chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #140 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 06:50:12 pm » |
|
Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, sự lý giải của chúng ta về vấn đề này sẽ không đầy đủ, nếu chúng ta không chú tâm tới vấn đề của những lãnh thổ hiện đang nằm ngoài biên giới Xô Viết. Liệu chúng ta có muốn đạt tới mục tiêu bằng những phương tiện phi quân sự gây nên những thay đổi nào đó về đường biên giới Liên Xô không? Chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời trong Chương 3 cho vấn đề này.
Bằng mọi phương tiện sẵn có trong tay chúng ta phải tạo điều kiện để phát triển ở Liên Xô những định chế của chế độ liêng bang. Những định chế đó sẽ làm cho sinh hoạt dân tộc của các dân tộc vùng Baltik.
Có thể đặt ra câu hỏi: Tại sao chúng ta lại hạn chế các dân tộc Baltik mục tiêu này? Tại sao chúng ta không đề cập tới những dân tộc thiểu số của Liên Xô? Câu trả lời là các dân tộc Baltik - đó là các dân tộc duy nhất có lãnh thổ truyền thống và dân cư của họ hiện đang hoàn toàn nằm trong thành phần Liên Xô và họ đã từng thể hiện khả năng điều hành thành công các công việc quốc gia. Hơn nữa, như trước đây, chúng ta vẫn chính thức phủ định tính hợp pháp của việc cưỡng bức họ gia nhập vào Liên Xô và vì thế họ vẫn là một thể chế đặc biệt trong quan điểm của chúng ta.
Sau này, chúng ta vấp phải vấn đề suy giảm huyền thoại, nhờ đó mà những kẻ ở Matxcơva đã duy trì được ảnh hưởng mạnh mẽ và quyền lực thực sự chặt chẽ của mình đối với hàng triệu người ở các nước nằm ngoài vùng vệ tinh. trước hết, cần có một vài lời về bản chất của vấn đề này.
Trước cuộc cách mạng năm 1918, chủ nghĩa dân tộc Nga chỉ là của riêng Nga. Ngoại trừ một số trí thức châu Âu ngông cuồng của thế kỷ XIX, từng tin vào niềm tin huyền bí về khả năng của Nga cứu được nền văn minh ra khỏi mọi hủ lậu của nó (Karl Marx không thuộc vào số người này. Theo chính ông bày tỏ, ông không phải là “một trong số những người tin rằng châu Âu già nua có thể hồi sinh bằng máu người Nga”), chủ nghĩa dân tộc Nga không hấp dẫn được những người ngoài biên giới nước Nga. Ngược lại, chủ nghĩa chuyên quyền tương đối mềm mỏng của những nhà cầm quyền Nga ở thế kỷ XIX lại khá nổi tiếng tại các nước phương Tây và người ta đã từng tiếc nuối nó, nhất là khi chế độ Xô Viết ngày càng trở nên độc ác.
Sau cách mạng, các thủ lĩnh Bolsevich đã tuyên truyền một cách khôn khéo và có hệ thống để củng cố trong công luận quốc tế những công thức nhất định, đặc biệt thuận lợi cho việc giành những mục tiêu của họ, bao gồm như: Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng nhân dân; chế độ Xô Viết là Chính phủ công nông chân chính đầu tiên; chính quyền Xô Viết gắn bó chặt chẽ với lý tưởng của chủ nghĩa tự do, tự do và thích hợp về mặt kinh tế; rằng nó là giải pháp lựa chọn duy nhất đầy hứa hẹn cho các chế độ dân tộc của các dân tộc. Bằng cách đó, trong nhận thức của nhiều người đã hình thành nên mối liên hệ giữa chủ nghĩa cộng sản Nga với sự bình an chung trong thế giới bên ngoài đang bị tác động bởi trào lưu đô thị hóa và công nghiệp hóa, cùng với phong trào phản đối thực dân.
Vì vậy, học thuyết của Matxcơva, ở một mức độ nhất định, đã trở thành vấn đề nội bộ đối với mỗi dân tộc trên toàn thế giới. Đối mặt với chính quyền Xô Viết, các nhà chính trị phương Tây hiện đang vấp phải một cái gì đó lớn hơn cả vấn đề quan hệ đối ngoại. Ngay tại chính đất nước mình, họ cũng phải đối mặt với kẻ thù bên trong - những kẻ đã hiến dâng đời mình cho sự nghiệp phá hoại và tiệu diệt đến cùng cộng đồng dân tộc của mình.
Xóa bỏ huyền thoại của chủ nghĩa cộng sản quốc tế - đó là một nhiệm vụ có tính hai mặt. Nó đòi hỏi cả hai bên cần thiết lập được một sự tương tác, một mặt là với Kremli, mặt khác là với những trí thức bất mãn (chính xác là trí thức, chứ không phải là “công nhân”, đang nhóm lên ngọn lửa của chủ nghĩa cộng sản ở ngoài Liên Xô). Để đảm đương được vấn đề này, thì việc đặt ra cho mình mục tiêu bịt miệng kẻ tuyên truyền là chưa đủ. Điều quan trọng hơn cả là trang bị cho người nghe khả năng chống lại kiểu tấn công như vậy. Có một nguyên nhân nhất định để mọi người phải lắng nghe bộ máy tuyên truyền của Matxcơva, huyền thoại đó đã thu hút nhiều người ở ngoài xa biên giới Nga. Nếu để những thính giả này không còn lắng nghe Matxcơva nữa, thì họ còn phải nghe cái gì khác đại loại là cái sai lầm, cái cực đoan, cho dù điều đó có thể hơi nguy hiểm. Vì vậy, nhiệm vụ phá hoại huyền thoại mà chủ nghĩa cộng sản quốc tế đang yên ngủ trên đó không chỉ liên quan tới các nhà lãnh đạo Liên Xô. Nó còn liên quan tới cả thế giới ngoài Xô Viết, trước hết là liên quan tới một xã hội cụ thể mà mỗi chúng ta là một phần trong đó. Nếu chúng ta biết cách gieo rắc nỗi kinh hoàng và những quan niệm không đúng mà nhờ chúng các học thuyết này đã phát triển - tức là, nếu chúng ta biết cách tiêu diệt nguồn gốc của sự độc ác đã từng đẩy mọi người đến với lý tương phi lý và ảo tưởng đó - thì chúng ta sẽ thành công trong việc xóa bỏ ảnh hưởng tư tưởng của Matxcơva ở nước ngoài.
Mặt khác, chúng ta phải công nhận rằng chỉ có một bộ phận của chủ nghĩa cộng sản ở ngoài nước Nga là kết quả của sự tác động từ bên ngoài và chịu sự điều chỉnh thích ứng. Bộ phận khác là cái gì đó tựa như sự đột biến tự nhiên. Nó xuất phát từ một phong trào, về tinh thần, giống như của đội quân thứ năm, chiếm một tỷ lệ dân cư nhất định không lớn trong mỗi xã hội và có thái độ tiêu cực đối với xã hội, sẵn sàng đi theo bất kỳ sức mạnh bên ngoài nào đối lập với xã hội. Phần tử này sẽ luôn luôn hiện diện trong bất kỳ xã hội nào và là mảnh đất thuận lợi cho công việc của những kẻ ngoại bang bất lương. Cách bảo vệ duy nhất trước tác động nguy hại của nó là - những chế độ vững mạnh không nên khai thác mặt bất hạnh này trong bản chất của con người.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #141 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 06:51:08 pm » |
|
Thật may là Kremli đã làm nhiều hơn những gì chính chúng ta có thể để tung hô huyền thoại này. Kẻ chống đối (insident) Nam Tư, có thể, là trường hợp điển hình nhất của loại này, còn trong lịch sử của Quốc tế cộng sản có rất nhiều trường hợp mà những người hoặc nhóm người ngoài nước Nga gặp phải khó khăn khi họ định trở thành những kẻ theo đuổi học thuyết của Matxcơva. những thủ lĩnh Kremli đã tỏ ra vô cùng bất cẩn, vô cùng ác độc, vô cùng bạo ngược và vô cùng trắng trợn trong nguyên tắc mà họ đặt ra cho những người đi theo mình - điều đó đã làm cho chỉ có một ít người có thể công nhận uy tín của họ.
Hệ thống Lênin-Xtalin chủ yếu dựa trên quyền lực - thứ quyền lực mà một thiểu số những kẻ âm mưu có thể giành được, cho dù chỉ tạm thời, đối với đại đa số vô tổ chức và thụ động. Vì nguyên nhân này, các thủ lĩnh Kremli trong quá khứ hầu như không thể yên tâm về việc phong trào của họ vẫn chỉ gồm những kẻ theo đuôi cũ. Mục tiêu của họ đã không làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành một phong trào của quần chúng, mà chỉ thông qua một nhóm nhỏ những kẻ theo đuôi có tính kỷ luật hoàn hảo.
Trong một thời gian dài, điều đó đã được làm khá tốt. Họ đã dễ dàng tuyển mộ được những người mới; còn đảng đã duy trì được một quá trình bền vững của sự lựa chọn tự nhiên, chi để lại trong đội ngũ của nó những kẻ trung thành một cách cuồng tín nhất.
Giờ đây, trường hợp Nam Tư đã để lại một dấu hỏi lớn về việc hệ thống này liệu sẽ còn vận hành tốt trong tương lai. Trước đó, cùng với tà thuyết người ta đã dễ dàng thắng lợi bằng những cuộc thanh trừng của cảnh sát trong phạm vi của chính quyền Xô Viết hoặc là con đường chắc chắn để đoạn tuyệt (rút phép) hay khủng bố cá nhân ở ngoài phạm vi đó. Tito từng chỉ ra rằng trong trường hợp đối với những thủ lĩnh các nước vệ tinh những phương pháp đó hoàn toàn chưa thật hiệu quả. Sự đoạn tuyệt của các thủ lĩnh cộng sản không chịu lệ thuộc vào quyền lực Xô Viết và có lãnh thổ, cảnh sát, quân đội và những trung thành riêng của mình có thể làm chia rẽ phong trào cộng sản. Điều này, không có gì khác, chính là một đòn mạnh nhất giáng vào huyền thoại về quyền lực và quyền năng tối thượng của Xtalin.
Tất nhiên, về phía chúng ta, cần tập trung mọi nỗ lực tạo ra những điều kiện thuận lợi để lợi dụng những sai lầm của Xô Viết và những vết nứt đang xuất hiện, cũng như tạo điều kiện làm suy yếu cơ cấu tác động tinh thần của chính quyền Kremli lên những người đang nằm ngoài tầm với của cảnh sát Xô Viết.
Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng dự định thứ hai của chúng ta đối với Nga trong thời bình - đó là với sự trợ giúp của hoạt động thông tin và bất kỳ phương tiện nào sẵn có trong tay chúng ta để phá bỏ huyền thoại đang kiềm chế những người ở xa ảnh hưởng quân sự của Nga, ở trong tình trạng bị Matxcơva chi phối và buộc thế giới nói chung nhìn thấy và hiểu rõ bản chất của Liên Xô, có một thái độ lo gic và thực tế đối với chúng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #142 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 06:51:39 pm » |
|
2. Thay đổi những công thức quan hệ quốc tế của Nga
Bây giờ chúng ta chuyển qua giải thích mục tiêu quan trọng thứ hai của chúng ta trong điều kiện chính sách thời bình - tiến hành thay đổi những công thức quan hệ quốc tế đang thịnh hành trong các nhóm cầm quyền ở Matxcơva.
Như chúng ta đã thấy, chúng ta không thể làm thay đổi tâm lý chính trị cơ bản của những người hiện đang nắm chính quyền ở Liên Xô. Tính cách không thân thiện trong quan điểm của họ đối với thế giới bên ngoài, sự phủ định của họ đối với khả năng hợp tác hòa bình, niềm tin của họ vào tính tất yếu của một thế giới này phải xóa bỏ hoàn toàn một thế giới khác - tất thảy vẫn được giữ nguyên chỉ vì một nguyên nhân đơn giản là các thủ lĩnh Xô Viết khẳng định rằng hệ thống của họ không thể so sánh với nền văn minh phương Tây và vì thế sẽ không thể yên tâm cho tới khi nào nền văn minh phương Tây hùng mạnh và thịnh vượng đó chưa thực sự bị quét hết, ảnh hưởng của nó chưa xóa bỏ. Đấy là chưa nói tới việc những con người này đặc biệt trung thành với học thuyết về xung đột tất yếu giữa hai thế giới - vì học thuyết này, họ sẵn sàng chấp nhận án tử hình cũng như những đau khổ nặng nề nhất của hàng triệu người khác.
Mặt khác, các thủ lĩnh Xô Viết, nếu không chấp nhận những luận chứng, thì cũng biết cách chấp nhận tình huống. Vì vậy, nếu tạo ra tình huống - khi việc nhấn mạnh vào các yếu tố của xung đột trong cao các mối quan hệ của họ với thế giới bên ngoài không mang lại cho quyền lực của mình một lợi ích nào cả thì việc tuyên truyền của họ trong chính dân chúng nước họ cũng có thể thay đổi. Điều này được thể hiện rất rõ trong cuộc chiến tranh trước đây, khi khối đồng minh quân sự của họ với các cường quốc phương Tây chỉ có hiệu quả ngoại tiếp. Trong trường hợp đó, sự thay đổi trong chính sách của họ có một khoảng thời gian tương đối ngắn; hoặc cùng với sự hoàn tất những hoạt động quân sự, họ đã nhìn thấy khả năng đạt được những mục tiêu quan trọng của mình mà không phụ thuộc vào thái độ và quan điểm của phương Tây. Điều này còn có nghĩa là tình huống buộc họ phải thay đổi chính sách hoàn toàn không xảy ra.
Vì vậy, nếu tình huống tương tự sẽ được tạo lập trong tương lai và các thủ lĩnh Xô Viết sẽ buộc phải công nhận tính hiện thực của chúng, và nếu những tình huống đó sẽ được duy trì một thời gian dài, tức là cả một giai đoạn bao trùm phần lớn quá trình hữu cơ của sự phát triển và thay đổi trong đời sống chính trị Xô Viết, thì chúng có thể gây nên hiệu quả thay đổi thường xuyên đối với quan điểm và nền nếp của chính quyền Xô Viết. Thậm chí trong một thời gian tương đối ngắn và chủ yếu bằng lời nói, khả năng hợp tác giữa các đồng minh chủ yếu trong quá trình của cuộc chiến tranh trước đây đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong nhận thức của công luận Nga và, chắc chắn, đã tạo nên những khó khăn thực sự đối với chế độ trong âm mưu sau khi kết thúc chiến tranh sẽ trở lại chính sách thù địch và lật đổ thế giới phương Tây. Dù sao, tất cả những điều này đã diễn ra vào giai đoạn khi tuyệt đối không có một thay đổi nào đáng kể trong ban lãnh đạo Xô Viết và không có một sự phát triển tự nhiên nào trong đời sống chính trị nội bộ của Liên Xô. Nếu như Chính phủ Xô Viết đã buộc phải thực hiện chính sách thận trọng và kiềm chế đối với phương Tây lâu dài tới mức những thủ lĩnh hiện nay được thay thế bằng những người khác, và nếu như đã xảy ra một sự phát triển tự nhiên nào đó trong đời sống chính trị Xô Viết, thì rút cuộc đã có thể đạt được những thay đổi thực sự trong quan điểm và hành vi của Xô Viết.
Trên cơ sở đó cho thấy, nếu sắp tới chúng ta không đủ sức làm thay đổi tâm lý chính trị cơ bản của các nhà lãnh đạo Xô Viết, thì chúng ta có thể tạo ra những tình huống đủ lâu dài để thực hiện chúng, có thể buộc các nhà lãnh đạo Xô Viết phải mềm hóa thái độ sai trái và nguy hiểm của mình đối với phương Tây và phải chấp nhận một số mức độ thận trọng và kiềm chế trong các mối quan hệ của họ đối với các nước phương Tây. Trong trường đó, chúng ta thực sự có thể nói rằng chúng ta đã bắt đầu đạt được những thành công trong việc thay đổi từng bước các công thức nguy hiểm hiện nay của những người Xô Viết.
Trong trường hợp chính quyền Xô Viết bị suy yếu, cũng như trong trường hợp chúng ta có chương trình nào đó lâu dài nhằm chống lại những âm mưu của Xô Viết phá hoại nền văn minh phương Tây, chúng ta cần phải công nhận rằng các thủ lĩnh Xô Viết sẽ sẵn sàng dùng bạo lực để ngăn chặn điều đó. Chúng tôi nhấn mạnh: một sự liều lĩnh như vậy là hoàn toàn có thể có trong bất kỳ một chính sách lành mạnh nào đối với Liên Xô. Nó nằm ngay trong bản chất của Chính phủ Xô Viết hiện nay; và cho dù chúng ta có làm gì thì điều đó vẫn không được thay đổi. Đây là vấn đề không hề mới đối với các quan hệ quốc tế của Mỹ. Trong cuốn “Những ghi chép của một người tán thành chế độ liên bang”, Alekxandr Hamilton tuyên bố: “Đừng quên rằng hòa bình và chiến tranh không phải bao giờ cũng để cho chúng ta lựa chọn; và cho dù chúng ta đã kiềm chế và không hiếu thắng, chúng ta vẫn không thể thiên về kiềm chế và tin tưởng khoan hòa sự hiếu thắng của những kẻ khác”.
Vì vậy, khi đặt ra mục tiêu làm thay đổi những công thức đang chỉ đạo Chính phủ Xô Viết về những vấn đề quốc tế, chúng ta lại một lần nữa cần phải thấy rằng câu trả lời cho câu hỏi, liệu có thể đạt được mục tiêu này bằng những phương tiện hòa bình, không chỉ tùy thuộc riêng chúng ta. Tuy nhiên, điều đó không thể cản trở chúng ta trong những ý định của mình.
Vì vậy, chúng ta cần phải nói rằng ý định thứ ba của chúng ta đối với Nga trong thời bình là tạo dựng tình huống buộc Chính phủ Xô Viết công nhận tính chất không mong muốn trên thực tế của những hành động trên cơ sở những công thức hiện nay của nó và sự cần thiết phải hành động, chí ít là về đối ngoại, sao cho công thức mâu thuẫn với những điều nói trên, là những điều hiển nhiên.
Tất nhiên, điều này trước hết là vấn đề duy trì sự yếu kém chính trị, quân sự và tâm lý của Liên Xô so với các lực lượng quốc tế nằm ngoài ranh giới kiểm soát của nó và trong những nước phi cộng sản.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #143 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 06:54:16 pm » |
|
3. Những ý định cụ thể
Mọi dự định nêu trên chỉ mang tính chất chung.
Trước hết, dự định đầu tiên của chúng ta trong thời bình không phải là soạn thảo ra kịnh bản cho một cuộc chiến tranh được coi tất yếu. Chúng ta không phủ nhận rằng những dự định cơ bản của chúng ta đối với Nga có thể vẫn được thực hiện thành công mà không cần tới chiến tranh. Chúng ta phải công nhận khả năng của một cuộc chiến tranh được bắt nguồn một cách lo gic và ở mọi thời đại từ quan điểm hiện nay của ban lãnh đạo Xô Viết; và chúng ta cần chuẩn bị cho khả năng này.
Nhưng, có thể là sai lầm khi cho rằng chính sách của chúng ta được dựa trên quan điểm về tính tất yếu của chiến tranh và bị hạn chế bởi việc chuẩn bị cho một cuộc xung đột vũ trang. Điều này không phải như vậy. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay, khi chưa có chiến tranh, đương nhiên được xác định bởi những hành động của người khá, - tìm ra những phương tiện thực hiện thành công những mục tiêu của chúng ta, chứ không tự thân sử dụng chiến tranh. Nhiệm vụ đó bao gồm những công việc chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh có thể xảy ra, song chúng ta chỉ coi chúng như những giải pháp hỗ trợ mang tính chất dự báo, chứ không như một thành tố hàng đầu của chính sách. Như trên đây, chúng ta vẫn tin tưởng và cố gắng đạt được những mục tiêu của mình trong khuôn khổ hòa bình. Còn nếu như một khi nào đó phải đi đến kết luận rằng điều đó thực sự không thể, rằng quan hệ giữa thế giới cộng sản và không cộng sản không thể không có một cuộc xung đột vũ trang, thì toàn bộ nền tảng của tài liệu này phải được xem xét lại, còn những dự định của chúng ta trong thời bình sẽ phải thay đổi hoàn toàn.
Hai là, Những dự kiến của chúng ta trong thời bình không phải là lật đổ Chính phủ Xô Viết. Theo nhận định chung, chúng ta để tạo dựng ra hoàn cảnh và tình huống làm cho những nhà lãnh đạo Xô Viết gặp khó khăn, bất ngờ. Rất có thể, khi phải đối mặt với chúng, họ không thể duy trì được quyền lực của mình ở Nga. Nhưng chúng tôi vẫn nhắc lại một lần nữa: đó là công việc của họ chứ không phải của chúng ta. Trong tài liệu này không xem xét tới vấn đề: liệu Chính phủ Xô Viết có thể hành động tương đối thận trọng và kiềm chế mà vẫn duy trì được chính quyền nội bộ của mình ở Nga. Nếu những tình huống thích hợp với những dự định của chúng ta trong thời bình sẽ thực sự xuất hiện và chúng không thích hợp với sự tồn tại của chính quyền nội bộ Xô Viết, buộc Chính phủ Xô Viết phải rời bỏ vũ đài, thì chúng ta sẽ thực hiện những thay đổi đó mà không phải hối hận. Tuy nhiên, chúng ta không cần thấy mình phải chịu trách nhiệm trong việc tìm kiếm và thực hiện chúng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #144 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 06:55:50 pm » |
|
IV. Giành những mục tiêu cơ bản của chúng ta trong thời chiến
Trong phần này, những mục tiêu của chúng ta đối với Nga được xem xét trong trường hợp, nếu giữa Mỹ và Liên Xô xuất hiện tình trạng có chiến tranh. Đồng thời, những phương án rút lui một cách thuận lợi cho những chiến dịch quân sự của chúng ta cũng được xem xét tới.
1.Những nhiệm vụ không thể hoàn thành
Trước khi bắt đầu đề cập tới việc chúng ta cần nỗ lực đạt tới điều gì trong cuộc chiến tranh với Nga, chúng ta hãy làm rõ điều chúng ta mong muốn đạt được.
Trước hết, chúng ta phải công nhận rằng việc chiếm đóng và đặt toàn bộ lãnh thổ Xô Viết dưới sự quản lý hành chính quân sự của chúng ta sẽ không có lợi. Điều bất lợi là sự rộng lớn của lãnh thổ này, số lượng dân cư, sự khác biệt trong ngôn ngữ và phong tục giữa dân chúng địa phương với chúng ta, không thể thiết lập được bộ máy chính quyền địa phương thích hợp để chúng ta thông qua đó quản lý nó.
Hai là, chúng ta phải công nhận rằng liệu các thủ lĩnh Xô Viết có chịu đầu hàng chúng ta vô điều kiện. Có thể là chính quyền Xô Viết sẽ bị tan rã bởi một cuộc chiến tranh, tựa như việc đã từng xảy ra với chế độ Nga hoàng trong thời gian chiến tranh thế giới I. Còn nếu như sự tan rã đó không diễn ra, thì chúng ta không thể tin chắc rằng chúng ta có thể tiêu diệt chính quyền Xô Viết bằng bất kể phương tiện nào, ngoại trừ những hành động quân sự ngông cuồng nhằm chinh phục toàn nước Nga chấp nhận sự kiểm soát của mình. Chúng ta đã từng có kinh nghiệm đối với bọn phát xít, nó là tấm gương của sự kiên trì và kiên quyết mà nhờ đó một chế độ độc tài tàn ác có thể bấu víu vào quyền lực nội bộ của nó, thậm chí ngay cả trên lãnh thổ bị chia cắt bởi những chiến dịch quân sự. Các thủ lĩnh Xô Viết có thể, nếu bị bắt buộc, ký kết một hòa ước nhượng bộ, thậm chí là bất lợi đối với những lợi ích của họ. Song liệu họ có chịu chấp nhận một cái gì đó kiểu như đầu hàng vô điều kiện, hoàn toàn chịu sự chi phối của một chính quyền thù địch với họ. Họ sẽ nhanh chóng ẩn mình ở những vùng nông thôn hẻo lánh nhất ở Sibiri và rút cuộc sẽ chết, như Hitle, trước đòn tấn công của kẻ thù.
Hiện có một sự tin tưởng chắc chắn rằng nếu chúng ta tỏ ra vô cùng quan tâm tới mức độ có thể của điều này trong thời chiến và chúng ta sẽ không gây ra sự thù địch trong những người Xô Viết do cách xử sự độc ác của cảnh sát quân sự, thì sự tan rã của chính quyền Xô Viết trong quá trình chiến tranh sẽ trở nên phổ biến. Đây là điều, theo quan điểm của chúng ta, có thể coi là một kết cục thuận lợi. Chúng ta sẽ hoàn toàn đúng khi tạo ra sự tan rã đó bằng mọi phương tiện sẵn có trong tay. Song điều đó không có nghĩa là chúng ta có thể tin chắc vào việc chế độ Xô Viết hoàn toàn bị lật đổ, có nghĩa là chính quyền này bị thủ tiêu trên toàn bộ lãnh thổ Xô Viết hiện nay.
Tùy thuộc vào việc chính quyền Xô Viết còn duy trì được tại một phần lãnh thổ Xô Viết hiện nay, chúng ta không thể tin chắc rằng sẽ tìm được một nhóm thủ lĩnh chính trị trong số những người Nga - những người sẽ thực sự “dân chủ” theo cách hiểu của chúng ta về từ này.
Cho dù ở Nga đã từng có những thời điểm theo chủ nghĩa tự do, thì những công thức của nền dân chủ vẫn là xa lạ đối với đại bộ phận dân chúng Nga, đặc biệt là với những người có thiên hướng hoạt động quốc gia. hiện nay aaxn còn tồn tại nhiều nhóm chính trị Nga có ảnh hưởng trong số những ngoại kiều Nga; bằng lời nói, tất cả những người này đang tin theo những nguyên tắc của chủ nghĩa tự do ở một mức độ nhất định, còn một số người trong họ, theo quan điểm của chúng ta, có thể thích hợp với vai trò của người lãnh đạo trong chính phủ Xô Viết. Tuy nhiên, cho dù những nhóm này thiên về tự do đến mấy, thì không ai có thể biết, sau khi được trao quyền lực, liệu họ sẽ duy trì chính quyền bằng những biện pháp khủng bố và thanh trừng của cảnh sát không. Hành động của những người trong chính quyền thường được xác định rất rõ bởi hoàn cảnh để họ thực thi quyền lực, chứ không phải bởi những lý tưởng và những nguyên tắc đã từng khích lệ họ khi họ còn là phe đối lập. Khi chuyển giao việc quản lý chính quyền cho bất cứ nhóm người Nga nào, thì đừng bao giờ tin chắc rằng nhóm người đó sẽ điều hành bằng những phương pháp đã từng được nhân dân tán thành. Vì vậy, khi tiến hành một sự lựa chọn như thế là chúng ta đã liều lĩnh và gánh nhận trách nhiệm về mình, đừng bao giờ tin rằng chúng ta sẽ gánh vác trách nhiệm đó một cách xứng đáng.
Cuối cùng, chúng ta không thể tin tưởng rằng chỉ sau một thời gian ngắn những công thức dân chủ của chúng ta được cấy ghép thành công cho một nhóm thủ lĩnh Nga nào đó. Rút cuộc, tâm lý chính trị của bất cứ chế độ nào, ở một mức độ nào đó tùy thuộc vào ý chí của con người, nên nó sẽ là như chính của những con người đó. Những kinh nghiệm của chúng ta ở Đức và Nhật Bản đã chỉ rõ rằng không thể làm thay đổi tâm lý và những quan điểm của quảng đại quần chúng trong một thời gian ngắn, kể cả khi họ đã bị đánh bại và lệ thuộc hoàn toàn. Sự thay đổi đó chỉ có thể có được từ kinh nghiệm chính trị hữu cơ của dân tộc đó. Mức tối đa mà một đất nước có thể làm để đạt được sự thay đổi như vậy ở một nước khác là làm thay đổi những ảnh hưởng xung quanh đang tác động tới dân tộc đó, tập cho dân tộc đó phản ứng với những ảnh hưởng này theo cách nhìn nhận của mình.
Tất cả những điều này nói lên rằng, sau những hành động quân sự thành công ở Nga, chúng ta không thể trông chờ vào việc tạo dựng ở đó một chính phủ lệ thuộc hoàn toàn vào ý chí của chúng ta hay thể hiện hoàn toàn những lý tưởng chính trị của chúng ta. Chúng ta phải tính tới một khả năng đáng kể rằng chúng ta buộc phải hợp tác ở một mức độ nhất định với những chính quyền Nga mà chúng ta không thực sự tán thành, những mục tiêu của họ khác với của chúng ta, chúng ta phải chú ý tới những quan điểm và yếu điểm của họ xem chúng có thích hợp với chúng ta hay không. Nói một cách khác, chúng ta không thể hy vọng ý chí của chúng ta giành được một sự khẳng định hoàn toàn trên lãnh thổ Nga, tựa như việc chúng ta đã từng cố làm điều đó ở Đức và Nhật Bản. Chúng ta phải công nhận rằng cho dù cuối cùng chúng ta cũng đạt được một sự điều chỉnh nào đó, thì đó vẫn là sự điều chỉnh phi chính trị, một sai lầm chính trị.
Đó là những gì liên quan tới loại nhiệm vụ không thể hoàn thành. Vậy những mục tiêu mà chúng ta mong đợi và có khả năng trong trường hợp xảy ra chiến tranh với Nga là gì? Tương tự như những mục tiêu của thời bình, chúng có khởi nguồn lô gíc từ những mục tiêu chủ yếu đã đề cập ở phần III.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #145 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 06:57:56 pm » |
|
2. Làm suy giảm sức mạnh Xô Viết
Mục tiêu đầu tiên của chúng ta trong chiến tranh đương nhiên là phải tiêu diệt ảnh hưởng quân sự và sự thống trị của Nga tại những vùng tiếp giáp nằm ngoài biên giới quốc gia Nga.
Tất nhiên, việc chúng ta thành công trong cuộc chiến tranh tất yếu sẽ dẫn tới giành được kết quả tương tự ở phần lớn, nếu như không phải là tất cả, của vùng vệ tinh. Những thất bại quân sự liên tiếp của lực lượng Xô Viết có thể sẽ phá tan vị thế của những chế độ cộng sản ở các nước Đông Âu tới mức phần lớn trong số đó sẽ sụp đổ. Có thể vẫn còn những lò lửa theo kiểu “chủ nghĩa Tito” về chính trị, nghĩa là còn sót lại những chế độ cộng sản mang tính chất dân tộc và cục bộ thuần túy. Chúng ta có thể không cần chú ý tới số này. Theo thời gian, khi không còn sự hỗ trợ dưới dạng sức mạnh và vị thế của Nga, số này hoặc sẽ dần dần biết mất, hoặc sẽ hóa thân thành những chế độ dân tộc thông thường ít nhiều mang tính chất sô vanh và cực đoan rất đặc trưng cho những chính phủ dân tộc ở khu vực này. Đương nhiên, chúng ta phải tiêu diệt được mọi dấu vết mang hình thức của ảnh hưởng siêu nhiên từ Nga ở vùng này, như những hiệp ước liên bang chẳng hạn.
Nhưng, liên quan tới điều này, chúng ta vẫn còn vấn đề làm thay đổi biên giới Xô Viết theo mong muốn của chúng ta thông qua những hành động quân sự thắng lợi của mình. Chúng ta phải thành thật thú nhận rằng hiện nay chúng ta chưa thể làm rõ được câu hỏi này. Câu trả lời hầu hết còn tùy thuộc vào việc loại hình chế độ nào sẽ được hình thành sau những hành động quân sự tại chính vùng này. Nếu chế độ đó sẽ có được những viễn cảnh thuận lợi đủ để thực hiện những nguyên tắc của chủ nghĩa tự do trong các công việc nội bộ và sự kiềm chế trong chính sách đối ngoại, thì có thể trao cho chính quyền đó một phần lớn, nếu không phải là tất cả, lãnh thổ thu được từ Liên Xô qua cuộc chiến tranh vừa tiến hành. Chắc chắn hơn cả là nếu những chính quyền Nga sau chiến tranh còn có những hạn chế về khuynh hướng tự do và tính kiềm chế, thì việc thay đổi những đường biên giới có thể sẽ trở nên vô cùng cần thiết. Về điều này, có thể nói một cách đơn giản như về một trong những vấn đề cần để ngỏ cho tới chừng nào sự phát triển của những sự kiện chính trị và quân sự ở Nga chưa chứng tỏ cho chúng ta thấy hết tính chất của những khuôn khổ sau chiến tranh mà chúng ta đang thực thi.
Còn về vấn đề vị thế tư tưởng và huyền thoại Xô Viết mà Chính phủ Xô Viết hiện đang triển khai trên số những người nằm ngoài ranh giới của vùng vệ tinh hiện nay. Tất nhiên, vấn đề này trước hết tùy thuộc vào việc đảng cộng sản toàn liên bang hiện nay liệu có duy trì vị thế đó đối với một bộ phận nào đó của lãnh thổ Xô Viết hiện nay sau chiến tranh. Chúng ta đã từng xác định rằng chúng ta không thể loại trừ khả năng này. Nếu vị thế của những người cộng sản sẽ mất đi thì vấn đề đương nhiên sẽ được giải quyết. Song cần dự tính rằng trong mọi trường hợp chính kết cục chiến tranh không thành công của phía Xô Viết sẽ chắc chắn giáng một đòn quyết định vào hình thái quyền lực và ảnh hưởng của Xô Viết.
Dù sao đi nữa, chúng ta cùng phải tính rằng một trong những mục tiêu quân sự chủ yếu của chúng ta đối với Nga là tiêu diệt cơ bản cơ cấu quan hệ mà nhờ đó các thủ lĩnh của đảng cộng sản toàn liên bang có được một quyền lực mang tính kỷ luật và tinh thần đối với từng công dân hoặc những nhóm công dân tại những nước không nằm dưới sự kiểm soát cộng sản.
3. Làm thay đổi những công thức quan hệ quốc tế của Nga
Vấn đề này của chúng ta lại có liên quan tới những công thức sẽ xác định chính sách của Nga sau chiến tranh. Chúng ta liệu có thể tin tưởng rằng từ nay về sau chính sách của Nga sẽ được tiến hành theo hướng tiếp cận tối đa với những gì được chúng ta trông chờ trên đây? Đây chính là bản chất vấn đề của những mục tiêu của chúng ta trong chiến tranh đối với Nga và không thể không đánh giá.
Trước tiên, đây là vấn đề của chính quyền Xô Viết tương lai, tức là của chính quyền của đảng cộng sản ở Liên Xô. Đây là vấn đề cực kỳ khó khăn, không thể trả lời một cách đơn giản. Chúng ta biết rằng chúng ta sẽ chào đón, thậm chí cố gắng làm cho chính quyền Xô Viết bị tiêu diệt, bị xóa bỏ và chúng ta không thể tin tưởng hoàn toàn rằng chúng ta sẽ đạt được điều này. Đương nhiên, chúng ta có thể xem đây như là một nhiệm vụ tối đa, chứ không phải là tối thiểu. Tới lúc đó, nếu dự tính rằng sự tồn tại của một chính quyền Xô Viết tại một phần lãnh thổ Xô Viết sau khi kết thúc những hành động quân sự là tối ưu, thì thái độ của chúng ta đối với nó sẽ ra sao? Liệu chúng ta nói chung có nhất trí duy trì quan hệ với nó? Nếu có, thì chúng ta cần thiết lập ra những điều kiện gì?
Trước hết, chúng ta phải công nhận như một quyết định được thông qua trước đó rằng chúng ta không nên ký hòa ước và (hoặc là) thiết lập quan hệ ngoại giao có điều chỉnh với bất kỳ chế độ nào ở Nga mà người cầm đầu chúng là một ai đó trong số những thủ lĩnh Xô Viết hiện nay hay là người đang làm cho tư tưởng của họ bị phân ly. Qua 15 năm gần đây chúng ta đã có kinh nghiệm đáng buồn về vấn đề này; còn nếu chúng ta buộc phải tiến hành chiến tranh để bảo vệ nền chính trị và những hành động của chúng tránh những hậu quả, thì công luận của chúng ta liệu có tha thứ cho những thủ lĩnh Xô Viết vì những hậu quả tương tự hoặc lại tiếp tục nỗ lực hợp tác bình thường.
Mặt khác, nếu phải duy trì chế độ cộng sản để hoàn thành những hành động quân sự trên phần lãnh thổ Xô Viết, thì liệu chúng ta sẽ hoàn toàn không phải đếm xỉa gì đến nó. Trong mọi khả năng của chúng ta, nó không thể không tạo ra một nguy cơ tiềm năng đe dọa hòa bình và ổn định của chính nước Nga và của cả thế giới. Điều tối thiểu chúng ta cần làm là hãy tin tưởng rằng khả năng gây hại của nó bị hạn chế tới mức không thể gây thiệt hại thực sự, rằng chính chúng ta hoặc những lực lượng thân thiện với chúng ta vẫn kiểm soát được mọi việc.
Để có được điều này cần hai điều kiện. Một là, sẽ cần có một sự hạn chế thực sự về mặt vật lý sức mạnh của chế độ còn sót lại này sao cho nó không thể gây ra một cuộc chiến đe dọa và gây lo lắng cho các dân tộc khác cũng như các chế độ Nga khác. Nếu như những hành động quân sự dẫn tới việc kiên quyết cắt giảm phần lãnh thổ nằm trong vùng ảnh hưởng của những người cộng sản, đặc biệt, nếu như sự cắt giảm như thế làm mất đi những yếu tố then chốt của chúng trong cơ cấu công nghiệp - quân sự hiện nay của Xô Viết, thì sự hạn chế vật lý sẽ đương nhiên xảy ra. Nếu như vùng lãnh thổ nằm dưới sự kiểm soát của chúng sẽ không bị nhỏ đi một cách đáng kể, thì có thể đạt tới kết quả này bằng cách tăng cường phá hoại các công trình kinh tế và công nghiệp quan trọng từ trên không. Rất có thể phải sử dụng tới cả hai phương thức này. Nhưng dù sao đi chăng nữa, chúng ta có thể kết luận dứt khoát rằng chúng ta không thể coi những hành động quân sự của mình là thành công, nếu sau những hành động như thế chế độ cộng sản vẫn được duy trì sự kiểm soát đối với tiềm năng công nghiệp - quân sự hiện nay và đủ sức để trong những điều kiện tương tự tiến hành chiến tranh với một quốc gia láng giềng hoặc với một chính quyền cạnh tranh cùng nó - chính quyền có thể được thiết lập trên lãnh thổ Nga truyền thống.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #146 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 06:58:55 pm » |
|
Điều thứ hai đòi hỏi ở chúng ta, - trong trường hợp nếu chính quyền Xô Viết nói chung được duy trì trên lãnh thổ Nga truyền thống, - đấy là những điều kiện nào đó xác định thái độ quân sự của nó đối với chúng ta và đối với những chính quyền của các nước xung quanh. Nói cách khác, chúng ta cần có một hình thức quan hệ nhất định đối với chế độ như vậy. Hiện tại, điều này gây bất lợi cho chúng ta, song nhờ đó, hoàn toàn có thể là những lợi ích của chúng ta sẽ được bảo vệ tốt hơn so với việc sử dụng những hành động quân sự có quy mô lớn để chế áp hoàn toàn chính quyền Xô Viết.
Có thể nói một cách tin chắc rằng những điều kiện này đối với chế độ cộng sản sẽ bị coi là độc ác và công khai hạ nhục. Chúng có thể gợi nhớ tới những điều kiện của Hòa ước Brest-Litov năm 19181. Sự kiện người Đức đã ký kết hòa ước này không có nghĩa là họ thực sự công nhận ưu thế của chế độ Xô Viết. Họ đã cho rằng hòa ước làm cho chế độ Xô Viết trở nên an toàn đối với họ trong một thời gian và đặt nước Đức trước những vấn đề mang tính sống còn. Người Nga đã hiểu rằng trong đó có âm mưu của Đức. Họ tỏ ra thiếu dứt khoát và có ý định phá bỏ hòa ước khi có điều kiện thuận lợi. Nhưng ưu thế của Đức về lực lượng là có thực và các tính toán của Đức có tính hiện thực. Nếu như Đức không bị thất bại ở phía Tây ngay sau khi ký Hòa ước Brest-Litov, thì liệu Chính phủ Xô Viết có thể ngăn chặn được Đức giành lấy những mục tiêu của chúng tại Nga. Chính tại thời điểm then chốt này Chính phủ chúng ta dường như đã có thể xử lý chế độ Xô Viết vào giai đoạn cuối của xung đột vũ trang.
Không thể nói trước được tính chất của những điều kiện đó sẽ ra sao. Phần lãnh thổ còn nằm trong sự điều hành của chế độ này càng bé, thì nhiệm vụ thúc đẩy những điều kiện này thỏa mãn những lợi ích của chúng ta càng trở nên dễ dàng hơn. Trong trường hợp tệ hại nhất, tức là khi chính quyền Xô Viết vẫn còn được duy trì trên toàn bộ hoặc hầu như trên toàn bộ lãnh thổ Xô Viết hiện nay, chúng ta cần phải có:
a) Những điều kiện quân sự trực tiếp (giao nộp trang bị, triệt thoái những vùng then chốt,...) nhằm bảo đảm sự triệt tiêu quân sự trong một thời gian dài.
b) Những điều kiện có khuynh hướng tạo lập sự lệ thuộc thực sự về kinh tế vào thế giới bên ngoài.
c) Những điều kiện có khuynh hướng trao quyền tự do cần thiết hoặc định chế liên bang cho các dân tộc thiểu số (chúng ta chí ít cũng cần bảo vệ nền tự do hoàn toàn cho các quốc gia vùng Baltik và bảo đảm định chế liên bang cho Ucraina để cho phép chính quyền địa phương Ucraina có được một mức độ tự trị cao nhất).
d) Những điều kiện có khuynh hướng phá hoại bức màn sắt và bảo đảm cho sự lưu thông tự do cho tư tưởng từ bên ngoài và thiết lập những cuộc tiếp xúc đông đảo giữa những người đang nằm trong vùng của chính quyền Xô Viết với những người ngoài vùng đó.
Những mục tiêu của chúng ta đối với bất kỳ một chính quyền Xô Viết nào còn sót lại là như vậy. Còn vấn đề: những mục tiêu của chúng ta đối với chính quyền phi cộng sản - một chính quyền có thể được thiết lập trên một phần hoặc trên toàn bộ lãnh thổ Nga sau những hành động quân sự sẽ như thế nào.
Trước hết, cần phải nói rằng tùy thuộc vào nền tảng tư tưởng của chính quyền phi cộng sản đó và tùy thuộc vào mức độ nó trung thành với lý tưởng dân chủ và tự do, chúng ta cần phải bằng cách này hay cách khác bảo đảm hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản đã được nêu ở trên. Nói cách khác, chúng ta đương nhiên phải thực hiện những biện pháp cảnh giác để đảm bảo rằng chế độ phi cộng sản và thân thiện với chúng ta về mặt danh nghĩa đó là một chế độ:
a) Không có lực lượng vũ trang mạnh;
b) Còn phụ thuộc đáng kể về kinh tế vào thế giới bên ngoài;
c) Không có một quyền lực quá lớn đối với các dân tộc thiểu số chủ yếu;
d) Không tạo ra bất cứ điều gì gợi nhớ tới bức màn sắt trong những quan hệ với thế giới bên ngoài.
Trong trường hợp có một chế độ thù địch với những người cộng sản và thân thiện với chúng ta, chúng ta rõ ràng cần xem xét và thúc đẩy những điều kiện đó sao cho tế nhị và tôn trọng. Tuy nhiên, chúng ta cần chú ý để những điều kiện đó, bằng cách này hay cách khác, được thúc đẩy, nếu chúng ta muốn bảo vệ những lợi ích của chúng ta và những lợi ích của thế giới trên toàn thế giới.
Vì vậy, chúng ta có thể mạnh dạn nói rằng, mục tiêu của chúng ta trong trường hợp có chiến tranh với Liên Xô, được theo đuổi sau khi kết thúc chiến tranh là không một chế độ nào trên lãnh thổ Nga được phép:
a) Duy trì lực lượng quân sự ở quy mô có thể đe dọa bất kỳ một nước láng giềng nào;
b) Duy trì sự tự chủ về kinh tế ở mức độ có thể tạo ra cơ sở kinh tế cho lực lượng vũ trang mà không cần tới sự hỗ trợ của thế giới phương Tây;
c) Thiết lập chế độ tự trị và tự quản đối với các dân tộc thiểu số;
d) Duy trì một hình thái tương đồng với bức màn sắt.
Nếu việc hoàn thành những điều kiện này được bảo đảm thì chúng ta có thể mô phỏng được mọi tình huống chính trị sau chiến tranh. Khi đó chúng ta sẽ an toàn, không bị phụ thuộc vào việc chính quyền Xô Viết có được duy trì trên toàn bộ lãnh thổ Nga hay không, hay chỉ trên một phần nhỏ của nó, hay bị biến mất hoàn toàn. Và chúng ta sẽ an toàn ngay cả khi lòng nhiệt thành ban đầu với nền dân chủ giảm dần và nhường chỗ cho sự pha trộn (confecion) chống xã hội từng được nuôi dưỡng trong thế hệ hiện nay của những người Xô Viết. Điều nói trên cần được coi là biểu hiện tương thích với những mục tiêu chiến tranh của chúng ta ngay cả trong trường hợp nếu nhờ chiến tranh mà các quá trình chính trị ở Nga có được con đường riêng của nó và chúng ta sẽ buộc phải nhận lãnh một trách nhiệm nghiêm túc về tương lai chính trị của đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn những câu hỏi cần được trả lời trong trường hợp nếu chính quyền Xô Viết bị tiêu diệt quá nhanh và quá triệt để tới mức đất nước sẽ rơi vào hỗn loạn, làm cho chúng ta - những người chiến thắng trở nên khó khăn trong để hoàn thành một sự lựa chọn chính trị và thông qua những quyết định hình thành tương lai chính trị của đất nước. Trong một khả năng như thế, chúng ta sẽ vấp phải 3 vấn đề cơ bản. __________________________________ 1. Hòa ước Brest-Litov được ký kết ngày 3 tháng 3 năm 1918, chấm dứt những hành động quân sự giữa nước Nga Xô Viết với các cường quốc ở Trung Âu. Những điều kiện của nó bao gồạơ độc lập của Ucraina, Gruzia, Phần Lan, việc chuyển giao cho các cường quốc Trung Âu các nước BaLan, các quốc gia vùng Baltik và một phần của Belorus, việc chuyển giao Kars, Ardakhan và Batum cho Thổ Nhĩ Kỳ. Đức là nước có liên quan tới những điều kiện của Hiệp ước về hòa giải giữa Đức và các cường quốc Trung Âu được ký ngày 11 tháng 11 năm 1918. ND.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #147 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 07:00:28 pm » |
|
4. Vấn đề chia tách và an ninh quốc gia
Trước hết, chúng ta mong muốn điều gì trong trường hợp như sau: để những lãnh thổ hiện nay của vẫn nằm dưới một chế độ duy nhất hay chia nhỏ chúng ra? Nếu chúng vẫn là một thể thống nhất, thì mức độ của hình thức liên bang cần phải được thực hiện trong Chính phủ Nga tương lai ra sao? Các dân tộc thiểu số chủ yếu sẽ ra sao, đặc biệt là trong trường hợp của Ucraina?
Chúng ta đã từng đề cập tới vấn đề của các quốc gia vùng Baltik. Các quốc gia vùng Baltik không nhất thiết phải nằm dưới một chính quyền cộng sản sau chiến tranh. Nếu vùng lãnh thổ tiếp giáp với các quốc gia thuộc Baltik sẽ được các chính quyền Nga điều hành khác với cách điều hành của những chính quyền cộng sản, thì chúng ta cần tuân theo ý nguyện của các dân tộc vùng Baltik và mức độ kiềm chế mà các chính quyền Nga thể hiện trong quan hệ với những dân tộc này.
Trong trường hợp đối với Ucraina chúng ta có vấn đề sau: Người Ucraina là dân tộc tiến bộ nhất trong những dân tộc hiện nay đang lệ thuộc Nga. Họ chủ yếu khó chịu với sự thống trị của Nga, còn những tổ chức dân tộc của họ đang hoạt động rất tích cực và có vị thế với các nước khác. Vì vậy, có thể dễ dàng đi đến kết luận rằng cuối cùng họ phải được giải phóng khỏi quyền lực Nga và được tự chủ như một quốc gia độc lập. Chúng ta cần thận trọng với kết luận này, vì chính sự đơn giản của nó không thích hợp với những điều kiện hiện thực của Đông âu.
Thực ra, người Ucraina đang phải chịu ở dưới quyền lực của Nga và buộc phải làm điều gì đó để bảo vệ vị thế của họ trong tương lai. Tuy nhiên có những sự kiện cơ bản nhất định không cho phép họ làm như vậy. Mặc dù người Ucraina là một thành viên quan trọng và đặc biệt trong đế chế Nga, họ không thể chứng tỏ mình là “một dân tộc” có khả năng giải quyết thành công những vấn đề về độc lập mà bất chấp sự phản đối của Nga. Ucraina không phải là một khái niệm địa lý hay sắc tộc được xác định một cách chính xác. Dân cư Ucraina cơ bản khởi nguồn từ những người lẩn tránh chính thể chuyên chế Nga và Ba Lan, nên vẫn là những người Nga và Ba Lan. Ranh giới giữa Nga và Ucraina không rõ ràng nên rất khó xác lập. những thị dân trên lãnh thổ Ucraina chủ yếu là nga Nga và Do Thái. Nền tảng thực sự của “tính Ucraina” - đó chỉ là cảm giác của “sự khác biệt” trong thổ ngữ nông dân và sự khác biệt không đáng kể trong văn hóa dân gian và tập tục ở các vùng nông thôn. Còn cái gọi là những trao lưu chính trị - thì đó chỉ là sản phẩm của một số trí thức lãng mạn không có chút khái niệm gì về cơ cấu quốc gia.
Nền kinh tế của Ucraina cơ bản gắn bó chặt chẽ với nền kinh tế Nga, không hề có tự chủ về kinh tế kể từ khi lãnh thổ này bị những người du mục Tarta chiếm đoạt. ý định tách nó ra khỏi nền kinh tế Nga trở nên tự chủ chỉ mang tính nhân tạo và đã bị phá sản tựa như ý định tách vùng thắt lưng Kukuruz để nhập vào vùng công nghiệp của vùng hồ Veliki ra khỏi nền kinh tế Mỹ.
Hơn nữa, những người nói bằng thổ ngữ Ucraina đang bị tách ra như những người nói bằng thổ ngữ Belorus - ở Đông Âu, đây là dấu hiệu luôn được coi là tiêu chí mang tính dân tộc thực sự, mà đúng hơn là tiêu chí tôn giáo. Nếu ở Ucraina có thể sẽ vạch ra một ranh giới thực sự nào đó, thì lô gíc hơn cả là ranh giới giữa các vùng theo tín ngưỡng của giáo hội phương Đông và theo tín ngưỡng giáo hội La Mã.
Rút cuộc, chúng ta không thể thờ ơ với tình cảm của chính những người theo chủ nghĩa Đại Nga. Chúng là một thành tố mạnh nhất của đế chế Nga, và hiện nay ở Liên Xô. Chúng vẫn sẽ là thành tố dân tộc mạnh nhất trên lãnh thổ này cho dù ở dưới định chế nào. Mọi chính sách dài hạn của Mỹ cần dựa trên cơ sở công nhận chúng và hợp tác với chúng. Lãnh thổ của Ucraina hiện là di sản của chúng tựa như vùng Cận Đông đối với Mỹ, và chúng nhận thức được vấn đề này. Quyết định nhằm tách Ucraina khỏi nước Nga cổ xưa đều gây cho họ lòng căm thù và sự phản đối, và rút cuộc chỉ có thể tiến hành bằng vũ lực. Hoàn toàn có thể là những người theo chủ nghĩa đại Nga sẽ buộc phải công nhận nền độc lập mới của các quốc gia vùng Baltik. Một thời gian dài trong quá khứ họ đã tỏ ra khoan hòa với nền độc lập của những vùng lãnh thổ này đối với sự điều hành Nga; và hiện họ vẫn công nhận, cho dù là trong tiềm thức hay không, rằng những dân tộc này có khả năng độc lập. Còn thái độ đối với người Ucraina lại khác. Họ rất gần gũi với người Nga. Cho dù điều đó là tốt hay xấu, song họ buộc phải xác định số phận của mình trong mối quan hệ đặc biệt với dân tộc đại Nga.
Dường như rất rõ ràng rằng mối quan hệ đó trở nên tối ưu trong thể chế liên bang mà Ucraina sẽ có một mức độ tự trị đáng kể về chính trị và văn hóa, nhưng sẽ không độc lập về kinh tế hay quân sự. Những mối quan hệ như thế dường như cũng thỏa mãn với những đòi hỏi của chính đại Nga. Vì vậy, có thể chỉ ra rằng trong khuôn khổ đó cần bao gồm cả những mục tiêu của Mỹ đối với Ucraina.
Cần nhận thấy rằng vấn đề này là lớn hơn rất nhiều so với vấn đề của một tương lai xa. Những phần tử Ucraina và đại Nga trong số những nhóm kiều dân Nga đối lập đang có sự cạnh tranh rất quyết liệt để giành sự ủng hộ từ phía Mỹ. Thái độ ứng xử của chúng ta đối với những đòi hỏi này đều có thể gây nên một ảnh hưởng quan trọng đối với diễn biến và kết quả của phong trào đòi tự do chính trị trong số những người Nga. Vì vậy, điều quan trọng là chúng ta cần có quyết định của mình và kiên quyết theo đuổi quyết định đó. Một quyết định đương nhiên không thể là thân Nga hay thân Ucraina, song cần công nhận thực tiễn lịch sử, địa lý và kinh tế và phải tạo cho Ucraina một vị trí xứng đáng có thể chấp nhận được trong gia đình của đế chế Nga truyền thống và là phần không thể tách rời
Cần phải nói thêm rằng, cho dù đã nói ở trên, chúng ta cần ủng hộ khuynh hướng phân liệt của Ucraina một cách không định kiến. Tuy nhiên, nếu trên lãnh thổ Ucraina sẽ thiết lập một chế độ độc lập mà không có sự tham gia của chúng ta, thì chúng ta cũng đừng công khai chống lại nó. Nếu làm như vậy là chúng ta nhận lãnh cho mình một trách nhiệm không cần thiết về những thay đổi nội bộ ở Nga. Cuối cùng thì một chế độ như thế sẽ tự cạnh tranh với Nga. Nếu sự cạnh tranh đó thành công, thì điều đó chứng tỏ rằng sự phân tích trên đây đã sai lầm, rằng Ucraina thực sự có khả năng và có quyền lợi tinh thần về một định chế độc lập. Chính sách của chúng ta trước hết là phải thể hiện thái độ trung lập cho tới chừng nào mà những lợi ích của chúng ta - về quân sự hay mặt khác, - không trực tiếp bị thiệt hại. Chỉ khi nào sự trì trệ ngoài ý muốn đang phát triển mặt cách rõ ràng, thì chúng ta mới cần ủng hộ những yếu tố khác biệt trong khuôn khổ một định chế liên bang cho phép. Điều này cũng liên quan tới bất kỳ ý định giành định chế độc lập nào từ phía các dân tộc thiểu số khác ở Nga. Rất ít có khả năng cho một dân tộc thiểu số nào đó có thể duy trì thành công và lâu dài một nền độc lập thực sự. Tuy nhiên, nếu họ sẽ có một ý định như thế (và cũng hoàn toàn có thể là các dân tộc ở Kavkaz sẽ làm như thế), thì thái độ của chúng ta cũng phải tương tự như đối với Ucraina. Chúng ta cần thận trọng để không đặt mình vào tình trạng chống đối công khai những ý định như thế, bởi nó sẽ làm cho chúng ta mất đi sự đồng cảm của thiểu số này. Mặt khác, chúng ta không cần ủng hộ chúng trong những hành động mà rút cuộc chúng có thể được thực hiện với sự hỗ trợ về quân sự từ phía chúng ta.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #148 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 07:02:51 pm » |
|
5. Lựa chọn nhóm cầm quyền mới
Trong trường hợp chính quyền Xô Viết bị tiêu diệt chúng ta sẽ luôn gặp những đòi hỏi hỗ trợ từ phía những phần tử chính trị cạnh tranh khác nhau trong số những nhóm đối lập hiện nay ở Nga. Chúng ta thực sự không thể lảng tránh sự ủng hộ cho một nhóm này hay nhóm khác mà không gây tổn hại cho phía bị cạnh tranh. Tuy nhiên, có khá nhiều điều sẽ tùy thuộc vào chính chúng ta và quan niệm của chúng ta về mục tiêu mà chúng ta đang cố giành lấy.
Chúng ta đã thấy rằng trong số những nhóm đối lập có tiềm năng và đang tồn tại không có lấy một nhóm nào để chúng ta muốn ủng hộ một cách hoàn toàn vì những hành động của chúng, trong trường hợp nếu giàng được chính quyền ở Nga đều buộc chúng ta phải chịu trách nhiệm.
Mặt khác, chúng ta cần chờ đợi rằng những nhóm khác nhau sẽ tìm mọi cách buộc chúng ta can dự vào công việc nội bộ của Nga và sử dụng những biện pháp mà chúng ta phải chịu trách nhiệm và là căn cứ để các nhóm chính trị ở Nga tiếp tục đòi hỏi sự ủng hộ của chúng ta. Dưới ánh sáng của những sự kiện như thế, rõ ràng là chúng ta cần áp dụng những nỗ lực nhất định để tránh một trách nhiệm về việc quyết định ai sẽ điều hành nước Nga sau khi chế độ Xô Viết bị tiêu diệt. Phương án tốt nhất đối với chúng ta - đó là cho phép mọi kiều dân trở về nước Nga càng nhanh càng tốt để tất cả những người này có cơ hội bằng nhau thể hiện khuynh hướng quyền lực của họ. Quan điểm cơ bản của chúng ta phải là: cuối cùng, nhân dân Nga phải làm một sự lựa chọn riêng của mình và chúng ta không có ý định tác động vào sự lựa chọn đó. Do đó, chúng ta không nhất thiết phải có người được che chở, và chúng ta cần giám sát để mọi nhóm cạnh tranh đều nhận được cơ hội trình bày những lý lẽ của họ cho nhân dân Nga thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Rõ ràng là trong sự cạnh tranh của mình, các nhóm này sẽ dùng tới bạo lực. Thậm chí cả trong trường hợp như thế, chúng ta không nên can thiệp tới chừng nào chúng chưa động tới những lợi ích quân sự của chúng ta và tới khi âm mưu của bất kể nhóm nào nhằm thiết lập chính quyền của mình chưa dẫn tới những cuộc thanh trừng dã man, có quy mô lớn, mang tính độc tài làm tổn hại tới các thủ lĩnh của những đảng đối lập và chính nhân dân.
6. Vấn đề “phi cộng sản hóa”
Tại bất cứ lãnh thổ nào được giải phóng khỏi sự cầm quyền của Xô Viết, chúng ta đều có thể vấp phải vấn đề về tàn dư của bộ máy chính quyền Xô Viết.
Rõ ràng là trong trường hợp Lực lượng vũ trang Xô Viết rút quân hoàn toàn khỏi lãnh thổ Xô Viết hiện nay, bộ máy địa phương của đảng cộng sản sẽ rút vào bí mật như cách đã từng làm ở những vùng bị quân Đức chiếm đóng trong chiến tranh quá khứ. Rất có thể bộ máy đó thỉnh thoảng lại xuất hiện như những toán du kích. Với cung cách này, vấn đề xử lý nó khá đơn giản. Chỉ cần chúng ta cung cấp vũ khí cần thiết và sự hỗ trợ quân sự cho bất kỳ chính quyền Nga phi cộng sản nào có khả năng kiểm soát khu vực và cho phép chính quyền đó xử lý những đám cộng phỉ bằng những phương pháp cơ bản truyền thống của một cuộc nội chiến Nga.
Vấn đề xử lý sẽ trở nên khó khăn hơn đối với những quan chức và đảng viên cấp hai của đảng cộng sản - những người này có thể bị phát giác và bị bắt giam hoặc có thể cầu xin sự tha thứ từ lực lượng vũ trang của chúng ta hoặc từ bất kỳ chính quyền Nga nào đang cầm quyền trên lãnh thổ này.
Với vấn đề này, chúng ta cũng không cần thiết nhận lãnh trách nhiệm về số phận của những người này hay ra những mệnh lệnh trực tiếp cho chính quyền địa phương về cách xử lý. Về mặt đạo đức, chúng ta có quyền bảo vệ để họ giải giáp vũ trang và để cho họ không chiếm những vị trí then chốt trong chính phủ chừng nào những người này chưa chứng tỏ một cách rõ ràng là đã thực sự biến đổi về mặt tư tưởng. Song, về cơ bản, điều này cần phải là vấn đề của chính quyền Nga - những chính quyền có khả năng thay thế chế độ cộng sản. Chúng ta có thể tin rằng một chính quyền như thế sẽ xử lý thành công hơn chính chúng ta rất nhiều. Họ có thể đánh giá mức độ nguy hiểm của những cựu đảng viên cộng sản đối với chế độ mới và biết cách xử lý sao cho những người này không thể gây hại trong tương lai. Mối quan tâm chủ yếu của chúng ta là theo dõi không để cho bất cứ chế độ cộng sản nào như thế tái lập tại những vùng chúng ta đã giải phóng và tại những vùng mà theo quyết định của chúng ta phải độc lập với sự kiểm soát của cộng sản. Ngoài ra, chúng ta cần thận trọng tránh để bị lôi kéo vào vấn đề “phi cộng sản hóa”.
Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là các quá trình chính trị ở Nga đang diễn ra rất phức tạp và không thể lường trước. Trong đó không có một điều gì là đơn giản và không thể nói trước được điều gì. Và rất hiếm khi, nếu như là có thể, màu sắc của nó là thuần trắng hoặc thuần đen. Bộ máy cộng sản hiện nay rõ ràng có một bộ phận khá mạnh gồm những người được đào tạo và có thiên hướng tham gia vào quá trình quản lý. Và bất cứ một chế độ mới nào cũng sẽ buộc phải sử dụng công sức của nhiều người trong số này để có khả năng điều hành được đất nước nói chung. Hơn nữa, chúng ta không thể trong từng trường hợp cụ thể gây ra những lý do để đẩy từng công dân Nga sang phía hợp tác với phong trào cộng sản. Chúng ta cũng không thể đánh giá mức độ mà trong đó sự hợp tác như thế là sẽ làm tổn hại thanh danh hoặc nguy hiểm về mặt hình sự đối với những người Nga khác. Đối với chúng ta, hành động này là rất nguy hiểm. Chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng sự truy sát từ phía chính phủ nước ngoài tất yếu sẽ làm cho dân chúng địa phương khó chịu.
Vì vậy, đối với những lãnh thổ được giải phóng khỏi sự kiểm soát của cộng sản, chúng ta cần tinh tế hơn và hạn chế giám sát để một số cựu đảng viên cộng sản không có cơ hội tái tổ chức thành những nhóm vũ trang mang kỳ vọng giành quyền lực chính trị và để cho các chính quyền phi cộng sản ở địa phương được cung cấp đủ vũ khí cũng như được hỗ trợ theo đúng ý muốn của họ.
Do đó, chúng ta có thể nói rằng chúng ta không nhất thiết đặt ra cho mình mục tiêu là tiến hành một chương trình phi cộng sản hóa với quy mô nào đó bằng lực lượng riêng của mình trên lãnh thổ được giải phóng khỏi chính quyền cộng sản; rằng về cơ bản chúng ta phải giành vấn đề đó cho bất kỳ một chính quyền địa phương nào có khả năng loại bỏ sự quản lý của cộng sản.(Containtmen: Documents on American policy and strategy, 1945 - 1950. Ed: Etzold Thomas H. and Gaddis Tohn Lewis. N.-Y.: Columbia univ. press, 1978).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #149 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 12:28:31 pm » |
|
Phụ lục N0 5. Quyền uỷ trị điều hành - 3. Những kiến nghị của Trung tâm nghiên cứu “Haritidg Foundation” thuộc Văn phòng Tổng thống Bush
Phần “Quan hệ Mỹ - Liên Xô“
Trong đường lối đối ngoại Mỹ, Liên Xô là đối tượng chủ yếu của sự bất an. Hiện nay, ở Liên Xô đang diễn ra những thay đổi rất rõ ràng, và Mỹ cần thường xuyên theo sát những diễn biến ở Liên Xô. Những thay đổi đó bao gồm: những trào lưu “cải tổ”, “công khai”, “dân chủ hóa” do thủ lĩnh Xô Viết Mikhain Gorbachov khơi mào và việc xét lại một phần học thuyết quân sự và chính trị đối ngoại được biết tới như một “tư duy mới” (tên một cuốn sách lý luận của Gorbachov).
Trong quan hệ đối với Liên Xô, Tổng thống mới cần lãnh đạo nhiệm vụ chung sau đây:
- Làm giảm mối đe dọa quân sự của Xô Viết đối với phương Tây để duy trì ổn định chiến lược bằng con đường kiềm chế mạnh mẽ và có hiệu quả một cuộc xâm lược với sức mạnh đe dọa;
- Khích lệ Matxcơva và các nước vệ tinh của nó theo đuổi một đường lối đối nội và đối ngoại phù hợp hơn với nền an ninh và những giá trị của phương Tây.
Liên Xô, như đế chế Nga tiền bối của nó, là một cường quốc đa dân tộc, trong đó dân tộc đại Nga chiếm chưa được một nửa dân số nên họ rõ ràng là dân tộc thiểu số. Để có được sự ủng hộ từ trước của những dân tộc không phải Nga trong cuộc đấu tranh giành chính quyền của mình, thủ lĩnh Bolxevich Vladimir Lênin đã trao cho họ quyền tách khỏi thành phần của Nga và thành lập những quốc gia có chủ quyền. Tuy nhiên, vào năm 1922, ông ta đã sử dụng sức mạnh quân sự để buộc họ vào cùng một quốc gia. Vấn đề này cho tới nay vẫn chưa có cách nào giải quyết, mà bằng chứng của nó là những vụ bột phát tình cảm dân tộc mới đây tại Armeni và những nước cộng hòa vùng Baltik đòi độc lập, nếu chưa phải về mặt chính trị thì cũng là kinh tế, đối với Matxcơva.
Chính quyền mới cần vạch ra chiến lược dài hạn liên quan tới việc phi thuộc địa hóa các nước công hòa dân tộc Xô Viết trong thành phần đế chế Xô Viết. Đầu tiên, Tổng thống mới cần gọi Liên Xô bằng cái tên thực sự của nó - đế chế thuộc địa cuối cùng trên thế giới. Sau đó, cần ủng hộ vững chắc về mặt tinh thần cho những lực lượng giải phóng dân tộc chống thuộc địa trong lòng Liên Xô. Sự tán thành mà Mỹ nhận được từ một nửa dân chúng Xô Viết sẽ bù đắp được một cách đáng kể đối với phản ứng chính thức tiêu cực có thể xảy ra từ những người Xô Viết.
Những sáng kiến cho năm 1989
...
3. Phản ứng với tình hình khủng hoảng ở các nước Trung Âu và Đông Âu. Những diễn biến phát triển tình hình khủng hoảng ở các nước Trung Âu và Đông Âu là hết sức rõ ràng, tình hình kinh tế đang xấu đi nhanh chóng, khủng hoảng về cơ sở pháp lý của định chế các đảng cộng sản đang cầm quyền và những tín hiệu sai lầm từ Matxcơva đang trở nên sâu sắc. Tình hình ở Hung Ga Ri và Ba Lan đặc biệt mất ổn định. Tổng thống mới đắc cử phải hình thành một nhóm liên bộ về khu vực Trung và Đông Âu, người đứng đầu là cố vấn của Tổng thống về an ninh quốc gia, chịu trách nhiệm phân tích chính sách toàn cầu của Xô Viết. Trong thành phần của nó cần có sự tham gia của các đại diện Hội đồng An ninh quốc gia, Quốc hội, Bộ Quốc phòng, Thương mại và Tài chính. Tùy theo khả năng, trong mỗi thời hạn nhanh tối đa, tổ chức chuyên gia này cần kiến nghị cho Tổng thống những giải pháp phản ứng của Mỹ về ngoại giao, kinh tế, chính trị và quân sự đối với tình hình khủng hoảng ở Trung và Đông Âu.
Những giải pháp này có thể bao gồm:
- Tuyên bố của các lãnh đạo các nước NATO về việc lên án sự can thiệp của Liên Xô;
- Phê chuẩn về kinh tế chống Liên Xô khi Liên Xô can thiệp quân sự;
- Triệu hồi đại sứ các nước phương Tây rời khỏi Liên Xô;
- Triển khai lực lượng vũ trang NATO ở mức sẵn sàng chiến đấu khác nhau;
- Hành động phối hợp của các nước phương Tây tại Liên Hợp Quốc.
Tổng thống cần thảo luận các phương án hành động có thể nêu trên với các đồng minh của Mỹ và hình thành nên một cơ chế nhất định bảo đảm một phản ứng chiến thuật thích hợp của các đồng minh trước mọi tình huống khủng hoảng ở Trung và Đông Âu.
4. Củng cố an ninh kinh tế của phương Tây. Trong những điều kiện Liên Xô tiến hành chiến lược chủ động và tích cực đối với những thị trường thương mại và tài chính của các nước phương Tây, Mỹ cần giành về mình vai trò thủ lĩnh trong việc củng cố an ninh kinh tế phương Tây. Hoa Kỳ cần hướng sự chú ý của các đồng minh vào vấn đề “cam kết không liên quan” các khoản nợ do các tổ chức tài chính phương Tây cung cấp cho Liên Xô (dưới dạng vốn bằng tiền mặt); xác nhận Hiệp định 1982 ký với các nước đồng minh về việc cấm mọi trợ cấp của bất kỳ chính phủ nào cho những khoản nợ của Liên Xô; hạn chế hơn nữa việc chuyển giao công nghệ bí mật cho các nước thuộc khối Xô Viết và hạn chế sự độc lập năng lượng của các nước phương Tây bằng cách xác nhận các hạn chế thiết lập ở trên đối với việc xuất khẩu khí gas của Liên Xô vào các nước Tây Âu.
5. Chấm dứt trợ giá cho việc bán ngũ cốc vào Liên Xô. Việc bán ngũ cốc của Mỹ cho Liên Xô từng bị chấm dứt sau khi Liên Xô can thiệp vào Afghanistan đã được Chính quyền Reagan phục hồi. Cho dù không nhất thiết phải ngăn cản đối với việc cung cấp thương mại ngũ cốc cho Liên Xô, song cần thấy rằng việc bán ngũ cốc vào nước này được thực hiện trong thời gian gần đây với giá thấp hơn giá Chính phủ Mỹ thu mua của các trang trại. Sự khác biệt thuộc về những người đóng thuế. Ví dụ, cứ 6 nghìn giạ (bushel - đơn vị đo lường Anh tương đương 36,3 lít. ND) hạt ngũ cốc bán cho Liên Xô, những người đóng thuế Mỹ phải bù 4722 USD, tương đương với mức thuế của một gia đình trung lưu Mỹ với 4 thành viên vào năm 1987.
Những hợp đồng dài hạn cho việc bán ngũ cốc đang ẩn chứa một nguy cơ hình thành một vùng kinh tế Mỹ lệ thuộc rất lớn vào những đơn đặt hàng thương mại từ phía Liên Xô. Việc bán ngũ cốc, nếu như nó vẫn được tiếp tục, cần được thực hiện không thông qua bất kỳ trung gian nào và không có sự trợ giá của Chính phủ Mỹ. Tổng thống mới đắc cử cần ra lệnh cho các vị bộ trưởng nông nghiệp và thương mại đưa ra những chỉ dẫn liên quan tới vấn đề: bằng cánh nào Mỹ có thể chấm dứt mọi sự trợ giá từ phía Chính phủ trong việc bán ngũ cốc cho Liên Xô.
6. Từ chối ký kết những hiệp định mới giữa Liên Xô và Mỹ trong lĩnh vực liên lạc, nếu Matxcơva không chấm dứt việc phá sóng phát thanh của các đài phương Tây. Việc Liên Xô phá sóng chương trình phát thanh của đài “Tự do” là vị phạm Biên bản kết luận mà họ đã ký tại Helsinhky. Washington đã nhiều lần phản đối song không có bất cứ kết quả nào. ủy ban liên bộ dự kiến về trao đổi Xô - Mỹ hoặc (nếu tổ chức sẽ không được hình thành) lãnh đạo Vụ những vấn đề quan hệ với Liên Xô và các nước Đông Âu trong bộ máy của Hội đồng An ninh quốc gia cần đưa ra những kiến nghị liên quan tới việc Hoa Kỳ phê chuẩn chống Liên Xô trong trường hợp họ tiếp tục phá sóng các chương trình của đài “Tự do”. Những phê chuẩn đó có thể bao gồm: hạn chế các chuyến thăm chính thức của đại diện Xô Viết vào Mỹ; từ chối cấp visa cho những tuyên truyền viên có tiếng của Liên Xô.
7. Thành lập một quỹ tiền tệ dự trữ để tài trợ cho công việc của đài phát thanh “châu Âu tự do”, và “Tự do”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|