Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:20:34 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí ẩn sự diệt vong của Liên Xô  (Đọc 101781 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2009, 08:36:16 pm »


IT - trước hết, đó là công việc của con người, công việc của trí óc. Bởi vậy, ngay cả khi có được kết quả tốt nhất, nó vẫn bị hạn chế bởi giới hạn năng lực. Để tránh những hạn chế đó, thông thường có hai cách: Một là, sử dụng kỹ thuật máy tính; Hai là, thông qua sáng tạo tập thể. Điều này làm cho công việc trở nên dễ dàng hơn, phát huy được năng lực của từng cá thể, xoá bỏ được giới hạn về năng lực của từng người và đạt tới được mức cốt lõi của vấn đề cần giải quyết. Trong công việc của một tập thể lâm thời được lập ra để soạn thảo một tài liệu hay một đề tài, người ta có thể vận dụng những phương pháp sau đây.

Hệ thống phân tích “Faksens”. “hệ thống này được các chuyên gia của Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA soạn thảo và đưa vào sử dụng năm 1984. Mục đích chủ yếu của nó là thiết lập với sự hỗ trợ của các chương trình máy tính hệ dự báo sự phát triển năng động của lĩnh vực kinh tế và chính trị của các nước khác. Các nhà nghiên cứu trong khuôn khổ của hệ thống này tuyên bố rằng trên cơ sở kinh nghiệm đã nhiều năm sử dụng có thể nói một cách chắc chắn về độ chính xác cao của các dự báo. Cũng theo lời họ, nhờ phương pháp “Faksens” này, từ tháng 5 năm 1991 họ đã dự đoán được cuộc biến loạn tháng 8 (1991, tại Liên Xô). Trong một thời gian dài, hệ thống phương pháp này đã được coi là tuyệt mật.

Cần nhận thấy rằng tính chuyên nghiệp của các chuyên gia CIA và của nhiều cơ quan khác ở Mỹ là rất cao: trong quá trình giao tiếp họ đã thể hiện rõ sự hiểu biết tinh tế về nền chính trị Nga, điều mà không phải bất cứ nhà báo chuyên phân tích chính trị trong nước cũng có được. Tất nhiên, khi dẫn ra lời mô tả này, chúng tôi cũng đặt nó vào bối cảnh sinh hoạt trước đây của đất nước - hệ thống này được sử dụng vào những năm “cải tổ”.

“Chính việc này đã gợi chúng ta nhớ tới cái mà giới quan chức và khoa học của chúng ta gọi là “tẩy não”. Trong một diễn đàn, ban đầu mỗi người tham gia đều trình bày lý lẽ của mình về vấn đề đang được đề cập đến, có thể viện dẫn bao nhiêu tuỳ thích, song rốt cuộc quyết định cuối cùng được thông qua bằng biểu quyết nhất trí (Consensus). Phương pháp nghiên cứu, thoạt nhìn không phức tạp lắm: trước hết là xác định đối tượng nghiên cứu. Rốt cục đối tượng đó thường là: Những con đường phát triển nền kinh tế Nga; mối quan hệ giữa trung ương với các địa phương; chính sách của Nga trong quan hệ với Mỹ. Sau đó là lập đội “tuyển cầu thủ” - gồm những người hoặc nhóm người có uy tín trong lĩnh vực cần nghiên cứu. Có khoảng 1/3 trường hợp là thành phần được thay đổi một chút. Điều đương nhiên, “đội trưởng” trong hầu hết các trường hợp là những chính khách hàng đầu. Mỗi cầu thủ được nhận một thang điểm phân loại (từ 1 đến 100) về mức độ ảnh hưởng đối với vấn đề và mức độ am hiểu trong lĩnh vực đó. Sau đó, các cầu thủ được chia theo thang điểm và phân thành 100 đơn vị quan điểm. Đây mới chỉ là sự mô tả ngắn gọn về công nghệ tạo ra bán thành phẩm của chính trị học mà chúng tôi đã từng tham gia. Sau cùng, nhờ máy tính, thành phẩm là những đánh giá thử nghiệm và các biểu đồ chỉ ra vị trí và ảnh hưởng của những cầu thủ trụ cột nhất.

Phương pháp “Faksens” mang tính chất khép kín, nhưng nền tảng ban đầu của nó cũng tỏ ra khá thô sơ ở chỗ các nhà báo phương Tây thường trú tại Mátxcơva và các nhà Kremli học thường lo đi tìm kiếm sự phân bố lực lượng trong “đội tuyển chính trị Xô Viết”: “hàng chục năm liền, báo chí nước ngoài thường viết về “những sự bí ẩn của Kremli” là ngụ ý nói về quá trình thông qua các quyết định ở cấp lãnh đạo chính trị Xô Viết cao nhất, cũng như về cuộc đấu tranh giữa các bên khác nhau trong quan điểm phát triển, giữa các nhà lãnh đạo chủ chốt có khả năng lên nắm quyền. Nói chung, không có và không thể có điều gì đáng ngạc nhiên trong những bí mật này - trong cả nước, ban lãnh đạo buộc phải phong toả hoạt động của mình để tránh sự tò mò, tọc mạch của báo giới và tránh sự chú ý của đám tình báo chính trị nước ngoài. Hơn nữa, khi cho rằng một nhà báo bình thường không được phép tiếp xúc với thông tin nào đó thì các phương pháp thu thập tin đương nhiên rất sơ lược và chỉ có được bằng con đường gián tiếp: “Các chuyên gia về Liên Xô thường dựa vào quan niệm và dự đoán của mình về Liên Xô thông qua việc bố trí chỗ ngồi của các uỷ viên Bộ Chính trị trên Lăng Lênin”.

Trong nhiều trường hợp, họ buộc phải sử dụng thông tin không chính thức từ các nguồn không thật thạo tin, thông qua kiểu gián điệp nhị trùng CIA - KGB như Viktor Lui. Xuất phát từ “ cuộc đấu tranh giữa các bên khác nhau trong quan điểm phát triển” mà họ đưa ra kết luận về việc Liên Xô sẽ tiếp tục đi theo con đường nào. Liên Xô đi vào bế tắc... Rằng Phương Tây đang trong thời điểm quyết định hỗ trợ cho những người có năng lực trí tuệ nhưng đang thấp kém hơn những người khác... Về điều này chúng tôi sẽ đề cập sau.

Ba tuần, sau khi báo “Tin tức” (Ivestia) đăng bức thư phản đối bài báo của chúng tôi. Thư ký tên là Iuri Baturin, người được chúng tôi coi là một nhà phân tích, vào thời điểm đó đang giữ cương vị Trợ lý Tổng thống Liên bang Nga về an ninh quốc gia. “Faksens” đã được đánh giá rất cao: “Thậm chí thông qua những dấu hiệu gián tiếp chứa đựng trong bài đăng trên báo, có thể đánh giá các phẩm chất của “Faksens”.

Khía cạnh quan trọng đầu tiên của mô hình này được chứa trong các ẩn ý của nó, theo đó hình thức hóa tương ứng sự năng động của các quá trình chính trị được coi là có thể về mặt nguyên tắc. (...)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2009, 08:36:50 pm »


Phương pháp “Faksens” thực sự là một phương pháp trình bày, trong đó các thông số tình hình xã hội phản ánh chế độ xã hội, hệ thống chính trị - xã hội được tán xạ qua lăng kính đặc biệt - bằng trí tuệ của các nhà nghiên cứu.

Cách tiếp cận này, rõ ràng là vô cùng khoa học. Một vấn đề thực tiễn cơ bản trong cách mô tả này là mức độ rộng mở của sự tán xạ bảo đảm điều kiện cần và đủ để xây dựng những dự báo tin cậy. (...)

Chúng tôi đánh giá cao những phẩm chất của “Faksens”. Trước hết là cách tính toán các quá trình theo 3 nhóm: lĩnh vực kinh tế chủ đạo, khu vực và đường lối. Mỗi nhóm trong lực lượng hoạt động phát triển xã hội đó có khuynh hướng và “sức nặng” của mình.

Thật dễ hiểu là phương pháp “Faksens” có được môi trường áp dụng rất rộng lớn khi ta xem tới phần được đề cập dưới đây.

Chỉ số tình cảm của người tiêu dùng (CSI - Consumer Sentiment Index). Chúng ta bắt đầu từ một trích dẫn: “Sau Chiến tranh thế giới II, doanh nghiệp và Chính phủ Mỹ đã quan tâm tới những vấn đề như: dân chúng sẽ làm gì với số tiền của rất lớn đã từng tích lũy được trong thời gian chiến tranh? Họ sẽ dùng cho chi tiêu? Nếu vậy thì họ chi vào việc gì?. Biết được điều này rất quan trọng, bởi trong nền kinh tế thị trường thì mỗi một người tiêu dùng đều là nhân vật chính. Chi phí của người tiêu dùng, ví dụ, ở Mỹ, theo những tính toán khác nhau, luôn chiếm từ 2/3 đến 3/4 GDP. Vì vậy, hành vi tiêu dùng là một nhân tố quan trọng chủ yếu của nền kinh tế. Đây là lý do dẫn đến việc Trường đại học tổng hợp bang Michigan (tại thành phố Ann Arbor) suy tính tới việc nghiên cứu chỉ số có tên gọi là Consumer Sentiment Index (CSI).(...)

Trên cơ sở phỏng vấn 2 400 người tại 101 điểm của đất nước, được lựa chọn theo vị trí xã hội, giới tính, lứa tuổi sao cho họ đại diện chính xác nhất ý kiến của toàn bộ dân chúng cả nước”

CSI ở Mỹ được Trung tâm Nghiên cứu các quy luật phản ứng của người tiêu dùng do Ralf Nader sáng lập tiến hành nghiên cứu. Đây có thể được coi là “nhà máy tư duy” đầu tiên phản ánh quyền lợi của người tiêu dùng. Song trên thực tế, nó không phản ánh quyền lợi của người tiêu dùng, mà nói một cách công khai, nó biến những người tiêu dùng thành những con vật có thể điều khiển được. Trong suốt một thời gian dài chúng ta chỉ có một nhà phân tích nổi tiếng là X. E. Kurginian (chúng tôi sẽ nói tới ở phần sau) và ông cũng chỉ có một lần duy nhất đề cập về mối quan hệ giữa mức sống và sự thay đổi chế độ. Nghiên cứu của ông cũng chỉ dưới dạng tư liệu không công khai, sau có đăng một lần và im lặng luôn.

Cần phải nói rằng bản thân CSI là phương pháp xử lý thông tin, song nói chung, nhờ có hiệu quả dự báo rất đáng kể mà nó đã được ứng dụng vào công nghệ điều khiển học xã hội. Như hiện nay ở Mỹ “... lý thuyết về thảm họa xã hội của dòng luân chuyển ngoại tệ đã xuất hiện và bắt đầu được phân tích kỹ lưỡng. Hầu như ngay lập tức tất cả các công trình về chủ đề này ở phương Tây đã được “đóng kín”, và không mở” đối với chúng ta. Vậy là, để biết về khuynh hướng phát triển của xã hội, thì không cần phỏng vấn nhiều, mà chỉ cần phỏng vấn một số đại diện của dân chúng. Tất nhiên, với điều kiện phải biết ai là người xử lý các số liệu về Liên Xô. Trong khi họ tự thấy là vô cùng thiếu thông tin mà kết quả công việc nghiên cứu của họ vẫn rất cao. Các nhà công nghệ phương Tây đã không đơn độc bởi họ có nguồn cung cấp thông tin về đất nước đang được nghiên cứu.

Giả sử, “việc giúp đỡ” phương Tây thu thập thông tin về xã hội Xô Viết - xã hội mà “chúng tôi, theo lời của Iu. V. Andropov, cho tới nay còn chưa nghiên cứu được đầy đủ” - từ “phía chúng ta” rõ ràng là có và rất chất lượng. Như chúng ta biết, nơi có thể cung cấp thông tin là: Trung tâm Nghiên cứu dư luận xã hội trực thuộc BCHTW ĐCS Gruzia, Ban Xã hội học hoạt động dưới quyền của Khu ủy Stavropol và Tỉnh ủy Sverdlov. Cũng cần phải nhận thức rằng những cơ quan này thuộc quyền kiểm soát và sự che chắn của những bí thư thứ nhất mà chúng tôi đã từng khắc họa là gián điệp có tầm ảnh hưởng. Cũng cần đặc biệt chú ý tới hành vi của lớp thị dân Matxcơva và Lêningrad - chính những nơi này đã diễn ra rất nhiều sự kiện “cải tổ”. Chính những nơi đây đã tiến hành theo nguyên tắc: các vụ nổi loạn là ở địa phương, còn cách mạng diễn ra tại thủ đô. Chính vì vậy, cả hai thủ đô này cần phải được xem như những hệ thống xã hội riêng và cần có những nhận định riêng. Vào thời điểm đặc biệt, ngay sát trước khi phá hoại, đã có nhiều cuộc thăm dò dư luận được tiến hành thông qua báo chí ở trung ương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2009, 08:37:20 pm »


CASE-TECHNOLOGY. Công nghệ (CASE - Computer Aided Soffware Engeneering: Hỗ trợ soạn thảo bảo đảm chương trình máy tính hay còn gọi là Computer Aided System Engeneering: Hỗ trợ soạn thảo hệ thống máy tính). Thị trường hiện nay có khoảng 100 sản phẩm CASE. Công nghệ CASE nổi bật bởi khuynh hướng khai thác sau lo gic các quá trình mà nhận thức thông thường chỉ nhìn thấy những phần rời rạc không có gì liên quan với nhau của các hiện tượng. Khi các nhà khoa học chỉ nhận thức được các thành tố, thì, về mặt nguyên tắc, không thể đưa ra kết luận ở dạng một tổng thể thống nhất. Các chuyên gia sử dụng Công nghệ CASE không chỉ nhận thức được các quá trình khác nhau theo mẫu chuẩn, mà còn có khả năng đi tới mẫu số chung.

Ví dụ, một trong những hệ thống phương pháp đơn giản nhất và thông dụng nhất là IDEFO - hệ thống phương pháp thiết lập mô hinh chức năng (hoạt động) của hệ thống và môi trường sản xuất. Nó được dựa trên cơ sở của phương pháp kập kế hoạch chức năng SADT do các nhà khoa học Nga tìm ra vào giữa những năm 1970. Từ đó đến nay, các nhà phân tích hệ thống của toàn thế giới luôn sử dụng các tiếp cận này để soạn thảo các chương trình máy tính kế hoạch chiến lược, soạn thảo chương trình bảo đảm hệ thống phòng thủ, điều hành các nguồn lực. Trong khuôn khổ chương trình chuyên dụng, các phương pháp SADT đã được chuẩn hóa, và sau này được gọi là hệ thống phương pháp IDEFO. Từ năm 1981 Lực lượng Không quân Mỹ đã yêu cầu tất cả các hãng cạnh tranh để ký các hợp đồng phải thể hiện và lập cơ sở đề nghị của mình bằng thuật ngữ IDEFO. Điều đó dẫn tới việc, nhờ sự hỗ trợ của hệ thống phương pháp này người ta dễ dàng mô tả sự điều hành, mối liên hệ ngược và cơ chế thi hành. Kết cấu cơ bản của mô hình IDEFO là khối (Blok) chức năng. Trong cơ sở của hệ thống phương pháp có những nguyên tắc như: Khối chức năng chuyển đổi các đầu vào thành các đầu ra; sự điều khiển xác định khi có thể có các chuyển đổi đó hoặc khi chuyển đổi đó xảy ra; cơ chế thực hiện trực tiếp sự chuyển đổi đó. Tóm lại, mô hình IDEFO không chỉ là một biểu đồ thuần túy. Đó là biểu đồ được định sẵn thể hiện đầu vào - ra của chuyển đổi, đồng thời cho biết nguyên tắc của các chuyển đổi đó.

Hệ phương pháp IDEF1X - một trong những quan điểm mô hình hóa ngữ nghĩa các số liệu dựa trên công thức Entity Relationship (ER - quan hệ giữa những bản chất hoặc là các đặc tính của những bản chất). Một trong những thành tố quan trọng nhất là mối quan hệ “nhiều yếu tố với nhiều yếu tố” khắc họa mối quan hệ giữa hai nội dung cơ bản, trong đó mỗi thành tố của bản chất thứ nhất được liên hệ với số lượng bất kỳ của những thành tố thuộc bản chất thứ hai, đồng thời mỗi thành tố của bản chất thứ hai lại có liên hệ với số lượng bất kỳ của những thành tố thuộc bản chất thứ nhất. Cách tiếp cận như thế cho phép chi tiết hóa mọi phân tích đến mức tất cả những hình thái quan hệ phức tạp vô cùng kiểu “nhiều yếu tố với nhiều yếu tố” đều được phát hiện ra và được thay thế bằng vô số các quan hệ đơn giản tương ứng.

Quan điểm lịch sử ngược. Trong cuốn Kinh thánh Ekkleziat có nói: “Cái gì đã có thì sẽ có; và cái gì đã được làm thì sẽ được làm, mà không có gì mới dưới mặt trời. Chẳng là gì điều người ta thường nói: “Nhìn kìa, đó là cái mới”; song ngay cả cái mới đó đã từng có từ xa xưa, có trước cả chúng ta”. Phương pháp mới của chúng ta dựa trên chính những lời hàm chứa tính chu kỳ và tính lặp của các quá trình này.

Một bộ phận lịch sử của ngành Xô Viết học đã có được vị trí đặc biệt của nó không đơn giản vì Richard Pips - nhà Xô Viết học của Reagan - là chuyên gia về lịch sử Nga và chuyên gia thực sự về lịch sử cách mạng. Tờ Post Factum đã nhận xét rằng “...những nghiên cứu nghiêm túc nhất của nhân dân Nga đã được chính những kẻ thù của Liên Xô thực hiện, trong đó có R. Pips - cố vấn của Reagan về Nga . Điều này thật dễ hiểu, bởi để quật ngã đối thủ cần hiểu rõ tính cách thực sự của nó, chứ không phải tính cách được bịa đặt. Không nên đánh giá quá cao cũng như quá thấp kẻ thù”. Nếu phương pháp được đưa ra thực sự có vai trò trong chất lượng “xác địnhthứ tự của các sự kiện lịch sử”, thì khi đó nhân tố của Pips sẽ có được ý nghĩa quyết định, hoặc đánh giá không đầy đủ phương pháp này, nhắm mắt làm ngơ đối với nó thì cũng có nghĩa là đã không tiếp thu đầy đủ toàn bộ tính hệ thống của các quá trình nói chung.

Cần phải nói rằng các quá trình lịch sử cụ thể luôn là sự kết hợp (trộn lẫn) hai mặt của quá trình: Một là, tự phát, nghĩa là không được lập thành kế hoạch và không điều khiển được; Hai là, tự giác - có ý thức, nghĩa là có kế hoạch và có khả năng điều khiển được.

Trong mô tả khoa học các dạng quá trình được đề cập đến đòi hỏi phải có những hệ thống khái niệm và khẳng định khác nhau của phương pháp luận khoa học. Những quá trình tự phát (lịch sử tự nhiên) được mô tả bằng những khái niệm và khẳng định của biện chứng. Để mô tả khoa học những quá trình tự giác - có ý thức lại cần một bộ máy phương pháp luận khác. Ở đây cần biết thế nào là những kế hoạch (dự án) xã hội; chúng được hình thành vì sao và như thế nào; cách hiện thực hóa thế nào; thế nào là điều khiển xã hội đối với con người; nó được thực hiện bằng những phương tiện nào và theo những nguyên tắc nào”.

Không có được thông tin cụ thể từ những kẻ đã suy tính và đã thực thi “cải tổ” ở bất cứ hình thức nào và với sự hỗ trợ của bất cứ phương tiện nào, thì những kiến giải của chúng ta vẫn chủ yếu là “nghi ngờ”. Vậy chúng tôi có quyền “nghi ngờ” không? Điều đó do bạn đọc đánh giá, chúng tôi chỉ nêu lại trình tự các sự kiện đã được biết.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2009, 08:38:13 pm »


Quá khứ xa xưa

1- Đầu thế kỷ. Có một cuộc chiến tranh lớn (so với thời đó) về quy mô và tổn thất. Một cuộc chiến tranh xuyên lục địa, cuộc chiến tranh đầu tiên của động cơ, cuộc chiến tranh của hàng triệu con người. Sau này người đời gọi nó là Chiến tranh đế quốc, Chiến tranh thế giới I, nhưng ở Nga vào năm 1914 người ta gọi nó là Chiến tranh vệ quốc.

2- Cuộc chiến tranh đó chưa kịp kết thúc, thì đã xảy ra một sự kiện lớn - Cuộc Cách mạng Tháng Hai và việc lật đổ Nga hoàng.

3- Sau Cuộc Cách mạng Tháng Hai đã diễn ra một sự kiện có ý nghĩa nhất của năm 1917 - đó là cuộc bạo động tháng bảy của những người Bônxevich. Thất bại của những người cực tả, đảng do Lênin lãnh đạo lùi vào bí mật, đồng thời Chính phủ của Quận vương Liev về vườn - đó là những sự kiện của thời điểm này. Sự khủng hoảng chính quyền đã dẫn tới việc Chính phủ của A. F. Kerenxki lên nắm quyền, và con lắc đã dao động từ nguy cơ của nhóm cánh tả Bônxevich sang một cực khác - quân phiệt cực hữu. Tiếp theo là một khủng hoảng mới trong chính phủ.

4- Trường hợp tiếp theo trong chuỗi bất tận của những lộn xộn thường xuyên của năm đó, khác với những sự kiện khác, đã ghi lại dấu ấn rất mờ nhạt trong sử sách. Nó không có ý nghĩa gì thật sự lớn cho ngày hôm nay. Song vào thời điểm đó, nó đã từng có một ảnh hưởng nổi danh: cái gọi là “Hội đồng 5 vị” (Direktoria - một tổ chức điều hành quốc gia gồm 5 bộ trưởng do A. F. Kerenxki cầm đầu từ 1 đến 25 tháng 9 năm 1917. ND). Công việc đầu tiên của họ đã làm thay đổi định chế của nước Nga (ngày 1 tháng 9 đã tuyên bố Nga là nước cộng hòa... ND).

5- Nên gọi thế nào về việc diễn ra sau đây trong năm đó: Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại, hay là cuộc đảo chính của Bônxevich, hay là gì khác. Song sự kiện vẫn là sự kiện: nhờ sự kiện này mà những người Bônxevich đã lên nắm chính quyền trong suốt thời gian dài.

6- Giải tán Quốc hội lập hiến. Sát hại hai đại biểu của tổ chức này và bắn vào cuộc diễu hành hòa bình.

7- Đáp lại, trong nước bùng lên nội chiến, thêm vào đó là sự can thiệp của nước ngoài. Dưới thời Xô Viết, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định một chiều rằng cuộc nội chiến này là do bọn bóc lột cũ, do không chịu chấp nhận việc chúng bị mất ruộng đất và nhà máy, gây ra. Nhiều nhà nghiên cứu mới đây cũng khẳng định điều tương tự, nhưng theo hướng ngược lại: chiến tranh nổ ra là do chính phủ tam hoàng của Xô Viết dân ủy. Thật khó tin là một chính phủ, để giành được chính quyền, lại tự đặt bom vào chính quyền lực đó và phải gây nên chiến tranh. V. I. Lênin không làm như thế.

8- Sau khi chiến tranh kết thúc, Chính sách kinh tế mới (NEP) được công bố.

9- Cái chết của nhà lãnh đạo cộng sản đầu tiên V. I. Lênin - đó là trang cuối trong biên niên sự kiện đầu thế kỷ của chúng tôi.

***

Cái chết của Ioxif Vissarionovich Xtalin, mà chúng tôi đã viết như một sự kiện bước ngoặt ở Liên Xô, đã lật lại toàn bộ lịch sử phát triển của hệ thống quốc gia. Đường xoáy ốc của lịch sử đã hết tầm và bắt đầu quay theo chiều ngược lại. Các sự kiện diễn ra theo khuynh hướng ly tâm, tàn phá - đây là vấn đề hiện nay chúng ta đang nghiên cứu. Các sự kiện đang diễn ra vào cuối thế kỷ này hệt như những gì ở đầu thế kỷ, song theo một trình tự ngược lại. Những gì mà đầu thế kỷ là sáng tạo, thì vào cuối thế kỷ đang được phá tán. Mười năm đầu của thế kỷ XX đã được chúng tôi cố gắng nghiên cứu một cách chi tiết trong phần đầu, còn bây giờ là sự phản ánh về mười năm cuối của thế kỷ XX. Tôi không biết bản chất của nó phải chăng là phá hoại hệ thống cần phải theo trình tự ngược lại những gì mà nó được xây nên không, hay tự thân tính chất của các sự kiện chỉ tình cờ là như vậy. Để làm rõ nghiên cứu của mình, chúng tôi dẫn ra “cách tính ngược” các sự kiện đó.


Quá khứ gần

9- Bắt đầu từ việc thủ lĩnh cộng sản cuối cùng lên nắm quyền - Mikhain. X. Gorbachov. Có điều gì đó thần bí và không hoàn toàn tốt ngay từ khi bắt đầu sự kiện này. Vấn đề là, người đầu tiên và cũng là người cuối cùng của dòng họ Romanov (Nga hoàng) có tên gọi là Mikhain. Nicolai II, người đã từng nắm quyền lực của đế chế trong suốt 23 năm cuối cùng, chưa phải là hoàng đế cuối cùng. Vào tháng 2, ông ta đã trao toàn quyền của mình cho người em trai là Mikhain. Song người này đã nhất định từ chối nên không được coi là người kế vị. Xét về phạm trù hình thức, có thể khẳng định rằng đó là vị nga hoàng hợp pháp cuối cùng - Romanov Mikhain Elecxandrovich. Ba ngày sau khi ông ta từ chối, chính quyền đã thuộc về tay của ủy ban lâm thời. Ông ta được xếp vào số những đại biểu cấp tiến nhất trong Duma quốc gia thứ tư. Vị chủ tịch của hai tổ chức là Rodzianko cũng có tên gọi Mikhain. Điều kỳ lạ là vào năm V. I. Ulianov (Lênin) mất, ông ta tròn tuổi 54. Sau 13 ngày, khi Mikhain. X. Gorbachov cũng tròn tuổi 54, người tiền nhiệm của ông ta chết. Vậy là, trong cách tính ngược của chúng tôi, cái chết của người lãnh đạo cộng sản đầu tiên đã đặt nấc thang lên nắm quyền lực của Mikhain. X. Gorbachov, kẻ lãnh đạo cuối cùng trong khuôn khổ của hình thái cộng sản.

8- Một trong những hành động đầu tiên của ông ta là ban hành Đạo luật về Hoạt động lao động cá thể (19 tháng 11 năm 1986) và Đạo luật về Phong trào hợp tác (26 tháng 5 năm 1988) - trong một cách nhận thức khác về quá khứ, nó trùng hợp cả về tính chất và phương hướng hoạt động với việc thông qua NEP.

7- Mùa hè năm 1988, trong đất nước không còn to lớn của chúng ta đã nổ ra cảnh nồi da xáo thịt tại Kavkaz. Khởi nguồn xung đột của điểm nóng đầu tiên này là do quyết định của Xô Viết tối cao của vùng tự trị Nagornyi - Karabakhxk về việc sáp nhập nó vào Armeni. Đây cũng là một sự trùng hợp với lịch sử của chúng ta.

6- “Cải cách” chính trị của Gorbachov với sự kiện chủ yếu là triệu tập Đại hội dân biểu - đây là bước cuối được mô tả rất trùng hợp với cuộc họp duy nhất của Quốc hội lập hiến.

5- Vở kịch mang tên “Bạo loạn” - đây là sự bắt chước đáng thương của cuộc cách mạng này. Rất có thể sẽ có lúc nó cũng được gọi là vĩ đại.

4- Thất bại của Liên Xô, đỉnh cao của nó là âm mưu Belovezxk

3- Những sự kiện trong tháng 10 năm 1993 - được phản ánh ở vụ bắn vào đoàn biểu tình của những người Bônxevich. Dù sao, đây cũng là một âm mưu đảo chính yếu đuối, không chuyên nghiệp.

2- Sau tháng 10 năm 1993, các Xô Viết bị giải tán, kể cả những Xô Viết có thái độ trung lập đối với vụ va chạm ở Matxcơva. Hiến pháp mới được công bố, về mặt pháp lý đã đưa tổng thống đất nước thành một Nga hoàng mới - Nga hoàng Boris (Eltxin).

1- Một năm sau – cuộc chiến ở Chesnia mở màn (tháng 12 năm 1994) và kéo dai không dứt. Mọi sự ở đó vẫn như trước đây.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2009, 08:39:31 pm »


Cuộc chiến tranh Liên Xô - Afghanistan 1979 - 1989. Đây là một cuộc can thiệp vũ trang của Liên Xô vào một đất nước thường xuyên xảy ra nội chiến. Ngay từ đầu, ý định khuất phục đất nước này rõ ràng là một điều ngu xuẩn, trước hết được dựa trên sự thiếu hiểu biết về lịch sử. Cần phải nói rằng, Afghanistan - đó là một đất nước duy nhất trên thế giới thường xuyên diễn ra cảnh huynh đệ tương tàn. Trong giai đoạn lịch sử đang được đề cập tới, trong nước này chỉ có một tỉnh luôn không chịu thuần phục chính quyền Kabul. Song cuộc chiến tranh đã nổ ra không còn đơn thuần là xung đột giữa một lực lượng quân đội Xô Viết hạn chế với phe chống đối. Nó còn là sự đối đầu giữa những tín đồ Thiên chúa giáo với người Hồi giáo. Không thể không tính tới điều này.

Kể cả khi quân đội Xô Viết đã rút khỏi Afghanistan, cuộc chiến vẫn không chấm dứt vì một nguyên nhân rất hạn chế: do yếu tố địa lý, nên ưu tiên hàng đầu trong đường lối là sáp nhập vào lãnh thổ Tadzikistan. Tại đó, người Nga còn rất ít, nếu tiếp tục chiến tranh thì con số nạn nhân sẽ rất lớn. Hiện nay, nơi đó chỉ xảy ra xung đột liên quan tới biên phòng Nga và những kẻ đối lập, những người theo Thiên chúa giáo và Hồi giáo. Hướng chiến lược này đã trở thành sườn trái của một mặt trận tương lai chia cắt toàn bộ đại lục.

Hướng trung tâm của chiến trường đại lục Âu - Á là Kavkaz. Tại đây, ngọn lửa xung đột sắc tộc đã bùng lên trên lãnh thổ Liên Xô, lan rộng trên một vùng rộng lớn và cuốn theo rất đông dân chúng, nền kinh tế và hạ tầng cơ sở. Cho dù sau này các bên tham chiến có ý định thỏa hiệp, song sự khác biệt về tôn giáo sẽ không cho phép chấm dứt hoàn toàn các cuộc xung đột. ưu tiên tín ngưỡng đang chia rẽ mọi người: giữa người Armeni với Azerbaidzan, Gruzia - Abkhaza, Nga - Chesnia.

Chiến trường cuối cùng, tuy nằm ngoài ranh giới của Liên Xô cũ, nhưng vẫn nằm trong lòng của hệ thống xã hội chủ nghĩa cũ - trên lãnh thổ Nam Tư. Đó là nhà nước liên bang thứ hai trên thế giới có nhiều vùng tự trị và có đông tín đồ Thiên chúa giáo, Hồi giáo. một trên những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới chia cắt Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, cũng như Cộng hòa liên bang xã hội chủ nghĩa Nam Tư - đó chính là hai đức tin (confess) không thể dung hòa trong cùng một hệ thống. Sự đối kháng không thể dập tắt tại Bankan cũng xuất phát từ dấu hiệu tương tự. Cũng cần nhận thấy rằng, các cuộc xung đột “không tự thân”, mà thường có vai trò của phe thứ ba - kẻ biết cách kích động sự miệt thị trên cơ sở tín ngưỡng.

Như vậy, chúng ta đã thấy rằng các mặt trận giữa những bên tham chiến đã được hình thành ở khắp nơi, hoặc do những yếu tố mâu thuẫn địa lý sẵn có giữa người Thiên chúa giáo và người Hồi giáo, hoặc do những nguyên nhân khác như sự khác biệt ngay trong cùng đức tin (những cuộc nội chiến ở Afghanistan và ở Tadzikistan giữa những người Hồi giáo), kể cả cuộc xung đột kéo dài đã nhiều năm ở Cận Đông giữa những người Arap và người Hindu.

Chúng ta cũng thấy rằng tất cả những sự kiện có ý nghĩa to lớn nhất trong những năm gần đây đã diễn ra hệt như những gì đã xảy ra vào đầu thế kỷ XX, chỉ có điều theo một trình tự và những dấu hiệu ngược lại.

Những vấn đề đặt ra: đó là trò chơi vô tình của những thế lực thần bí mà chúng ta chưa biết tới hay chỉ là trường hợp hãn hữu của lịch sử? Vì sao lại xảy ra như vậy? “Tự thân” là tình cờ? Hay là những kẻ gây nên “thảm họa” cho chúng ta cũng đã tính tới những yếu tố mà chũng ta vừa phân tích như một sự cần thiết để phá tan một hệ thống theo kịch bản dựng sẵn?!!

Những phương pháp khác thường được sử dụng là:

Phương pháp ghi chép. Thường được sử dụng để đối chiếu giữa các tư liệu, các bài viết khác nhau. Mỗi người tham gia sẽ viết sẵn những gì có trong suy nghĩ liên quan tới vấn đề đặt ra. Sau đó, các thành viên lập ra tài liệu kết luận riêng. Tất cả những gì được viết ra sẽ được sàng lọc bởi không phải mọi ghi chép đều cần thiết. Phương pháp cũng có thể do một người sử dụng. Để có được một cuốn sách thực sự rất cần có sự hỗ trợ của IT này.

Phân tích giá trị. Điều chủ yếu của công nghệ này là hạn chế về chi phí. Một cá nhân cũng như một tổ chức đều có thể rơi vào hoàn cảnh “Tôi đã có thể làm việc này, thế này, nếu có chừng này tiền,...”

“Những mơ ước về điều không thể”. Nếu không áp dụng công nghệ này, hoàn toàn không thể hình dung được khả năng thực hiện một công việc phức tạp như việc làm tan rã Liên Xô. Công nghệ này có một nền tảng rất đặc biệt, nó xác định chính khả năng thu nhận kết quả. Trong đó, những ý tưởng kết cấu được trình bày ở các IT khác, không được công nghệ này chấp nhận. mà hoàn toàn ngược lại, chúng được thay thế bằng những đề nghị kiểu: “Nếu có cái này, chúng tôi đã có thể làm việc này, thế này”. Công nghệ này được khắc họa bởi những điều vô lý và không tưởng. Nếu trong công việc này có mặt một kẻ ngoài cuộc thì anh ta có thể bị các thành viên khác nghi ngờ về sức khỏe tâm thần. Có thể nói, nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết những nhiệm vụ này là: không bao giờ được nói “không bao giờ”.

Công việc soạn thảo - “... sử dụng có hệ thống những nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản để thiết lập và sản xuất ra các đối tượng cụ thể, các hệ thống, phương pháp và vật liệu”.

Tấn công não. Nó còn có những tên gọi khác như: “Đột kích não”, “Trí nhớ tập thể hay nhóm”, “Brainstorming” (Brain - não, trí tuệ, máy tính điện tử; Storm - đột kích, tấn công như vũ bão), hay phương pháp kích thích ý tưởng tập thể. Để giải quyết công việc này cần xác định số lượng và thành phần người tham gia - trong thảo luận thường cần không quá 5 hay không quá 12 người. Xác định và hình thành một nhiệm vụ vô cùng phức tạp, quan trọng cần giải quyết. Tất cả thành viên tham gia bình đẳng, cùng ngồi quanh bàn tròn, không nên ngồi theo dãy và không cần có chủ tọa, cần tránh tâm lý “thủ trưởng - nhân viên”. Người cầm trịch không giữ vai trò chủ tọa mà chỉ là một thành viên. Xác định chính xác thời gian thảo luận. Thời gian tối ưu là khoảng 30 phút, chính sự thiếu hụt về thời gian sẽ gây nên stress kích thích hoạt động của não. Không một ai được phép phê phán ý tưởng của người khác. Tuyệt đối tránh những câu như “Không...”, “Không thể...”. Có tới 95% só người không thể sáng tạo trong trường hợp “bị ép não”. Trong những phút đầu tiên, có thể có những ý tưởng sơ khai hoặc lạc đề. Hãy chọn lọc các ý tưởng và không định danh ý tưởng đó theo tác giả. Những ý tưởng tốt nhất là thuộc về tập thể. Khi đã có được ý tưởng tốt nhất, hãy chia các thành viên thành nhóm “ủng hộ” và nhóm “phản biện”. Cố gắng phát hiện ra những yếu điểm trong quyết định và tiến hành “kiểm tra”. Trong căn phòng được chọn làm nơi thảo luận như thế này có thể bố trí các biểu đồ, sách tra cứu, máy ghi âm...

Phương pháp xemina khoa học và phương pháp phân tích thông tin không khác nhau nhiều. Sự khác biệt duy nhất của chúng chỉ là: phương pháp thứ nhất đôi khi được tiến hành như một giờ học, trong đó các chuyên gia phân tích thường đưa ra nguyên tắc này hay nguyên tắc kia, đưa ra những số liệu được thực tế do các cơ quan tình báo thu thập được, tin tức của các nhân vật cao cấp, chính thức. Thí dụ, người ta đã tiến hành tư vấn cho Bush (cha) trước khi ông ta bay sang Matxcơva gặp các thủ lĩnh mới của Liên Xô vào tháng 11 năm 1982; vào tháng 2 năm 1984; vào tháng 3 năm 1985 cũng như dịp ông ta phát biểu nhậm chức tổng thống Mỹ.

Phân tích nội dung. Trong xã hội học cũng như trong việc các cơ quan tình báo phân tích thông tin, khai thác thông tin từ những nguồn công khai luôn có một nguyên tắc. chúng tôi dẫn ra đây một bằng chứng: “... các mũi tình báo Mỹ và các nước phương Tây khác trước hết đều nhắm vào Nga - nước có rất nhiều thành tựu khoa học trong lĩnh vực công nghệ quân sự. Có nhiều điều thực sự được công khai, song cũng còn rất nhiều điều được giữ kín. Một bài đăng trên tờ báo Mỹ “Washinhton Post” viết:

“Tính công khai của dân Xô Viết trong những vấn đề kỹ thuật chỉ là trò tiếu lâm. tuy nhiên đó không chỉ đơn giản là hiện tượng của cải tổ. Một kỹ sư người Armeni, trong những năm đầu 1960 đã từng công tác tại Cục Vũ khí hạt nhân, đã kể về một nhà khoa học của “RAND Coporation” - người được yêu cầu thu thập các bài đăng công khai trên sách báo Xô Viết toàn bộ thông tin về hậu quả sử dụng vũ khí hạt nhân trong vũ trụ. Sau 6 tháng, bản báo cáo do ông ta mang về được những người Mỹ xếp vào loại tin mật”.

Bài viết trên “Washinhton Post” này đề cập về những phương thức thu thập, tiếp cận đối với những công trình mới của Nga. Theo tác giả, nghệ thuật vay mượn ý tưởng chủ yếu là ở việc đọc các ấn phẩm được xuất bản tại Nga. Một phương thức khác là theo cách tiếp xúc trực tiếp với các công trình nghiên cứu”

Phương pháp lô gic - trực giác dựa trên việc vận dụng kiến thức và linh cảm của người phân tích về các vấn đề khác nhau trong quan hệ quốc tế. Người chuyên gia theo phương pháp này thường biết và sẵn sàng nói ra về tương lai nhiều hơn những gì anh ta có trong tay.

Phương pháp Delfi được các nhà phân tích sử dụng để thăm dò liên tục một cá nhân và đưa ra một chuỗi tin liên tục về một vấn đề duy nhất. Phương pháp này được coi là tương đối có ích, song cũng có nhiều yếu tố thiếu đầy đủ, như: tính chất phức tạp của thủ tục, thiếu tính toán đến mối tương quan giữa các sự kiện và tình hình quốc tế, khó làm rõ những yếu tố phân biệt đâu là ý kiến của chuyên gia...

Hiện nay, ở Mỹ đang phát triển một biến thể của phương pháp Delfi - phương pháp hiệu chỉnh chéo cho phép tính đến ảnh hưởng tương quan giữa những sự kiện có thể xảy ra trong tương lai, và vì vậy, nó cho phép nâng cao độ tin cậy của các dự báo. Về mặt nguyên tắc, ý tưởng sử dụng phương pháp hiệu chỉnh chéo các sự kiện để dự báo rất đơn giản. Tất cả các sự kiện được viết thành thuật toán ma trận và có mối liên hệ giữa các sự kiện, sau đó các mối liên hệ chéo được đánh giá về số lượng. Trong đó, càng đưa nhiều sự kiện vào thuật toán thì độ tin cậy của dự báo càng cao. Khi đưa máy tính điện tử vào xử lý, bộ nhớ của nó có thể ghi nhận tới 1 000 000 trường hợp hiệu chỉnh chéo. Nhờ có máy tính, số lượng kịch bản càng nhiều độ chính xác của chúng càng lớn. Khi áp dụng phương pháp này người ta có thể xác định trực tiếp một chiến lược chính trị - đối ngoại, đồng thời có thể thúc đẩy những sự kiện có lợi và kiềm chế sự phát triển của những hiện tượng ngoài mong muốn.

Hoạch định kịch bản - là một trong những phương pháp thông dụng nhất được Mỹ sử dụng để dự báo các quan hệ quốc tế. Kịch bản chưa hẳn là dự báo, bởi dự báo được xây dựng trên những kết luận rút ra từ quá trình hoạch định cả một loạt kịch bản. Trong quá trình hoạch định này, mọi phương kế của mục tiêu chính trị - đối ngoại, các tiền đề và những yếu tố khác nhau xác định sự phát triển của các sự kiện quốc tế sẽ được kiểm chứng, kể cả việc nảy sinh các tình huống giả thiết. Theo lời của Giáo sư Ch. Makkleland Trường đại học tổng hợp Nam California, phương pháp này là “một mô hình kinh tế nhất”, và nó mới chỉ là bước đi đầu tiên trong quá trình phát triển các phương pháp và phương pháp luận chuyên dùng cho dự báo.

Trò chơi mô phỏng là một phương pháp dự báo quan hệ quốc tế được sử dụng để hoạch định các phương án có thể của tình hình quốc tế trong tương lai (trước hết là tình hình khủng hoảng) bằng cách mô phỏng sự phát triển của các sự kiện. Cho dù đã có lúc thăng trầm vào cuối thập kỷ 1960, song tính thông dụng của phương pháp hiện rất rộng lớn. Nó được sử dụng trong hàng chục trung tâm nghiên cứu và các trường đại học, cao đẳng ở Mỹ.

Điều chủ yếu của IT này đối với việc nghiên cứu của chúng ta là những xung đột trong lý thuyết của các trò chơi được chia thành hai cấp - cạnh tranh khốc liệt và cạnh tranh không khốc liệt. Trong trường hợp thứ nhất, lợi ích của các bên trực tiếp đối nghịch nhau và không dung hòa. Chiến thắng của một bên cũng đồng nghĩa là sự thất bại của phía bên kia. Vì vậy, có thể gọi chúng là những trò chơi có giá trị không. Trong trò chơi, cạnh tranh không khốc liệt, quyền lợi hai phe vẫn xung đột nhau, nhưng không được xem là mâu thuẫn trực tiếp, bởi vậy nó tồn tại một khoảng rộng cho những thỏa hiệp, thoái bộ hoặc cạnh tranh. Những người nghiên cứu lý thuyết trò chơi đã dành cho Liên Xô một cuộc đấu cạnh tranh khốc liệt, họ đã làm điều đó và giành “Victory” (chiến thắng).
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Tư, 2009, 09:18:12 pm gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2009, 09:57:13 pm »


Phụ lục chương III.

Thông điệp của J. F. Dalles ngày 6/3/1953.

   “Mục tiêu chủ yếu của chúng ta vẫn là gieo rắc thái độ nghi ngờ, bối rối, thiếu tin tưởng đối với chế độ mới trong những quan chức cầm quyền, trong dân chúng ở Liên Xô và ở các nước vệ tinh, trong số các đảng cộng sản nằm ngoài biên giới Liên Xô“.

Tài liệu "Tấn công tâm lý chống Liên Xô. Những mục tiêu và nhiệm vụ", đề ngày 10/4/1951, được giải mật vào năm 1976.

“Khi xác định những mục tiêu và nhiệm vụ này, đương nhiên, cần chỉ ra cho nhân dân Liên Xô rằng chỉ có một con đường duy nhất đối với chế độ hiện hành. Hoa Kỳ không có nghĩa vụ chỉ ra một cách cụ thể. Do đó, chúng ta sẽ không đưa ra những khuyến nghị cụ thể về các vấn đề như: tập thể hóa, bầu cử dân chủ, v.v... mà không có được những chỉ dẫn chính trị đặc biệt đối với điều này. Tuy nhiên, trong toàn bộ sự tuyên truyền của chúng ta, cần ngụ ý rằng cách giải quyết nằm trong việc khôi phục quyền con người vốn đã từng là di sản của dân tộc Nga...

Cần khoét sâu sự ngăn cách vốn có giữa nhân dân Xô Viết với Chính phủ của họ...

Cảnh báo là nhiệm vụ dễ thực hiện nhất. Song đừng quá nhiệt thành. Điều đó có nghĩa là nên gợi lên cảm nhận về sự bạo ngược ở những người vồn từng quen bị ngược đãi và chưa bao giờ nhìn thấy được điều gì xa hơn cái mũi của mình.

Nhiệm vụ số 1. Phát hiện và phát triển những giá trị tinh thần, những quan điểm thẩm mỹ và đạo đức của nhân dân Liên Xô, đặc biệt là của nhân dân Nga, đồng thời tạo ra sự đồng nhất những giá trị đó với những giá trị của thế giới tự do. Chủ đề dự kiến là:

a/ Tính chân thành, sự đồng cảm, lòng nhân hậu, tình cảm đối với gia đình, thái độ mến khách - đó là một số giá trị đáng quý của nhân dân Nga. Tất cả những giá trị đó phát sinh từ đời sống tinh thần của họ. Đó là tài sản chung với các dân tộc của thế giới tự do, nhưng lại đang bị Chính phủ Liên Xô khinh miệt.

b/ Những đống góp lịch sử của nhân dân Nga trong các lĩnh vực sáng tạo khác nhau của thế giới tự do, như: triết học, nghệ thuật và khoa học - luôn được công nhận và tôn trọng.

c/ Việc nghiên cứu văn học Nga cổ điển, triết học chính trị và thẩm mỹ học cho thấy: nước Nga đã tách xa và đang chịu ảnh hưởng của những lực lượng văn hóa, xã hội sáng tạo mà phương Tây đã phát triển. Những lý tưởng thẩm mỹ và chính trị của nhân dân Nga, về cơ bản, cũng như của phương Tây, hoặc chúng cũng xuất hiện từ cùng những cội nguồn tinh thần như vậy, tuy đã bị biến đổi dưới chế độ quốc gia cộng sản, nhưng chưa bị diệt vong. Cảnh báo. Chúng ta không cần phải thái quá khi nói về ảnh hưởng phương Tây và đừng tạo ra ấn tượng cách biệt.

d/ Gia đình Nga dựa trên nền tảng của tình yêu, thái độ tin cậy, giúp đỡ lẫn nhau và sự tôn trọng lợi ích của những thành viên khác. Đó cũng là những giá trị chung với thế giới tự do.

e/ Những mục tiêu để người Xô Viết chiến đấu trong những năm cách mạng - hòa bình, tự do và cuộc sống tốt đẹp cho tất cả mọi người - cũng là quan điểm cơ bản chung với thế giới tự do. Những quan điểm đó đang hàng ngày hàng giờ được thực hiện trong đời sống chính trị của thế giới tự do.

g/ Làm cho nhân dân Nga tin rằng thế giới tự do không hề ấp ủy bất kỳ một âm mưu nào chống lại họ hay chống lại đất nước họ; rằng thế giới tự do chỉ dành cho họ những tự do và thịnh vượng trong một thế giới hợp tác và hữu nghị.

      * Mỹ yêu chuộng hòa bình, tôn trọng chủ quyền và nền độc lập của các dân tộc và các quốc gia;

      * Người Mỹ đang chỉ ra sự khác biệt giữa nhân dân Liên Xô với Chính phủ của họ;

      * Mỹ không bao giờ gây chiến tranh với Nga;

      * Mỹ từng giúp nhân dân Liên Xô trong chiến tranh thế giới II, ngay từ trước khi Mỹ bước vào cuộc chiến chống Đức;

      * Mỹ đã tiếp tục giúp nhân dân Liên Xô cả khi chiến tranh thế giới II đã kết thúc (Chương trình ARA - American Relife Administration - Hỗ trợ của chính quyền Mỹ nhằm khôi phục đời sống những năm 1919 - 1923);

      * Người Mỹ đã cung cấp kiến thức và kinh nghiệm của mình cho việc xây dựng ngành công nghiệp ở Liên Xô;

      * Tình yêu đối với kỹ thuật và khoa học trong đời sống hàng ngày là điểm chung của các dân tộc  ở Liên Xô và ở Mỹ;

      * Cả hai đất nước đều vĩ đại và chúng ta đang xây dựng những kế hoạch vĩ đại;

      * Chúng ta có tinh thần chung của những người đi tiên phong;

      * ở Mỹ có hàng nghìn người gốc Nga và Ucraina đang sinh sống. Họ đang thực sự có ảnh hưởng đối với sinh hoạt ở Mỹ;

      * Âm nhạc dân tộc Nga và Ucraina rất phổ biến ở Mỹ và trong thế giới tự do; tất cả các trường đại học lớn đều nghiên cứu văn học Nga;

      * Các dân tộc của Mỹ và của thế giới tự do đều biết đến lòng quả cảm, nhiệt tình và những khát vọng của những người Xô Viết; nhiều người Mỹ đã công khai bày tỏ sự ngượng mộ những phẩm chất đó;

      * Mỹ đang giúp mọi dân tộc ở bất kỳ đêu nếu có thể, không phụ thuộc vào việc các dân tộc đó có đồng tình với đường lối của Mỹ hay không;

      * Trong nhà hát Mỹ, mọi người luôn học tập hệ thống của Stanixlavxki (Nhạc sĩ Nga thời Xô Viết) và không hề làm bất cứ điều gì để che dấu nguồn gốc Nga của nó;

      * Văn học Mỹ và văn học phương Tây khác hiện có mặt ở Liên Xô đang tạo ra quan niệm về bản chất Mỹ và thế giới tự do, về những lý tưởng cơ bản mà chúng ta chia sẻ với nhân dân Liên Xô, thông qua các nhà văn Mỹ, như: John Ernest Steinbeck (1902 - 1968), Epton Bill Sinclair (1878 - 1968), Mark Twain (1835 - 1910),  J. London (1876 - 1916), Charls Dickens, v.v... Cho dù một số sách trong đó đi theo khuynh hướng “chống đối xã hội”, chúng vẫn cho thấy niềm tin dân chủ vào tiến bộ xã hội trong thực tiễn;
   
Trong “Những khuyến nghị cấp bách do Cục “Chiến tranh tâm lý” CIA soạn thảo từ năm 1953, ngay sau khi I. V. Xtalin qua đời, có đoạn: “Nếu như mục tiêu của Mỹ là hành động sao cho trong các thành từ giành được có những thay đổi trong nội bộ Liên Xô có lợi cho Mỹ, để Mỹ không cần thiết phải áp dụng những hành động đe dọa”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2009, 09:58:45 pm »


Chỉ lệnh N0 5412/2 của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ.

“Thiết lập và tận dụng những tình huống xung đột đối với chủ nghĩa cộng sản quốc tế, làm suy yếu mối quan hệ giữa Liên Xô và nước Trung Hoa cộng sản, giữa hai nước đó với các nước chư hầu của chúng... Chống lại mọi đe dọa từ phía đảng hoặc từ nhóm các nhân vật đang trực tiếp hoặc gián tiếp chịu sự kiểm soát của những kẻ cộng sản, nếu họ bắt đầu giữ vai trò chính trị quyết định ở bất kỳ nước nào trong thế giới tự do, ở những khu vực đang bị kiểm soát hoặc đang bị đe dọa từ phía chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Đẩy mạnh cuộc kháng chiến bí mật, hỗ trợ cho những phong trào khởi nghĩa và phong trào bí mật”.

(N. V. Zagladin. Lịch sử những thành công và thất bại của nền ngoại giao Xô Viết, Nxb. Quan hệ quốc tế, Matxcơva, 1990, tr. 185 - 186.)



Chỉ lệnh N0 68 của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ. Được trình lên Tổng thống Truman ngày 7/4/1950 và được phê chuẩn ngày 30/9/1950: “Chúng ta (Mỹ) cần tiến hành cuộc chiến tranh tâm lý công khai nhằm mục đích khơi nên cuộc tạo phản của quần chúng đối với Xô Viết... Gieo rắc những hạt giống phá hoại từ trong lòng hệ thống Xô Viết để buộc Kremli... thay đổi đường lối của nó... Song nếu thiếu sự hỗ trợ quân sự vượt quá mức hiện có và dễ dàng được huy động thì Chính sách “Kiềm chế” - về bản chất, là chính sách cưỡng bức từ từ, có tính toán - chỉ còn là lời nói suông (Blah). Chúng ta cần tiến hành một cuộc chiến tranh tâm lý công khai với mục đích khơi dậy sự tạo phản của quần chúng đối với Xô Viết và phá tan những âm mưu khác của Kremli. Tăng cường những biện pháp và chiến dịch cấp bách, tích cực bằng những phương thức bí mật trong lĩnh vực chiến tranh tâm lý, chính trị và kinh tế với mục đích phát động và hỗ trợ những cuộc đình công và nổi dậy tại những nước chư hầu được coi là chiến lược.

Mục tiêu của xã hội tự do được xác định bởi những  giá trị cơ bản của nó và sự cần thiết duy trì môi trường vật chất để thịnh vượng...

1- Chúng ta cần tỏ ra mạnh mẽ trong việc khẳng định những giá trị của chúng ta trong đời sống dân tộc của chúng ta và trong sự phát triển tiềm lực kinh tế, quân sự của chúng ta.

2- Chúng ta cần lãnh đạo việc xây dựng một hệ thống kinh tế và chính trị của thế giới tự do hoạt động có hiệu quả...

3- Nhưng, thông qua việc khẳng định những giá trị của chúng ta, chính sách và hành động của chúng ta phải như thế nào để khích lệ những thay đổi cơ bản trong tính chất của hệ thống Xô Viết, phá tan các âm mưu của Kremli - đó là bước tiến hàng đầu quan trọng nhất đi tới những thay đổi đó. Rõ ràng rằng nó kinh tế nhất, song cũng hiệu quả nhất nếu những thay đổi đó xuất hiện ở mức độ tối đa do kết quả  hành động của các lực lượng bên trong xã hội Xô Viết...

Việc phá tan những âm mưu của Kremli bằng cách tăng dần sức mạnh vật chất và tinh thần của thế giới tự do và bằng cách đưa nó vào thế giới Xô Viết sẽ luôn bảo đảm cho thắng lợi. Bằng cách đó, thực hiện những thay đổi trong nội bộ hệ thống Xô Viết”.



Kế hoạch "Barbarossa" của Mỹ.

“Khả năng dễ tổn thương lớn nhất của Kremli nằm ngay trong tính chất các quan hệ đối với nhân dân Xô Viết. Các quan hệ đó được biểu hiện bởi thái độ nghi ngờ tất cả, sợ hãi và những cuộc trấn áp... Quan hệ của Kremli với mọi nước chư hầu của mình và với các dân tộc của những nước đó là một chỗ dễ tổn thương khác.

Đối với chúng ta, đường lối đang được thực hiện trong thực tế là hỗ trợ trào lưu tà giáo chia rẽ các nước chư hầu. Dẫu các nước đó chưa thể bị suy yếu, song các tiền đề để chia rẽ vẫn tồn tại. Chúng ta có thể tạo điều kiện khoét sâu những vết nứt đó, mà không phải nhận lãnh bất kỳ trách nhiệm nào về việc này. Còn khi sự tan rã diễn ra, chúng ta sẽ không phải trực tiếp can dự vào việc thách thức uy tín Xô Viết, việc tranh chấp sẽ xảy ra giữa Kremli với biến thái của cộng sản.

1. Cần chấm dứt sự bành trướng tiếp theo của sức mạnh Xô Viết.

2. Cần vạch trần sự dối trá trong những ảo tưởng của Xô Viết.

3. Cần thu hẹp vùng kiểm soát và ảnh hưởng của Kremli.

4. Nói chung, cần gieo rắc những hạt giống phá hoại từ bên trong hệ thống Xô Viết, qua đó buộc Kremli, ít nhất, phải thay đổi đường lối của mình cho phù hợp với chuẩn mực đã được thế giới công nhận”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2009, 10:04:41 pm »


CHƯƠNG IV

“LỜI CỦA ALLEN DALLES.
NHẠC CỦA RAISA VÀ MIKHAIN GORBACHOV.
“CẢI TỔ”. NGƯỜI BIỂU DIỄN ĐẦU TIÊN”

- Ai đã nghĩ ra cải tổ: các nhà khoa học hay một kẻ nào khác?
- Không, không phải các nhà khoa học. Những người này thường thử nghiệm trước tiên trên những con khỉ.
                  
Tiếu lâm thời nay.

“Không, đấy không phải là cuộc thử nghiệm liều lĩnh. Đấy là một đường lối có cơ sở khoa học”.
                                    
B. N. Eltxin




Mật ước của “những nhà cách mạng cộng đồng”

Hai đàn chim kền kền, của ta và của người, lượn vòng trên thân thể suy mòn của Tổ quốc. Những đàn chim này không bay riêng lẻ, mà chúng tụ tập thành một đàn.
                  
Nikolai Leonid

Trước khi chúng ta đề cập tới khía cạnh này hay khía cạnh khác trong hoạt động chung của người Mỹ và của một bộ phận lãnh đạo cao cấp nước ta, cần nhớ tới việc hình thành những clann khác nhau ở Liên Xô. Ngoài những nhiệm vụ chung mang tích chất nội bộ hoàn toàn dễ hiểu mà giới lãnh đạo cao cấp đặt ra cho mình, họ còn lo tới vấn đề ban đầu là thiết lập mối quan hệ, sau là những việc đôi bên cùng có lới đối với các đối tác bên ngoài. Lúc đầu, như bao trường hợp khác đã xảy ra, các lợi ích có thể trùng hợp nhau một cánh tình cờ trên một số quan điểm, nhưng sau khi phạm vi các lợi ích mở rộng thì các đối tác chỉ còn mưu lợi riêng.

Nhân đây, vấn đề đặt ra là: Liệu âm mưu chống Liên Xô có phải là chiến dịch đầu tiên của liên doanh Xô - Mỹ “Kremli - Nhà Trắng” hay không? Cho đến nay và chắc chắn trong tương lai gần không hề có một lời xác nhận nào từ phía những kẻ chủ mưu. Có những bằng chứng rõ ràng, được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ, cho thấy “cải tổ” không phải là âm mưu đầu tiên của “liên doanh” có thực giữa các thế lực đen tối ở Liên Xô và phương Tây. Theo quan điểm lợi ích chung, ta có thể xem xét những vấn đề như: cuộc khủng hoảng ở Vịnh Caribe, hoạt động đen tối của Bộ Ngoại thương, cuộc chiến Afghanistan, việc bảo đảm tài chính của “các đảng công nhân và cộng sản anh em”, sự giúp đỡ cho “các dân tộc giải phóng”. đặc biệt là trong số những kẻ hiện nay chịu sự bảo trợ của Mỹ.

“Giải tỏa căng thẳng”, “Học thuyết Breznev”,... chỉ làm giảm bớt mức độ xung đột một cách hình thức. Trên thực tế, bắt đầu có sự nhượng bộ của phương Tây trong những lĩnh vực nguy hiểm nhất. Do mất cảnh giác, dân Liên Xô không hiểu rõ khuynh hướng của sự nhượng bộ này. Đấy thực chất là trận chiến đầu tiên có lợi cho các chính trị gia Mỹ. Ngay sau đó, họ tuyên bố tẩy chay Thế vận hội Olimpic ở Matxcơva do Liên Xô đưa quân đội vào Afghanistan, đồng thời tuyên bố Liên Xô là “Đế chế độc ác” (Trước đây, những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác đã từng gọi đế quốc Nga là “Nhà tù của các dân tộc”). Sau những bước tiến công khai, họ lại mang mặt nạ yêu chuộng hòa bình để tiếp tục những cuộc chiến “ngầm”.

Động cơ của người Mỹ rất rõ ràng. - các quan điểm trước đây đòi hỏi một sự hoàn tất lô gic. Hơn nữa, phương Tây đang đứng trước một cuộc khủng hoảng toàn cầu: “chạy đua vũ trang... đã trở thành trò ngu xuẩn đối với chính Mỹ. Các nhà nghiên cứu chủ đạo của Mỹ đã đi đến kết luận rằng họ không thể giành được chiến thắng trong cuộc chạy đua vũ trang đối với Liên Xô“.

Theo những dự đoán của họ, nếu đến giữa thập kỷ 1990 không xảy ra những thay đổi căn bản, thì ở Mỹ sẽ có một sự bùng nổ lớn về chính trị và xã hội. Lối thoát duy nhất đối với các nhà cầm quyền Mỹ là phá hoại Liên Xô từ bên trong, tìm cho được những đòn bẩy cần thiết tác động vào đó”.

Các nhà nghiên cứu đã không sai lầm: sự phá sản của Liên Xô đã cứu nước Mỹ thoát khỏi một cuộc khủng hoảng và mở ra một kỷ nguyên thịnh vượng mà trước đó họ chưa từng biết đến. Chính vào giữa thập kỷ 1980, khi Liên Xô rơi vào tình trạng lúng túng trong điều hành quốc gia Xô Viết và nền kinh tế quốc dân, phương Tây đã bắt đầu giải quyết thành công các vấn đề về cải cách cơ cấu kinh tế, giảm được tỷ lệ thất nghiệp xuống mức thấp nhất, nâng cao rõ rệt mức sống cho dân chúng mà không bị lạm phát. Đây là điều mà phương Tây chưa bao giờ giải quyết được thành công đến thế. Phương Tây đã giải quyết được các vấn đề nội bộ của mình mà không bị bất kỳ một chấn động xã hội nào, không phải sử dụng tới nguồn lực hỗ trợ của tầng lớp giàu có trong xã hội. Điều này diễn ra tựa như những ngày khởi đầu của “Điều thần kỳ kinh tế Nhật Bản”. Tóm lại, phương Tây đã giải quyết được các vấn đề của mình nhờ sự sa sút của Liên Xô.

Vậy mối liên hệ giữa lãnh đạo cao cấp hai nước đã được thiết lập như thế nào? Việc thiết lập mối quan hệ chỉ là công việc bình thường của ngành tình báo. Đối với giới lãnh đạo chính thức, mối liên hệ được thiết lập trên cơ sở phụ thuộc vào mức độ cần thiết, không chính thức thông qua việc nối hệ thống liên lạc điện thoại từ văn phòng. Các kênh liên lạc này thường hoạt động tích cực nhất khi bắt đầu những hành động mang tính quyết định.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2009, 10:07:27 pm »


Những gì liên quan tới một trong số nhân vật được chúng ta chú ý - M. X. Gorbachov, là mối liên hệ không chính thức như vậy là rất rộng. Trên tờ báo “Den” (Ngày) số 22 năm 1993 đã đăng tải 4 bức ảnh với nội dung:

“Những bức hình này của Hãng thông tấn “Gama” (Pháp) do Efimov Abramovích, theo lời họ khẳng định, là nhân viên tình báo KGB đã chụp vào đầu thập kỷ 1970 tại Siciliana. Trong ảnh là Raisa Gorbachova (Phu nhân của Gorbachov). Trong thời gian này, tại Siciliana đang diễn ra cuộc gặp mặt “Những chính khách trẻ”. M. X. Gorbachov lúc đó đang là cán bộ đoàn, thủ lĩnh Đảng của Stavropol. Chính vào thời điểm này, mối liên lạc của “người cải tổ số 1” trong tương lai với giới lãnh đạo chính trị phương Tây được thiết lập, khắc ghi mối quan hệ đặc biệt “Gorbachov – Thatcher1”. Như nhiều cuộc tiếp xúc khác, mọi người biết rất ít về cuộc gặp tại Siciliana này. Tuy nhiên, những cuộc tiếp xúc này đã khởi đầu một đường lối “Tư duy mới” và điểm kết thúc là sự biến mất hoàn toàn của Liên Xô“. M. X. Gorbachov, khi là Bí thư phụ trách nông nghiệp, đã có thể công khai tiếp xúc với người Mỹ. Như, ngày 4 tháng 11 năm 1981, ông ta đã tiếp J. Cristal, theo thông báo chính thức, là chuyên gia về nông nghiệp và nhà hoạt động xã hội. Vào giữa tháng 11 năm 1983, cuộc gặp mặt như vậy lại được tổ chức. Lần gặp này, theo lời mời, còn có Phó vụ trưởng Vụ Quốc tế BCHTW ĐCS Liên Xô A. X. Chernaiev.

Thông qua con đường công khai và không công khai, M. X. Gorbachov đã từng tiếp xúc với người của RAND Coporation. ít nhất có một lần được ghi nhận: ngày 4 tháng 2 năm 1987, Đoàn đại biểu của Hội đồng Quan hệ quốc tế sang thăm Matxcơva. Trong số họ có John Brown Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong những năm 1977 - 1981 (Dưới thời Tổng thống Jimmy Carter), còn vào thời điểm đó đang là thành viên của Hội đồng Bảo trợ thuộc RAND Coporation.

Trong sử sách của chúng ta từng lưu ý tới việc phía Mỹ đã có ý định thiết lập mối liên hệ với M. X. Gorbachov trước khi khởi động công cuộc “cải tổ” không lâu. Năm 1984, - khoảng một năm trước khi M. X. Gorbachov lên nắm chính quyền -tại Geneve, trong quá trình diễn ra Hội nghị về giải trừ quân bị, lãnh đạo phía Xô Viết có Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô V. Israelian đã nhận lời mời của Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Mỹ (Tại Hội nghị Geneve) Lewis Fields tới gặp mặt “trên cơ sở thông thường”. Theo chính V. Israelian thông báo lại, cuộc gặp đã diễn ra “...tại một nhà hàng ngoại ô thành phố. Trong khi ăn, người Mỹ không thông báo cho tôi điều gì đặc biệt. (...)

Khi tôi chuẩn bị chia tay với Fields, ông ta đã đề nghị tôi cùng đi thả bộ sau bữa ăn.

- Washinhton muốn thiết lập mối tiếp xúc công việc nghiêm túc với ban lãnh đạo Kremli, - Fields mở đầu. - Và Phó tổng thống Bush luôn sẵn sàng gặp một lãnh tụ Xô Viết trong thời gian công cán tại Geneve. Cuộc gặp cần phải mang tính chất riêng, kín đáo nhất. Trả lời câu hỏi của tôi, liệu phía Mỹ định gặp một ai cụ thể trong giới lãnh đạo Xô Viết, Fields đã nói thẳng rằng Phó tổng thống muốn được gặp M. X. Gorbachov với tư cách là một lãnh tụ chắc chắn trong tương lai của Liên Xô.

Tôi lập tức hỏi, tại sao lời đề nghị quan trọng như thế lại thông qua tôi, mà không theo những kênh ngoại giao thông thường - như qua Đại sứ quán của chúng tối tại Washinhton hay qua Đại sứ quán của các ngài tại Matxcơva. Fields không trả lời trực tiếp vào câu hỏi, ông ta nói rằng mình chỉ thực hiện ủy nhiệm được giao. (...)

Vào đúng thời gian đó Bush đã có mặt tại Geneve. Bài phát biểu tại Hội nghị giải trừ quân bị được ghi nhận vào ngày 18 tháng 4, còn trước hôm đó Xadrudnin Aga Han2 đã gọi điện thoại tới phòng tôi và bí mật thông báo rằng vào chiều ngày 17 ông ta muốn cùng tôi gặp “một người bạn chung của chúng ta”. Vốn là một nhà hoạt động có danh tiếng, suốt nhiều năm liên tục từng hoàn thành nhiều ủy nhiệm tế nhị và trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Aga Han đã nhiều năm gần gũi với Bush.

Chúng tôi bắt đầu cuộc trò chuyện chỉ với hai người. Bush đề cập ngắn gọn mục đích chủ yếu chuyến đi sang Geneve của mình là đưa ra bản dự thảo hiệp ước về cấm vũ khí hóa học. Khi chúng tôi chuyển sang những vấn đề khác, Aga Han bỏ đí, chỉ còn lại tôi với Bush. Ông ta lập tức chuyển cuộc nói chuyện sang khả năng tiến hành cuộc gặp Xô - Mỹ không chính thức. Bush tái khẳng định ủy nhiệm của mình trao cho Fields và nói thêm rằng địa điểm và thời gian cuộc gặp có thể sẽ được xác định trên cơ sở nguyện vọng và khả năng của hai bên. Những gì liên quan tới nội dung cuộc nói chuyên, nếu tính tới tính chất không chính thức của cộc gặp theo đề nghị, thì mỗi bên tham gia có thể tùy ý đề cập tới bất cứ đề tài nào. với tư cách của người cùng nói chuyện với mình là lãnh tụ Xô Viết tương lai, ông ta chỉ nêu tên một người. “lãnh tụ sau đây của các ngài sẽ là Gorbachov”, - ông ta tuyên bố một cách tin tưởng. Những lời này đã khắc rất sâu trong trí nhớ của tôi. (...)

Tôi đã hứa với Bush báo cho Matxcơva về lời đề nghị của ông ta.
_________________________________
1. Magret Thatcher (sinh năm 1925, Thủ tướng Anh từ năm 1979. ND).
2. Cố vấn Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Giám đốc của một loạt trung tâm “quốc tế”, lãnh đạo Tổ chức quốc tế về hỗ trợ cho Afghanistan, thành viên câu lạc bộ “Mgisterium” (Matxcơva, năm 1993). Trong những năm “cải tổ” đã từng thông báo trên truyền hình về việc Quân đội Xô Viết, trong thời gian chiến tranh ở Afghanistan sát hại hàng triệu thường dân của đất nước này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2009, 10:09:26 pm »


Một tuần sau, tại Matxcơva, ngay trong cuộc gặp đầu tiên với bộ trưởng, tôi đã báo cáo về lời đề nghị của Bush. Gromyko chăm chú nghe, không ngắt lời cũng không hỏi câu nào. Khi tôi kết thúc bản báo cáo, bầu không khí trong phòng trở nên nặng nề. Vị bộ trưởng nhìn đi đâu đó và suy nghĩ căng thẳng. Sau đó, ông ta quay về phía tôi, nói: “Thế công việc của anh tại Hội nghị giải trừ quân bị thế nào?”. Tôi hiểu là cuộc gặp đã kết thúc.

Các nhà viết sử của chúng ta đã lưu ý tới “cuộc gặp không tổ chức” này như một “dấu hiệu” của cải tổ. Chuyến viếng thăm “nổi tiếng” tại London, nơi M. X. Gorbachov và phu nhân đã có thể thiết lập mối quan hệ và “làm hài lòng” phương Tây thông qua trung gian M. Thatcher - một nét đặc sắc trong mối quan hệ này.. sau đó, sau cái chết của K. U. Chernenko, “Thatcher đã chấp thuận chuyến thăm với một mục đích duy nhất - bày tỏ thái độ kính trọng của mình đối với M. X. Gorbachov. Họ đã có thể ngồi với nhau cả giờ liền, song cùng với họ còn có Chernenko, Andrei Gromyko và phu nhân Andrei Alecxandrov-Agentova, Cố vấn của Leonid Breznev về đường lối đối ngoại. Chẳng làm được gì nhiều”.

Theo thời gian, M. X. Gorbachov đã có nhiều cơ hội hơn. Năm 1991, trong chuyến thăm của Tổng thống Mỹ, “M. X. Gorbachov đã kéo theo mình một số người tin cậy cùng nói chuyện với Bush. Tuy nhiên, trong toàn bộ cuộc nói chuyện họ mắt nhìn mắt, cố xa lánh mọi người ngay khi có cơ hội đầu tiên. Như một lần, sau bữa ăn, khi người phục vụ bàn đang chuyển cà phê cho mọi người, Mikhain Xergeievich đứng đậy, nói:

- Georger (Bush), đề nghị ngài cùng tôi đi dạo.

Họ rời bàn ăn, ra theo lối cửa sau cùng người phiên dịch, bỏ lại đoàn đại biểu của Kremli, bước ra Quảng trường Ivannov. Hai người đã thiết lập được mối quan hệ tin cậy và lúc này đang nói chuyện công khai”.

Người phiên dịch của M. X. Gorbachov là Pavel Palaxenko, - theo trách nhiệm buộc phải im lặng và không nghe - sau này đã được tưởng thưởng bằng cách trở thành thành viên của Quỹ M. X. Gorbachov và thành viên của Hội nghị Hòa bình.

Cuộc gặp mặt trực tiếp với Giáo hoàng Roma John Paul II1, một người rất thạo tiếng Nga; và cuộc gặp tay đôi với Bush cha trên khoang chỉ huy trên một tàu chiến Mỹ tại Malta đã được mọi người biết đến.

Năm 1991, ngày 24 tháng 1, Đại sứ Mỹ Matlook đề nghị gặp M. X. Gorbachov. Ông ta mang ủy nhiệm thư của Tổng thống Mỹ... về vấn đề Litva và về cuộc chiến chống lại Saddam Husein đã bắt đầu. Cuộc gặp đã được tiến hành không có phiên dịch”. Cần phải nói rằng I. Matlook, như mọi đại sứ Mỹ khác, rất thạo tiếng Nga. Hãng thông tấn TASS đã ra thông báo về vuộc gặp này như mọi cuộc gặp chống Xô Viết công khai khác: “Ngày 3 tháng 1 năm 1991, Chủ tịch ủy ban An ninh quốc gia V. A. Kriuchkov đã tiếp Đại sứ Mỹ tại Liên Xô J. Matlook và đã có cuộc trao đổi với ông ta về rất nhiều vấn đề được hai bên quan tâm”; đã có những cuộc gặp của ba người, V. X. Pavlov đã thông báo về cuộc tiếp xúc với “rabb (ông thầy của mình) là Snaer, Chủ tịch Quỹ “Lời hiệu triệu của lương tâm”, đã từng được cấp cao Liên Xô tiếp, người sau này đã hoàn tất hàng loạt sứ mệnh, trong đó có liên quan tới đường lối kinh tế: “điều làm tôi ngạc nhiên là trong lịch sử Bộ Ngoại giao đã hoàn toàn bác bỏ việc này. Giữa M. X. Gorbachov - Iakovlev và một nhóm người Mỹ đã tồn tại một mối liên hệ độc lập đối với Quảng trường Smolenxk”.

Và đã có cả những cuộc gặp kín: “Theo tin tình báo, KGB có được những thông tin rằng có một nhân viên giàu kinh nghiệm của CIA đã vào Liên Xô với tiểu sử đã được thay đổi để gặp người đưa tin có thế lực trong số công dân Xô Viết. Cuộc gặp đó đã được tiến hàng tại Lêningrad, những Văn phòng đại sứ Mỹ ở Matxcơva phải chịu trách nhiệm bảo đảm an ninh cho cuộc gặp này. Tất nhiên, cá nhân viên tình báo CIA đã được theo dõi từ sân bay quốc tế Seremechevo rất chặt chẽ. Mọi điều cần thiết đều đã được thực hiện để phát hiện điệp viên này và định vị ra địa điểm gặp. Tại Lêningrad, để hoạch định các biện pháp tìm kiếm, người ta đã cử một trùm phản gián phối hợp với các Chêka địa phương, thiếu tướng V. sau này đã kể với tôi rằng ông ta đã mắc một sai lầm không thể tha thứ được khi nói cho Kalugin biết mục đích chuyến công tác của mình.

- Tôi thật không thể ngờ rằng chính kalugin là một tình báo có nhiều công lao... thiếu tướng, Phó chỉ huy trưởng Cục Lêningrad, - ông ta cay đắng. - Tôi hoàn toàn không thể nghi ngờ anh ta...

Tuy nhiên, V. đã không phát hiện được hết mọi tình tiết của chiến dịch. Toán theo dõi Kalugin từ Matxcơva tới đã để mất dấu tay điệp viên người Mỹ. Hắn đã bí mật, nhanh chóng chuồn về Matxcơva và sau đó trở về Washinhton.

- Chuyện xảy ra vào hôm thứ tư, - Viên thiếu tướng V. kể. - theo kiểu tình báo truyền thống của CIA, điều đó có nghĩa là cứ thứ tư hàng tuần sau đó Kalugin phải tái khẳng định “tín hiệu nguy hiểm” để thông báo từ bỏ cuộc hẹn.
________________________________
1. Tên khai sinh là Karol Wojtyla, sinh năm 1920, người Ba Lan, được cử làm Giáo hoàng năm 1978. ND.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM