Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:39:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí ẩn sự diệt vong của Liên Xô  (Đọc 101710 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #150 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 12:29:01 pm »


Phần “chính sách đối với các nước Đông Âu”

Kể từ khi đế chế Xô Viết tiếp thu các nước Trung và Đông Âu sau Chiến tranh thế giới II, chính sách của Mỹ đối với khu vực này đã thiên về những hành động đối phó. Trong suốt mười năm, công thức loại bỏ chủ nghĩa cộng sản, kể từ khi nó được hình thành, ngoài những lời hoa mỹ, vẫn chưa có được một khởi đầu hiệu quả nào. Tuy nhiên, bài học thu được từ kinh nghiệm vận dụng học thuyết của Reagan tại Grenada, tại Afghanistan và Nicaragua chứng tỏ về sự loại bỏ đó có thể đã có hiệu quả. Biến thể của chính sách đó được vận dụng vào trong quan hệ với các nước Trung và Đông Âu. Nhiệm vụ đặt ra là thúc đẩy những bất lợi dễ thấy đối với đại bộ phận dân chúng ở khu vực này.

Thành công từ sự hỗ trợ của Mỹ cho hoạt động bí mật ở Ba Lan chỉ ra rằng Mỹ có thể tác động một cách có chọn lọc tới quan điểm dân chủ ở các nước Trung và Đông Âu. Sự bất ổn ngày càng tăng cao ở khu vực này là kết quả của sự thay thế tất yếu các thế hệ, những khủng hoảng kinh tế và những tín hiệu hai mặt từ phía Matxcơva, đang có thể tạo ra những khả năng thuận lợi cho lực lượng dân chủ ở một hay một số nước.

Để giành được mục tiêu cuối cùng mà chính sách của Mỹ đang theo đuổi đối với các nước Trung và Đông Âu, - như quyền dân tộc tự quyết, điều hành dân chủ đối với nhân dân ở khu vực này, - chiến lược của Mỹ cần bao gồm 3 thành tố:

Một là, Mỹ cần thúc đẩy sự xuất hiện một xã hội công dân thiên tả về chính trị có khả năng thách thức một quốc gia độc đảng. Sự giúp đỡ của Mỹ cho phe dân chủ, bí mật cũng như công khai, đang là phương tiện thúc đẩy nhanh khả năng thách thức đó.

Hai là, Mỹ cần sử dụng thường xuyên những đòn bẩy về kinh tế và chính trị để gây áp lực lên đường lối đối nội của những chế độ ở các nước Trung và Đông Âu. Mỹ cần sử dụng một cách có phương pháp và rõ ràng thái độ của mình đối với các nước ở khu vực này để khích lệ quá trình tự do hóa nội bộ, một nền độc lập ngày càng lớn đối với Liên Xô và một cải cách kinh tế triệt để, đồng thời loại bỏ sự hồi sinh của chủ nghĩa Xtalin.

***

Chính sách “khu biệt hóa” đang thiết lập mối liên hệ giữa mức độ các mối quan hệ ngoại giao và kinh tế của Mỹ với các nước Trung và Đông Âu và sự thực thi của những nước này về quyền con người. Chính sách đó đã tạo điều kiện cho quá trình tự do hóa ở Hung Ga Ri và Ba Lan, như: mở rộng những phát biểu công khai, có thái độ thừa nhận sự đối lập về chính trị, việc truy sát những người chống đối đỡ gắt gao hơn. Trong quá trình thích nghi thận trọng với những điều kiện của từng nước trong khu vực này, Mỹ cần khích lệ tại Trung và Đông Âu những lực lượng tại chỗ đang đòi độc lập về chính trị, giảm thiểu vai trò của quốc gia trong nền kinh tế và thực hiện rộng rãi nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết. Nên xác định các kết quả theo con đường mà mỗi nước cụ thể trong khu vực này đã trải qua để đạt được mục tiêu này của họ.

***

Những phương tiện liên lạc mới, đặc biệt là việc truyền trực tiếp qua vệ tinh dựa trên nguyên tắc truyền các tín hiệu phát thanh, truyền hình thông qua những vệ tinh quỹ đạo và không sử dụng những máy truyền phát trên mặt đất, đang bao trùm toàn bộ các nước Trung và Đông Âu. Khác với phát thanh và viễn thông thông thường, những tín hiệu được truyền qua liên lạc vệ tinh thực sự không thể bị phá sóng và nó là phương pháp hiệu quả nhất về mặt chi phí để phá vỡ sự độc quyền thông tin của chế độ cộng sản. Việc phát thanh qua vệ tinh có thể được áp dụng nhờ sự hỗ trợ của các an ten vệ tinh tương đối đơn giản. Ví dụ, tại Ba Lan, đây là biểu tượng mới của sự phồn vinh. Chúng ta cần xem xét một cách toàn diện việc phát triển công nghệ phát thanh trực tiếp qua vệ tinh. Đồng thời, chính quyền mới cần gây áp lực với Quốc hội để tăng tiền tài trợ cho việc áp dụng công nghệ liên lạc mới này.

Bằng cách này, “sự bùng nổ video” ở các nước Trung và Đông Âu, một trong những nguyên nhân của nó là khát vọng của dân chúng đối với văn hóa phương Tây, sẽ bảo đảm cho chúng ta có được kênh liên lạc tốt nhất với các dân tộc ở khu vực này. Chúng ta cần tăng cường số lượng và khả năng thâm nhập của các băng hình tại các đại sứ quán và các trung tâm văn hóa Mỹ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #151 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 12:29:48 pm »


Những sáng kiến cho năm 1989

...

2. Thiết lập cơ chế hỗ trợ các phong trào dân chủ ở các nước Trung và Đông Âu. Qua kinh nghiệm giúp đỡ hoạt động bí mật ở Ba Lan, chính quyền cần thiết lập hạ tầng cơ sở hỗ trợ các lực lượng giải phóng dân tộc và dân chủ ở khu vực này. Tổng thống cần thuyết phục Quốc hội về sự cần thiết tài trợ (bí mật và công khai) cho việc mua các sản phẩm như máy thu phát sóng cực ngắn, sơn, ấn phẩm báo chí, hoặc các thiết bị in ấn, đầu video. Đồng thời, Quỹ quốc gia hỗ trợ nền dân chủ cần bắt đầu làm rõ các khoản tài trợ công khai có thể chuyển đi (như ở Ba Lan là thông qua Viện Nghiên cứu công đoàn tự do của phân viện Liên đoàn Lao động Mỹ và Đại hội Công đoàn sản xuất).

Phần “Học thuyết giải phóng”

Học thuyết giải phóng là kế hoạch hành động có mục tiêu thách thức đế chế Xô Viết. Nó dựa trên những nguyên tắc và phương pháp của Ronald Reagan, nên được gọi là Học thuyết Reagan.

Đế chế Xô Viết đã dần được hình thành suốt mười năm qua, đồng thời các nhà lãnh đạo Xô Viết đã kiên trì và liên tục sử dụng mọi khả năng bành trướng.

Nếu nói một cách trừu tượng, đế chế Xô Viết được tổ chức theo các vùng tập trung từ Trung ương đến các vùng xa xôi khác biệt nhau về thời gian và vị trí địa lý. Những vùng nhỏ hơn bao gồm các quốc gia nằm gần với trung tâm quốc gia Nga và trong suốt một thời gian dài là một bộ phận của đế chế. Nếu xem xét đế chế Xô Viết dưới góc độ này, thì vùng đầu tiên thuộc về lãnh thổ sắc tộc giành được nền độc lập sau cuộc cách mạng của những người Bolxevich, nhưng sau đó bị Matxcơva chiếm đoạt, hiện nay như là Công hòa Armeni, cộng hòa Gruzi và Cộng hòa Ucraina.

Vùng thứ hai, bao gồm những quốc gia rơi vào sự kiểm soát của Matxcơva do hiệp ước liên bang mà Matxcơva ký với Hitle năm 1939 có: Estoni, Litva, Latvi và Moldova.

Vùng thứ ba của đế chế Xô Viết bao gồm các quốc gia bị Matxcơva chinh phục do Xtalin vi phạm Hiệp định Yaltai và Postdam và do phương Tây từ bỏ việc chống lại Xtalin, cũng như do kết quả của Cách mạng Cuba năm 1959. Vùng thứ ba này tạo thành hạt nhân đế chế Trung và Đông Âu của Matxcơva và bao gồm các quốc gia Bun Ga Ri, Tiệp Khác, Đông Đức, Hung Ga Ri, Ba Lan và Ru Ma Ni, cùng những phần chiếm được của Nhật Bản và Cuba.

Vùng thứ tư và là vùng xa trung tâm nhất, bao gồm các quốc gia bị cuốn vào đế chế Nga từ những năm 70. Việc Washington từ bỏ chính sách thế giới của mình đã trao cho Liên Xô một khả năng to lớn nhất để bành trướng sau những 1945 - 1948. Do xa xôi về địa lý và ý nghĩa đối với Matxcơva, vành đai thứ tư này đã trở thành vùng biên giới của đế chế. Đó là những quốc gia như Nam Iemen, Việt Nam, Mozambik, Angola, Lào, Cam-pu-chia, Etiopia, Nicaragua và Afghanistan. trong số những quốc gia này có cả Grenada, trước khi Quân đội Mỹ giải phóng nó vào tháng 10 năm 1983.

Cho dù một số thủ lĩnh Mỹ, đặc biệt là Bộ trưởng Ngoại giao John Foster Dalles trong chính quyền của Tổng thống D. Eisenhower (1890 - 1969, Tổng thống thứ 34 của Mỹ, giai đoạn 1953 - 1961. ND) đã đôi lúc kêu gọi loại trừ đế chế Xô Viết “ở tuyến đầu”, còn một số khác, đặt biệt là John Kenedy đã thực sự giúp đỡ những người đấu tranh để giải phóng đất nước họ khỏi sự thống trị cộng sản, Ronald Reagan vẫn là Tổng thống Mỹ đầu tiên trình bày một cách lô gic về sự cần thiết giúp đỡ từ phía Hoa Kỳ trên quy mô toàn thế giới cho mọi phong trào kháng chiến chống lại những chế độ cộng sản. Sự giúp đỡ này từ phía Mỹ được mang tên gọi là “Học thuyết Reagan”, cho dù chính Reagan không sử dụng thuật ngữ này. Nó được bắt nguồn từ Học thuyết Truman ở cuối những năm 40 để cứu Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và các nước châu Âu khác thoát khỏi sự thống trị của Xô Viết.

Học thuyết giải phóng hiện nay tiếp tục và bổ sung thêm Học thuyết Reagan. Nó tạo niềm tin cho các nước nằm trong những vùng tập trung của đế chế Xô Viết. Những phương tiện hiện thực hóa học thuyết giải phóng và những mục tiêu gần của nó đối với các nước của mỗi vùng đó có khác nhau. Sự giúp đỡ mà Mỹ coi là hiện thực và thích hợp để ủng hộ những người đấu tranh vì tự do ở Afghanistan, Angola và Nicaragua, không thích hợp với Ba Lan, Latvi hoặc Armeni. Đối với mỗi vùng, Mỹ cần có một chính sách phù hợp.

Chính sách của Reagan đã làm thay đổi tính chất cuộc đấu tranh ở các nước thuộc thế giới thứ ba. Ngày nay, ở Afghanistan, Angola, Cam-pu-chia, Etiopia, Lào, Mozambik, Nicaragua và Việt Nam những người nổi dậy chống Xô Viết đang tiến hành một cuộc đấu tranh vũ trang chống lại những chế độ tàn ác đang dựa vào sự hỗ trợ quân sự của Liên Xô. Đó là sự thay đổi triệt để tính chất của những hoạt động đấu tranh du kích tại các nước thuộc thế giới thứ ba. Suốt ba thập kỷ sau Chiến tranh thế giới II, tính chất của những hoạt động đấu tranh do những người nổi dậy cộng sản chủ yếu lợi dụng sự hỗ trợ của Xô Viết xác định nhằm chống lại khuynh hướng thân phương Tây và qua kết quả thu được đó nhằm hình thành nên vùng thứ tư của đế chế.

Tuy nhiên, vùng thứ tư không phải là vùng duy nhất hiện nay đang thách thức sự thống trị của Xô Viết. Làn sóng bất bình đang bao trùm các thuộc địa Xô Viết tại cả Đông Âu. Do không công hận tính chất hợp pháp của những chế độ bị Matxcơva trói buộc, Những người sec đang đòi tự do tín ngưỡng, những người Hung Ga Ri đòi dân chủ, những người dân Đông Đức đòi quyền di trú, những sinh viên Ba Lan đòi những tự do mang tính kinh viện. Đó là những biểu hiện chống đối trong một bầu không khí vô định về chính trị. Sự thống trị của Xô Viết còn bị thách thức ngay tại vùng thứ hai và ba. Hàng trăm nghìn người tham gia tuần hành tại “các nước cộng hòa” Xô Viết Armeni và Azerdbaidzan để ủng hộ những yêu sách về lãnh thổ cũ. Những người Hồi giáo ở các nước cộng hòa Trung Á đang tiến hành biểu tình đòi tự do tín ngưỡng. Những người Estoni đã thành lập Mặt trận dân tộc tương tự như một đảng chính trị thứ hai.

Mục tiêu cuối cùng của học thuyết giải phóng cần được hiện diện trong quá trình xóa bỏ đế chế Xô Viết, mở ra trước hàng trăm triệu người một khả năng định chế dân tộc tự quyết. Bằng cách này, sẽ hiện thực hóa được hai ý định cơ bản - đó là trao quyền tự quyết cho các dân tộc này và củng cố nền an ninh của phương Tây.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #152 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 12:30:19 pm »


***

Vào thời điểm Reagan lên nắm quyền, Mỹ đã từng ủng hộ phong trào kháng chiến của những người Modzahed ở Afghanistan. vào năm 1986, Mỹ đã từng hỗ trợ cho các phong trào kháng chiến vũ trang ở Afghanistan, Angola và Nicaragua. Dựa vào sự hỗ trợ này, bao gồm việc cung cấp các tên lửa phòng không và chống tăng hiện đại, các nhóm kháng chiến đã buộc đối phương có ưu thế trội hơn về trang bị phải chấm dứt những hoạt động quân sự.

Những người Modzahedin ở Afghanistan thậm chí đã buộc Matxcơva đưa ra tuyên bố về việc rút quân đội của mình ra khỏi Afghanistan. Đây là thất bại đầu tiên của Quân đội Xô Viết kể từ sau Chiến tranh thế giới II. Nếu Quân đội Xô Viết sẽ rút quân theo những thời hạn đã tuyên bố và một Afghanistan phi cộng sản ra đời, thì đó sẽ là một đòn quân sự và tâm lý đáng sợ đối với Matxcơva.

Hơn nữa, sau khi thành lập đài phát thanh “Radio Marti” theo kiểu của “Châu Âu tự do”, chính quyền Reagan đang kích động phe đối lập chính trị tại Cuba. Từ năm 1985, chính quyền đã thực hiện sự hỗ trợ tài chính bí mật cho Công đoàn “Đoàn kết” ở Ba Lan và các nhóm đối lập khác của Ba Lan, cũng như đã hỗ trợ dưới hình thức bí mật đưa vào Ba Lan những văn bản phê phán, kỹ thuật in - nhân bản, các thiết bị thu phát radio và các băng video.

Vấn đề cơ bản để thực hiện học thuyết giải phóng là các thành viên Quốc hội, CIA và những bộ ngành then chốt khác không muốn lợi dụng cơ hội đang mở ra nhờ các phong trào chống đối trên thế giới. Để khắc phục quan điểm này, Tổng thống mới được bầu cần lập ra một cơ quan hỗ trợ các phong trào chống đối có đủ thẩm quyền để thực thi học thuyết giải phóng...

Mỹ, trong khuôn khổ của học thuyết giải phóng, cần giúp đỡ những người nổi dậy chống Xô Viết đang tiến hành chống các chế độ ở Etiopia, Lào, Mozambik và Nicaragua.

Điều không kém phần quan trọng là chính quyền cần bắt đầu nghĩ tới khả năng sử dụng học thuyết giải phóng đối với các nước khác của đế chế Xô Viết, và nói riêng, đặt ra vấn đề làm cách nào để Mỹ có thể khích lệ tốt nhất cho những người đang đấu tranh đòi tự do chính trị tại các nước Đông Âu hoặc thậm chí ngay tại Liên Xô. Tự do hóa thực sự sẽ xói mòn đế chế Xô Viết. Chính quyền mới cần bác bỏ những yêu sách độc tài đối với tư tưởng mới trong lĩnh vực ủng hộ các lực lượng dân chủ. Giám đốc của cơ quan hỗ trợ cho các lực lượng này cần khích lệ tổ chức thống nhất của Liên đoàn Lao động Mỹ và Đại hội Công đoàn sản xuất, còn trong các cơ quan khác là Viện Thương mại Mỹ và Bộ giáo dục và Lao động nhằm tìm kiếm những con đường hỗ trợ các lực lượng dân chủ. Chẳng hạn như: tổ chức thống nhất của Liên đoàn Lao động Mỹ và Đại hội Công đoàn sản xuất có thể nhận lãnh một số vấn đề huấn luyện các thủ lĩnh đối lập của các nước đông Âu, còn Bộ Giáo dục - chuyển các bản thảo bàn về sự ưu việt của vấn đề tự quyết.

Đương nhiên, mức độ và tính chất hỗ trợ của Mỹ cho các phong trào đấu tranh ở vùng thứ tư của đế chế là không thể sử dụng cho các nước ở khu vực thứ hai và ba. Trong phạm vi thứ ba đối với những thuộc địa Xô Viết ở Đông Âu và Cuba, Mỹ cần tích cực hóa các chương trình nhằm khích lệ nền dân chủ, độc lập dân tộc và tin cậy lẫn nhau giữa các lực lượng vũ trang của các nước thành viên Hiệp ước Varsava. Theo thời gian, điều này sẽ dẫn đến việc Matxcơva sẽ bị vây chặt hơn, giống như điều đó đã xảy ra vào năm 1968 ở Tiệp Khắc - một trong những nước vệ tinh ở Đông Âu đã bị lung lay. Mỹ cần tạo điều kiện cải thiện mối liên lạc giữa những người chống đối ở các nước Đông Âu, bằng cách đó tạo nên khả năng để họ có kế hoạch và thực hiện những hành động phối hợp. Mỹ cần tích cực hóa những nỗ lực của mình để thiết lập các mối liên lạc với các nhà lãnh đạo các phong trào đối lập bí mật và công khai và khích lệ những phản ứng chống đối.

Chính phủ Mỹ cần chính thức yêu cầu Matxcơva tiếp tục giảm sự kiểm soát của Xô Viết đối với các nước Đông Âu. Chính quyền mới cần ra những tuyên bố ủng hộ những người bãi công và những người tham gia hành động phản đối ở các nước này đúng vào thời điểm Tổng thống gây áp lực đối với Matxcơva đòi họ cho phép các công đoàn độc lập, thực hiện những chuẩn mực chung trong lĩnh vực quyền con người và xây dựng xã hội dân chủ.

Những sự kiện diễn ra trong thời gian gần đây ở Liên Xô cho thấy nhiều nhóm dân tộc từng bị đế chế Xô Viết chinh phục đã không chịu chấp thuận số phận của mình một cách vĩnh viễn. Sự căng thẳng trong các mối quan hệ giữa Armeni và Azerbaidzan về những vấn đề yêu sách lãnh thổ cho thấy những gì đang diễn ra không chỉ đơn giản là sự tranh cãi giữa các tỉnh trong cùng một quốc gia (tương tự như cuộc đấu khẩu về vấn đề lãnh thổ giữa Idiana và Ohio ở Mỹ), mà còn là xung đột giữa những quốc gia khác nhau.

Tổng thống mới cần trao cho các cố vấn chủ chốt của mình soạn thảo một kế hoạch hành động thống nhất giữa Mỹ với những sự kiện quan trọng đang diễn ra ở Liên Xô. Kế hoạch như vậy cần sử dụng mọi phương tiện thích hợp trong khả năng của Mỹ để khích lệ dòng thông tin tự do đến với các phần tử dân tộc và mối liên lạc có hiệu quả giữa họ với nhau. Mục tiêu chủ yếu là cần khích lệ trào lưu ly tâm, tương tự như việc củng cố sự tự giác ngộ dân tộc độc lập.

Để làm suy yếu hơn nữa sự kiểm soát của Matxcơva, đài phát thanh “Tự do” cần mở rộng việc phát các chương trình của mình bằng tiếng của các dân tộc đang nằm trong vùng thứ nhất của đế chế. Những cá nhân và các đại diện chính thức cần chuyển vào các quốc gia bị áp bức này những văn bản bằng tiếng mẹ đẻ của họ vạch ra những khác biệt giữa dân tộc của những quốc gia này với dân tộc Nga.

Học thuyết giải phóng cũng cần được sử dụng tạo lợi thế hồi sinh tôn giáo trong lòng Liên Xô. Chính quyền cần tổ chức chuyển những cuốn Kinh thánh vào lãnh thổ Xô Viết, ít nhất đã được dịch sang 10 tiếng dân tộc khác nhau, để cung cấp cho các tín đồ ở Liên Xô những cuốn sách mà lâu nay họ còn thiếu.

Chính quyền mới cũng cần tìm kiếm những khả năng sử dụng lực lượng chính thống hồi giáo ở Kazakhstan, Kirghizi, Tadzikistan, Turkmeni và Uzbekistan. Điều này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng những người Modzahad ở Afghanistan có kinh nghiệm để cung cấp hàng triệu bản Kinh Koran qua biên giới Afghanistan - Liên Xô. Những người đã từng buộc được Quân đội Xô Viết chấm dứt những hành động quân sự này có thể giúp dân chúng ở các nước cộng hòa Xô Viết trong việc tổ chức những phong trào chính trị bí mật.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #153 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 12:30:48 pm »


Những sáng kiến cho năm 1989

1. Chính quyền mới, trong mối quan hệ hữu cơ với Quốc hội, cần thông qua đạo luật về việc giúp đỡ những người đấu tranh vì tự do nhằm xem xét việc thành lập cơ quan ủng hộ những phong trào kháng chiến dám nhận lãnh trách nhiệm thực hiện học thuyết giải phóng giữa các tổ chức quốc gia liên bang thích hợp; việc bổ nhiệm giám đốc cơ quan này do Tổng thống và được nghị viện chấp thuận, trong đó giám đốc phải là thành viên của Hội đồng An ninh quốc gia; phê chuẩn quỹ ủng hộ các phong trào kháng chiến ở mức 1 tỷ USD/năm, với số tiền này chính quyền đã có thể hỗ trợ được các phong trào kháng chiến. Không một điểm nào trong đạo luật này được hiểu như là sự cản trở việc mở rộng sự hỗ trợ công khai hay bí mật đối với bất kỳ phong trào kháng chiến nào...

Tại Đông Âu, chiến lược của Mỹ nhằm giành quyền tự quyết dân tộc và dân chủ cho các dân tộc ở khu vực cần bao gồm ba thành tố.
Một là, Mỹ cần giúp đỡ công khai và bí mật phe đối lập chông cộng dân chủ.

Hai là, Mỹ nên đặt sự phát triển các mối quan hệ của mình với các chế độ của Đông Âu tùy theo chính sách đối nội mà họ tiến hành. Hỗ trợ các nước này giành tự do hóa chính trị, độc lập với Liên Xô, phi tập trung hóa về kinh tế và chuyển sở hữu vào tay tư nhân. Đồng thời, chống trả và trừng phạt mọi sự tái lập chủ nghĩa Xtalin.

Cuối cùng, cần đặt Matxcơva vào những điều kiện để họ phải trả giá vì thường xuyên từ chối việc thỏa mãn quyền dân tộc tự quyết cho các dân tộc ở Đông Âu. Chính sách Xô Viết trong khu vực cần là nhân tố quyết định tác động vào quy mô hợp tác chính trị và kinh tế với phương Tây.

Phần “cộng đồng tình báo Mỹ”

Nhiệm vụ của cộng đồng tình báo Mỹ là đánh giá những khả năng, những điểm nhạy cảm và các dự tính của các nước khác, trước hết, của những nước được coi là đối thủ hiện thực hoặc tiềm năng. Trong mọi trường hợp, khi hành vi của các quốc gia khác là nguy cơ thực sự đối với nền an ninh quốc gia Mỹ, các chính sách của Mỹ thường cố gắng tác động vào chính sách của những nước này đều sử dụng các tin tình báo...

Những kiến thức đơn giản về điều có thể xảy ra, đương nhiên thường không đủ. Cần có thêm khả năng tác động tới các sự kiện, ngăn chặn nguy cơ đối với nền an ninh quốc gia Mỹ và bảo vệ những lợi ích của Mỹ. Một số biện pháp này được tiến hành công khai và là một bộ phận của các chiến dịch quân sự và ngoại giao thông thường của Mỹ. Nhưng do hàng loạt nguyên nhân, có một số biện pháp cần ưu tiên che dấu, hoặc, nói một cách khác, được tiến hành như những chiến dịch bí mật, trong đó sự liên can của Mỹ đối với chúng trở nên không thể nhận ra hoặc ít gây tranh cãi.

Những chiến dịch bí mật có thể bao gồm: cung cấp hỗ trợ quân sự và kinh tế; huấn luyện các nhân vật nước ngoài; ủng hộ các lực lượng đối lập và những phong trào giải phóng dân tộc ở nước ngoài; chống tuyên truyền thù địch,... Khi xét tới phạm vi nguy cơ đối với nền an ninh của Mỹ và sự phát triển như vũ bão của những sự kiện mất ổn định tại nhiều nước thuộc thế giới thứ ba, những chiến dịch bí mật vẫn đang là công cụ chủ yếu bảo vệ an ninh quốc gia của Mỹ. Trong mọi trường hợp, vai trò của chúng trong những năm gần đây càng được tăng cường và khuynh hướng này rõ ràng sẽ được tiếp tục...

Vì mục tiêu chủ yếu của các chiến dịch tình báo đối ngoại là tuyển mộ các điệp viên nước ngoài và làm việc với họ, Tổng thống mới cần khẳng định sự cần thiết phục hồi đoàn chuyên gia về ngôn ngữ và khu vực hiện đang bị yếu đi do thế hệ của Chiến tranh thế giới II đã lần lượt về hưu. Việc chuẩn bị ngôn ngữ và kiến thức về các vùng riêng biệt như vậy đặc biệt cần tới những nhà phân tích đang làm việc tại các cơ quan địa lý. Những kiến thức sâu sắc về bất cứ nước nào, cũng như về văn hóa của nó, đòi hỏi phải có một thời gian lưu trú nhất định tại nước đó, cũng như khả năng đọc và giải thích được bằng ngôn ngữ của nước đó.

Do các trường cao đẳng và đại học Mỹ không sẵn có một số lượng chuyên gia như vậy, các cơ quan dân sự và quân sự của Mỹ cần mở rộng chương trình đào tạo riêng, kể cả thời gian lưu trú của người học ở nước ngoài để thâm nhập hoàn toàn vào môi trường ngôn ngữ địa phương.

Những người được tuyển mộ không nên chỉ lấy từ số sinh viên tốt nghiệp cao đẳng. Mỹ là một quốc gia đa dân tộc có nhiều người rất có năng khiếu ngoại ngữ hoặc đã tinh thông ngoại ngữ. Từ trong cả một biển người này có thể tuyển chọn được một số lượng ứng cử viên đủ kinh nghiệm và đào tạo họ làm việc trong môi trường văn hóa nước ngoài, nơi mà mức độ kinh nghiệm được đánh giá cao hơn tính thanh niên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #154 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 12:34:47 pm »


Phụ lục N0 6.
Gắng sống, đừng gục ngã. Hãy đọc và chuyển đi


Phòng vệ xã hội là một giải pháp phi bạo lực của phòng thủ quân sự. yêu cầu của nó chủ yếu là trách nhiệm đối với phòng thủ đất nước không phải do chính phủ và quân đội, mà do chính những người dân thực hiện. Không một quốc gia nào trên thế giới muốn kéo dài tình trạng phòng vệ xã hội, bởi khi hình thái này được tiến hành trong đời sống xã hội thì cũng có nghĩa là khả năng đối kháng với sự trấn áp từ phía chính phủ trong dân chúng đã được tăng cường.

Sự ưu việt của phòng vệ xã hội là bạo lực chống lại dân chúng được ngăn chặn bằng những biện pháp phi bạo lực, mà chưa cần tới sự ủng hộ của dư luận thế giới. Trong những điều kiện như thế, liệu ai sẽ sử dụng bạo lực ở quy mô lớn. Sự hiện diện của lực lượng vũ trang thường trực thường được biện minh bởi lý do có mối đe dọa của “kẻ thù”. Nếu lực lượng quân sự có ý định lật đổ chính phủ, thì ai sẽ ngăn chặn họ? “Ai sẽ canh giữ chính những người canh gác?”.

Trong phòng vệ xã hội, vấn đề này không hề xảy ra bởi phòng vệ xã hội được thiết lập nên từ sự tham gia mang tính quần chúng của toàn thể nhân dân và nó không cần tới lực lượng quân sự chuyên nghiệp. Những biện pháp phi bạo lực được sử dụng để chống lại những kẻ xâm lược cũng có thể được sử dụng để chống lại lực lượng quân sự định chiếm chính quyền. Vì vậy, phòng vệ xã hội là một hình thức bảo vệ được coi là thích hợp nhất với lý tưởng tự do và dân chủ.

Phòng vệ xã hội bao gồm sự không phục tùng của quần chúng trong lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội nhằm mục đích chống đối lại hành động xâm lược quân sự hoặc việc thanh trừng (trấn áp) chính trị.

Phòng vệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc là không một chính phủ nào, chop dù là dân chủ hay độc tài quân sự, có thể tồn tại mà thiếu sự ủng hộ thụ động của đại đa số dân chúng.

Các phương thức phòng vệ xã hội

a) Các biện pháp tượng trưng:

- Tuyên bố (phát biểu, gửi thư, kiến nghị) chính thức;

- Dùng khẩu hiệu, truyền đơn, biểu ngữ;

- Tuần hành, tổ chức canh phòng (chống phá hoại bãi công);

- Mang mặc những biểu tượng thể hiện sự phản đối (Ví dụ như các công dân Na Uy đã cài ghim kẹp giấy để phản đối sự chiếm đóng của Đức phát xít).

b) Từ chối hợp tác:

- Tẩy chay về mặt xã hội, kiên quyết không ra khỏi nhà;

- Tẩy chay từ phía những người tiêu dùng, công nhân, những người buôn bán; cản trở hoạt động bình thường (Embargo);

- Bãi công, chỉ làm việc theo đúng định mức (không làm hơn định mức), cáo bệnh để nghỉ làm việc;

- Từ chối thực hiện thuế và các nghĩa vụ, rút hết tiền ra khỏi ngân hàng và quỹ tiết kiệm;

- Tẩy chay các công sở nhà nước;

- Không tuân lệnh, trì hoãn trong công việc;

- Tỏ ra thiếu năng lực (chậm chạp, vụng về, nhầm lẫn).

c) Can thiệp và cạnh tranh

- Ngăn cản phi bạo lực và chiếm giữ hòa bình một tòa nhà (khu vực) nào đó;

- Giả “thất lạc” các giấy tờ, tài liệu cần thiết;

- Lập ra những tổ chức phi chính thức song hành với sự điều hành của quốc gia, như: trong in ấn và đài phát thanh, giao thông vận tải, bảo hiểm xã hội, chăm sóc sức khỏe, giáo dục,...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #155 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 12:35:29 pm »


Mọi người có thể tự làm được gì

Phòng vệ xã hội chủ yếu dựa trên một mạng lưới dày đặc sự hợp tác giữa dân chúng. Vì vậy, rất cần củng cố mối quan hệ xã hội này. Những mối quan hệ như thế có thể tồn tại trong các câu lạc bộ thể thao, cơ quan mẫu giáo, công đoàn. Điều này bao gồm các mối quan hệ hữu nghị giữa những người láng giềng, đồng nghiệp, sinh viên. Tất cả những mối quan hệ này vô cùng quan trọng trong bất kỳ một chiến dịch phòng vệ xã hội hiệu quả nào. Những mối quan hệ đó khích lệ mọi người chống đối lại đội quân chiếm đóng hay một cuộc đảo chính quân sự và là cội nguồn của những tư tưởng mới. Trong bất kỳ biện pháp xã hội nào, cần hành động mang tính hợp tác và phải biết rằng có hàng nghìn người cũng đang hành động như vậy - ví dụ như trong một cuộc tổng bãi công nhằm cản trở lực lượng chiếm đóng. Khả năng hành động nhất trí này chỉ có thể có được trong những mối quan hệ phát triển tốt đẹp.

Các cộng đồng ở địa phương

Khởi đầu là trên các đường phố, sau đó là ở các vùng trung tâm, những người láng giềng có thể lập kế hoạch chống đối. Có rất nhiều phương pháp chống đối khác nhau. Có thể làm đảo lộn hoặc tháo gỡ các biển báo giao thông như người Sec đã từng làm để chống đối sự chiếm đóng của Xô Viết vào năm 1968. Cách thức này, đối với dân chúng địa phương thì không thành vấn đề, song sẽ làm quân chiếm đóng mất phương hướng.

Những người dân địa phương có thể trò chuyện với binh lính của quân đội chiếm đóng để làm quen với họ. Cách thức viết khẩu hiệu lên tường có thể được sử dụng để tuyên truyền hành vi phi bạo lực và hợp tác trong chống đối. Có thể sử dụng các máy chữ, máy in và những đài phát thanh nghiệp dư vào hoạt động chống đối.

Công nhân của các nhà máy, xí nghiệp

Những công nhân của các nhà máy, xí nghiệp có thể từ chối giao nộp các thành phẩm lao động của mình, nếu họ hiểu rõ quy trinh công nghiệp và, khi cần thiết có thể làm ngừng quy trình đó. Những biện pháp được đưa ra sử dụng phải tùy theo tình hình cụ thể. Nếu, ví dụ đang có một cuộc tổng bãi công diễn ra, thì những người công nhân phải biết cách làm cho nhà máy, xí nghiệp ngừng hoạt động so cho những người lạ không thể vận hành được. Trong quá trình đấu tranh rất lâu dài, những công nhân sản xuất hàng hóa tiêu dùng vẫn có thể tiếp tục xuất xưởng những sản phẩm của họ. Những công nhân trong dây chuyền sản xuất vũ khí, nhiên liệu và những lĩnh vực công nghiệp khác có tầm quan trọng đối với đội quân chiếm đóng hay đối với cuộc trấn áp của chính phủ, cần phải tùy theo khả năng mà phá hoại quy trình sản xuất tại những nhà máy, xí nghiệp này.

Iohan Galltung nói rằng, để sự chống đối có hiệu quả nhất, quá trình sản xuất tại các nhà máy phải dựa vào một số lượng không lớn những thành tố bình thường nhưng rất quan trọng, nếu chúng bị tháo gỡ hoặc phá hoại thì không thể thay thế ngay được. Có thể lưu giữ các phiên bản của những thành tố đó ở nơi an toàn, thậm chí ở một nước khác. Kẻ xâm lược không thể vận hành nhà máy cho dù chúng sử dụng tới bạo lực hay cố gắng hết sức.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #156 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 12:35:56 pm »


Những người công nhân có thể:

a) Biết cách phá hoại ngầm quá trình sản xuất cũng như cách làm ngừng trệ nó bằng cách gây ra những hư hỏng nhỏ nhất trong nhà máy;

b) Biết cách thay đổi nhanh nhất những phương thức sản xuất để tạo ra sản phẩm có lợi hơn cho xã hội;

c) Lên kế hoạch hệ thống liên lạc và phương thức ra quyết định trong giới công nhân và giữa những người công nhân với các nhóm người khác;

d) Tiến hành “thử nghiệm” những phương pháp thay đổi quá trình sản xuất hoặc phá hoại nó;

e) Chia sẻ kinh nghiệm với những công nhân khác và với dân chúng.

Những người lập trình và nhân viên máy tính

Máy tính cực kỳ quan trọng trong nhiều lĩnh vực của xã hội công nghiệp hiện đại, kể cả trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, trong hệ thống liên lạc, trong kế hoạch quân sự và trong công việc của các công sở nhà nước. Do đó, những người làm việc với máy tính rất dễ dàng chống đối lại bất cứ một nhóm nào định chiếm đoạt chính quyền.

Những nhân viên này có một vị trí đặc biệt thuận lợi, bởi những kẻ lạ không thể dễ dàng thay thế họ; thậm chí khi áp dụng sức mạnh cưỡng bức, kẻ xâm lược vẫn không thể bảo đảm rằng “không có sai, lỗi” trong hệ thống máy tính, rằng số liệu được cung cấp là đúng như chúng mong muốn.

Để chuẩn bị chống đối có hiệu quả, các nhân viên và lập trình viên máy tính có thể:

a) Biết cách bí mật làm ngừng hoặc gây lỗi điều hành của các máy tính;

b) Soạn ra những chương trình thế chỗ hoặc tạo ra những thay đổi không thể nhận biết trong những chương trình đang sử dụng để có thể sử dụng trong trường hợp thật cần thiết;

c) Liên hệ hành động với những nhân viên và lập trình viên đồng cảm;

d) Tiến hành “thử nghiệm” những phương pháp phá hoại hệ thống hay thay đổi điều hành máy tính;

e) Thông báo thông tin về những phương pháp chống đối đó cho những người khác cùng trong lĩnh vực kỹ thuật máy tính và cho đông đảo dân chúng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #157 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 12:37:21 pm »


Những ví dụ khác

Có thể lên kế hoạch chi tiết về những phản ứng khả năng đối với sự xâm lược trong từng nhóm xã hội khác nhau như đã trình bày ở trên. Sau đây là một số ví dụ:

a) Các nhân viên nhà nước có thể tiêu hủy hoặc làm “thất lạc” hồ sơ của những người chống đối (dissident) và của những người khác để họ không nằm trong đối tượng điều tra của các tổ chức an ninh;

b) Thư ký ở các công sở và các nhân viên văn thư có thể “tình cờ” chuyển những thông tin quan trọng cho nhóm người đối lập;

c) Những người đồng cảm trong lực lượng vũ trang có thể cảnh báo cho các thành viên của phong trào chống đối về các chiến dịch, hành động sắp diễn ra; họ có thể gieo rắc sự nghi ngờ trong quân đội và từ chối thực hiện những mệnh lệnh hoặc “hiểu sai” những mệnh lệnh đó.

d) Bất cứ công việc nào do bọn xâm lược yêu cầu, đều có thể bị “trì hoãn” hoặc “không hiểu rõ”. Đây là phương pháp đấu tranh tốt nhất đối với bất kỳ chính phủ nào, vì rất khó phân biệt giữa năng lực hạn chế thực sự hay giả vờ.

Cần làm gì trong trường hợp bị trấn áp quyết liệt

Phòng vệ dân sự có thể là biện pháp tin cậy để chống đối quân xâm lược và biện pháp là cần thiết từ phía “thái độ xã hội” như vẫn thường xảy ra ở phần lớn các nước dân chủ. Nhưng liệu nó có hiệu quả thực sự đối với những kẻ xâm lược tàn ác? Rất có thể nó chỉ hiệu quả trong chống lại những vụ trấn áp dưới chế độ độc tài của Hít le và Xtalin?

Sự chống đối phi bạo lực đối với quân đội chiếm đóng phát xít đã từng có hiệu quả ở Hà Lan, Đan Mạch và Na Uy trong thế giới chiến tranh thế giới II. Ví dụ, chế độ phát xít của Widkun Quisling1 có ý định đưa học thuyết phát xít vào sách giáo khoa phổ thông. Các giáo viên đã công khai từ chối việc đó: nhiều người đã bị bắt giam và bị đưa vào trại tập trung. Nhưng họ vẫn tiếp tục phản đối, và cuối cùng Chính phủ Quisling, do không muốn nhân dân Na Uy mang lòng hận thù đối với chế độ, phải trả tự do cho những người đã bị bắt. Các trường học không bao giờ phải tuyên truyền chủ nghĩa phát xít.

Thậm chí ngay tại nước Đức phát xít, sự chống đối phi bạo lực đã từng có hiệu quả trong một số trường hợp. Vào năm 1943, tại Berlin, hàng nghìn người vợ của những người Do Thái bị bắt giam (cả những phụ nữ không có nguồn gốc Do Thái) đã biểu tình trước các nhà tù. Cuối cùng, những người bị bắt đã được thả tự do.

Ngay cả chính quyền độc tài nhất cũng cần tới sự ủng hộ thụ động hoặc không chống đối của đại bộ phận dân chúng. Chưa có một chính phủ nào trong lịch sử đủ mạnh tới mức có thể tồn tại mà thiếu sự đồng lòng (cho dù là câm lặng) của chính dân chúng.

Nếu chính phủ duy trì một đường lối không hợp lòng dân và có ý định đàn áp bằng bạo lực đối với phe đối lập, thì sự trấn áp đó sẽ dẫn đến việc ngày càng có nhiều người chống đối lại chính phủ.

Phòng vệ dân sự thực sự có thể là biện pháp có hiệu quả chống lại sự trấn áp quyết liệt. Tuy nhiên, khi gặp sự trấn áp tàn bạo cần đặc biệt thận trọng lựa chọn những biện pháp và sách lược chống đối. Trong những trường hợp như thế, “những lỗi” không thể nhận biết trong thực hiện công vụ và “giải thích không đúng” các mệnh lệnh tỏ ra lợi hại hơn cả. Khi sự chống đối có được sự ủng hộ rộng rãi nó sẽ trở thành phong trào công khai không tuân lệnh.
____________________________________
1. 1887 - 1945, thủ lĩnh đảng phát xít ở Na Uy. ND
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #158 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 12:42:59 pm »


Phụ lục N0 7.
Những kế hoạch của Mỹ. Cục Tình báo Trung ương.
Phòng phân tích những vấn đề Xô Viết.
Ngày 25 tháng 4 năm 1991


“Bao vây Xô Viết”1

1. Cuộc khủng hoảng kinh tế, những nguyện vọng về nền độc lập và các lực lượng chống cộng sản đang phá hoại đế chế Xô Viết và hệ thống chính quyền:

- Boris Elxin đã trở thành kẻ thù số 1 của trật tự cũ và có những viễn cảnh tốt để trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên được toàn dân bầu ra trong lịch sử nước Nga có được tính chính thống nhờ quyền ủy trị đó;

- Tại Ucraina, nước cộng hòa lớn thứ hai với 50 triệu dân, đang đẩy mạnh phong trào theo hướng có chủ quyền;

- Các chính quyền Belorus đã công nhận và bắt đầu đàm phán ủy ban đình công, những người đang chống lại sự cai trị của đảng cộng sản, cũng như của Kremli.

- Các nước cộng hòa vùng Baltik đang sử dụng sự im lặng cảnh cáo trong các mối quan hệ với Kremli để củng cố những định chế mới và mở rộng sự ủng hộ từ phía những người dân ngụ cư, mà trước hết là người Nga, để đòi độc lập;

- Gruzi đã tuyên bố nền độc lập của mình, tất cả các nước cộng hòa còn lại đang ủng hộ việc trao quyền cao hơn cho chính quyền địa phương;

- Những người thợ mỏ đình công đang bảo vệ những yêu sách của họ về sở hữu kinh tế, cũng như những thay đổi về chính trị và cơ cấu kinh tế. Lời kêu gọi của họ đang nhận được sự hưởng ứng trong các lĩnh vực công nghiệp khác;

- Nền kinh tế kế hoạch - tập trung đã bị tan rã hoàn toàn và được thay thế bằng một hệ thống những hợp đồng đổi chác (berter) ở cấp địa phương và nước cộng hòa, tương tự như một thị trường sơ khai, chưa thể xếp vào một hệ thống rõ ràng;

- Việc Trung ương nhiều lần cam kết kiểm soát đối với truyền hình quốc gia Trung ương đã không ngăn được sự ra đời của các hãng phát thanh - truyền hình mới và gần 800 tờ báo độc lập mới chuyên đi sâu vào chi tiết của các tin tức;

- Đảng Cộng sản Liên Xô đang bị tan rã về mặt quy mô khu vực cũng như về tư tưởng. Các lực lượng ở tình trạng phôi thai đang phát triển một hệ thống các đảng mới.

2. Nằm ở trung tâm của sự hỗn loạn đó, Gorbachov từ một nhà cải cách đầy nhiệt huyết đã biến thành kẻ có vị trí vững chắc. Những lời tuyên bố công khai chứng tỏ rằng Gorbachov đã lựa chọn đường lối đó để củng cố vị thế chính trị của riêng mình, và cũng do áp lực đối với ông ta từ phía những người nệ cổ (tradisionalist) muốn ông ta áp dụng những biện pháp kiên quyết hơn. ý định của ông ta nhằm duy trì sự tồn tại của liên bang được điều hành từ Trung ương, sự lãnh đạo của đảng cộng sản và nền kinh tế kế hoạch - tập trung đã đẩy ông ta tới những mánh khóe sách lược không thể giải quyết giải quyết được những vấn đề cơ bản và đang cản trở (mà không thể ngăn chặn được) việc hình thành một hệ thống mới;

Cuộc trưng cầu dân ý toàn liên bang không gây nên một ảnh hưởng nào tới việc đàm phán về một hiệp ước liên bang mới;

Một chương trình chống khủng hoảng vừa được công bố có nội dung không hơn gì một trong những kế hoạch kinh tế của chính phủ và giống như của những người tiền nhiệm nó chứa đầy những hứa hẹn cải tổ nhằm đi đến một sự ổn định không thể có;

Trong những nỗ lực gây ảnh hưởng thống trị đối với công việc của Xô Viết Tối cao Liên Xô, Gorbachov đã thổi phồng tổ chức này, sau khi biến nó thành một nhóm gồm nhiều thành viên đa dân tộc. Quá trình đó đã phá vỡ vai trò của định chế xã hội này - một tổ chức theo ý định ban đầu đã được công nhận là nhằm thống nhất các đại biểu của liên bang và các nước cộng hòa, - biến nó thành một diễn đàn để tranh luận.

Hậu quả từ những thất bại và trò lắt léo chính trị của Gorbachov đã làm uy tín của ông ta sụt giảm tới mức bằng không. Thậm chí cả những người thân cận với ông ta, những cộng sự truyền thống được lựa chọn cũng đang xa rời ông ta.
_________________________________
1. Bản báo cáo đã bị CIA kiểm duyệt trong khi công bố theo điểm B1 và B2 của Đạo luật Mỹ về Tự do thông tin. Hồ sơ lưu trữ của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ. Những dự báo của CIA về Liên Xô.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #159 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 12:44:30 pm »


3. Gorbachov thực sự đối mặt với sự lựa chọn bi kịch trong những nỗ lực của mình nhằm đưa Liên Xô ra khỏi khuôn khổ của hệ thống hủ lậu, kiệt quệ, cũ kỹ. Rõ ràng là các mánh khóe đã giúp cho ông ta duy trì được quyền lực và đã làm thay đổi hệ thống này đến mức không thể đảo ngược lại, song chúng cũng đồng thời kéo dài và làm trầm trọng thêm cơn hấp hối khi chuyển qua hệ thống mới, và là một thế bí chính trị trong so sánh lực lượng:

- Nền kinh tế đã rơi vào vòng xoáy không lối thoát và chỉ có sự may mắn của hoàn cảnh mới có khả năng chấm dứt sự suy giảm GDP xuống còn hai con số;

- Lạm phát của năm qua là 20% và nó sẽ tăng gấp đôi;

- Thói quen giải quyết các vấn đề theo nguyên tắc “trên - dưới“, đặc biệt là đối với các nước cộng hòa, đã làm nảy sinh một cuộc chiến tranh luật pháp giữa các cấp chính quyền và tạo ra thêm một tình trạng bát nháo về pháp luật bên cạnh tình trạng bát nháo về kinh tế.

4. Trong tình hình hỗn loạn đang gia tăng như thế, khả năng bùng nổ của các sự kiện đã tăng lên đáng kể:

- Sự bất mãn xã hội bởi điều kiện kinh tế cuộc sống bị giảm sút có khả năng dẫn tới những xung đột lộn xộn quy mô lớn, đặc biệt là trong tình hình suy thoái trong thời gian gần đây ở các trung tâm công nghiệp của các nước cộng hòa có đông người lao động;

- Thủ đoạn bất thành của các chính quyền Trung ương,cung cách phản ứng bằng bạo lực hồi tháng 1 ở Vinhius có thể gây nên những phản ứng kích động mới của các lực lượng chống chính phủ, những lực lượng có khả năng lôi kéo được sự cảm tình của phương Tây về phía mình;

- Gorbachov, Elxin và những nhân vật nổi tiếng khác (nhưng không phải là tất cả) có thể chết vì làm việc căng thẳng quá mức hoặc bị sát hại, điều đó có khả năng gây nên những hậu quả không thể lường trước;

- ở đâu đó có thể sẽ xuất hiện một, thậm chí một số thủ lĩnh mới có ảnh hưởng, tương tự như đã từng xảy ra như Walensa ở Ba Lan, hay Landsbeghis ở Lítva, và họ sẽ bắt đầu làm ra lịch sử;

- Những lãnh tụ đối lập, trong liên minh với Gorbachov, hoặc không có ông ta, có thể đi tới kết luận rằng họ chỉ còn một cơ hội cuối cùng và họ sẽ bắt đầu hành động dưới ngọn cờ bảo vệ pháp luật và trật tự pháp luật.

5. Trong tất cả những phương án có thể phát triển sự bùng nổ của các sự kiện, đặc biệt nguy hiểm là ý định phục hồi một nền độc tài công khai, hoặc điều này đi kèm với khuynh hướng bác bỏ những tự do vừa giành được và tình hình mất ổn định tất yếu kéo dài. Điều đáng tiếc là việc chuẩn bị tiến hành sự cai trị độc tài đã được bắt đầu theo hai hướng:
      
     1- Gorbachov có thể không muốn các sự kiện sự đó đảo ngược như vậy, nhưng bản thân ông ta lại đang tăng cường những cơ hội cho quyền lực cá nhân của mình bằng cách xa lánh những nhà cải cách, đồng thời tìm kiếm chỗ dựa từ những người nệ cổ, bằng cách điều hành thông qua các sắc lệnh, nhưng lại phủ nhận tư duy về việc sử dụng chế độ độc tài để hiện thực hóa các ý định của mình.
      
     2- Điều nguy hiểm nhất là giới lãnh đạo cao cấp của quân đội, Bộ Nội vụ và KGB đang tiến hành việc chuẩn bị sử dụng rộng rãi sức mạnh trong đời sống chính trị:

               a) Những bài viết, bài phát biểu và những lời tuyên bố của nhiều nhà lãnh đạo trong số này đang hình thành nên cơ sở tâm lý cho xu hướng đó. Kriuchcov đã lên án sự can thiệp của nước ngoài và khẳng định rằng trong nhiều trường hợp, sự ủng hộ của các quân nhân là cần thiết để khôi phục trật tự trong nước. Akhromeiev đòi phải có bàn tay mạnh mẽ. Iazov ra chỉ thị cho phép trong trường hợp cần thiết được sử dụng vũ khí để bảo vệ các tượng đài và những công trình quân sự; Tuy công nhận rằng viên chỉ huy đơn vị đồn trú Vinhius đã có hành động không thích hợp, song ông ta đã bác bỏ việc người chỉ huy đó phải chịu trách nhiệm về việc sát hại những công dân vô tội. Varennicov, Tư lệnh Bộ đội Lục quân, tại phiên họp của Xô Viết Tối cao đã yêu cầu về việc phải có một chính sách cứng rắn hơn đối với những nước cộng hòa vùng Baltik, còn rất nhiều người chỉ huy quân đội đã gửi kiến nghị cho Gorbachov về những biện pháp biện pháp cứng rắn đồng thời yêu cầu được sử dụng những biện pháp đó đối với các cuộc mít tinh.

               b) Đảng cộng sản, với sự phê chuẩn của Gorbachov, đang làm tất cả những gì có thể để duy trì vai trò chủ đạo của mình trong lực lượng vũ trang, chấn chỉnh bộ mặt của mình trong việc duy trì các cơ cấu của Tổng cục Chính trị. Tiến hành các đại hội đảng ở cấp toàn quân và cấp thấp hơn nhằm thể chế hóa những cơ chế mới, đồng thời tuyên truyền tư tưởng bảo vệ thể chế Liên bang điều hành từ Trung ương bằng mọi giá.

Một chiến dịch cho về hưu và thay thế tối đa những sĩ quan chủ chốt có tư tưởng dân chủ được tiến hành...

Tại Matxcơva, ngày 28 tháng 3, khoảng 550 nghìn binh lính và sĩ quan quân đội và lực lượng nội vụ, với sự tham gia của KGB, đã được triển khai một cách chính xác và có tổ chức. Điều này chứng tỏ rằng cơ cấu chỉ huy để tiến hành những chiến dịch như thế đã được hình thành.

Rất có thể chính những động thái chuẩn bị về tổ chức và tâm lý để sử dụng bạo lực như thế đã buộc Sevardnadze phải đề phòng về “một nền độc tài tương lai”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM