìn thẳng vào đôi mắt ông vé số. Dưới ánh đèn điện thủy ngân cao áp, khuôn mặt ông có cái vẻ của một con người đau ốm tàn tạ, nhưng vẫn chứa đựng một cái gì đó rất láu cá, tinh quái. Anh cầm xấp vé số do ông ta cứ cố ý để lên bàn, trả lại:
-Chúng tôi không mua đâu, ông ơi!
Ông ta nói một câu gì đó Kha nghe không rõ, nhưng bỗng anh cảm thấy mủi lòng, nhìn sang Han. Tiến sĩ đang nghĩ gì đó, cúi nhìn soi mói xuống dưới chân. Han không để ý đến người bán vé số. Sau câu nói thẳng thừng của Kha, người bán vé số vẫn kiên trì cười. Khổ quá, tại sao người đời lại vẫn cứ hy vọng vào sự may mắn bâng quơ nào đó chụp lên đầu mình nhỉ? Tay làm hàm nhai, lăn lưng với số phận mà vẫn nghèo hèn. Đã có lần Kha nghe kể một công ty Xổ số tỉnh nọ đã làm một cuộc thăm dò thị trường, rồi rút ra kết luận: chín mươi phần trăm số người tiêu thụ vé số là người nghèo, có người bần hàn, túng quẫn, không đủ gạo ăn, áo mặc. Số còn lại là mua vui, là đánh cuộc, là… rửa tiền! Càng nghèo, càng túng quẫn bế tắc càng hy vọng và càng bị lợi dụng. Ba mươi phần trăm ngân sách dựa vào xổ số, hai mươi phần trăm lao động sống dựa vào nghề bán vé số. Mỗi ngày người bán được hai trăm ngàn doanh thu, là có ba-mươi-tư ngàn tiền hoa hồng! Bằng lương của một anh cán bộ lâu năm hệ số ba-phảy-sáu-lăm rồi! Thế rồi cứ bòn rút, rỉa rói chính thân thể mình. Rồi còn nạn đánh đề cũng theo đó mà ra. Chống đánh bạc, chống như thế cũng chẳng phải khó lắm sao?
Đột nhiên tiến sĩ Han ngẩng lên, nhìn vào người bán vé xổ số nãy giờ vẫn dai dẳng, nói một câu thật ngọt ngào:
-Chào ông Sâm!
Người bán vé số giật mình, vội vàng cầm xấp vé số lên hỏi lại:
-Chú là…?
-Hán đây! Hán nhà báo đây! Ông khó nhận ra tôi lắm nhỉ?
Ông Sâm vé số ngỡ ngàng:
-Dạ không! Tôi đâu có biết chú! Mời chú mua cho mấy tờ.
-Nếu không nhận ra thì ông đi chỗ khác mà bán. Tôi không mua đâu.
Ông Sâm quay đi, rất vội, ra thẳng đầu hẻm. Kha không hiểu, hỏi lại:
-Cậu biết ông ta à?
Han lại rót rượu:
-Cậu có nghe mình kể cái ông bạn làm giám đốc, đã có lần nói lén rằng: "Cái bọn nhà báo rách việc" không?
-Nhớ! Nhớ rồi!
-Ông ta đấy!
Kha phân vân:
-Sao lại có chuyện đó được! Cậu có nhầm người không?
-Mình gặp ông ta lần này có đến lần thứ mười rồi, nhưng không hỏi. Ông ta không nhận ra mình đâu. Nhưng mình nghi lắm. Khi ra toà, ông ta đã bán hết cửa nhà để tránh tội phải ngồi nhà lao, thì sống bằng nghề vé số. Ông Sâm là người xuất thân từ bần cố nông, nghèo rớt. Khi có chức, có quyền và có tiền, cũng có ăn chơi, phung phí, nhưng không bao giờ không biết dành dụm, tích lũy. Đến khi vận hạn, bảo rằng trắng tay là khó tin. Ông ta đâu phải là kẻ có máu phá gia. Cũng chỉ là một cách rửa tiền thôi…
Kha lắc đầu nghĩ, cái gì cũng có thể xảy ra thật. Phía bên kia con rạch ngầu bùn là dòng sông và cây cầu lấm tấm ánh đèn. Nó rung lên như một con bọ ăn đêm phát quang, xanh lạnh lẽo. Chừng đã khuya… Đột nhiên Kha nghĩ đến chị em Mỹ Liên:
-Quán cà phê của hai chị em Mỹ Liên còn bán không nhỉ?
-À, còn, nhưng cũng không chắc. Lúc chiều mình nói với cậu rằng Mỹ Liên đi tìm cậu chưa nhỉ?
Kha gật đầu.
-Tớ thương hai đứa trẻ ấy quá. Nếu thấy được cậu nên lấy một đứa, cô chị Mỹ Liên ấy. Nó rất đẹp!
Kha phì cười:
-Cậu nói nghe dễ quá nhỉ?
-Tớ biết cậu vẫn còn cái tính cao ngạo của anh trí thức nửa mùa. Nhưng như các cụ vẫn dạy "Thà lấy đĩ về làm vợ…"
-Tớ không nói điều ấy. Nó không quan trọng đến mức phải đem "trí thức" ra để ngã giá đâu. Nhưng nói thật, tớ chán chuyện vợ con lắm rồi…
Han im lặng, nhìn sang bàn bên. Cái bàn nhỏ có bốn người thì có hai cô gái. Chắc không phải gái nhà lành, nên mới ngồi quán nhậu, nhất là lại quán thịt chó vào giờ này. Một cô gái nhuộm tóc thành những lọn màu vàng sáng, đang cố uống một ly rượu do anh bạn trai ngồi bên cầm kề vào tận miệng. Không biết họ có vui thú gì không nhỉ? Han tự hỏi rồi mỉm cười, quay lại với Kha:
-Cậu chán cái cô vợ cụ thể ấy thôi, chứ làm sao chán chuyện lấy vợ. Tớ cũng đã có lúc nghĩ như thế. Nhưng sau rồi, nghĩ lại. Cậu biết rồi đấy, vợ tớ bây giờ vốn là một cô gái bán hoa…
-Còn bây giờ trở thành một bà bán rau? Kha cười đùa.
-Đúng! Mình cũng không tin là vợ mình lại có thể "hoàn lương" nhanh chóng và triệt để đến thế đâu…
-Có lẽ cô ấy rất yêu cậu!
-Vợ tớ bấy giờ là một cô gái bán hoa, cụ thể hơn là gái bán bia ôm. Nhưng cô ấy rất đẹp, nhất là đối với tớ, một thằng đàn ông xấu xí và xấu xa trước con mắt của cả đàn bà lẫn đàn ông. Cô ấy có yêu tớ không ư? Yêu! Yêu triệt để! Yêu hết mình! Tớ lôi cô ấy từ trong vũng bùn ra để lấy làm vợ. Khi cô ấy nhất quyết làm vợ tớ rồi, tớ chỉ hỏi một câu:
-Em có đẻ được không?
Tưởng cô ấy giận, nhưng cô bé xinh đẹp đã trả lời hồn nhiên:
-Em cũng không biết nữa!
-Thôi được, không sao. Anh sẽ làm cho em biết đẻ!
Bao nhiêu người chọn vợ đòi hỏi phải có cái "tông", tức là cái nếp gia đình, nào là ngoan ngoãn, hiền thục. Tớ khác, tớ cóc cần cái hiền thục mà tớ cho rằng, lấy vợ chỉ cần đẹp. Nó láo cũng được, nó làm đĩ hay làm gì mặc kệ miễn là biết đẻ con. Con nó đẻ ra nhất định phải đẹp, đó là điều quan trọng. Còn nó có giống mẹ nó ở đạo đức hay gì gì đi nữa thì chẳng quan tâm, tớ sẽ dạy con nó, tức con tớ. Cái đẹp không thể học hay dạy được, còn lại, tất cả "do giáo dục mà nên"! Cụ Hồ dạy thế phải không, Kha? Buồn ngủ rồi à?
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #39 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 05:06:43 pm »

Chương 14
Với nạn nhân, tức Năm Tụ, hậu quả của viên đạn bắn ra không đến nỗi ồn ào như đối với tất cả những người khác khi mà họ đứng ngoài không bị trúng đạn. Tương đối yên tĩnh và thản nhiên. Nếu tổn thương lớn nhất đối với con người về tinh thần là nỗi nhục nhã, thì về mặt thể chất là sự đau. Đau không phải là bệnh, mà là một sự kêu cứu, sự báo hiệu một nguy cơ nào đó. Sau khi trúng đạn, Năm Tụ bị choáng ngất. Không đau, không còn cảm giác tồn tại suốt nhiều ngày đêm. Khi lơ mơ nhận ra mình bị đau ở một nơi nào đó trên cơ thể. Khi còn đau tức là chưa chết. Còn đau, nghĩa là còn tồn tại, hình như Tụ đã nghĩ thế. Nhưng trong mịt mù lúc đậm đặc, khi tan loãng bằng những sắc màu khác nhau, khi thì vàng đục, lúc lại trắng sữa, và rồi, tối thẫm, đen ngòm... bao trùm lên sự sống, Năm Tụ lại trôi vào dòng sông sâu, chảy xiết định mệnh.
Cái mà Tụ nhận thức được khá mạch lạc, rõ ràng là cái chết! Quái lạ nhỉ, sao mãi đến bây giờ Tụ mới nghĩ đến cái chết, rộng hơn là anh nghĩ đến sự chết. Cứ mỗi lần tỉnh lại, thoát ra khỏi đám sương mù ẩm ướt và dính như keo đặc, Tụ lại nghĩ về sự sống.
Sự sống được cấu tạo bởi vật chất, bằng những phân tử hữu cơ, bằng các-bon, hyđrô và một ít linh tinh khác, can-xi, sắt thép chẳng hạn. Nhưng cuộc sống thì lại được làm nên bằng ma quỷ và thần thánh. Đúng, chỉ có ma quỷ với thần thánh mới làm nên cuộc sống, làm nên kiếp con người. Ma quỷ và thần thánh vốn chung một loài, chỉ khác nhau về đẳng cấp mà thôi.
Thần thánh, tuy cùng loài với ma quỷ nhưng thần thánh thuộc đẳng cấp cao hơn (hay tưởng tượng là cao hơn). Nếu thần thánh là bộ trưởng, giám đốc, trưởng ban, chủ tịch… thì ma quỷ là thần dân, là phó thường dân, là những tên ăn cắp vặt, ma cô, dắt mối. Thế giới thần linh cũng phân biệt đối xử, cũng chia năm xẻ bảy, kéo bè, kéo cánh. Ma quỷ hay thánh thần thì cũng là loài ăn hương, ăn khói, ăn những lời cầu xin, hứa hẹn. Ồ lạ nhỉ, chỉ bằng hương khói mà loài ma quỷ, thần thánh cũng cứ tồn tại. Sự tồn tại của loài này phụ thuộc vào con người, đúng hơn là vào cuộc sống con người. Hoá ra thần thánh cũng sống bám, tồn tại như một loài tầm gửi, ma quỷ cũng là phận ăn theo. Thương thay, cũng là phận ăn nhờ, hưởng đậu mà cũng phân biệt cấp cao, cấp thấp.
Nhưng liệu con người có thành ma quỷ hay thánh thần được không nhỉ? Năm Tụ cứ dằn vặt mãi bởi phát hiện muộn màng của mình. Không cần khó nhọc lắm, anh cũng nhìn thấy viên đạn bay ra từ đầu nòng khẩu carbine, khẩu súng mà ông yêu quý, cưng chiều. Cái thằng bắn anh, cái thằng đứng ở phía báng súng, bóp cò, anh cũng cưng chiều. Viên đạn anh cũng nâng niu, vì súng thì còn, mà đạn thì hết, không ai sản xuất nữa. Bây giờ người ta không bắn nhau nữa, không bắn vào nhau nữa. Nhưng viên đạn màu đồng vàng choé mà anh cưng chiều, gìn giữ ấy lại bay về phía anh, chậm chạp, lừ đừ, đắn đo. Anh đã không kịp cầm lấy nó, ngăn nó lại, vì anh không phải là thần thánh, cũng không phải ma quỷ. Viên đạn xoáy vào ngực Năm Tụ, khiến anh thấy nhồn nhột, rồi ngứa. Ngứa quá, ngứa như ong đốt, kiến đốt. Anh quằn quại, muốn gãi mà không gãi được. Thế rồi anh vật vã trong một khoảng rất ngắn, rồi lịm đi. Anh chìm vào màu trắng như sữa. Sữa ở đâu thế nhỉ? Của Nhung ư? Đúng rồi, nhưng khoan, hãy ngừng lại kẻo ố bẩn mất cái áo sơ mi trắng của tôi. "Ngừng lại!".
Bác sĩ nói nhỏ với Bích:
-Mạch yếu lắm. Phải canh chừng. Đấy, tim lại ngưng đập rồi!
Một mũi thuốc tiêm vào mạch máu cho người bị thương.
Màu trắng sữa tan dần, cái chất dính như keo đặc bọc lấy toàn thân Năm Tụ cũng nới dần ra. Anh thoải mái đôi chút. Anh nghiêng đầu, nhìn sang bên cạnh. Cái gì thế nhỉ? Cái gì mà cuộn tròn trong một cái bọc bằng vải màu cỏ úa thế kia? Sao lại màu cỏ úa? Cái màu bình dị, sáng trong, nhưng khi nó được phát cho mỗi người mang vào chiến trường thì nó trở thành đồ quỷ ám. Nó rộng bằng tấm chăn đơn, nó đúng là tấm chăn đơn, nhưng người ta lại may cho nó mười sợi dây chia đều cho hai bên, thành ra năm cặp. Người y sĩ tiểu đoàn vừa sắp cái chăn đơn ấy vừa nói: "Đầu chỗ này, sợi dây này buộc vào cổ. Các đồng chí nhìn tôi đây! Thế! Hai tay để xuôi xuống, ép sát vào thân, hai sợi này buôc chặt. Mẹ kiếp, ông y sĩ chửi tục, bọn quân nhu đéo biết gì cả, hai sợi này phải dài hơn, chắc hơn vì nó buộc vào vai. Còn bao nhiêu cuộn xuống chân. Cuối cùng…
À phải rồi, tấm liệm! Tấm bọc xác chết. Cuộc chiến vĩ đại và trường kỳ của dân tộc, khiến người ta nghĩ đến cả những tình huống xấu nhất. Mỗi tiểu đội mười một người, đi B phải mang theo hai tấm bọc xác. Vậy là ít nhất có hai người chết. Nhưng sao không phải là ba? Là bốn hay là một? Không biết, nhưng không ai chịu để nó vào ba lô của mình. Hai cái thôi, tiểu đội trưởng một và tiểu đội phó một. Hơn nữa thì không biết chia cho ai. Thôi mà, đừng chia cái chết cho nhau. "Thế nhỡ lúc ấy?". Không có "lúc ấy" gì hết. Lúc ấy… lúc ấy… cứ vùi xuống đất là xong…
Nói dễ nghe quá! Vùi xuống đất, nhưng sao lại để nó ở đây, ngay cạnh chỗ tôi đang nằm thế này? Đừng! Đừng để bên cạnh tôi! Khi vào chiến trường tôi mới là binh nhì, không phải tiểu đội phó, hay tiểu đội trưởng. Tôi làm liên lạc, làm công vụ cho chính uỷ Đức Hoàn. Suốt cả cuộc chiến tranh tôi chỉ có mỗi việc ấy!
Bây giờ thì cái bọc vải màu cỏ khô ấy nhúc nhích. Hình như nó cũng ngứa ngáy, khó chịu. Rồi bất thần, ở phía đầu tấm liệm tròn tròn, trông gọn mắt ấy từ từ rạn ra một vết nứt. Vết nứt toạc dần, toác dần thành nhãng vết nứt như người ta dùng cái muỗng con con đập vào đầu quả trứng vịt lộn. Y như quả trứng vịt lộn thứ thiệt, theo những vết nứt ấy, một dòng nước đen đen, nâu nâu, nhừa nhựa, nhầy nhẫy, tanh tanh trào ra. Tiếp theo là lông, lông ơi là lông. Không! Tôi bị thương, tôi bị bắn vào tim, tôi phải kiêng, tôi không được ăn trứng vịt lộn!
"Ai cho anh ăn?"
"Không cho tôi thì đem đi chỗ khác. Tôi kinh lắm. Tôi ăn nhiều lắm rồi. Ăn nhiều đến nỗi tôi phải thủ… Không nói nữa".
Cái tùm lông nhô lên rồi hiện nguyên hình thành một cái đầu người.
"Sao lúc nào cậu cũng nghĩ đến ăn hả?".
"Ai? Ai trông quen quen thế nhỉ?".
"Tao đây! Thằng lái xe Hon đa cho chính uỷ đây!".
"Anh Bảo! Trời ơi, anh chết rồi mà? Sao người ta chưa chôn anh, còn để đây?".
"Người ta quên. Cả cậu, cậu em rể quý ạ. Cả cậu cũng quên".
Cái vỏ trứng cứ toác dần, toác dần, khiến cái đầu người mà Năm Tụ thấy rất giống Bảo, nhô lên thoát khỏi cái nút dây. Hai vai, rồi cả hai tay, thò ra loằng ngoằng.
"Anh chết đi thành thần thánh hay ma quỷ?".
"Tiểu đội bậc trưởng thì thành thần thánh thế nào được! Đồ ngu".
"Ha ha… thế thì phó tổng sẽ thành thần. Thần phó tổng! Được quá đi chứ hả?".
"Cậu chết lâu rồi kia mà! Chết từ hồi binh nhất".
"Ai? Anh chứ không phải tôi. Anh mới là người chết từ hồi mới đeo quân hàm binh nhất! Tôi chưa chết! Tôi còn sống, sống để làm việc, để cống hiến. Sống để chiến đấu với những thói hư tật xấu".
"Những tật xấu gì thế?"
"Ồ, ông anh rể quý mến ơi, anh chết sớm quá, chết thanh thản quá, chết trong lúc còn bom đạn, trong lúc người ta còn cần đến nhau. Trước mối hiểm nguy cần phải có đông người. Trước miếng ăn ngon càng ít người càng tốt. Bây giờ khác rồi. Anh chưa kịp biết đến lòng tham, thói ích kỷ, bệnh bè phái, tính đố kỵ…".
"Ừ, những cái đó có vẻ mới đấy. Thế cậu đã chiến đấu và chiến thắng chứ?".
"Chiến thắng hả? Cái đó còn phải xem lại. Cần phải có thời gian. Thời gian sẽ ủng hộ chúng ta".
"Thời gian? Các cậu chỉ được cái lẻo mép. Lúc nào cũng đổ cho thời gian. Không kịp đâu! Không kịp!"
"Thì con cháu chúng ta sẽ làm. Cách mạng là liên tục. Nhưng mà này, anh chết rồi mà sao lắm chuyện thế? Người chết thì nằm im một chỗ cho thiên hạ nhờ".
"Láo! Chúng mày sống trên hàng núi xác chết mà vô ơn quá thể! Tao sẽ cho mày biết tay".
Cánh tay của cái thây bọc trong tấm vải liệm vươn dài ra, từng đốt xoắn xuýt lại như một sơi dây thừng thắt nút thòng lọng, bò tới nắm lấy cổ họng Năm Tụ. Anh ta kêu lên: "Ngừng lại! Ngừng lại ngay! Đồ ám sát!"
Người y tá trực nhìn lên màn hình máy tính, những làn sòng nhấp nhô hình sin yếu ớt, rồi đột nhiên tăng tốc. Nhưng chỉ một lát sau, nó chậm dần, chậm dần rồi duỗi thẳng…
-Tim lại ngưng rồi!
Bích nhào tới, vồ lấy cái xi-lanh. Lại một mũi vào tĩnh mạch.
Bây giờ Năm Tụ có hai cuộc sống. Một cuộc sống hôn mê và một cuộc sống chiêm bao. Hôn mê thì cũng là chiêm bao thôi, nhưng hôn mê còn chứa đựng đôi chút hiện thực. Còn chiêm bao, hay mê ngủ lại hoàn toàn tách biệt, nhiều khi chả có gì liên quan đến hiện thực đời sống của con người. Năm Tụ rất muốn quay trở lại đời sống hiện thực, rất muốn nắm những bàn tay quen thuộc, nói những lời cửa miệng, ăn uống những thứ sở thích. Nhưng hễ cứ mon men đến gần cõi sống thì một cơn hôn mê lại ập đến, như cơn cuồng lũ kéo anh vào thế giới trắng đục đầy chất nhờn nhẫy, thứ dung môi, dính như keo dán. Đôi lúc anh nghe được tiếng nói của vợ, thậm chí còn cảm nhận được cả tiếng thở dài buồn bã của chị. Nhưng dù có cố sức mấy anh cũng không sao nhìn được vào khuôn mặt trái xoan dịu dàng phúc hậu của Bích. Cuồng lũ, đại thuỷ triều lại cuốn anh đi.
Trôi dạt bất định là điều chẳng thú vị chút nào. Cùng trôi với Năm Tụ là những gốc cây cổ thụ bị nước lũ đánh bật gốc, trôi lập lờ, xoè cái tàn rập rạp thỉnh thoảng lại quệt vào mặt anh, vô cùng ngứa ngáy, khó chịu. Những cây khô trôi nhanh hơn, phăng phăng, nhưng chúng lại bị những đụn rác khổng lồ níu kéo, lúc trồi lên, lúc trụt xuống. Thỉnh thoảng một đám rác màu xám xịt bứt ra khỏi đồng loại thì lập tức bị hút vào những cái xoáy nước sâu hoắm, mất tăm. Và rắn rết từ đâu trong những cái đụn rác vĩ đại ấy lúc nhúc xông ra. Những cái đầu rắn thở phì phì, phóng những cái lưỡi dài ngoẵng, đen nhánh về phía trước. Có một cái lưỡi đã phóng vào trán Tụ, anh hốt hoảng nhưng rất may, không đau, và không nguy hiểm. Năm Tụ cố thu mình cho nhỏ lại và cố không cưỡng lại dòng chảy. Lúc này anh như một miếng bọt nhỏ nhoi, anh mặc kệ, muốn ra sao thì ra. Anh chìm dần, chìm dần…
Nhưng bỗng có một bàn tay nhẹ nhàng, rất nhẹ nhàng âu yếm nhưng quả quyết lôi anh lên khỏi mặt nước màu xám đặc quánh phù sa.
"Để tôi yên! Để tôi yên mà…"
Nhưng anh chỉ nói thế thôi mà không cưỡng lại. Bàn tay thô bạo kéo anh ra khỏi dòng chảy, để rồi đặt anh lên giữa một cánh đồng vắng lặng. Đây là cánh đồng lúa "năm tấn", Năm Tụ đã nhận ra cái mùi hăng hăng của mùa lúa chín. Nhưng sao khô xác và héo úa thế này? Ngày còn nhỏ, cậu bé Tụ đã chạy nhảy trên cánh đồng vàng hạnh phúc để bắt những con muỗm màu nâu óng ả và béo mũm mĩm. Những cái lá lúa thô ráp nhưng mềm mại cọ vào đôi má trẻ thơ của Tụ. Cậu bé đã tưởng như suốt đời không bao giờ quên được. Bây giờ anh đứng giữa cánh đồng tan hoang, nước mắt ứa ra…
"Tụ ơi, vì sao con khóc?".
"Ông Bụt ơi, con buồn quá!".
Tụ ngoảnh lại, và anh nức nở:
"Cha ơi, cha!".
Ông Bụt chính là cha của Năm Tụ. Một ông lão hiền lành, bộ râu trắng như cước, đang cười với cái miệng móm mém.
"Ta đem con về đây nhé! Ừ, thôi về đi con! Công danh như thế đủ rồi".
Ông vẫn quắc thước và kiên định như thuở nào. Một ông quan toà hiền lành, nhu nhược. Nhu nhược và kiên định. Hai phẩm chất ấy trưởng như trái ngược nhau nhưng cùng tồn tại bên nhau, bền vững và được việc. Những lời phán quyết của vị quan Toà thời ấy không bao giờ trái, nhưng cũng chẳng mấy khi phải. Tội nhân của ông không chống đối, nhưng cũng chưa bao giờ tuân phục.
"Công danh là gì hở cha?".
"Là bọt bèo! Là rác rưởi nổi trôi…".
"Có phải cha vừa vớt con lên từ đó không?".
"Không! Tự con thoát ra đấy chứ. Ta vô vị lắm… "
Đột nhiên Tụ nhớ đến một cái giường. Cái giường bằng gỗ tạp mà cha anh được phân phối. Cái giường được tháo ra và nhờ ba cái xe đạp chở về đến nhà. Cha đi rồi, một mình Tụ lăn lộn trên cái giường gỗ phân phối. Thiên đàng của tuổi thơ Tụ. Mẹ Tụ bảo: "Cả đời ông ấy chỉ phấn đấu để được phân phối. Lên lương là lên địa vị để được phân phối nhiều hơn, tốt hơn. Tiêu pha: phân phối cửa hàng cung cấp bìa D. Ốm đau: phân phối bệnh viện trung cao! Chết: phân phối nghĩa trang thành phố. Chả làm được gì cho ai, ngay cả vợ con…".
"Cha ơi, cha chết lâu rồi kia mà! Cha chết khi con đang ở Liên Xô…"
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM