Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:07:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 109315 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #20 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 12:56:38 am »

Nghệ thuật xây dựng lực lượng vũ trang cũng như nghệ thuật tổ chức và thực hành chiến tranh chinh phục của người Mông Cổ đã đạt đến đỉnh cao của thời đại, trong đó tài năng quân sự của Thành Cát Tư Hãn là tiêu biểu nhất. Thành Cát Tư Hãn ngay từ khi thống nhất các bộ lạc đã phát triển đội cận vệ thành Cấm vệ quân, còn gọi là quân Thiết Bích có số lượng đông đến hàng chục vạn. Đội quân cấm vệ đó ngày càng phát triển, thời bình canh giữ kinh thành, thời chiến trở thành Đại trung quân theo Đại Hãn ra trận.

Bọn thống trị Mông Cổ đã lợi dụng thể chất cường tráng, tinh thần chiến đấu, tài năng cưỡi ngựa bắn cung của nhân dân Mông Cổ và tổ chức quân sự đặc biệt của các bộ lạc du mục để xây dựng một quân đội hùng mạnh, thiện chiến, tiến hành các cuộc viễn chinh xâm lược. Quân đội của các bộ lạc được tổ chức thành các thiên hộ, bách hộ.  Đó là chỗ dựa của giai cấp cầm quyền, là công cụ cưỡng bức quân sự, chính trị, kinh tế của bọn thống trị.

Quân đội của đại hãn được tổ chức từ những đội thường trực vũ trang của các thủ lĩnh quân sự, của các tù trưởng bộ lạc và các lãnh chúa. Lúc đó đàn ông đến tuổi phải đăng lính, ngựa tốt phải ra trận, ngựa xấu được chăn nuôi để dự bị. Tổ chức quân sự và tổ chức xã hội thống nhất. Đối với họ “khi lên ngựa thì sẵn sàng chiến đấu, khi xuống ngựa thì tụ tập chăn nuôi” .

Nhà nước quy định chế độ binh dịch đối với tất cả các trai tráng và huy động tối đa cho chiến tranh. Ngoài ra, các hãn còn có quân hộ vệ rất đông của mình. Qua những cuộc chiến tranh chinh phục, do tiếp xúc với nhiều nền văn minh - văn hoá khác, bọn phong kiến Mông Cổ không tàn sát, cướp giật nhiều như buổi đầu, mà đã biết lợi dụng nhân lực, vật lực và tổ chức vũ trang của các nước bị chinh phục nhằm tăng thêm sức mạnh của họ trong chiến tranh, đồng thời để bảo vệ các vùng lãnh thổ mới chiếm được.

Vừa chinh phục, Thành Cát Tư Hãn vừa lo tổ chức chính quyền, quân đội và đặt quan cai trị Thiên tài quân sự của Thành Cát Tư Hãn, tài năng của các tướng lĩnh cùng với quân đội thiện chiến của họ là những nhân tố rất quan trọng đưa đến thắng lợi trong các cuộc chiến tranh xâm lược của đế chế Mông Cổ thế kỷ XIII.

3. Sự hình thành và phát triển của để chế Nguyên ở Trung Quốc.

Nếu tính từ năm 1207, khi Thành Cát Tư Hãn bắt đầu tiến công vào tây bắc Trung Quốc lúc đó là lãnh thổ nước Tây Hạ đến năm 1279, khi triều đình nhà Tống hoàn toàn bị Hốt Tất Liệt tiêu diệt, thì sau 72 năm đế quốc Mông Cổ mới thống trị được trên toàn lãnh thổ Trung Quốc.

Quá trình thôn tính Trung Quốc của người Mông Cổ diễn ra nhiều giai đoạn. Sau khi lên ngôi đại hãn, Thành Cát Tư Hãn nghĩ ngay đến việc tiến sang phía đông. Đầu tiên chúng tiến công Tây Hạ gồm các tỉnh Cam Túc, Thiểm Tây (các năm 1207-1209); chiếm phần lớn vùng Tân Cương lúc đó do thủ lĩnh Hồi Hột thống trị.

Năm 1211, Thành Cát Tư Hãn tiến quân vào miên bắc Trung Quốc, bấy giờ là lãnh thổ nước Kim của bộ tộc Nữ Chân, cả một vùng rộng lớn dài hơn nghìn dặm dọc hai bên bờ Hoàng Hà bị đánh phá, cướp bóc và tàn sát. Năm 1215, quân Mông Cổ chiếm được Bắc Kinh (Trung Đô) tức Kinh đô nước Kim lúc đó. Năm 1218, quân xâm lược đánh nước Liêu của người Khiết Đan tại vùng bắc Trung Á và tây Tân Cương ngày nay.

Năm 1226, sau đợt tây chinh (tức sau đợt xâm lược Khôrexmơ, Ápganixtan, Pakistan, Ácmênia, Adécbaidan, Grudia và phía nam nước Nga), Thành Cát Tư Hãn tiến hành một lần nữa đánh Kim, diệt Tây Hạ và bắt đầu đánh Tống. Năm 1234, đại hãn mới là Oa Khoát Đài thống lĩnh quân đội đánh Kim. Nước Kim bị diệt, toàn bộ lãnh thổ Kim từ biên giới giáp Mông Cổ đến Thái Châu (Nhữ Nam, Hà Nam) đã bị chinh phục.

Diệt Tây Hạ, chiếm đất Liêu và thống thống trị đất “Kim” là những bước tiến quan trọng của đế quốc Mông Cổ trên lãnh thổ Trung Quốc. Một vùng đất rộng lớn với đông đảo nhân lực, vật lực đã lọt vào tay người Mông Cổ. Đến đây cuộc chiến tranh 40 năm xâm lược Nam Tống đã mở màn.

Năm 1236, quân Mông Thát đánh xuống Thành Đô, Hán Khẩu của Tống. Đó là sự mở đầu cuộc trường chinh xuống phương nam của đế chế Mông Cổ. Lúc đó, vua Tống vội cử sứ giả sang Đại Việt phong Trần Thái Tông làm An Nam quốc vương, mục đích chính là để liên minh với Đại Việt chống Mông Cổ. Điều này báo hiệu việc không bình thường và tất nhiên tổ tiên ta thời Trần đã theo sát thời cuộc, vì những động tĩnh ở phía Bắc đều có liên quan đến vấn đề an ninh quốc gia Đại Việt.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #21 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 12:57:17 am »

Từ khi Oa Khoát Đài chết (1241) đến khi Mông Kha lên ngôi đại hãn (1251), là mười năm đấu tranh trong nội bộ đế chế Mông Cổ. Sau khi ổn định quyền lực, Mông Kha đồng thời chia quân đánh cả mặt tây và mặt đông. Các đại hãn Mông Thát đều coi việc đánh chiếm phía đông là mục tiêu quan trọng nhất, cho nên Mông Kha cũng như Oa Khoát Đài trước đó đều đích thân thống lĩnh đại quân trên hướng tiến công này. Mông Kha cử em mình là Hốt Tất Liệt (Khubilai) trực tiếp phụ trách hướng đông, đánh Đại Lý, Đại Việt, Nam Tống và các nước khác.

Mục tiêu lớn nhất của Mông Kha cũng như Hốt Tất Liệt là chiếm toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, mà phần còn lại chủ yếu là của Nam Trung. Bấy giờ, triều đình Nam Tống đang suy yếu. Trước đây, khi Nam Tống bị nước Kim uy hiếp mặt bắc, đã phải cắt nhượng cho Kim những vùng đất quan trọng; nay Nam Tống càng lung lay, suy yếu bởi phong trào khởi nghĩa nông dân liên tục nổ ra. Trong khi Nam Tống ngày càng kiệt quệ thì Mông Cổ lại lớn mạnh và không ngừng bành trướng xâm lược. Đó là một nguy cơ lớn đối với nhân dân các dân tộc Trung Quốc.

Để uy hiếp mặt tây nam của Nam Tống, từ năm 1252, Hốt Tất Liệt được lệnh đánh chiếm vùng Vân Nam Trung Quốc, lúc bấy giờ là nước Đại Lý, dưới triều vua Đoàn Hưng Trí.

Mùa Thu năm 1253, đoàn ky binh thiện chiến Mông Cổ do Hốt Tất Liệt làm Tổng binh và tướng Ngột Lương Hợp Thai (Unangkhađai) làm Tổng đốc quân sự tiến tới Vân Nam. Ngột Lương Hợp Thai đánh chiếm lãnh địa người Sát Hãn Chương, tức người Bạch Man, chiếm thành Long Thủ.  Hốt Tất Liệt đánh nước Đại Lý (tức Nam Chiếu) . Vua Đoàn Hưng Trí bỏ kinh thành chạy.

Sau đó, khi Hốt Tất Liệt được lệnh trở về bắc, Ngột Lương Hợp Thai vẫn tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược, tiến công thành Thiện Xiên, một căn cứ quan trọng của Đại Lý. Đoàn Hưng Trí bị bắt và đầu hàng quân Mông Cổ. Quân xâm lược tiến đánh khu vực người Hợp Lạt Chương, tức người Ô Man. Năm 1256, Ngột Lương Hợp Thai chiếm các tiểu quốc Bạch Man, Ba Ly và chinh phục các dân tộc thiểu số còn lại. Năm 1257, toàn bộ Vân Nam bị chia thành phủ huyện, người Mông Cổ đặt quan cai trị. Nước Đại Lý mất từ đó. Như thế, quân Mông Thát đã tiến sát biên giới phía tây bắc Đại Việt.

Sau khi chiếm được Vân Nam, đại hãn Mông Kha lập tức quyết định kế hoạch chinh phục nước Tống, bằng cách dốc toàn bộ lực lượng, bất ngờ đánh theo nhiều mũi, nhiều hướng, với mục đích nhanh chóng tiêu diệt triều Tống. Năm 1257, Mông Kha tổ chức lễ tế cờ trên sông Kê ru len trước khi xuất quân đánh Tống.

Theo kế hoạch của Mông Kha, quân Mông Cổ sẽ tiến công vào Tống từ bốn phía. Mông Kha thân dẫn đại quân tiến vào Tứ Xuyên. Cánh quân do Hốt Tất Liệt chỉ huy vượt Trường Giang đánh chiếm Ngạc Châu (Hồ Bắc). Cánh quân do Tháp Sát Nhi (Tôgatra) chỉ huy tiến công miền hạ lưu Trường Giang, vào vùng Kinh Sơn. Cánh quân của Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy sẽ bất ngờ đánh chiếm Đại Việt, rồi từ đó, vu hồi đánh lên Ung Châu (Quảng Tây) và Quế Châu (Quế Lâm) để hợp quân với Hốt Tất Liệt ở Ngạc Châu đánh Tống.

Bấy giờ, ở Vân Nam, Ngột Lương Hợp Thai có khoảng trên ba vạn kỵ binh và khoảng vài vạn quân đầu hàng của Đại Lý.  Sau khi dùng sứ giả chiêu hàng Đại Việt không thành, cuối năm 1257, đầu năm 1258, Ngột Lương Hợp Thai thống suất toàn bộ quân đội của mình tiến công xâm lược Đại Việt để mở đường đánh vu hồi Nam Tống.

Tuy nhiên, đạo quân của Ngột Lương Hợp Thai đã bị quân dân Đại Việt đánh tan tành, phải chạy về Vân Nam. Đây là thất bại nặng nề đầu tiên của Mông Cổ trong quá trình viễn chinh của chúng.

Năm 1259, Mông Kha tiến quân vào vùng Hợp Châu (Tứ Xuyên). Tướng Tống là Vương Kiên đã tập hợp quân dân, giữ vững thành Điếu Ngư, anh dũng chống cự với hàng chục vạn quân Mông cổ trong suốt năm tháng ròng. Quân Tống trong thành dùng phi thạch (máy bắn đá) đẩy lùi nhiều đợt tiến công, khiến quân Mông Cổ thiệt hại nặng nề.

Tháng 8- 1259, chúa Mông Cổ là Mông Kha tập trung toàn quân để công thành và y đích thân chỉ huy trận quyết chiến. Nhưng phi thạch bắn ra như mưa, Mông Kha bị trúng đạn chết, quân giặc biết tin, hoảng sợ tháo chạy tán loạn. Cuộc tổng tiến công trên đất Tống đến đây coi như thất bại và đợt xâm lược tạm dừng.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #22 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 12:58:14 am »

Được tin Mông Kha chết, Hốt Tất Liệt cùng Ngột Lương Hợp Thai từ Ngạc Châu vội vã lui quân, lo tính trở về Mông Cổ để giành ngôi đại hãn. Nhưng khi chưa về tới Kinh đô Mông Cổ là Hoà Lâm thì nghe tin các quý tộc đã tôn em mình là A Lý Bất Kha (Aric Bu ke) làm hãn, do đó tại thành Khai Bình (thuộc khu tự trị Nội Mông), Hốt Tất Liệt tự xưng là đại hãn, đặt niên hiệu theo chế độ hoàng đế Trung Quốc, lấy năm Canh Thìn (1260) làm năm Trung Thống thứ nhất.  Hốt Tất Liệt công khai tuyên bố tiến hành cuộc chiến tranh chống lại A Lý Bất Kha.

Thấy Hốt Tất Liệt vội vã phá bỏ truyền thống cũ của chế độ tuyển cử Mông Cổ, nhiều quý tộc Mông Thát không chấp nhận ngôi đại hãn của Hốt Tất Liệt, cùng nhau triệu tập đại hội quý tộc tại Hoà Lâm và cử A Lý Bất Kha làm đại hãn. Từ đó, đế quốc Mông Cổ rối loạn và chia rẽ sâu sắc. Hai đại hãn đánh phá lẫn nhau rất ác liệt. Các hãn ở các nước phía tây cũng không chấp nhận quyền đại hãn của Hốt Tất Liệt, đều tự ý tách thành nhưng quốc gia độc lập, riêng biệt. Do vậy.  quyền hạn và sức mạnh của đại hãn Hốt Tất Liệt kém sút nhiều so với các đại hãn Mông Cổ trước đó. 

Cuộc nội chiến giữa Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Kha kéo dài. Trong tình đó Hốt Tất Liệt không mở rộng chiến tranh xâm lược trên đất Tống và các nước khác nữa. Tuy nhiên, để tỏ rõ danh nghĩa là đại hãn của mình, Hốt Tất Liệt đã cử sứ giả đến giao tiếp với nhiều nước, trong đó có Đại Việt. Từ năm 1270, thế lực của Hốt Tất Liệt mạnh dần. Đại hãn Mông Cổ bắt đầu nhòm ngó đến các lân bang, tiếp tục thực hiện các cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tống và các nước như Nhật Bản, Cao Ly, Đại Việt và gây ảnh hưởng đến cả Ấn Độ, quần đảo Nam Dương, Chiêm Thành, Chà Và (Java) , v.v. .

Năm 1271, Hốt Tất Liệt thiên đô từ Khai Bình tới Kinh thành mới xây dựng là Đại ĐÔ (tức Trung Đô - Bắc Kinh) và xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Nguyên. Như vậy, người Mông Cổ đã tiến thêm một bước trong cuộc củng cố địa vị thống trị của mình ở Trung Quốc.

Uy lực của đế chế Mông Cổ ở trên đất Trung Quốc đã rất lớn. Hốt Tất Liệt quyết định dốc toàn lực vào cuộc chiến tranh tiêu diệt chính quyền Nam Tống. Năm 1273, thành Tương Dương của Tống bị thất thủ. Năm 1274, Hốt Tất Liệt sai các tướng dẫn quân vượt Trường Giang đánh Nam Tống.  Năm 1276, Kinh đô Lâm An (Hoàng Châu) của Tống bị hạ.  Vua Tống Cung Tôn cùng Thái hậu và đông đảo hoàng tộc, quan, tướng nhà Tống bị bắt về Đại Đô (Bắc Kinh).

Triều đình Nam Tống đầu hàng giặc, nhưng một số quan lại yêu nước đã lập một người dòng dõi nhà Tống là Tống Triệu Bính lên làm vua, đóng ở Phúc Châu (Phúc Kiến), tiếp tục kháng chiến. Lúc đó, họ chỉ còn giữ được mấy nơi ở vùng biên giới tây nam như Điếu Ngư, Trùng Khánh và vùng ven biển Quảng Đông.

Trong quá trình quân Mông Cổ xâm lược Trung Quốc, mặc dù triều đình Nam Tống hết sức nhu nhược và hèn yếu không dám kháng cự, nhưng nhân dân Trung Quốc vẫn không ngừng đứng dậy chiến đấu chống lại kẻ thù. Nhà yêu nước nổi tiếng Văn Thiên Tường, lúc đó là Hữu thừa tướng của Nam Tống, đã lãnh đạo nghĩa quân anh dũng bền bỉ chiến đấu ở vùng Giang Tây, Phúc Kiến và Quảng Đông, nhưng vì thế giặc quá mạnh, ông bị quân Mông - Nguyên tập kích và bắt sống. Ông bị cầm tù và từ chối mọi sự dụ hàng của địch, nên bị chúng giết.

Sau khi Văn Thiên Tường bị bắt, Nhai Sơn - căn cứ cuối cùng của Nam Tống bị tiến công.  Quân Tống bị thất bại. Tả thừa tướng Lục Tú Phu ôm vua Triệu Bính nhảy xuống biển tự tử. Dương Thái hậu nhà Tống cùng nhiều người trong hoàng tộc cũng nhảy xuống biển chết theo. Nhà Tống hoàn toàn bị tiêu diệt.

Như vậy, sau khi tiêu diệt Hạ, Liêu, Kim, Đại Lý và Nam Tống, người Mông Cổ đã thiết lập được nền thống trị của họ trên tất cả đất nước Trung Quốc thống nhất. Trung Quốc từ đó chịu sự cai trị của triều đại mới: triều Nguyên. 

Nhà Nguyên, một mặt áp dụng chế độ bóc lột theo kiểu phong kiến Trung Hoa, nhưng mặt khác lại thi hành một chính sách áp bức dân tộc rất lộ liễu, trắng trợn. Để giành đặc quyền cho người Mông Cổ, để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc ở Trung Quốc, bọn thống trị Nguyên chia dân cư thành bốn hạng: hạng nhất là người Mông Cổ; hạng nhì là người Sắc Mục, gồm người Tây Hạ, Ngô Duy Nhĩ và các bộ tộc Trung Á, Ba Tư...; hạng ba là “người Hán”, gồm người Khiết Đan, Nữ Chân, Hán, Cao Ly. . . và hạng thứ tư là người Nam, tức người của Nam Tống.

Các quan chức cao cấp cùng với nhưng chức vụ cao trọng trước hết giành cho người Mông Cổ và sau đó là người Sắc Mục, còn quyền chỉ huy quân đội hoàn toàn thuộc về người Mông Cổ. Chính quyền ra lệnh cấm người Hán và người Nam cất dấu, sản xuất vũ khí, cấm nuôi ngựa, cấm săn bắn và luyện tập võ nghệ. Người Hán chỉ được giữ những địa vị phụ thuộc và luôn luôn bị đề phòng. Do đó, toàn thể dân tộc Hán từ quý tộc đến nông dân đều không bằng lòng với chế độ thống trị của nhà Nguyên và họ chờ cơ hội để nổi dậy.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #23 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 09:21:42 pm »

Như thế, triều Nguyên là triều đại thống trị của kẻ chinh phục ngoại tộc trên đất Trung Quốc. Vua Nguyên Hất Tất Liệt bắt chước cách thống trị của phong kiến Trung Quốc, tổ chức chính quyền, hệ thống quan lại và chế độ quân sự gần giống như ở các triều đại phong kiến Trung Quốc trước đó.

Dẫu giai cấp thống trị người Mông Cổ có cố tình thực hiện chính sách áp bức dân tộc lộ liễu đến đâu thì họ cũng không thể cưỡng lại một quy luật tất yếu của lịch sử xã hội Trung Quốc là dân tộc nào thắng họ cũng phải theo nền văn minh của họ, cũng phải chịu ảnh hưởng của sự đồng hoá phi thường của dân tộc Hán.

Và, trên thực tế, triều Nguyên đã bị Hán hoá, trở thành một triều đại lớn trong lịch sử Trung Quốc, tồn tại gần một thế kỷ (1271-1368).  Trong quá trình thống trị đó, vua Nguyên đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh viễn chinh xâm lược để mở rộng lãnh thổ, như đánh Nhật Bản (năm 1274), đánh Miến Điện (1277), đánh Chiêm Thành (1278) và hai lần xâm lược Đại Việt (1285 và 1288).

Đế chế Nguyên thành lập ở Trung Quốc là kết quả của cuộc chinh phục của người Mông Cổ về hướng đông vào vùng Đông Bắc Á. Sự hợp nhất giữa thế lực người Thát Mông Cổ với thế lực Đại Hán ở Trung Hoa đã biến triều Nguyên do người Mông Cổ lập ra thành một triều đại chính thống ở Trung Quốc.

Tình hình đó càng làm tăng thêm sức mạnh của đế chế Nguyên: kết hợp hai tính cách tiêu biểu của hai thế lực, giữa tư tưởng cuồng chiến xâm lược hết sức tàn bạo của người Mông Cổ với tư tưởng Đại Hán bình thiên hạ ở Trung Hoa.

Đó thực sự là một nguy cơ lớn đối với các dân tộc láng giềng. Chính vì thế mà tổ tiên ta thời Trần (thế kỷ XIII) đã luôn đề cao cảnh giác, ra sức xây dựng tiềm lực đất nước, tiềm lực quốc phòng, sẵn sàng đối phó với ngoại xâm.

*


*         *


CHƯƠNG II

BINH CHẾ ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN

Triều Trần, là một triều đại lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Thời Trần được xem là một giai đoạn lịch sử oanh liệt nhất thời trung đại, giai đoạn mà dân tộc ta đã vươn lên mạnh mẽ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc viết nên những trang sử chói lọi trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước.

Thắng lợi vĩ đại của ba lần kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên hồi thế kỷ XIII chứng tỏ tổ tiên ta thời bấy giờ đã xây dựng được một tiềm lực quân sự mạnh dựa trên một binh chế tiến bộ. Với binh chế đó, vương triều Trần đã có quân đội tinh nhuệ và có khả năng huy động được sức mạnh cả nước trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược. 

I- TỔ CHỨC QUÂN SỰ - CÁC NGẠCH QUÂN THỜI TRẦN


Trên nền tảng vững chắc đã được xây dựng từ đời Lý, triều Trần tiếp tục công cuộc dựng nước, trước hết là củng cố vương quyền, củng cố quốc gia thống nhất, xây dựng tiềm lực quân sự để đối phó với các thế lực xâm lược đang phát triển hùng mạnh ở phía Bắc. Nhà Trần đã nhanh chóng kiện toàn tổ chức quân sự, tức là ngạch quân của mình, trong đó có quân triều đình, quân địa phương (các lộ, trấn), quân vương hầu và dân binh, hương binh các làng xã, hương bản.

1. Quân triều đình.

Chính quyền nhà Trần thực chất là một nhà nước quân chủ tập quyền phong kiến, là một hệ thống triều chính dựa trên một tổ chức quân sự mạnh mà quân đội triều đình là lực lượng nòng cốt. Để bảo vệ vương quyền, triều Trần rất quan tâm xây dựng quân đột. Quân triều đình, tức lực lượng quân đội do nhà nước trực tiếp tổ chức và chỉ huy gồm hai bộ phận: cấm quân và sương quân. 

Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #24 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 09:24:43 pm »

a. Cấm quân.

Cấm quân là lực lượng nòng cốt của quân triều đình, trực tiếp bảo vệ Kinh đô trong đó có hoàng đế (vua) và hoàng tộc.  Cấm quân Đại Việt thời Trần có cơ sở từ thời Đinh, Tiền Lê và Lý.

Ngày 12 tháng Chạp năm Ất Dậu (tức 10-1-1226), với sự kiện Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, triều Trần thay thế triều Lý. Nhà Trần kế thừa các tổ chức hành chính và chuyên môn, các ngạch quan văn và võ trong tổ chức chính quyền nhà Lý. Nhiều đại thần của triều đại mới vốn đã giữ những trọng chức, trong đó có những chức vụ cao thuộc ngạch võ quan dưới vương triều Lý. Chính vì thế, triều đình nhà Trần đã kế thừa toàn bộ cơ cấu tổ chức quân sự của vương triều cũ, kể cả tổ chức cấm quân. 

Đầu thế kỷ XI, cùng với việc chuyển Kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, Lý Thái Tổ cho mở rộng lực lượng cấm vệ quân, làm cơ sở cho các đời vua Lý kế tiếp kiện toàn tổ chức cấm quân. Lực lượng cấm quân thời Lý ngày càng phát triển, trở thành công cụ bạo lực chủ yếu và đắc lực trong việc bảo vệ vương triều.

Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII, triều đình nhà Lý suy yếu, phải nương tựa vào các thế lực phong kiến khác mà lúc đó mạnh nhất là thế lực họ Trần. Họ Trần dần dần khống chế được chính quyền trung ương, thâu tóm nhiều quyền lực, trong đó quan trọng là quân đột.

Bấy giờ bố Trần Cảnh (Trần Thái Tông) là Trần Thừa giữ chức Thái uý, Trần Thủ Độ đã từng là Điện tiền chỉ huy sứ, đó là những chức vụ quan trọng nắm quyền chỉ huy cấm quân cuối triều Lý. Vì thế, khi giành được vương quyền, lực lượng cấm quân đó trở thành một bộ phận quân đội trung thành với vương triều mới.

Cũng như các triều đại trước, cấm quân thời Trần được tổ chức theo nguyên tắc “Thân quân”, tức quân của vua. Vua với tư cách là một cá nhân đại diện cho cả bộ máy nhà nước,vua đồng nghĩa với nước và quân đội lúc đó cũng là quân của vua và vua đã trở thành thủ lĩnh quân sự tối cao.  Chính vì thế, cấm quân luôn luôn là lực lượng quân đội được coi trọng và được ưu tiên phát triển.

Khác với triều Lý, dưới triều Trần, ngoài Kinh đô Thăng Long cần được bảo vệ cẩn mật, còn có phủ Thiên Trường, nơi quê hương của họ Trần, chỗ ở của các thượng hoàng được coi như kinh đô thứ hai cũng cần được bảo vệ. Do vậy, cấm quân nhà Trần có trọng trách lớn hơn, được mở rộng hơn so với trước để đảm nhận thêm cả nhiệm vụ bảo vệ thượng hoàng và phủ Thiên Trường (Nam Định).

Năm 1246, Trần Thái Tông định hiệu quân, chọn trai tráng sung làm quân Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần. Người ở các lộ Thiên Trường và Long Hưng cho làm quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần. Người các lộ Hồng và Khoái sung làm quân Tả Thánh Dực và Hữu Thánh Dực. Người các lộ Trường Yên, Kiến Xương sung làm quân Thánh Dực và Thần Sách. Đinh tráng tuyển từ các lộ khác sung vào các vệ cấm quân hoặc làm trạo nhi (lính chèo thuyền, khiêng kiệu) và các phong đội (quân địa phương) 1.  Tứ Thiên, Tứ Thánh và Tứ Thần là quân túc vệ, gồm 12 vệ quân. Nhà Trần có quê hương từ lộ Thiên Trường, cho nên lấy người bản lộ và những lộ phụ cận làm lính túc vệ để bảo vệ vua và thượng hoàng.
 

__________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.19
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #25 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 09:28:03 pm »

Năm Long Hưng thứ 16 (1298), Trần Anh Tông đặt các quân hiệu Chân Thượng đô, Thuỷ Dạ Soa đô và Chân Kim đô; thích chữ “ Chân Kim” ở trán. Năm 1311, nhà vua đặt thêm quân hiệu mới gọi là Toàn Kim Cương và theo lệ trước đây, đều thích tên quân hiệu lên trán, đồng thời chia quân Thiên Thuộc ra làm hai đô: Thượng Phù đô và Hạ Phù đô.  Hai năm sau, trong một đợt duyệt định các quân hiệu, vua đổi quân Vũ Tiệp làm Thiết Ngạch và cử tướng Trần Thanh Ly làm Vũ vệ đại tướng quân để quản lãnh.

Đời Trần Minh Tông, năm 1315, đặt Phù Liễu đô gọi là Long vệ tướng và năm 1320 lại đổi làm Khấu Mã quân. Năm 1374, ngoài quân Tứ Thiên, Tứ Thánh và Tứ Thần, vua Trần Duệ Tông còn dặt thêm quân Uy Tiệp, Bảo Tiệp, Long Dực, Trần Dực, Diện Hậu và Long Tiệp; trên trán mỗi người lính túc vệ đều xăm hoa và thích tên quân hiệu của mình.

Lính thị vệ bấy giờ được chia thành các đơn vị mang tên: Tạc Ngạch và Hoa Ngạch, gồm Tả ban và Hữu ban. Cuối thời Trần, năm 1378, cấm quân có các quân hiệu như: Thần Dực, Thiên Uy, Thánh Dực, Hoa Ngạch, Thị Vệ, Thiên Trường, Thần Vũ... đặt các chức giám quân cai quản. Sau đó, triều đình tổ chức thêm quân Thiết Thương, Thiết Giáp, Thiết Lâm, Thiết Hổ, Ô Đồ...; chọn các võ tướng giỏi võ nghệ giữ chức quản quân.

Những sử liệu trên tuy rất tản mạn và ít ỏi, song nó cũng cho chúng ta biết tên một số quân hiệu thuộc ngạch cấm quân thời Trần, trước hết bắt đầu từ đời vua Trần Thái Tông, năm 1246. Từ đó, trải qua các đời vua Trần kế tiếp, cấm quân từng bước được mở rộng, hoặc thay đổi tên gọi, hoặc được tổ chức thêm với những quân hiệu mớt.

Về mặt biên chế, từ thời Trần Thánh Tông, năm 1267, điều trình ban bố lệnh tổ chức các đơn vị “quân” và “đô”. Quân đội được chia thành nhiều “quân”, dưới “quân” là “đô” hoặc “ngũ”. Mỗi quân 30 đô, mỗi đô 80 ngườt. Theo sách An Nam chí lược, quân nhà Trần “cứ 5 người một ngũ, 10 ngũ một đô” 1. Như vậy, đơn vị chiến thuật lúc bấy giờ lớn nhất có thể là “quân”, gồm 2.400 người; nhỏ nhất là “ngũ”, từ 5 đến 8 người.
 
Tuy nhiên, khi cần tổ chức những hội chiến lớn đòi hỏi phải điều động một lực lượng đông đến vài vạn hoặc hơn nữa, thì số quân đó được đặt dưới sự chỉ huy của một tướng cao cấp và nhiều phó tướng khác; hoặc có thể huy động nhiều đạo quân lớn do các tướng chỉ huy dưới sự thống lĩnh của một đại tướng.

Theo biên chế trên, đời Trần Tháí Tông chỉ riêng 12 vệ quân Tứ Thiên, Tứ Thánh và Tứ Thần đã có 28.800 ngườt.  Các đời vua sau mở rộng quân cấm vệ và do đó quân số cũng tăng lên, nhưng không có số liệu chính xác.  Sử gia Phan Huy Chú nhận xét: “Số quân buổi đầu nhà Trần mỗi quân là 2.400 ngườt. Các quân cấm vệ và quân các lộ đại ước không đầy 10 vạn” và “quy chế về cấm quân đời Trần Thái Tông đã định, về sau lại đặt thêm mãi số quân không xét rõ được. Đại ước là đặt thêm danh hiệu, chứ thực số vị tất đã nhiều hơn trước” 2. Nói “số quân không nhiều hơn trước” có thể đúng trong thời bình chứ không đúng vào những giai đoạn, những đời vua Trần phải chuẩn bị và tiến hành chiến tranh giữ nước.

Cũng như thời Lý, trong số cấm quân, bộ phận quân lính đóng trong cấm thành rất được coi trọng. Số đinh tráng hạng nhất được tuyển từ các lộ Thiên Trường, Long Hưng và các lộ bản bộ của nhà Trần đều được sung vào quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần. Đó là lính túc vệ túc trực và canh gác bên trong cung cấm, nơi vua ở và làm việc. Một số khác, trong đó có đội quân Thiên Thuộc trông nom hành cung Thiên Trường nơi thượng hoàng ở.

Bấy giờ, nhà Trần đem Tức Mặc là quê hương của mình đổi làm Thiên Thuộc, nên quân lính tuyển từ hương ấy cũng gọi là quân Thiên Thuộc. Phạm Ngũ Lão là một vị tướng nổi tiếng trung thành, lại có công lớn được vua Trần Anh Tông tin yêu và  giao cho quản quân Thiên Thuộc. Năm 1314, nhà vua còn cho tuyển các con của những lính và võ quan thuộc cấm quân, đồng thời lấy những người trong quân Thiết Ngạch có thích chữ “Kim Cương” để sung vào đô Phù Liễn, gọi là Long Vệ tướng, sau đổi làm Khấu Mã quân.

Bấy giờ ở sân rồng có quân Long Dực do tướng Trịnh Trọng Tử chỉ huy.  Nhu cầu bảo vệ chính quyền trung ương và bảo vệ đất nước đã thúc đẩy triều đình không ngừng hoàn thiện bộ máy tổ chức, biên chế quân đột. Mốc đầu tiên đánh dấu bước phát triển trên lĩnh vực tổ chức, biên chế quân đội nhà Trần là năm 1246, khi vua Trần Thái Tông ban bố lệnh tuyển quân và xét định biên chế.


______________________________
1. Lê Trắc: An Nam chí lược, Sđd, tr.75.
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.IV, tr.57.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #26 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 09:30:58 pm »

Lúc đó nhà nước quy định về phương thức tuyển lính và biên chế tổ chức các ngạch quân, chú trọng xây dựng cấm quân. Đời vua Trần Nhân Tông (1278-1293) là giai đoạn nhà Trần có quân đội được tổ chức quy củ và số lượng quân đông nhất. Đến đời vua Trần Anh Tông (1293-1314), quân đội triều đình đã trải qua nhiều lần chỉnh đốn tổ chức, sửa định quân ngũ và cấm quân lúc đó đã được hoàn thiện.

Như vậy, cấm quân thời Trần đã từng bước phát triển cả về quy mô tổ chức và trình độ chính quy. Cũng như thời Lý, cấm quân thời Trần gồm hai bộ phận đảm nhận những chức năng khác nhau.

Một bộ phận là quân túc vệ gồm những người lính tin cẩn tuyển từ các lộ Thiên Trường và Long Hưng đóng ở vòng trong cấm thành, chuyên việc bảo vệ hoàng đế và hoàng tộc, hoặc đóng và bảo vệ hành cung Thiên Trường, nơi có thượng hoàng ở.

Một bộ phận nữa đóng quanh thành hay các vùng phụ cận xung yếu, bảo vệ vòng ngoài; bao gồm các trai tráng tuyển từ các lộ Hồng, Khoái, Trường Yên và Kiến Xương, tức những lộ đông dân, trù phú, ở quanh bản lộ (quê hương) họ Trần. Đó là các quân Thánh Dực và Thần Sách 1.

Trai tráng hạng nhất tuyển từ các lộ khác cũng được sung làm cấm quân “vòng ngoài”. Khi nghiên cứu về binh chế thời Lý - Trần, sử gia Phan Huy Chú có nhận xét: “Đến đời nhà Lý và nhà Trần, đặt quân hiệu có phần kỹ càng hơn. . . trong thành vua có quân túc vệ đội ngũ đông nghiêm” 2.

Điều đáng chú ý là cấm quân dưới thời Lý - Trần là lực lượng quân đội thường trực chuyên nghiệp. Họ được coi trọng và tổ chức theo nguyên tắc “thân quân”, quân của vua, của dòng họ thống trì, được triều đình ưu đãi, được tuyển lựa kỹ, được tổ chức, trang bị và huấn luyện chu đáo. Cấm quân trở thành lực lượng nòng cốt của quân triều đình, là công cụ chủ yếu để bảo vệ bộ máy nhà nước thời Lý - Trần.

Là lính chuyên nghiệp được cấp lương ăn, áo mặc, thậm chí còn được hưởng bổng lộc vào dịp lễ, Tết, cấm quân giai đoạn Lý - Trần không nằm trong diện thay phiên tại ngũ hay trở về sản xuất theo quy định của chính sách “Ngụ binh ư nông”. Để phân biệt với các loại quân khác, lính túc vệ hay cấm quân nói chung đều khắc chữ lên trán hoặc xăm lên mình, lên đùi các hình rồng phượng.

Cấm quân thời Tiền Lê và thời Lý được thích ba chữ “Thiên Tử quân” lên trán. Người lính cấm quân thời Lý được xăm hoa vào ngực, vào chân. Cấm quân thời Trần được thích hình rồng ở bụng, ở lưng và ở hai đùi, gọi là ve rồng, được ghi tên quân hiệu hay được xăm hình hoa lên trán. Bấy giờ, các vua Trần cũng vẽ hình rồng vào đùt. Có  tục lệ này, bởi theo quan niệm là nhà Trần khởi nghiệp từ vùng biển, quen với nghề sông nước và trọng võ nghệ. 

Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã nói: “Nhà ta vốn là người vùng hạ lưu, đời đời ưa chuộng hùng dũng, thường thích rồng vào đùi; nếp nhà theo nghề võ nên thích hình rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc” 3. Tuy nhiên, đây cũng là một phong tục của người Việt cổ xưa truyền lạt. Từ thời Hùng Vương, người Việt sống ở ven rừng khi xuống nước đánh cá thường bị giao long làm hại, vì thế vua sai lấy mực xăm lên mình hình Long quân; từ đó dân không bị hoạ giao long nữa. Tục xăm mình của người Việt cổ bắt đầu từ đấy.

Người lính cấm quân thời Trần lấy việc xăm mình hay thích tên quân hiệu lên trán làm điều hãnh diện. Bởi thế, bấy giờ có hiện tượng trai tráng trong Kinh thành học theo mốt cấm quân, thường tự xăm lên mình, buộc nhà nước phải có lệnh cấm. Vua Trần ra lệnh cấm những người khác thích chữ và xăm lên mình để giả dạng cấm quân.


_______________________
1. Quân Thần Sách còn gọi là quân Khoái Hộ, xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.138.
2. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.IV, tr.20
3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.78.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #27 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 09:34:16 pm »

Tục xăm hình rồng lên lưng, bên vế của nhà vua và quân sĩ tồn tại đến đời vua Trần Anh Tông thì bỏ hẳn. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Về sau vua nối ngôi không phải thích hình rồng lên đùi nữa, là bắt đầu từ Anh Tông” 1. Năm 1322, nhà vua ra lệnh tuyển quân túc vệ cốt ở khoẻ mạnh, béo trắng, tuấn tú là hơn; cho nên từ đây quân sĩ không xăm hình rồng như trước nữa. Trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285), quân nhà Trần đã thích vào cánh tay hai chữ “Sát Thát” để tỏ rõ quyết tâm tiêu diệt giặc.

Cấm quân thời Trần luôn luôn thể hiện vai trò nòng cốt của mình trong nhiệm vụ bảo vệ Kinh thành và đánh giặc  giữ nước. Suốt thời kỳ tồn tại vương quyền, về cơ bản cấm quân đã thể hiện tốt chức năng bảo vệ Kinh đô Thăng Long và phủ Thiên Trường.

Thế kỷ XIII, nhân dân Đại Việt đã tiến hành liên tục ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên (1258, 1285 và 1288). Cả ba lần nhà vua và triều đình nhà Trần đều phải rời khỏi Kinh đô Thăng Long về Trường Yên, Thiên Trường hoặc Châu Ái (Thanh Hoá) .

Tuy nhiên, trong các giai đoạn binh lửa hiểm nghèo đó, cấm quân đã làm tốt nhiệm vụ của mình là bảo vệ vua và triều dình.  Dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của các vua Trần, của Trần Quốc Tuấn và các tướng, cấm quân còn thể hiện vai trò nòng cốt của mình trong các đạo quân chủ lực đánh giặc giữ nước.

Sử xưa không ghi cụ thể công lao riêng của một loại quân nào trong kháng chiến, song chắc chắn với cuộc kháng chiến toàn dân lúc đó, cấm quân đã giữ vai trò chủ lực trong các trận đánh quyết định như Bình Lệ Nguyên, Đông Bộ Đầu (1258), Tây Kết - Hàm Tử, Chương Dương - Thăng Long, Vạn Kiếp (1285) và Bạch Đằng (1288).

Vào cuối thời Trần, cấm quân là lực lượng chủ yếu đi đánh dẹp các thế lực chống đối và các cuộc khởi nghĩa địa phương. Năm 1360, vua Trần Dụ Tông ra lệnh cho cấm quân đi tuần, bắt “giặc cướp” ở các lộ. “Giặc” lúc đó là những gia nô, những nông dân hay các nhà sư nổi dậy chống lại chính quyền.

Triều Trần suy yếu thì cấm quân cũng suy yếu và không còn đủ sức để làm tròn bổn phận bảo vệ Kinh thành trước hoạ xâm lăng của người Chiêm Thành. Điều đó thể hiện ở các năm 1371, 1377 và 1378, lúc quân đội của vua Chiêm là Chế Bồng Nga tiến công cướp phá Thăng Long.  Thuỷ quân Chiêm từ cửa biển Đại An (huyện Nghĩa Hưng) tiến thẳng đến kinh sư cướp bóc, đốt phá, vua Trần phải đi thuyền trốn sang Đông Ngàn (1371) lánh giặc.

Sử chép: “Bấy giờ thái bình đã lâu ngày, thành quách biên cương không có phòng bị, giặc đến không có quân nào ngăn được. Chúng đốt trụi cung điện, nhà cửa. Thư tịch, sổ sách do vậy sạch không” 2. Sử thần Ngô Sĩ Liên than rằng: “Chỉ vì pháp độ xếp bỏ, việc canh giữ bờ cõi mất đi, cho nên như thế. Đến nỗi giặc vào biên thành mà không giữ được, giặc đến kinh đô mà cấm binh không chống lại được, còn gọi là nước thế nào được.” 3.
 
Như vậy, cấm quân là bộ phận nòng cốt của quân triều đình, là quân thường trực tại ngũ, là lực lượng quân sự tinh nhuệ nhất trong quân đội triều Trần. Thời bình, cấm quân bảo vệ kinh đô, bảo vệ vua và triều đình, thời chiến là lực lượng chủ lực xuất chinh đánh giặc.

Đó là công cụ bạo lực chủ yếu, là trụ cột của lực lượng an ninh, quốc phòng của chính quyền quân chủ và cũng là chủ lực quân của nước Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên hồi thế kỷ XIII. 

b. Sương quân.

Trong cơ cấu tổ chức quân thường trực của Nhà nước Đại Việt thời Trần có một bộ phận gọi là sương quân hay tứ sương quân.

Sương quân là lực lượng quân sự canh giữ và bảo vệ vòng ngoài, là binh lính phục dịch, phục vụ chiến đấu trong quân đội nhà Trần được tổ chức theo quy chế của phép “Ngụ binh ư nông” .


___________________________
1.  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.78.
1, 3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t. 1, tr. 162.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Năm, 2009, 09:36:20 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #28 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 09:38:37 pm »

Như đã nói ở phần trên, cấm quân thời Lý - Trần là bộ phận quân triều đình thường xuyên túc trực tại ngũ, được cấp lương ăn và các quân nhu khác. Đó là lực lượng quân sự quan trọng nhất của chính quyền phong kiến. Tuy vậy, trong giai đoạn lịch sử này, ngoài cấm quân là lính chuyên nghiệp phải thường xuyên túc trực ở Kinh đô, triều đình còn có một lực lượng đáng kể quân thường trực thực hiện chế độ binh dịch và luân phiên tại ngũ hay về sản xuất.

Chính sách “Ngụ binh ư nông” là một chính sách quân sự tiến bộ của Nhà nước Đại Việt dưới các thời Lý, Trần và Lê Sơ.  Đó là một quốc sách nhằm “gửi binh trong nông”, gắn liền giữa việc binh và việc nông, giữa kinh tế và quân sự, để bảo đảm cân đối nhân lực canh phòng và sản xuất.

Thời Lý - Trần, chính sách “Ngụ binh ư nông” quy định rằng, trong thành phần quân đội của nhà nước, trừ cấm quân phải thường xuyên túc trực tại ngũ, còn các quân khác (gồm cả quân triều đình và địa phương) được chia thành nhiều phiên, thời bình theo định kỳ một phiên ở lại canh phòng và luyện tập, các phiên khác chỉ có tên trong sổ được về nhà sản xuất tự túc lương ăn, thời hạn mau chóng tuỳ theo từng nơi, từng lúc. 

Tổ chức sương quân dưới các thời Lý và Trần gần giống nhau. Đó là những đơn vị quân đội tương đối “cơ động”, bao gồm những binh lính không chuyên, là số lính canh cổng, bảo vệ kho tàng, những người phục dịch việc nuôi quân, cắt cỏ nuôi voi, ngựa hoặc làm công nghệ, phải tự cấp lương ăn.

Sử gia Ngô Thì Sỹ viết rằng: “Binh chế buổi đầu nhà Lý... lấy thân quân làm trọng, cũng gọi là cấm quân. Cấm vệ có 10 quân, mỗi quân có 200 người đều có tả hữu, phải túc trực thường xuyên. Lại có 9 quân như sương quân để sai khiến mọi việc, mỗi tháng đến phiên một lần, gọi là đến canh, hết canh lại cho về cày cấy hoặc làm công nghệ, tự cấp chứ không được cấp lương. Khi có chiến tranh thì gọi ra cho lệ thuộc vào các tướng. Nếu quân này không đủ thì chiếu sổ gọi dân ra tòng ngũ, xong việc lại cho về làm ruộng” 1.

Binh chế triều Trần cũng coi cấm quân là lính chuyên nghiệp, thường trực tại ngũ bảo vệ Kinh thành, bảo vệ triều đình và được cấp lương, còn các quân khác như sương quân và quân các lộ đều phải thực hiện “ngụ binh ư nông”.

Như thế, nếu cấm quân bao gồm những người lính lấy việc binh làm nghiệp suốt đời thì sương quân chỉ là thứ nghĩa vụ binh dịch của những trai tráng đối với nhà nước. Về nguyên tắc, nó như là một nghĩa vụ bắt buộc của mọi nam công dân từ 18 đến 60 tuổi đã được ghi tên trong “Sổ quân”.  Họ có thể được gọi ra tòng quân, làm lính của triều đình hoặc của các địa phương tuỳ theo yêu cầu của nhà nước hoặc theo tình trạng sức khoẻ của các nhân đinh.

Sương quân không có số nhất định. Những đinh nam đến tuổi phải đăng ký binh dịch, theo kỳ nhập ngũ gọi là đi phen (phiên), với phương thức “tại gia vi nông tại quân vi binh” (ở nhà làm ruộng ở quân đội làm lính) hoặc “tĩnh vi nông động vi binh” (khi hoà bình là nông dân, khi có chiến tranh là lính) . Có thể coi sương quân là lính bảo vệ vòng ngoài Kinh thành. 

Về loại quân này, tác giả của các sử sách cũ gọi là “sương quân”, “tương quân” hoặc “thương quân”, với những ý nghĩa khác nhau như số binh lính canh gác ban đêm hoặc quân canh giữ các kho tàng (quân lương, quân nhu, khí giới). Số quân canh giữ ở các cửa thành Thăng Long cũng gọi là sương quân. Điều này được biết qua sách Việt sử thông giám cương mục.

Trên cơ sở nền cũ do nhà Lý xây dựng, thành Thăng Long được nhà Trần xây đắp kiên cố, “phía đông và tây có  hành lang Giải Vũ, bên tả có cung Thánh Từ, bên hữu là cung Quan Triều, phía ngoài gồm bốn cửa đều có bốn đội lính sương quân thay nhau canh giữ” 2.

Có thời kỳ người ta gọi sương quân là “lao thành binh” vì họ là những người lính làm lao dịch như đắp thành, xây dựng các cổng thành thì thích bốn chữ vào trán, làm việc phát cỏ rậm và cho lệ thuộc vào bốn đội sương quân” 3. Họ cũng là những người dọn cỏ ở Phượng Thành.

_________________________
1. Theo Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T. IV, tr.5.
2, 3. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, bản dịch, Nxb.  Văn - Sử - Địa, Hà Nội, 1958, T.V, tr.9-10.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #29 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 09:41:27 pm »

Sử sách ghi chép về sương quân quá ít ỏt. Chúng ta chỉ biết được rằng, thời Trần cũng như thời Lý, trừ cấm quân là lính chuyên nghiệp, còn sương quân và ngoại binh (quân địa phương) đều phải thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, thay nhau tại ngũ và về sản xuất. Khi tuyển chọn, cấm quân là lính hạng nhất, sương quân thuộc hạng hai.

Lê Trắc ghi chép về việc điều động sương quân thời Trần như sau: “Việc lấy quân không có số nhất định, chỉ chọn đinh nam nào khoẻ mạnh thì lấy. Cứ 5 người một ngũ, 10 ngũ làm một đô, lại chọn hai người nhanh giỏi luyện tập võ nghệ. Khi có việc điều động thì gọi ra, không có việc thì trở về làm ruộng” 1. Tuy nhiên, số lượng cụ thể của sương quân thời Trần như thế nào vẫn chưa khảo sát được.

Tóm lại, sương quân thời Trần là một bộ phận quân thường trực khá đông đảo trực thuộc quản lý của triều đình, bao gồm những trai tráng tham gia nghĩa vụ binh dịch, nhập ngũ theo yêu cầu trong từng thời kỳ. Sương quân thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, chia phiên thay nhau tại ngũ canh phòng luyện tập, phục dịch hoặc trở về nhà sản xuất tự túc lương ăn.

Lực lượng bán chuyên nghiệp này đã đóng một vai trò quan trọng trong chức năng canh phòng, bảo vệ và lao động lúc hoà bình cũng như chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu lúc đất nước có chiến tranh.

2. Quân các lộ (quân địa phương)

Trong các lộ, trấn hoặc châu của nước Đại Việt thời Trần đều có tổ chức quân sự do quan lại địa phương quản lý và chỉ huy. Lực lượng quân sự này gọi là quân các lộ, trấn hay ngoại binh (quân địa phương).

Triều Trần thay thế triều Lý, củng cố chính quyền trên cơ sở nền tảng đã được xây dựng từ triều đại trước. Bộ máy hành chính được thiết lập, ngày một hoàn thiện từ trung ương đến cơ sở.

Đầu thế kỷ XI, Lý Công Uẩn chia nước thành 24 lộ và hai trạt. Tầng lớp quý tộc, bao gồm những người thân thuộc của nhà vua và một số công thần, nắm giữ các trọng trách ở trung ương và các địa phương, cai quản cả việc quân và việc dân, cả việc hành chính lẫn quân sự.

Sang thời Trần, ở giai đoạn đầu, sự phân chia khu vực hành chính vẫn giống thời Lý, nghĩa là trong nước vẫn có 24 lộ. Đến đời Trần Thái Tông, năm 1242, Đại Việt thực hiện cuộc cải cách hành chính. Cả nước chia thành 12 lộ, hai trại; đặt các chức an phủ, trấn phủ, có hai viên chánh và phó để cai quản.

Theo sách Việt sử thông giám cương mục, 12 lộ thời Trần bao gồm: Thiên Trường, Long Hưng, Quốc Oai, Bắc Giang, Hải Tây, Hải Đông, Trường Yên, Kiến Xương, Hồng, Khoái, Thanh Hoá, và Diễn Châu; ngoài các lộ còn có một số phủ, châu như: Tân Bình, Nghệ An, Thái Nguyên, Lạng Giang, Thiên Hưng, Thiên Quang, v.v.. 2.

Nhà Trần cho phép quan các lộ tuyển đinh tráng trong địa phương để tổ chức thành “lộ quân”. Số quân trong các lộ không giống nhau, nhiều ít tuỳ lộ lớn, nhỏ và tuỳ nhu cầu phòng giữ trong địa hạt. Đây là lực lượng vũ trang do các lộ cai quản, canh phòng và tác chiến chủ yếu trên địa phương, nhưng khi có chiến tranh lớn, có thể được nhà nước điều động đặt dưới sự chỉ huy chung.

Sử sách xưa của nước ta thường gọi quân các lộ là “ngoại binh”, là “các đội tuyển phong” hay “các đô phong đoàn”.  Năm 1261, nhà Trần tổ chức “phong quân” ở địa phương.  Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư: “Tháng Hai (1261), chọn đinh các lộ, người nào khoẻ mạnh sung làm binh (quân triều đình-tg), còn thì sung vào làm sắc dịch ở các cục, viện và đội tuyển phong ở các lộ, phủ, huyện” 3.


________________________
1. Lê Trắc: An Nam chí lược, Sđd, tr 75.
2. Việt sử thông giám cương mục, chính biên, bản dịch, Sđd, T. V, tr 20.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.32. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM