Những mảnh rời ký ức...
OldBuff:
Trích dẫn từ: lixeta trong 02 Tháng Sáu, 2009, 10:27:08 am
Ngoài lề một chút:
Đố các quê biết những thứ gì đem giúp đồng bào đạt hiệu suất cao nhất ??? ??? ???
Chắc bác nhắc đến muối ăn ;)
rongxanh:
Bản đồ khu A Lưới - Ấp Bia:
lixeta:
Chào các quê!
Các quê nói đều đúng cả. Tất cả những thứ các quê nêu đều có thể đem đổi được, tuy nhiên chưa đạt đến độ "hiệu suất cao nhất". Về vụ này cũng do tình cờ mà bọn mình phát hiện ra thôi. Xin kể hầu các quê:
Đúng như quê Phong Quảng nói, những năm chiến tranh còn ác liệt hầu hết đồng bào bỏ bản làng ở dưới thấp hoặc gần đường tuyến để lên núi cao sinh sống, lúc ấy để vào bản quân ta có khi phải mất nửa ngày đi bộ. Nhưng chỉ sau hiệp định Pa- ri ít ngày là họ lại trở về chốn cũ ngay. Như mình đã nói, bà con rất rạch ròi: "Mình không đổi với bộ đội đâu! Có giúp nhau thì giúp thôi". Tuy nhiên, cái "thước đo" của đồng bào thì cũng muôn hình vạn trạng- có vẻ như theo nhu cầu tức thời của họ mà thôi. Vì vậy nhiều lúc chết cười đi được: có thằng mang cái áo Tô Châu còn "thơm mùi chính phủ" vào thì chỉ được bà con giúp "nhõn" con gà con bằng nắm tay, không cả bằng một cái gương soi con con lấy ra từ hộp dao cạo;D
Nhưng có một thứ có hiệu suất rất cao mà bọn mình tình cờ phát hiện được.
Số là trong một lần đi phép anh Trị quê Thanh Hóa có đến nhà mấy đồng hương TNXP đang đóng ở gần đấy để thăm hỏi. Khi trả phép anh có mang quà gia đình gửi vào cho chị em nhưng không may, đơn vị đó đã chuyển ra ngoài rồi. Gói quà để lăn lóc mãi không có người nhận nên cả hội bàn nhau mở ra xem thử, may ra có tý mà "ca cóng" (cải thiện). Nhưng thật không may, trong đó chỉ có một gói bồ- kết và 2 cái... xu- chiêng. ;D Các quê tre trẻ bây giờ không biết chứ cái của nợ này ngày ấy nó "hoành tráng" lắm. Nó được may chần bằng nhiều lớp vải và cái đỉnh núi thì nhọn hoắt, cứng như được gò bằng tôn ấy, mà càng cứng thì càng tốt. Thất vọng, mấy tên đang định vứt đi thì một tên có sáng kiến: "Cứ đem vào bản xem sao, biết đâu lại kiếm được gùi sắn về mà ca cóng".
Nhưng thật không ngờ! Vừa nhìn thấy cái "của nợ" này em Kan P. mừng như bắt được vàng và ra lệnh cho người nhà bắt cho các anh hai con gà "hết lớn" (nghĩa là to đến mức không thể lớn được nữa- từ của đồng bào đấy). ;D
Sau này tìm hiểu bọn mình mới biết bà con ở đây vẫn thiên về mẫu quyền, người có tiếng nói quyết định trong gia đình là người phụ nữ. Tuy nhiên, có lẽ ở dân tộc Pa- Kô này có điều đặc biệt là những cô con gái lớn là người quan trọng nhất trong nhà và mọi người nhất nhất phải tuân theo. Vì thế, những gì liên quan đến cuộc sống của cô con gái này sẽ có giá trị cao nhất.
Biết thế nhưng đến lúc ấy lại chẳng có gì để đổi nữa. Chẳng lẽ lại nhắn về ngoài Bắc báo gia đình gửi cho mấy cái ấy! ;D
Nhưng đấy là thời bọn mình thôi. Còn bây giờ chắc chị em trong ấy toàn xài hàng Thái xịn ấy chứ! Đừng nên áp dụng máy móc nhé;D
À! Thế là quê Phong Quảng cũng lên đến tận Dốc Mèo rồi cơ đấy. Sau HĐ bọn tôi ở cách chân dốc Mèo chỉ độ chưa đầy 20 km (chân dốc Mèo là km 71, chỗ tôi là km 88 rẽ vào 40 phút).
lixeta:
Cảm ơn quê Rongxanh đã gửi cho tấm bản đồ!
Chỗ tiểu đoàn mình trú quân sau khi ký HĐ Pa- ri chính là ở cạnh bản Alê Ninh 1 ấy (không hiểu sao hồi bọn tôi ở đó bà con gọi là Alê Nốc).
Mình xin kể tiếp đoạn bọn mình ở đó:
Sau ngày hiệp định Pa- ri được ký kết, công tác tiếp vận từ Bắc vào đã thuận lợi hơn nhiều. Xe ô tô có thể chạy cả ban ngày nên tốc độ cũng như lưu lượng hàng vận chuyển được tăng cao vì thế tiêu chuẩn bộ đội được bảo đảm. Các rẫy tăng gia cũng đã bắt đầu cho sản phẩm nên đời sống bộ đội đã được nâng lên rõ rệt. Cái đói, cái rét đã bị đẩy lùi nhưng chính trị viên Toàn cảm thấy hình như vẫn thiếu một cái gì đó, có lẽ đó là không khí của đơn vị còn trầm lắng quá chăng?. Anh bàn với đại đội trưởng Thận và hai người đi đến quyết định phải có biện pháp để nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của bộ đội.
Công việc đầu tiên được chọn là phải làm sân bóng. Khoảng đất trống trước cửa nhà trung đội Một được chi đoàn thanh niên phát động mấy buổi lao động xã hội chủ nghĩa đã được phát quang, đánh gốc và san lấp đã hình thành một sân bóng chuyền, chiều chiều tiếng hò hét, tiếng đập bóng đã làm huyên náo cả một góc rừng. Đến bây giờ mới hé lộ bóng dáng của những ngôi sao: đại đội trưởng Thận té ra cũng là một cây đập có hạng, anh đập không mạnh nhưng “khôn bóng” nên hiệu quả rất cao, Sáu Bùi hoá ra không chỉ ăn khoẻ mà còn là một cây tiến công chủ lực với những cú đập búa bổ, cậu ta vênh vang: “nếu đấu bóng chuyền theo kíp xe thì xe 386 sẽ nhất binh chủng”. Có lẽ thế thật vì xe ấy cả Chỉnh híp và Thọ đen đều chơi được.
Sau sân bóng chuyền đến sân bóng đá. Mất hơn một tuần lao động ngoài giờ cái sân bóng đá mới hình thành, tuy mỗi bề chỉ ba bốn chục mét nhưng cũng có thể đá “gôn tôm” được. Vừa mới làm xong sân bóng đá đã hút hết cả người, đại đội trưởng Thận hoá ra là một tiền đạo cánh có tốc độ rất nhanh và đôi chân khéo với những đường đi bóng cực kỳ lắt léo. Còn Trang thì khỏi nói, cậu được dịp thể hiện sở trường của mình và trung đội Một của cậu thường là đội thắng. Ra sân bóng chuyền giờ chỉ lèo tèo vài mống nên đại đội lại phải lên lịch quy định ngày thì chơi bóng chuyền, ngày thì chơi bóng đá.
Không chỉ đại đội Bốn làm sân bóng mà đại đội Ba rồi tiểu đoàn bộ cũng làm nhưng chỉ làm được sân bóng chuyền. Hoá ra đội bóng của họ cũng chẳng yếu: trên tiểu đoàn thì có tiểu đoàn phó Phạm Ngọc Bảng là cây đập chủ công, còn bên đại đội Ba thì Hải “xoăn” là linh hồn của đội. Các trận đấu trong tiểu đoàn diễn ra thường rất căng thẳng, thắng bại chỉ được quyết định bởi những tỷ số hết sức sít sao. Cả tiểu đoàn chỉ có hơn trăm người nhưng đội tuyển bóng chuyền cũng đã có tên tuổi trong khu vực, trong các trận giao hữu hay giải đấu chính thức đội bóng chuyền của tiểu đoàn xe tăng 408 đã thi đấu hoàn toàn ngang ngửa với các trung đoàn công binh, cao xạ và chỉ chịu thua đội bóng của sư đoàn 324.
Tiểu đoàn về vị trí này được mấy tháng thì một bản của bà con dân tộc Pa- kô cũng về định cư ngay bên cạnh. Đó chính là bản A- lê- nốc- quê hương của hai người anh hùng Hồ Vai và Kan Lịch. Nghe bà con nói chuyện mới biết: ngày xưa họ cũng đã từng ở đây, nhưng vì chiến tranh phải chạy tít lên núi cao, bây giờ hoà bình rồi lại về đây ở cho đỡ khổ cái chân. Nhìn những gương mặt đen đúa, những thân hình tiều tuỵ, những hàm răng bị cà không còn răng cửa, những đứa bé bụng ỏng đít vòn… không ai không cảm thấy mủi lòng nhưng có lẽ không mấy ai biết cũng chính những con người ấy đã một lòng một dạ theo cách mạng. Họ sẵn sàng ăn sắn, ăn lá cây quanh năm để dành gạo cho bộ đội và chỉ một bản nhỏ mấy chục nóc nhà này mà có đến hai người anh hùng. Trong cái bản nhỏ ấy cũng có hai cô gái khá xinh, đó là Kan Hường và Kan Pia. Kan Hường người thanh mảnh, có khuôn mặt khá đẹp và chắc là đã tiếp xúc nhiều với bộ đội, thanh niên xung phong nên ăn diện như người Kinh. Còn Kan Pia đậm người, cô vẫn ăn mặc theo lối của đồng bào, khuôn mặt không xinh như Kan Hường nhưng toát lên vẻ hồn nhiên và chất phác. Đã hàng năm trời không được ở với dân, không thấy bóng con gái nên lính ta khoái lắm, cứ rỗi rãi lại mò ra bản và dập dìu nhất vẫn là hai túp lều của Kan Pia, Kan Hường.
Pháo thủ Phong dạo này chịu khó lắm, hết giờ làm việc lại thấy cậu một mình lỉnh ra cái lán xe 387 nằm khuất nẻo sau đồi đục đục, đẽo đẽo. Ai hỏi làm gì cậu ta cũng chỉ nhăn răng cười trừ. Độ một tuần sau thì đã nhận ra bóng dáng một chiếc giường gỗ. Phải công nhận Phong khéo tay, chỉ độc con dao quắm với cái tuốc- nơ- vít sắt mài sắc mà cậu ta đã biến mấy mảnh gỗ đã xẻ sẵn từ hồi làm nhà thành một chiếc giường như được bào đục hẳn hoi. Phong còn xin y tá Tảo ít qui- nin về hoà nước quét cho cái giường màu vàng ươm trông thật thích mắt. Mọi người cùng bàn tán: “thằng này sao chơi trội thế, cả đại đội nằm giường tre ghép mà nó lại định nằm giường gỗ à?”.
Nhưng rồi một hôm cái giường biến mất, những người quan tâm đến sự kiện này hỏi Phong chẳng trả lời mà cứ tủm tỉm cười. Sự việc chỉ được sáng tỏ sau hôm chủ nhật quân ta vào bản phát hiện ra: chiếc giường vàng choé mà Phong đã lao tâm khổ tứ suốt nửa tháng trời đang hiện diện ở một vị trí trang trọng trong nhà Kan Pia. Ai cũng bảo: “Đúng là Phong dại gái”, riêng Phong vẫn chẳng hé răng điều gì nhưng ra chiều mãn nguyện lắm.
Không biết có ai gợi ý hay không mà một hôm trung đội trưởng trung đội Hai Lê Xuân Tự nói nhỏ với chính trị viên Toàn:
- Trong khu uỷ có mấy cô hát dân ca Huế hay lắm, mình đóng quân ở đây mà không biết hát dân ca xứ này thì cũng không hay, sắp tới tiểu đoàn tổ chức hội diễn văn nghệ, nếu biết hát dân ca ta cũng sẽ có món “độc chiêu”. Hay là ta mời họ về dậy cho anh em mình mấy buổi.
Gì chứ sáng kiến này được chấp thuận ngay và thế là Tự được cử làm “đại sứ” đi liên hệ. Ngày hai “em” Thu Sen và Thu Lượng cùng với mấy anh trên khu uỷ về đại đội dạy hát dân ca trở thành một ngày trọng đại đối với đại đội Bốn. Dẫu nước da vẫn còn tái mét sau những trận sốt rừng hai cô gái Huế vẫn là trọng tâm chú ý của mấy chục cặp mắt sáng như đèn ô tô mở hết cỡ. Có gì lạ đâu, trừ mấy cô gái dân tộc ngoài bản A- lê- nốc thì hơn một năm rồi đây là lần đầu tiên họ được gặp con gái, được nghe tiếng nói tiếng cười con gái mà lại là gái Huế chính hiệu. Lẽ ra chỉ một số hạt nhân văn nghệ được lên học hát nhưng rồi tên nào cũng kiếm cớ để ngồi há hốc mồm ra nghe thì ít mà nhìn là chính, Tráng và Tự thì như bắt được của, cứ lăng xa lăng xăng chăm chút cho các em từng ly từng tý.
Thì ra các điệu “lý” hay “hò” của dân ca Huế cũng không khó hát cho lắm. Chỉ hai buổi được hướng dẫn mà lưng vốn của anh em trong đại đội cũng đã có gần chục điệu hò, điệu lý như “Hò giã gạo”, “Lý mười thương”, “Lý con sáo”, “Lý ngựa ô”….
Vốn sáng ý nên Trang nhập tâm ngay và chỉ sau hai ngày thụ giáo cậu đã thuộc lòng các làn điệu. Trang còn nhận ra một điều là các điệu hò, điệu lý chủ yếu dựa trên nền thơ lục bát và thế là cậu nảy ra ý định sáng tác một vở ca kịch dựa theo dân ca Huế.
Nghĩ là làm, cứ rỗi rãi Trang lại ngồi hý húi ghi chép, gạch xoá. Một tuần sau vở ca kịch mang tên “Đường dây ai nối” của cậu đã ra đời. Đại để câu chuyện như sau: đường dây điện thoại giữa tiểu đoàn bộ và đại đội Bốn bị đứt không liên lạc được, cả hai bên đều cử chiến sĩ đi nối dây. Đúng lúc đó có hai bố con đồng bào Pa- kô đi rẫy về qua, người bố thì bảo kệ họ, cô con gái thì quyết tâm nối giúp, sau khi tranh luận một lúc thì ông bố cũng đồng ý. Họ nối dây xong thì cũng bỏ đi luôn, hai anh lính thông tin hai đầu chạy lại gặp nhau nhưng không thấy đứt chỗ nào. Câu chuyện bây giờ quay sang một góc độ khác là tìm xem ai là người nối dây. Thực ra nội dung của nó không có gì đặc biệt, tình tiết cũng đơn giản… nhưng cái đặc sắc của nó là được diễn tả bằng dân ca Huế nên Toàn, Nam, Tự đều rất tâm đắc và quyết định sẽ dàn dựng để tham gia Hội diễn văn nghệ của tiểu đoàn sắp tới.
Và đúng là trong Hội diễn đợt đó vở ca kịch “Đường dây ai nối” đã giành giải đặc biệt. Quản lý Minh đã đảm nhiệm một cách xuất sắc vai cô con gái, mỗi tội giọng hát giả tiếng con gái chưa đạt lắm. Hợp “vâu” trong vai ông già Pa- kô cũng được, giống hệt cả ngoại hình lẫn giọng nói. Còn hai vai chiến sĩ do Tự và Nghị đóng thì không còn gì phải nói nữa, người xem chỉ hơi có ý kiến chiến sĩ Tự điệu quá. Sau hội diễn tiểu đoàn cũng quyết định sẽ nâng cấp vở này và sẽ đưa đi hội diễn cấp trên nếu có dịp.
Riêng về Thu Sen hình như là người quen của quê Phong Quảng thì phải. Hôm trước vừa nhắc đến đã thấy quê "sáng cả mắt lên". Có đúng thế không quê. He...he...he...! ??? ??? ???
smilingmen:
Đọc bài của bác lixeta thấy ấm áp quá. Chúc bác sức khỏe và mong được theo dõi tiếp các câu chuyện của bác.
Navigation
[0] Message Index
[#] Next page
[*] Previous page