Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:51:29 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những mảnh rời ký ức...  (Đọc 317466 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #520 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2009, 10:43:46 pm »

Hôm trước lục lại đống sách cũ, thấy bức ảnh đẹp quá. Toàn cảnh cổng chính Dinh Độc Lập, độc cái là lại có cả chiếc M48, không biết đó có phải là chiếc xe mà các chú "chuyển giao" cho những người lính bộ binh không nhỉ.  Smiley
Kính tặng chú Lixeta và những người lính Giải Phóng.  Smiley



Xin cảm ơn cháu!
Còn chiếc M48 thì không phải chiếc xe các chú chuyển giao cho BB đâu cháu ạ! Chiếc M48 bắt được ở Phú Bài và toàn bộ số xe tăng thu được ở Thuận An đều được bàn giao lại cho quân khu Trị Thiên chứ bọn mình không đưa đi cùng. Còn cái xe này chắc là của quân đoàn 4 chứ không phải của 203 đâu vì Dinh ĐL là hợp điểm của một số mũi tiến công nên từ trưa đến chiều rất nhiều dơn vị kéo đến đây Grin.
Logged
nhatminhdl54
Thành viên
*
Bài viết: 60


« Trả lời #521 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 06:24:17 am »

Vậy Quê Lixeta chủ quán "Những mảnh rời ký ức" này chính là  Nguyễn Khắc Nguyệt tác giả bộ tiểu thuyết sử thi "Bão thép" (sắp in xong) và tác giả "Hành trình đến dinh Độc Lập" đã in!
Xin chúc Quê mạnh khỏe, sau những ngày vững tay "bẻ lái xe tăng" rồi làm Sĩ quan bộ tham mưu Binh chủng Tăng thiết giáp, nay về hưu rồi lại mạnh tay bút!
-----------------------------------------------------------------------
Xin trích lại tặng Quê và các Đồng đội, các anh chị em mấy bài báo Quê viết và báo viết về Quê.
Báo SGGP online ngày 30/04/2007:
http://www.sggp.org.vn/SGGP12h/2007/4/97557/

Hành trình tới dinh Độc Lập 

Bài 5:Trả món nợ tinh thần

 
Lời xin lỗi chưa kịp nói


 

Anh tâm sự: “Từ trước đến nay, khi nói đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, giải phóng Sài Gòn, tôi chỉ thường thấy nhắc đến sự kiện 2 chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập và nói đoạn cuối của cuộc chiến thắng 30-4: Trung úy, đại đội trưởng Bùi Quang Thận cầm lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cắm lên nóc dinh Độc Lập.

Nhưng với tôi, để đến được cái đích đó, cần phải kể lại cả một quá trình kéo dài suốt 3 năm trời, từ khi cả Đại đội 4 xe tăng rời hậu phương miền Bắc cho đến khi tiến thẳng vào dinh Độc Lập. Đó là lý do tôi ngồi viết cuốn hồi ký này”.
 
Hồi ký dày 265 trang A4, viết xong trong 2 tháng. “Bây giờ về hưu (sau giải phóng anh công tác tại Bộ Tư lệnh tăng thiết giáp), tôi mới có thời gian để ngồi viết lại cả một chặng đường. Bởi vì đã nung nấu rất lâu rồi, tất cả có sẵn trong đầu, giờ chỉ ngồi là viết được”- anh nói vậy.
 
Anh bùi ngùi kể tiếp: “Để đi đến cái đích chiến thắng vào trưa 30-4, đại đội nhỏ bé của chúng tôi đã phải hy sinh 8 chiến sĩ. Khi đi, có 8 xe tăng. Đến ngày độc lập, chỉ còn lại 5 chiếc”. Trước đây, anh đã từng viết một bài hồi ký nho nhỏ lấy tựa “Lời xin lỗi không bao giờ kịp nói”. Trong đó, anh kể lại những cảnh tượng và suy nghĩ về những đồng đội hy sinh dọc chặng hành trình nhưng những dòng viết ngắn ngủi ấy vẫn chưa đủ.

Bây giờ, anh nghĩ là cần phải viết nhiều hơn về họ, về cả một đại đội anh hùng, về những điều mà nhiều người có thể còn chưa biết.
 
Những tình cờ làm nên lịch sử
 
Có một kỷ niệm, đúng hơn như là một sự tình cờ, cho đến bây giờ anh Nguyệt vẫn còn nhớ mãi. “Hồi đó đánh nhau, chúng tôi đâu có biết gì về đường sá ở Sài Gòn. Tất cả chỉ nhờ vào một tấm bản đồ bé bằng nửa bao thuốc lá. Đó là khi tập kết ở Đồng Nai, Hội Sinh viên Đại học Vạn Hạnh đã tặng quà cho bộ đội. Trong đó, có một cuốn lịch sổ tay nhỏ bé. Trong cuốn lịch lại tình cờ có một tấm bản đồ du lịch của Sài Gòn. Và cứ thế chúng tôi tiến vào phía dinh Độc Lập theo tấm bản đồ nhỏ đó”.
 
Theo lời kể của Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt, Đại đội 4 xe tăng ghi công trong việc húc đổ cổng dinh Độc Lập cũng là một sự tình cờ. Dẫn đường vào dinh Độc Lập là Tiểu đoàn 1 xe tăng, gồm Đại đội 1, 3 và 4. Nhưng do hôm đánh căn cứ Nước Trong, Đại đội 5, Tiểu đoàn 2 đánh 3 trận không qua được, cháy mất mấy xe tăng liền, chỉ còn lại 3 xe nên đại đội 4 của anh Nguyệt do trung úy Bùi Quang Thận làm đại đội trưởng, Trung úy Vũ Đăng Toàn làm chỉ huy, được giao lên đánh Nước Trong và họ đã giành thắng lợi. Bởi vậy, khi đánh vào dinh Độc Lập, Đại đội 4 chỉ được lệnh đánh dự bị để bảo toàn.
 
Do đó, khi đánh xa lộ Sài Gòn, đi đầu không phải là Đại đội 4 mà là Đại đội 3. Nhưng khi đến cầu Sài Gòn, đại đội 3 bị bắn cháy 3 xe, tiểu đoàn trưởng hy sinh. Trong khi các đại đội kia mất chỉ huy, xuất phát chậm thì Đại đội 4 vọt lên, trở thành dẫn đầu cả lữ đoàn xe tăng tiến vào trung tâm Sài Gòn.
 
Đi trước là xe đại đội trưởng Bùi Quang Thận và xe chỉ huy Vũ Đăng Toàn. “Xe của tôi 380 đi ngay sau và có thiệt thòi là khi đánh chiếm Nước Trong thì bị thương. 1 viên đạn pháo trúng ngay tháp pháo. Pháo 2 hy sinh. Khi vào Sài Gòn, pháo của xe tôi vẫn có thể quay và bắn được nhưng khẩu đại liên song song với pháo đã bị hỏng, khẩu 12 ly 7 bị bay mất. Người trên xe chỉ còn lại tôi và một pháo thủ. Do xe như vậy nên buộc phải đi phía sau cách 2 xe trước 300m”.
 
Chiều tối, cả Đại đội 4 lấy rượu Napoleon và Dehill cùng với ít mực trong kho kéo ra bờ cảng gió lộng, hơn 20 người cùng ngồi uống. Vừa uống vừa bắn pháo sáng. Bắn suốt đêm để ăn mừng ngày chiến thắng. “Đó là trận pháo hoa đầu tiên ở Sài Gòn”- anh Nguyệt nói.

Cuốn hồi ký được chia thành 5 phần. Phần 1 kể về cuộc hành quân từ Vĩnh Yên đến Quảng Bình. Phần 2 kể lại cuộc hành trình từ Quảng Bình chạy vòng sang Lào để đánh úp về A Lưới (Huế).
 
 Cả đại đội hành quân độc lập. Một nỗi đau đã xảy ra vào đúng ngày 3-3-1972, khi từ Lào về Việt Nam thì cả đại đội hứng trọn 1 trận B52 của giặc Mỹ, 1 xe bị lật nhào, bốc cháy với 4 chiến sĩ hy sinh. Phần 3 bắt đầu chặng hành trình dọc đường 12 để làm nhiệm vụ vu hồi.
 
 Do mũi tiên công của bộ binh bị tắc lại ở Thành Cổ Quảng Trị nên mũi vu hồi của Đại đội 4 phải nằm chờ suốt mùa mưa ở đường 12 vô cùng gian khổ, bi thương. Trong mùa mưa này, một người đã chết vì kéo pháo, một người chết vì vướng mìn, một người chết vì sốt rét.
 
 Phần 4 là những kỷ niệm sau ký Hiệp định Paris và phần 5 là 42 ngày cuối cùng của mùa xuân năm 1975, từ 19-3 đến 30-4.



 Văn Phúc-Đức Hải

Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt và tấm ảnh chụp chiếc xe tăng 380 khi đang tiến vào giải phóng TP Đà Nẵng. Ảnh: HẢI HÒA
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Bảy, 2009, 06:29:12 am gửi bởi nhatminhdl54 » Logged
nhatminhdl54
Thành viên
*
Bài viết: 60


« Trả lời #522 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 06:33:12 am »

Màn pháo hoa tối 30 tháng Tư năm ấy.
QĐND - Thứ Sáu, 25/04/2008, 23:11 (GMT+7)
http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/56/56/58/30363/Default.aspx
Bắn pháo hoa vào dịp trọng đại như Tết Nguyên đán, lễ mừng quốc khánh hay lễ mừng chiến thắng đã trở thành thông lệ và khá quen thuộc với người dân cả nước. Tuy nhiên, cách đây hơn 30 năm những ai có mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh tối 30 tháng tư năm 1975, chắc sẽ không quên, tại khu vực bến cảng Sài Gòn đã có một màn pháo hoa mừng chiến thắng khá đặc biệt. Có một điều thú vị: tác giả màn pháo hoa ấy chính là cán bộ, chiến sĩ đại đội 4 xe tăng của lữ đoàn 203-những người đã húc cổng, cắm cờ tại Dinh Độc Lập buổi trưa 30 tháng tư.

14 giờ ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau khi tình hình ở Dinh Độc Lập đã trở lại bình thường, đại đội 4 của tôi được giao nhiệm vụ chiếm giữ cảng Sài Gòn và kiểm soát tình hình đi lại trên sông. Ngay sau khi nhận lệnh, đại đội trưởng Bùi Quang Thận lập tức tập hợp đội hình, phổ biến nhiệm vụ tổ chức cho đại đội tăng cơ động về phía cảng.

Lúc này quảng trường trước cửa Dinh Độc Lập và các con đường xung quanh đều đông nghẹt người. Có thể nói gần như tất cả nam, phụ, lão, ấu của thành phố đã đổ về đây để chứng kiến giờ phút trọng đại của dân tộc. Từ trong sân dinh đi ra, xe của chúng tôi phải bò từng tí một vì bà con cứ xúm xít xung quanh vẫy chào, chụp ảnh, tặng hoa. Phải mất một lúc lâu chúng tôi mới qua khỏi đám đông và nhanh chóng tăng tốc độ.

Chừng hai mươi phút sau, chúng tôi đã đến con đường trước cổng cảng (tôi cũng không nhớ tên đường đó là gì). Một khung cảnh cực kỳ hỗn loạn diễn ra trước mắt: hai cánh cổng ra vào cảng mở toang, hàng đoàn người đang ùn ùn khuân hàng từ cảng ra ngoài. Người thì súc vải, người thì thùng rượu, người thì tay xách nách mang đủ các thứ lỉnh kỉnh… Họ đang hôi của! Mấy chiến sĩ bộ binh ngồi trên xe giương súng AK lên trời bắn chỉ thiên nhưng hình như không có tác dụng gì. Mọi người chỉ có vẻ vội vã hơn mà thôi. Xe chúng tôi vẫn nhích chậm chạp vì quá đông người. Mãi một lúc sau xe đầu tiên mới vào được cổng cảng và nổ một phát pháo lên trời. Tiếng trọng pháo nổ giữa thành phố nghe thật khủng khiếp và ngay lập tức có tác dụng. Tất cả mọi người xung quanh vội vã nằm ẹp xuống đất và tản đi. Cảng bỗng vắng tanh.

Ngay sau khi vào cảng, chúng tôi cho xe tiến sát ra mép cầu cảng. Những khẩu pháo 100mm hướng xuống mặt sông đầy uy lực. Trên cầu cảng rải rác còn vài chiếc xe du lịch đổ ngổn ngang. Chắc là của những người giàu hay quan chức di tản bỏ lại. Dưới sông chỉ có một tàu vận tải loại nhỏ đang neo tại cầu tàu. Chúng tôi yêu cầu những người còn đang ở trong cảng ra ngoài hết rồi đóng cổng lại. Chỉ mất khoảng mười phút, đại đội tôi đã hoàn toàn làm chủ cảng Sài Gòn.

Ít phút sau, hai chiếc tàu kiểu sà lan tự hành chạy từ phía hạ lưu lên. Chúng tôi vẫy nhẹ tay, hai chiếc tàu đã lập tức bẻ lái cặp sát vào cầu cảng. Những người chủ tàu lên bờ trình báo: “Tàu của họ là tàu dân sự nhưng bị chính quyền ngụy trưng dụng đi phục vụ chuyển quân. Tuy nhiên, trưa nay lính tráng đã bỏ chạy hết nên bây giờ họ đang trên đường về nhà”. Khi hỏi: “Tại sao trên tàu nhiều súng như vậy?” họ cho biết: “Lính Việt Nam cộng hòa khi tan rã đã bỏ lại tất cả súng ống, đạn dược và cả quần áo nữa”.

Sau khi kiểm tra các loại giấy tờ thấy đúng như họ nói, chúng tôi đồng ý sẽ cho họ về nhà nhưng yêu cầu họ phải đưa tất cả các loại vũ khí dưới tàu lên bờ. Nhìn thấy hai hòm pháo sáng còn nguyên để trong góc ca-bin tôi yêu cầu đưa lên bằng hết.

Một trong những thứ mà tôi quan tâm nhất lúc này là pháo sáng Mỹ. Những quả pháo sáng có vỏ là một ống nhôm gần bằng cổ chân, một đầu là hạt nổ, một đầu là nắp đậy được dán kín bởi băng keo. Với kết cấu như vậy dù có ngâm nước cả tháng nó vẫn không hề gì. Khi sử dụng chỉ việc bóc băng keo ra, lồng cái nắp vào đáy ống và dập mạnh xuống đất. Thế là một quả pháo sáng sẽ vọt lên. Nhờ có dù nên pháo sáng sẽ lơ lửng trên không chừng vài ba phút, soi tỏ một diện tích khá rộng. Hôm trước, khi tiến đánh Ngã ba Thái Lan dưới Long Thành bắt được một chiếc M113 còn nguyên vẹn, tôi cũng đã thu giữ một hòm pháo sáng đưa sang xe mình. Cũng chẳng có ý định rõ rệt dùng để làm gì mà chỉ là cái ý thích “nghịch ngợm” của một chàng trai mười chín, đôi mươi mà thôi. Tôi đã là “thủ kho” pháo sáng. Lúc này thì tôi có trong tay những ba hòm.

Đợi một lúc nữa không có tàu nào qua lại, anh Thận phân công lái xe tăng ở lại cảnh giới, còn lại đi nấu cơm và thu dọn khu vực kho. Cả một dãy mười cái kho rộng mênh mông cửa mở toang. Hàng hóa đã bị những người hôi của khuân đi khá nhiều nhưng còn “bát ngát”. Thôi thì đủ thứ thượng vàng, hạ cám, có những kiện hàng to như cả gian nhà, nhỏ thì cái bát, đôi đũa đều có nhưng có lẽ nhiều nhất là vải vóc. Vì đã được giáo dục rất kỹ về kỷ luật chiến lợi phẩm nên chúng tôi chỉ xin phép nhặt mỗi xe mấy thứ lặt vặt, một ít đồ ăn uống và ít vải để lau xe. Thấy đống rượu và mực khô xếp cao chất ngất, mấy anh lớn tuổi xin phép khuân vài thùng về xe. Sau mấy ngày toàn lương khô, nước lã, bữa cơm đầu tiên ngày chiến thắng có đồ hộp Mỹ, lại được ăn bằng bát sứ và đũa son trên cầu tàu lộng gió. Bữa ăn thật ngon lành. Tôi bỗng se sắt nhớ anh em mới đây thôi còn chia bánh lương khô bên suối nay đang nằm lại bìa rừng.

Cơm nước xong, chúng tôi kéo nhau ra sát mép cầu cảng ngồi. Ở đó có một đống gỗ súc vứt ngổn ngang. Gần hai chục anh em kẻ đứng, người ngồi trên súc gỗ điểm lại tên những người ngã xuống suốt chặng đường từ ngoài Bắc vào tới đây, nhắc chuyện quê hương và nhớ những người thân ở quê đang ngóng đợi. Ai cũng nghĩ chỉ ít ngày nữa là mình sẽ được về quê.

Chiều ngày hoà bình đầu tiên trên bến cảng thật bình yên. Mặt sông, những dề lục bình trôi lững lờ. Gió thổi mát rượi xua tan hết những mệt nhọc của hơn một tháng trời ròng rã chiến đấu từ Huế vào đến Sài Gòn. Hai anh trung đội trưởng Trị và Tráng thì thầm gì đó với đại đội trưởng Thận rồi chạy ù đi, chúng tôi chỉ thấy đại đội trưởng gật đầu và tủm tỉm cười.

Một lúc sau đã thấy hai anh khệ nệ đem về hai chai rượu Na-pô-lê-ông và mấy con mực nướng (đã xin phép). Lần đầu tiên trong đời tôi thấy những con mực to như vậy-con nào con nấy phải bằng cái quạt nan. Trung đội trưởng Trị mở nút chai rượu rót đầy vào cái bát đưa cho đại đội trưởng. Mùi rượu thơm lan tỏa. Anh Thận nâng cao bát rượu và nói:

- Nào, bây giờ đại đội ta sẽ uống rượu mừng chiến thắng!

Nói rồi anh ngửa cổ uống một ngụm, bát rượu được chuyển sang cho chính trị viên Toàn, đại đội phó Phượng rồi lần lượt đến chúng tôi. Tôi cũng làm một ngụm to, bị sặc ho khù khụ. Mặc dù vậy chúng tôi đều thấy lâng lâng, không hiểu vì men rượu hay vì niềm vui chiến thắng.

Chiều xuống dần. Mặt trời đã lặn hẳn. Hoàng hôn Sài Gòn tím thẫm trông thật lạ. Chợt nhớ đến ba hòm pháo sáng ở xe tôi đề xuất:

- “Đại trưởng” ơi! Mình bắn pháo sáng mừng chiến thắng nhé!

Anh Thận tỉnh như sáo:

- Có pháo sáng à?

Tôi đáp:

- Xe em có ba hòm. Tổng cộng là một trăm hai mươi quả.

Đại đội trưởng Thận mừng rỡ:

- Thế thì đem ra đây! Bao nhiêu năm mới có ngày hôm nay, không mừng sao được. Ai nấy háo hức tự cho mình cái quyền được tôn vinh ngày trọng đại này.

Tôi gọi pháo thủ Thọ cùng về xe khuân pháo sáng đến. Ba hòm pháo sáng được khui ra, tôi chia cho mỗi người mấy quả. Anh Thận bảo:

- Tất cả mở nắp ra! Đợi lệnh của tớ mới được đập nhé!

Lúc này anh như trẻ lại hàng chục tuổi, tôi đã từng phụt pháo sáng, nhưng sao lúc này tim cứ rộn ràng đập. Cả thành phố sẽ hướng về đây.

Đợi mọi người sẵn sàng anh Thận mới hô:

- Hai, ba!

Gần hai chục cánh tay cùng dập mạnh xuống. Chỉ nghe những tiếng “vút”, “vút” rồi gần hai chục quả pháo sáng nở bừng trên bầu trời tím thẫm. Một góc Sài Gòn bừng sáng, mặt nước sông lung linh phản chiếu lên càng làm cho chùm ánh sáng thêm huyền ảo. Chúng tôi sung sướng ngước nhìn và reo hò đến vỡ họng. Anh Thận giục chuẩn bị rồi hô tiếp. Lại một loạt nữa được bắn lên. Loạt trước chưa tắt hẳn được loạt sau tiếp sức ánh sáng càng rực rỡ. Chợt ai đó lên tiếng:

- Bắn thế này thì nhanh hết lắm! Có lẽ phải bắn từ từ thôi.

Đại đội trưởng Thận đồng ý:

- Bây giờ ngồi thành vòng tròn. Bắt đầu từ tớ rồi lần lượt từng người nhé. Nào bắt đầu!

Nói rồi anh dập mạnh tay xuống. Chỉ thấy những tiếng vút, vút nối nhau. Trên bầu trời tím thẫm những quả pháo sáng lần lượt bừng nở, quả này vừa tắt đã có quả khác bắn lên. Cả một góc Sài Gòn bừng sáng, chúng tôi reo hò đến khản cổ. Đó đây một vài quả pháo sáng được bắn lên như phụ họa cùng bữa tiệc pháo sáng của chúng tôi.

Buổi bắn pháo sáng của đại đội tôi kéo dài đến gần ba mươi phút. Bầu trời khu vực cảng Sài Gòn như ban ngày và ngập trong tiếng reo hò của mấy chục lồng ngực trẻ.

Cho đến giờ, đã ba mươi mấy năm trôi qua, tôi vẫn không thể nào quên cái vùng ánh sáng lung linh, huyền ảo ấy. Đã từng chứng kiến nhiều cuộc bắn pháo hoa ở nhiều nơi, nhưng với lính đại đội 4 và tôi, đêm pháo sáng mừng Đại thắng trên bến cảng Sài Gòn 30 tháng 4 năm 1975 là đêm pháo hoa đẹp nhất.

Nguyễn Khắc Nguyệt (Nguyên chiến sĩ lái xe đại đội 4 xe tăng)

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #523 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 09:01:38 am »

@ nhatminhd154- Xin cảm ơn quê đã quan tâm và động viên!
Lixeta tôi xin cố gắng hết sức để khỏi phụ lòng tin cậy của các quê! Grin
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #524 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 10:15:03 am »

Các quê thân mến!
Ngày mai- hơn 800 nghìn thí sinh sẽ bước vào đợt 1 kỳ thi ĐH năm 2009. Xem TV thấy các bến xe, các ngả đường... đều đông nghẹt các sĩ tử về ứng thí. Lại bồi hồi nhớ về 38 năm về trước mình cũng thế này.



Năm đó- năm 1971 là năm thứ hai miền Bắc tổ chức thi vào ĐH (từ 1969 trở về trước các bác ấy cứ học hết lớp 10/10 là thế nào cũng được đi học ĐH hoặc nước ngoài, giá bác hatuyenha ở quê em thì với lý lịch như vậy bác được đi nước ngoài học là cái chắc). Hồi ấy Hải Dương và Hưng Yên vẫn còn là Hải Hưng. Vì năm 1970 đã thi ở bên Hải Dương nên năm 1971 bọn mình phải sang thi ở đất Hưng Yên. Bọn mình ở đầu tỉnh nên để đến điểm thi phải vượt hơn 80 km. Tất nhiên, quãng đường ấy so với bây giờ các cháu đi thi thì chẳng ăn nhằm gì nhưng hồi ấy là quá xa với những cái xe đạp cà tàng và những con đường gập ghềnh đá hộc...
Tuy nhiên, kể cả về việc chuẩn bị đi thi cũng như quá trình đi thi của bọn mình cũng có nhiều cái khác so với bây giờ.
Hồi ấy, mặc dù biết trước dẫu có đỗ cũng vẫn không được đi học mà sẽ phải đi bộ đội nhưng bọn mình cũng vẫn ôn thi rất quyết liệt vì một là muốn mẹ cha phán khởi, hai là cũng muốn thử sức mình.... Tất nhiên là chẳng có lò luyện, cũng không có bộ đề và sách tham khảo rợp trời như ngày nay... Năm đó vì thi ĐH khá sớm (15.6) nên ngay từ khi chưa hết năm học các trường dã tổ chức luyện thi chung cho thi TN và thi ĐH luôn. Gọi là luyện nhưng quanh đi quẩn lại cũng chỉ có các bài tập trong SGK và sách bài tập mà thôi. Trong khi đó thì cả SGK lẫn sách BT đều thiếu nên cứ đầu giờ sáng thầy bộ môn lại đến lớp chép đầu bài tập lên bảng, cả lớp chép xong tản ra tự làm. Đến cuối giờ thày gọi người lên chữa. nếu cả lớp chịu thì thày chữa và nói thật với các quê là cũng có những bài thầy phải "khất" về nghiên cứu thêm.
Sau khi thi TN xong (24.5) bọn mình còn 20 ngày nữa để chuẩn bị thi ĐH. Lúc này thì chủ yếu là các nhóm nhà ở gần nhau tự ôn với nhau. Có khi phải đạp xe hàng chục cây số chỉ để hỏi một bài tập nhỏ.
Rồi ngày lên đường đi thi cũng tới. Hành trang đi thi của bọn mình lúc ấy cũng khá đơn giản- có lẽ quan trọng nhất là bút mực và mấy "bò" gạo. Các cháu tre trẻ đừng cười nhé Grin. Hồi ấy làm gì có cơm bụi, hàng quán nhiều như thế này. Cả thị trấn huyện lỵ Kim Động có mỗi cửa hàng ăn quốc doanh nhưng muốn mua bánh mỳ hoặc cơm thì phải có phiếu gạo. Vì vậy, trước khi đi thi các vị phụ huynh đều phải đùm cho con mấy bò gạo và ít thức ăn khô như ruốc, tôm tép rang, cá kho v.v... Còn lại chủ yếu dựa vào bà con ở đó mà thôi.
Mình còn nhớ hôm bọn mình lên đường đi thi là 15.6.1971. Nắng lắm. Mặt đường đá răm cứ hừng hực bốc hơi nóng lên. Lần đầu tiên hành quân xa bằng xe đạp, nhiều cặp phải đèo nhau, xe cộ thì thỉnh thoảng lại hỏng, đường thì xấu... mệt dứt hơi nhưng rồi đến chiều tối bọn mình cũng đến được khu vực thi: TX Hưng Yên, huyện Tiên Lữ và huyện Kim Động. So với các bạn cùng trường thì mình là "xui xẻo" nhất vì ở điểm thi TC3 Kim Động chỉ có "nhõn" một mình mình dân CL- năm đó mình đâm đơn thi vào Tổng hợp Toán (SBD Xa...).
Hồi ấy phong trào TNTN chưa sôi nổi như bây giờ. Tuy nhiên trường sở tại cũng bố trí một số HS giúp bọn mình tìm nhà trọ. Mình được đưa vào trọ tại một gia đình ở ngay gần trường. Nhà cũng không được khấm khá lắm, chỉ mái tranh, vách đất. Bác trai đi làm ăn xa, chỉ có bác gái ở nhà cùng một lũ lít nha, lít nhít. Bọn nó cứ xúm vào nhìn mình như nhìn một "sinh vật lạ" ấy. Cũng may, bác gái rất tốt bụng và thoải mái, bác bảo đưa gạo bác nấu cơm cho. Cứ yên tâm đi thi, đến bữa thì về mà ăn.
Năm đó cũng thi ba môn và chia khối như bây giờ. Ngày đầu tiên khối A thi Hóa, Lý. Nói cho công bằng mình là loại học cũng khá cho nên hai môn này mình làm đều thừa thời gian. Đề Hóa mình làm chỉ hết độ 1,5/ 3h nên về sớm. Bác chủ nhà rất dịu dàng động viên: "Đã đến đây rồi thì phải cố mà làm. Đừng có thấy khó mà bỏ về sớm như thế, cháu ạ". Mình cứ vâng, dạ tràn nhưng buổi chiều thi Lý cũng nộp bài sớm xong đi lang thang ngắm cảnh mãi gần tối mới về.
Tuy nhiên, thử thách thực sự đã đến trong môn thi Toán. Nghe đọc đề xong mình đã thấy giật mình vì có 2 bài thuộc loại mình chưa nhìn thấy bao giờ. Thực ra sau này thì biết là nó không quá khó nhưng với lũ học sinh nông thôn, vùng sâu vùng xa như bọn mình, sách GK còn không đủ để mà học thì những dạng toán này khác gì đánh đố Grin. Chắc là thấy đề khó quá nên Bộ GD phải ra tay: tầm hơn 9 giờ có một chiếc xe con chạy vào sân trường. Một lúc sau các giám thị thông báo: thời gian làm bài thi Toán được kéo dài thêm 30 phút. Tuy nhiên, loại như mình cũng chỉ giải được khoảng 60-65% bài mà thôi.
Sau khi thi xong mình rủ 3 tên (Mơ, Đoan, Thịnh) đi Hà Nội chơi. Bọn hắn thích lắm vì lần đầu tiên được đặt chân tới Thủ đô. Mình thì đã lên đây nhiều lần do họ ngoại trên này nên đã trở thành HDV cho bọn hắn. Thực ra bọn hắn chẳng có nguyện vọng gì to tát cả: thằng Mơ thi vào Bách Khoa nên muốn nhìn thấy Trường ĐHBK. Hai tên kia thi vào SP nên muốn nhìn thấy Trường SP. Thế là mình đưa bọn hắn đi và tiện thể đưa luôn lên ĐHTH để giới thiệu "trường của mình".
Buổi tối hôm đó ngồi bên CV Thống Nhất nhìn về dãy vòm bê tông và dòng chữ ĐHBK sáng rực trên nóc mấy nhà cao tầng của ĐHBK thằng Mơ rớt nước mắt nói: "Được vào đấy học thì chết cũng sướng!" (Nhưng sau hắn ta được gọi đi học công an và bây giờ là đại tá công an). Còn Đoan và Thịnh kỳ thi ấy không đỗ nên phải học sư phạm 10+3 của tỉnh.
Theo quy định của Nhà nước thì hồi ấy giấy báo điểm và giấy gọi nhập học sẽ không gửi trực tiếp về cho TS mà sẽ gửi qua Ban Tuyển sinh thuộc Phòng Lao động huyện. Ở đó người ta sẽ xem xét, anh nào đủ điều kiện đi học người ta mới chuyển về. Dẫu biết rằng biết kết quả thi cũng chẳng để làm gì nhưng chắc là tâm lý chung của mọi người đi thi đều muốn biết mình "mần ăn ra răng" nên mình cũng lên cái Ban TS đó mấy lần để hỏi. Tuy nhiên, lần nào cũng nhận được câu trả lời: "Anh đỗ rồi! Nhưng anh cứ về đi bộ đội đi đã!". Hỏi được bao nhiêu điểm họ nhất quyết không trả lời. Mãi sau con bạn cùng lớp là con ông Chủ tịch huyện nó sang hỏi hội mình mới biết mình được 23, 5 điểm. Theo mình đoán thì hai môn Lý, Hóa mình được 9, còn Toán chắc được 5,5.
Nhưng rồi cái kết quả thi ấy cũng chẳng dùng vào được việc gì. Năm 1975 từ chiến trường ra mình hỏi ở huyện và cả ở trường ĐHTH thì đều trả lời là "Hồ sơ đã bị thất lạc do đợt lụt năm 71 cũng như sơ tán năm 72". Thành ra nhiều lúc định viết cái gì đó ở bên "Gác bút nghiên..." lại thấy hơi bị "xí hổ" vì mới chỉ là SV hụt. Thế là mình quyết định ở lại học SQ. Giá hồi ấy họ còn giữ được giấy tờ thì có khi mình không ở bộ đội lâu đến thế này đâu, các quê nhỉ Grin

Bây giờ, nhìn các cháu học hành và đi thi mình thấy chúng vừa sướng, vừa khổ. Chúng sướng vì nếu đỗ chúng sẽ có quyền đi học, chẳng ai ngăn được chúng. Chúng sướng vì các thứ vật chất bảo đảm cho chúng học thật ê hề. Nói thật, nhiều lúc nhìn những cuốn sách giáo khoa gần như còn mới tinh bị chúng đem đi bán giấy vụn mà mình thấy xót xa... Tuy nhiên, chúng cũng có nhiều cái khổ: áp lực đặt lên vai chúng bây giờ hình như quá nặng, quanh năm chúng có biết đến thế nào là nghỉ ngơi, nghịch ngợm... theo đúng nghĩa của những từ đó đâu.v.v... Nhưng biết làm sao được bây giờ???


Logged
Mot_Thoang
Thành viên
*
Bài viết: 22



« Trả lời #525 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 10:40:28 am »

Bây giờ, nhìn các cháu học hành và đi thi mình thấy chúng vừa sướng, vừa khổ. Chúng sướng vì nếu đỗ chúng sẽ có quyền đi học, chẳng ai ngăn được chúng. Chúng sướng vì các thứ vật chất bảo đảm cho chúng học thật ê hề. Nói thật, nhiều lúc nhìn những cuốn sách giáo khoa gần như còn mới tinh bị chúng đem đi bán giấy vụn mà mình thấy xót xa... Tuy nhiên, chúng cũng có nhiều cái khổ: áp lực đặt lên vai chúng bây giờ hình như quá nặng, quanh năm chúng có biết đến thế nào là nghỉ ngơi, nghịch ngợm... theo đúng nghĩa của những từ đó đâu.v.v... Nhưng biết làm sao được bây giờ???




Cảm ơn chú đã chia sẻ ký ức của 1 thời !

Đọc đến đoạn cuối này, cháu muốn nói 1 chút ạ. Ngày trước, khi cháu cầm giấy báo đỗ ĐH trên tay, niềm vui chưa dứt thì nỗi lo tiền trường đã ập tới....cũng may cách đây 5 - 6 năm về trước vật giá của HN chưa leo thang như bây giờ, thế rồi tất cả đâu cũng vào đấy chú ạ !
Không phải gia đình nào cũng có điểu kiện cho con đi học ĐH chú ạ, chính vì thế những SV được đi học như bọn cháu càng cảm thấy trân trọng khi mình may mắn như vậy, để có được ngày hôm nay tất cả là sự chắt chiu từ mồ hôi nước mắt của cha mẹ khi phải " bán mặt cho đất, bán lưng cho trời ".

Còn về sách giáo khoa, nói ra lại xấu hổ hihi từ lớp 1 đến lớp 9 cháu hầu như toàn được các chị cho lại để học, lên lớp 10 hồi ấy có chính sách con thương binh được giảm giá 50% bộ sách giáo khoa, lúc ấy cháu mới có 1 bộ sách mới để dùng chú ạ ! Sau này khi học xong, cháu đã tặng lại cho các bạn vùng sâu vùng xa trong những chuyến đi tình nguyện trên Tây Bắc.
Logged

baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #526 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 10:43:46 am »

Cảm ơn bài viết rất có tình của bác lixeta, khi kể lại chuyện thi cử của bác ngày xưa, để động viên các cháu sỹ tử bây giờ.
Em thi sau bác 3 năm, năm 1974.
Thời em cũng không có lò luyện thi và sách tham khảo.
Chỉ có 1 điều khá hơn thời bác. Đó là khối A, năm em thi, ai đạt từ 23 điểm trở lên là được đi học ĐH ở nước ngoài, nhưng nước nào thì lại là 1 chuyện khác.
Có được cái mốc điểm, để vào ĐH trong nước hay NN kể trên, đấy là do công của bác Tạ Quang Bửu. Bác ấy có quan điểm: vừa hồng, vừa chuyên- nhưng chuyên trước, hồng sau. Chính vì thế mà thời em, rất nhiều người, con của tư sản mới được vào ĐH. Cũng vì quan điểm này, mà bác Bửu không được vui lắm khi cuối đời. Nhưng nhiều người sẽ nhớ ơn bác ấy.
Sau năm 75 thì còn có chuyện phân lý lịch loại 1, 2, 3,.... cho đến 7 ở vùng sau vĩ tuyến 17. Loại 3 trở đi thì thôi rồi Lượm ơi.
Các cháu sỹ tử ngày nay sướng quá. Chỉ còn phải lo thi. Không còn phải lo đùm theo bò gạo như bác lixeta. Cũng chẳng phải lo về cái gốc gác, mà không phải do mình cố tình tự chọn.
Cầu mong các cháu đều thi đỗ.
Logged
hatuyenha
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2403


« Trả lời #527 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 10:52:27 am »

Bạn Li xe ta @ ơi,hồi đó ở đâu cũng thế thôi bọn mình vẫn được đầu bảng đi học nước ngoài đấy,nhưng bà già mình nói :"con bố Sơn mà không tham gia đánh Mỹ bỏ đi nước ngoài thì để ai đánh Mỹ đây ?"thế là mình xin đi bộ đội,nhưng các cô chú ở cục cán bộ hồi đó đến nói với mẹ mình :"Con gái cho vào DHKTQS,vài năm nữa chồng con đẻ đái còn học hành gì ?" Thế là vào học khoa vô tuyến điện của  trường Đại học kỹ thuật  quân sự khoá 2.Lúc ấy là năm 1967,học năm năm ở trường tới năm 1972 ra trường nhận Quân hàm thiếu uý tham gia 12 ngày đêm B52 đánh phá Hà nội và trong ngày thứ hai của tức là 19-12-1972 mình nhận bàn giao chức vụ trạm trưởng trạm thông tin A10 từ anh Nguyễn Chiến (Sau này anh lên đến Trung tướng ban cơ yếu TƯ).
Vì vậy mình vẫn tự hào mình là lính chiến chứ không phải lính cậu,tuy không có cách gì so sánh với các bạn đã tham gia trực tiếp tại các chiến trường  hi sinh gian khổ,các bạn ở tàu không số...đã chiến đấu rất anh dũng hi sinh oanh liệt.
Logged
daccongbacviet
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #528 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 07:28:17 pm »

Hix, bác lính tăng chủ topic là đại tá cơ ạ  Wink Chắc trong 4rum này bác là " trùm sò " rồi  Grin Grin
Logged

Có 2 thứ không bao giờ được đùa giỡn: Đó là chiến tranh và tình yêu
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #529 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 09:43:09 pm »

Hix, bác lính tăng chủ topic là đại tá cơ ạ  Wink Chắc trong 4rum này bác là " trùm sò " rồi  Grin Grin

Sao lại "trùm sò" Huh
Mà đại tá thì ăn thua gì? Trong 4rum này có khối tướng đấy cháu ạ Grin
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM