Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:24:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 109343 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #30 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 09:44:32 pm »

Tháng 8- 1344, vua Trần Dụ Tông cho đặt 20 đô phong đoàn ở các lộ để trừ “giặc cướp”.  Sử gia Phan Huy Chú cũng chép lại sự kiện trên từ sách Đại Việt sử ký toàn thơ rằng, “mỗi lộ đặt 20 đô phong đoàn để bắt trộm cướp”. Tháng 2-1363, nhà vua lại xuống chiếu chọn dân đinh sung vào quân các lộ.

“Giặc cướp” ở đây là các lực lượng chống ởồl triều đình, trong đó có nghĩa quân của nông dân, nhà sư hay nô tỳ nổi dậy chống áp bức. Vào giai đoạn cuối Trần, chính quyền phong kiến suy thoái, lực lượng quân triều đình cũng suy yếu không đủ sức “dẹp loạn” và chống ngoại xâm; vì thế nhà vua ra lệnh tăng cường lực lượng quân sự ở các lộ để trấn áp các cuộc nổi dậy.

Theo cơ cấu tổ chức hành chính 12 lộ nói trên thì thời Trần mà cụ thể là đời vua Trần Dụ Tông có lực lượng quân sự địa phương khá đông đảo. Tác giả sách Lịch triều hiến chương loại chí - Binh chế chí nhận xét: “Binh các lộ buổi đầu đời Trần chỉ đặt ở mấy đạo đông, nam, bắc; từ Hoan Ái (Nghệ An và Thanh Hoá) trở vào còn xem là đất xa, có việc mới gọi, ngày thường chưa đặt thành vệ. Từ đời Long Hưng Đại Khánh (1293- 1323) về sau, bờ cõi phía nam khai thác rộng thêm, bấy giờ binh ở Thanh Nghệ và Thuận Hoá mới liệt vào quân hiệu. Cách đặt bày phải dần dần như thế là tuỳ theo nơi gần đặt trước, nơi xa đặt sau” 1.

Như vậy, sự kiện toàn và phát triển của quân các lộ cũng là một quá trình tuỳ theo yêu cầu của nhà nước và vị trí địa lý quân sự từng địa phương.  Cũng như thời Lý trước kia, thời Trần thực hiện chính sách “nhu viễn”, dùng nhiều hình thức để ràng buộc các quan lang, thủ lĩnh các vùng xa, coi họ là quan lại trong hệ thống chính quyền do triều đình quản lý.

Trường hợp năm 1228, Trần Thủ Độ sai sứ đưa sắc thư gia phong Nguyễn Nộn, một thủ lĩnh địa phương làm Hoài đạo hiếu vũ vương và đem công chúa Ngoạn Thiềm gả cho để ràng buộc Nguyễn Nộn là một thí dụ. Chính sách “ki mi” (ràng buộc lỏng lẻo) đối với các dân tộc thiểu số của Nhà nước Đại Việt có từ thời Lý, còn duy trì đến đời Trần, nhưng với một hình thức khác.

Nhà nước thời Trần ít dùng đến quan hệ hôn nhân nói trên so với triều Lý, nhưng tiến hơn một bước đã cắt đặt các đơn vị hành chính cấp trấn, lộ bao khắp vùng lãnh thổ thượng du, biên  viễn. Đó là lộ Lạng Giang, lộ Tam Giang, trấn Thiên Quan, trấn Thiên Hưng, trấn Thát Nguyên, trấn Lạng Sơn, trấn Tuyên Quang, do các an phủ, trấn phủ đứng đầu như ở các lộ khác. Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình và dân cư, đối với các vùng này, nhà nước cũng chỉ nắm giữ đến cấp trấn lộ, còn người đứng đầu các châu, phủ vẫn tuyển chọn từ những thổ tù, tù trưởng, những quan lang người thiểu số.

Với cách quản lý mềm dẻo nói trên, vương triều Trần chẳng những đã xây dựng được một hệ thống chính quyền đến vùng xa, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mà còn quản lý và sử dụng triệt để các lực lượng quân sự địa phương, tạo thêm sức mạnh phòng giữ đất nước.

Nhìn chung trong cả ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên thế kỷ XIII, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285), ở khắp các vùng đất nước đều có giặc, quân dân các địa phương đều tích cực tham gia chiến đấu trong đó có phần đóng góp đáng kể của quân dân các vùng rừng núi, các dân tộc thiểu số. 

Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 2-1266, thuỷ quân lộ Đông Hải đi tuần ở biên giới, đến núi Ô Lô do biết quân Nguyên đang chuẩn bị tiến công xâm lược, đã báo về kinh thành để phòng bị 2. Điều này chứng tỏ quân của lộ nào thì đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ vùng lãnh thổ trên đất liền hay vùng biển của lộ mình, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với triều đình. Những lúc nhà nước cần thiết điều động thì quân địa phương có thể đặt dưới sự chỉ huy của các vương hầu, quý tộc và chịu sự điều hành của Quốc công tiết chế.
 
Chẳng hạn, tháng 2-1284, khi hơn nửa triệu quân Nguyên chuẩn bị tiến công xâm lược Đại Việt, Trần Quốc Tuấn được lệnh điều động quân các lộ và quân các vương hầu đến để bổ sung lực lượng. Sử chép: “Hưng Đạo Vương vâng mệnh điều quân các lộ Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm, chọn những người dũng cảm làm tiên phong” 3.


___________________________
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.IV, tr.5.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.34.
3. Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #31 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 09:47:57 pm »

Theo lệnh đó, quân các lộ đã nhanh chóng tập trung. Chỉ riêng Hưng Vũ vương Nghiền, Minh Hiến vương Uất, Hưng Nhượng vương Tảng và Hưng Trí vương Hiện đã chỉ huy 20 vạn quân các xứ Bàng Hà và Trà Hương (thuộc Hải Dương, Hải Phòng), Na Sầm và Long Nhãn (thuộc Bắc Ninh, Bắc Giang), Yên Sinh thuộc Quảng Ninh) đến cùng hội quân với Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp. 

Vào những thời điểm có chiến tranh lớn, vua Trần thường xuyên xuống chiếu cho phép các vương hầu, quý tộc thống lĩnh quân các lộ giúp vua đánh giặc. Sự kiện nói trên là một ví dụ.

Sách Lịch triều hiên chương loại chí nói rằng:

“Khi ấy quân lính do các thân vương đốc suất mới chỉ ở mấy lộ Đông Nam thôi, còn từ Thanh Hoá trở vào vẫn chưa gọi đến. Cho nên, vua (Trần Nhân Tông) có câu thơ: “Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thập vạn binh” (chuyện cũ Cối Kê ngươi còn nhớ, Hoan Diễn hãy còn 10 vạn quân). Đủ biết, binh thế bấy giờ rất thịnh” 1.

Cuộc Chiến tranh nhân dân chống xâm lược Mông - Nguyên hồi thế kỷ XIII khẳng định vai trò to lớn của quân các lộ, phủ trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước. Quân các phủ, châu phía nam và phía tây còn đảm nhận nhiệm vụ chống lại sự xâm phạm, sách nhiễu, cướp bóc của người Chiêm Thành, Ai Lao và Chân Lạp. Có khi họ độc lập chiến đấu, có khi họ được điều động hợp sức với quân triều đình hay với quân của các vương hầu quý tộc.

Năm 1335, thượng hoàng Trần Minh Tông đã cử Đoàn Nhữ Hài làm đốc tướng chỉ huy đạo quân Thần Vũ và quân Nghệ An đánh quân của Ai Lao sang cướp phá khu vực miền tây Nghệ An. Thời cuối Trần, triều chính suy vi, cấm quân bất lực trước sự tiến công của thù trong giặc ngoài, vì thế nhà nước phải huy động lực lượng “phong quân” các lộ đi đánh dẹp.  Tháng 8- 1358, vua Dụ Tông xuống chiếu cho An phủ sứ các lộ chỉ huy các đội “phong đoàn” đàn áp các cuộc nổi dậy chống chính quyền.

Trên đây là cơ chế tổ chức và vị trí, vai trò quan trọng của quân các lộ thời Trần. Bình thường quân lộ, phủ do quan lại địa phương trực tiếp quản lý, song tổ chức và hoạt động của nó luôn phải theo khuôn phép của nhà nước, nghĩa là Nhà nước Đại Việt gián tiếp quản lý quân địa phương - thông qua các An phủ sứ, các Kinh lược sứ, Phòng ngự sứ. . . ở các lộ, phủ.

Việc tổ chức và hoạt động của quân các lộ cũng tuân thủ theo chính sách chung của triều đình, như chính sách “ngụ binh ư nông”. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại câu hát trong một trò múa rối đời Trần Thái Tông rằng: “Chóng cho đến ngày mồng một để thay phiên” 2, rất có thể điều này nói đến chế độ luân phiên trong quân đội thời ấy. Sách Binh chế chí chép: “Nhà Trần theo phép nhà Lý, binh túc vệ được cấp bổng hàng năm. . . ; còn binh các đạo thì được chia phiên về làm ruộng cho đỡ tốn lương” 3.
 
Như vậy, cũng giống triều Lý, triều Trần thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” đối với quân các lộ, tức là quân địa phương chia thành nhiều phiên, một bộ phận ở lại canh phòng luyện tập và chịu sai phái việc công trong địa hạt; số còn lại về nhà sản xuất tự túc, “khi có việc gọi ra, không có việc trở về sản xuất”. Quân các lộ thời Trần có bao nhiêu người, họ được chia thành mấy phiên và thời gian ở phiên bao lâu, điều đó không thấy phản ánh trong sử cũ.

Như vậy, quân các lộ, phủ thời Trần là tổ chức quân sự đia phương nằm trong hệ thông lực lượng vũ trang của nhà nước. Đó là quân đội dưới sự tổ chức, quản lý và chỉ huy của quan lại đia phương, là lực lượng quân sự chủ yếu chiến đấu tại chỗ, ngay tại địa phương, khi cần thiết nhà nước có thể huy động như những lực lượng cơ động của triều đình. Đây là tổ chức quân sự có số lượng đông đảo nhất trong hệ thông các thứ quân. Họ vừa tham gia sản xuất vừa canh phòng và luyện tập theo chính sách “ngụ binh ư nông” của nhà nước.  Tổ chức quân sự này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh địa phương cũng nhu trong các cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Mông-Nguyên hồi thế kỷ XIII.


_______________________
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.IV, tr.20.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.44.
3. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T. IV, tr.10.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #32 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 09:48:44 pm »

3. Quân vương hầu

Trong cơ cấu tổ chức các thứ quân của Nhà nước Đại Việt thời Trần có một bộ phận quân đội quan trọng, đó là quân vương hầu, là lực lượng quân sự của các vương hầu, quý tộc nhà Trần.

Vương hầu là tầng lớp đại quý tộc, tôn thất (chủ yếu thuộc họ vua) được phong tước vương và tước hầu. Khi mới giành được vương quyền, công việc đầu tiên của nhà vua là kiến tạo quanh mình một tầng lớp quý tộc thân cận, nghĩa là phong tước cho những người có quan hệ họ hàng thân thích gần xa, nội ngoạt. Đó là tầng lớp quý tộc quan liêu, được coi như một đẳng cấp thượng lưu, thống trị trong xã hột.

Dưới triều Trần, tầng lớp quý tộc tôn thất này phát triển mạnh mẽ. Việc phong tước cho quý tộc trong triều được điển chế hoá, chẳng hạn, năm 1267, Trần Thánh Tông đã đặt ra cả một hệ thống tôn thất “kim chi ngọc diệp” (cành vàng lá ngọc), dựa theo tiêu chuẩn “ngũ phục” (năm bậc trang phục) để quy định các tước hiệu. Tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần, vì vậy, được hưởng nhiều đặc ân, được trao giữ các chức vụ cao cấp văn, võ.

Tác giả sách An Nam chí lược có thống kê một loạt các chức đại quan trong triều, với ghi chú rõ ràng là: “Chỉ người trong tông tộc được làm chức ấy”. Trong số đó có những chức quan trọng nhất như tể tướng, phiêu kỵ tướng quân chỉ giành riêng cho các hoàng tử. Chế độ hôn nhân đặc biệt của nhà Trần cũng nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của hoàng tộc.

Có thể nói rằng, dưới triều Trần, vương hầu, quý tộc đã đóng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, với một phương thức cai trị điển hình: nền chuyên chế dòng họ. Ở đây, ta có thể tìm thấy bóng dáng xa xưa của những mối quan hệ tông tộc cổ truyền được thích ứng trong một cơ chế nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền mới được thiết lập.

Trên thực tế, khi dựa chắc vào tầng lớp quý tộc tôn thất để tạo nên cái thế “tông tử duy thành”, các vua Trần đã xây dựng quanh mình một hệ thống quan lại trung thành đáng tin cậy vừa gắn bó bằng quan hệ huyết thống, vừa ràng buộc bởi quan hệ vua tôi với một hệ thống quan tước trong bộ máy chính quyền.

Điều đáng quan tâm là việc nhà nước thừa nhận quyền trấn trị và quyền được tổ chức những đội quân riêng của các vương hầu quý tộc. Các vương hầu tôn thất nhà Trần đều được cấp thái ấp và có phủ đệ riêng ở một số vùng như:

- Yên Sinh vương Trần Liễu ở Đông Triều, Yên Hưng (Quảng Ninh).

- Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương).

- Trần Thủ Độ ở Quắc Hương (Bình Lục, Hà Nam).

- Trần Quốc Chân ở Chí Linh (Hải Dương).

- Trần Nhật Hạo ở Dương Xá (Hưng Hà, Thát Bình).

- Trần Quang Khải ở Cao Đài (Mỹ Lộc, Hà Nam).

- Trần Quốc Tảng ở Tỉnh Bang (Vĩnh Bảo, Hải Phòng).

- Trần Khánh Dư ở Dưỡng Hoà (Duy Tiên, Hà Nam),

- Trần Quốc Khang ở Diễn Châu (Nghệ An),

- Trần Nhật Duật ở Văn Trinh (Quảng Xương, Thanh Hoá),

- Trần Khát Chân ở Mai Động (Thanh Trì, Hà Nội).
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #33 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 09:55:59 pm »

Hiện tượng trên là sản phẩm của chế độ kinh tế - chính trị đương thời, là kết quả của hình thức ban cấp thái ấp thuở ấy. Tuy thái ấp và phủ đệ của các vương hầu tôn thất không lớn lắm, chỉ độ một vài hương, nhưng ở đó cũng khá đông dân, khoảng 100-200 hộ, có nhiều ruộng đất công và nằm ở các vị trí khá quan trọng.

Sự phân bố các thái ấp trên đây là ở một số vùng có địa bàn chiến lược trọng yếu như vùng biên cương phía bắc (Chí Linh, Đông Triều); vùng cửa ngõ phía đông bắc (Tĩnh Bang, Dương Xá - Hải Phòng, Thái Bình); vùng phên dậu phía nam (Diễn Châu, Văn Trinh - Nghệ An, Thanh Hoá); vùng bản bộ và phụ cận của quê hương bản quán nhà Trần (Nam Định); vùng nam Thăng Long (Mai Động - Hà Nội).

Một điểm cần lưu ý nữa là các thái ấp, phủ đệ của các vương hầu quý tộc phần lớn trấn giữ trên các mạch đường giao thông thuỷ, bộ quan trọng, trong đó có cả những ngã ba sông - những điểm chốt trên đường thuỷ có quan hệ với các cuộc cơ động quân đội trong chiến tranh.

Năm 1266, vua Trần Thánh Tông xuống chiếu cho phép các vương hầu. phò mã, công chúa được chiêu mộ dân nghèo lưu tán khai khẩn đất hoang lập điền trang riêng. Vì thế, thời Trần đã xuất hiện nhiều điền trang lớn của quý tộc, tôn thất trong một số vùng.

Tại các địa phương mình trấn trị, tại các điền trang và thái ấp, vương hầu, quý tộc thực sự làm chủ, họ được phép khai khẩn đất hoang, mở mang trang trại, bắt dân lao dịch, thu thuế và đặc biệt họ được quyền tổ chức lực lượng vũ trang riêng. Các vương hầu, quý tộc vừa có quyền lợi kinh tế ở điền trang vừa có quyền lợi chính trị trong triều. Phan Huy Chú viết rằng: “Những vương hầu triều Trần được mở phủ đệ, đều có trại ở hương, khi có lễ chầu thì tới Kinh, xong việc lại về phủ đệ” 1. 
 
Trong thời kỳ có chiến tranh, ở Đại Việt thường xuất hiện những đạo quân của các vương hầu, quý tộc nhà Trần. Sử xưa gọi đó là các đạo quân gia nô hay vương hầu gia đồng.  Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, trước cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285), Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn tuy còn ít tuổi cũng đã tổ chức được một đạo quân gia nô và thân thuộc đông đến hơn nghìn người và dựng cờ đề sáu chữ: “Phá cường địch báo hoàng ân”. Đó là một đội quân trẻ tuổi, đầy nhiệt huyết, háo hức chờ thời cơ đánh giặc, lập công.

Sách An Nam chí lược chép: Thời Trần có ba đô “Vương hầu gia đồng” là Sơn Lao đô, Dược Đồng đô và Toàn Hầu đô. Các học giả Ngô Sĩ Liên, Phan Huy Chú, Ngô Thì Sỹ đều chép việc triều đình nhà Trần thường hạ lệnh cho các vương hầu, tôn thất mộ binh và thống lĩnh binh của mình giúp vua đánh giặc.

Những dấu tích xưa còn lại ở những vùng có thái ấp, điền trang của vương hầu quý tộc Trần cho biết phần nào về quy mô các phủ đệ và một số hình thức tổ chức quân sự ở đó. Tại vùng Quốc Hương, tức làng Thành Thị (Bình Lục, Hà Nam) hiện còn dấu vết của khu Cột Cờ, gò Dẻ Quạt, chân thành nội, chân thành ngoạt...

Khu Cột Cờ là một khu đất cao và rộng khoảng 3 sào. Ở đây, ngày trước còn tồn tại tục kéo cờ: hằng năm vào ngày 12 tháng Tám âm lịch, các thôn đem cờ của mình đến treo rồi tổ chức trò đấu vật, đánh gậy, biểu dương lực lượng, các trai tráng đua tài võ nghệ.

Tương truyền khi Trần Thủ Độ về lập phủ đệ ở Quốc Hương, ông cho quân lính khiêng một con rùa đá lên gò đất nơi ông thường dùng để làm bãi tập binh, đặt rùa quay về hướng bắc.  Từ đó, nơi đây gọi là gò Con Quy. Khu Dẻ Quạt gồm năm gò tỏa ra theo hình dẻ quạt. Dân địa phương cho đây là các địa điểm đóng quân. Tại làng Thành Thị còn có di tích nền nhà Cương, đó là khu nhà nuôi ngựa và để yên cương của quân lính của Trần Thủ Độ. Những di tích cùng những địa danh ở làng Thành Thị mà ngày xưa là Quốc Hương chứng tỏ nơi phủ đệ của Trần Thủ Độ đã có một lực lượng quân sự đáng kể.

Ở Dưỡng Hoà (Duy Tiên, Hà Nam) tương truyền là thái ấp của Trần Khánh Dư, có một hệ thống hào lớn bao quanh một vùng rộng khoảng 400 mẫu. Bên trong thát ấp còn có nhiều dấu vết của Dinh Phố, Dinh Tú, Trại Ngựa, Chợ Ngọc, Trại Gang, Trại Lính, Trại Vot... Khu thái ấp này có vị trí quan trọng, nằm gần trục đường thiên lý, phía nam Thăng Long.


______________________
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.II, tr.76.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #34 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 09:57:22 pm »

Như vậy, trong sử cũ không nói rõ quy chế của tổ chức quân sự của vương hầu, quý tộc, nhưng qua một số sử liệu và các dấu tích lịch sử còn lại, chúng ta cũng có thể hiểu rằng, dưới triều Trần ở một chừng mực nhất định, các vương hầu quý tộc được phép tổ chức lực lượng quân sự riêng. Lúc bình thường, quý tộc vương hầu coi gia đồng như một lực lượng thân binh, lúc có chiến tranh họ có quyền tổ chức quân đột. 

Việc mộ quân, luyện quân và điều động quân vương hầu xuất phát từ nhu cầu giữ gìn an ninh trong khu vực, từ yêu cầu chống ngoại xâm, bảo vệ quyền thống trị của dòng họ và theo lệnh điều động của nhà nước mà người đại diện là vua Trần.  Thời bình lực lượng quân sự này tồn tại không đáng kể, chủ yếu họ là một số gia nô, nô tỳ của các quý tộc, vừa sản xuất vừa phục dịch, vừa luyện tập quân sự và được vũ trang ở mức độ nhất định để canh phòng trong trang trại, thái ấp và phủ đệ của chủ mình.

Khi đất nước có chiến tranh các vương hầu quý tộc Trần được quyền “mộ binh và thông lĩnh binh của mình”. Lúc này, quân vương hầu không chỉ có gia nô, thân thuộc mà còn có cả những trai tráng ở các làng, xã lân cận, được tổ chức thành các đạo quân cứu nước, đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của triều đình.

Các đạo quân cứu nước này có thể đông đến vài chục vạn người, như cuối năm 1284, các vương con của Trần Quốc Tuấn đã điều động được 20 vạn quân, trong đó có một phần đáng kể các lực lượng nông nô, nô tỳ trong các điền trang thái ấp.

Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) việc biên giới khó khăn, nhà vua truyền cho các tôn thất, vương hầu mộ thêm dũng sĩ, đinh tráng làm quân gia thuộc. Vào thời điểm đó, quân triều trình, quân các lộ và quân vương hầu được tăng cường nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Nhiều cuộc diễn tập được tổ chức để luyện rèn binh tướng, lựa chọn nhân tài, để cho các quân quen với hình thức chiến đấu hiệp đồng, thành thạo chỉ huy và tác chiến.

Quý tộc Trần có thái ấp, có điền trang, có phủ đệ và đội quân riêng. Điều đó chứng tỏ sự tồn tại ở mức độ nhất định yếu tố phân tán trong xã hội thời Trần. Tuy nhiên, yếu tố này luôn bị hạn chế bởi tính chất xã hội cùng với những chính sách ràng buộc của nhà nước tập quyền.

Về mặt tổ chức cũng như chức năng, quân vương hầu triều Trần không có biểu hiện đối lập đối với trung ương, nhà nước cho phép tổ chức, nhưng quy mô của quân vương hầu rất hạn chế và nhà vua lại có quyền điều động khi cần thiết. Triều đình không cho phép tồn tại những biểu hiện có khuynh hướng mở rộng quyền lực hoặc quy mô phủ đệ của các quý tộc.

Ví dụ, Tĩnh quốc đại vương Trần Quốc Khang (anh em cùng mẹ khác cha của Trần Thánh Tông) được cử trấn trị ở Diễn Châu. Tại đây, Quốc Khang xây dựng phủ đệ có phần lộng lẫy quá mức bình thường. Tin đến triều đình, lập tức vua Trần Thánh Tông cho người đến dò xét khiến Quốc Khang phải biến nó thành nhà chùa thờ Phật.

Đối với các phủ đệ của người khác họ thì triều đình còn nghiêm khắc hơn. Những hiện tượng có ý nghĩa ly tâm nhanh chóng bị xoá bỏ. Năm 1253, nhà nước phải ra sắc lệnh hạn chế người theo hầu của tôn thất và các quan văn võ nhiều thì 1.000 người, ít thì 100 ngườt. Những điều trên chứng tỏ yếu tố phân tán vẫn còn tồn tại, nhưng nhà nước phong kiến thời Trần là một nhà nước tập quyền mạnh. Mối quan hệ tốt giữa vương hầu, quý tộc và nhà vua càng làm tăng thêm sức mạnh của vương triều. Chính sách điền trang, thát ấp của nhà Trần bao hàm cả ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa quốc phòng là nhờ vậy.

Khi nghiên cứu về mối quan hệ đó, học giả Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) đã thốt lên rằng: “ôi, quốc gia ở trong trời đất phải có đồng minh, việc phân phong cho các người tông thân có lẽ là kế sách hay để giữ nước chăng!”. Và ông lấy làm tiếc các vua Lê không cho con cháu “cai trị ở phủ, lộ để có thể giao tiếp thân mật với dân... cho nên cái thế che chắn của vương hầu làm sao có được nữa” 1.


_____________________________
1. Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử, bản dịch, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.144
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #35 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 10:00:33 pm »

Tuy nhiên, ở đây Lê Quý Đôn đã quên rằng kinh tế điền trang thái ấp với chế độ phân phong cho vương hầu, quý tộc nói trên không còn phù hợp với xã hội thời Lê nữa.

Sự xuất hiện kinh tế điền trang thái ấp và các đội quân vương hầu quý tộc ở Đại Việt vào thời điểm chuẩn bị chiến tranh hoặc lúc có chiến tranh hồi thế kỷ XIII là điều khác hẳn với thực tế ở các nước phương Tây đương thờt.

Trong khi ở nước ta, dân tộc đã hình thành sớm, chính quyền trung ương đã thống nhất các lực lượng, quản lý tốt các địa phương, thì ở Tây Âu phong kiến thời trung đại chưa có một “quốc gia dân tộc” ổn định, càng chưa có một chính thể trung ương tập quyền vững mạnh.

Tính cát cứ lãnh chúa tồn tại phổ biến, nhiều lãnh chúa phong kiến Tây Âu chiếm hữu hàng chục thái ấp hoặc cả một vùng rộng lớn. Đặc biệt ở Trung Âu đến thế kỷ XIII bóng tối phong kiến còn dày đặc, các nông nô còn quằn quại dưới ách thống trị của các lãnh chúa. Chiến tranh tranh giành lãnh địa diễn ra liên tục, vì vậy đã dẫn đến việc thiết lập các đạo quân riêng rẽ của các lãnh chúa. Chính quyền trung ương không khống chế được họ và cũng không đủ sức ngăn cản các cuộc chiến tranh giữa các lãnh chúa. 

Trong khi đó ở Đại Việt, vương hầu, quý tộc là một bộ phận trong chính quyền. Về cơ bản quyền lợi của quý tộc tôn thất thông nhất với quyền lợi của nhà vua. Chính sách phong cấp thái ấp, khuyến khích thành lập điền trang ở thời Trần là một tất yếu lịch sử trước yêu cầu củng cố và tăng cường quyền lực thông trị của dòng họ và trước yêu cầu giữ nước. Quân vương hầu là một bộ phận trong tổ chức quân sự của quốc gia Đại Việt.

Sự khác biệt nói trên do nhiều nguyên nhân, có thể vì quá trình hình thành chế độ phong kiến Việt Nam diễn ra theo một quy luật riêng, khác với con đường phát triển kinh tế lãnh địa với quan hệ lãnh chúa - nông nô, hay nói chung là khác quá trình nông nô hoá như ở phương Tây.

Các sử sách của nước ta đều ghi chép sự kiện năm 1282: “Vua sai các vương hầu, tôn thất mộ binh và thống lĩnh binh của mình” 1; hoặc giữa năm 1286 “sai Hưng Đạo vương thống đốc các vương hầu tôn thất điều quân và làm đồ binh khí, thuyền ghe” 2. Cũng năm đó, vua Nhân Tông hạ lệnh cho các vương hầu tôn thất chiêu mộ binh lính, sắm sửa vũ khí đề phòng lúc chiến đấu hoặc khi phòng thủ.

Khi được tin quân Nguyên sắp mở cuộc tiến công xâm lược, các vua Trần đều thân chỉ huy các vương hầu điều động quân thuỷ bộ thao diễn chiến trận. Trần Quốc Tuấn điều khiển các sắc quân của vương hầu, mở cuộc duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu 3.
 
Và, trong các lần chiến tranh, quân vương hầu đã thể hiện được vai trò “giúp vua đánh giặc” của họ. Sử chép: “Năm Nguyên Phong (đời Trần Thái Tông) giặc Nguyên sang cướp, vương hầu đem gia hầu và hương binh, thổ hào sung vào đội quân cần vương; việc biến năm Đại Định (1369), vương hầu đem quân thôn trang sắm sửa nghi trượng để đón vua mới” 4. . . Đó cũng là những biểu hiện về vai trò, tác dụng của quân vương hầu.

Các sử gia phong kiến nước ta đều đánh giá cao vai trò của quân vương hầu mà trong đó có những chiến binh vốn là gia nô, nô tì hoặc những nông nô ở các điền trang, phủ đệ. 

Ngô Thì Sỹ chép: “Lúc nhà Trần đương thịnh, đánh nhau với giặc Hồ (tức giặc Mông - Nguyên), nhờ sức các gia nô của vương hầu nhiều lắm” 5.


______________________________
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.IV, tr.5. 
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.58.
3. Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t. 5, tr.60.
4. Năm 1369, Dương Nhật Lễ cướp ngôi vua Trần, tôn thất nhà Trần đem quân đón Trần Húc ở Đà Giang về giết Nhật Lễ, lập vua Trần Nghệ Tông. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.32. 
5. Ngô Thì Sỹ : Việt sử tiêu án, Sđd, tr.244.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #36 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 10:03:37 pm »

Đạo quân gia nô và thân thuộc của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn đã chiến đấu anh dũng trong các trận đại phá quân Nguyên ở Tây Kết, Chương Dương - Thăng Long, ở Như Nguyệt.

Các gia nô như Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô nổi tiếng về tinh thần kỷ luật, về trung thành và trí dũng trong chiến đấu. Dưới trướng Trần Quốc Tuấn, Yết Kiêu và Dã Tượng rất mực trung thành và chăm lo luyện rèn võ nghệ, trở thành những chiến binh dũng cảm, vừa giỏi liến đấu trên bộ lại tài bơi lội khi đánh thuyền giặc.

Lòng trung của Yết Kiêu được sử cũ chép trong sự kiện ở Bãi Tân (Nội Bàng) vào đầu năm 1285. Lúc đó, quân Nguyên mở cuộc tiến công xâm lược quy mô lớn, giặc tiến như gió thổi như lửa cháy, Trần Quốc Tuấn chỉ huy cánh quân trấn giữ phía đông bắc gặp nhiều thất lợi, buộc phải lui quân. Dã Tượng nói rằng: “Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương, tất không chịu dời thuyền”. Quốc Tuấn đến Bãi Tân, quả nhiên một mình Yết Kiêu còn ở đó. Thuyền vừa xuôi thì kỵ binh Nguyên đuổi tới, chúng trông thấy thuyền Yết Kiêu lặng lẽ trôi mà đành chịu. Trần Quốc Tuấn thoát được nhờ lòng quả cảm và tính kỷ luật không rời bỏ vị trí chiến đấu của Yết Kiêu. Cảm kích trước lòng trung dũng đó, Quốc Tuấn đã nói: “ôi, chim hồng hộc có thể bay cao được tất phải nhờ vào sáu trụ xương cánh, nếu không có chiếc lông cánh thì cũng như chim thường thôi” 1.

Lòng trung của Yết Kiêu và Dã Tượng còn làm Trần Quốc Tuấn cảm động rơi nước mắt khi ông đem câu chuyện của Trần Liễu hỏi ý kiến họ. Nguyễn Địa Lô cũng là một gia nô của Trần Quốc Tuấn, thường ngày rất tích cực tập luyện cung kiếm và trở thành một tay thiện xạ nổi tiếng. Chính Nguyễn Địa Lô trong trận Ma Lục vùng Chi Lăng (năm 1285) đã bắn chết tên Việt gian Trần Kiện ngay trên mình ngựa khi y cùng với bọn Trần Tú Hoãn, Lê Trắc đang chạy sang đất giặc.

Trong đội ngũ “gia thần, gia nô, gia đồng” thời đó có những người vì tài năng quân sự và có nhiều cống hiến lớn trong chiến tranh đã trở thành những võ quan cao cấp, như trường hợp Phạm Ngũ Lão. Sách Việt sử thông giám cương mục chép: “Ngũ Lão là gia thần của Quốc Tuấn. Quốc Tuấn thấy tài năng khí độ vượt hơn mọi người, gả con gái cho, nhân đó tiến cử lên triều đình. Ngũ Lão theo Quốc Tuấn đánh giặc có công to” 2. Năm 1300, Ngũ Lão được trao chức Thân vệ đại tướng, quản quân Thiên Thuộc.

Sử sách còn nhắc đến sự kiện năm 1292, những khi vua Trần Nhân Tông ngự chơi ngoài hành cung, gặp gia đồng của các vương hầu thường gọi tên và hỏi: “chủ mày ở đâu?” và răn dạy các vệ sĩ không được thét đuổi họ. Vua lại nói với các quan hầu cận rằng: “Ngày thường có thị vệ hai bên, đến khi nhà nước có hoạn nạn thì chỉ thấy có bọn ấy đi theo mà thôi” 3. Điều đó cũng chứng tỏ ngay vua Trần cũng cảm mến và đánh giá rất cao sự đóng góp của những người lính vương hầu.
 
Đến nửa sau thế kỷ XIV, xu hướng quan liêu, tha hoá, xa dân trong đội ngũ vương hầu quý tộc phát triển. Đó cũng là một nguyên nhân làm chính quyền nhà Trần suy yếu.  Ngày trước, nếu thế lực của điền trang, thái ấp của vương hầu góp phần quan trọng củng cố quyền lực chính quyền trung ương, giữ vững địa vị thống trị của vương triều, thì đến nay, gia nô, nô tỳ ở các điền trang bị bóc lột và đối xử thậm tệ nên đã nổi dậy hay bỏ trốn, đâu còn cho phép điền trang trở thành những pháo đài địa phương phục vụ cho chính quyền trung ương nữa.

Khi kinh tế điền trang thái ấp đã lỗi thời thì nó không còn vị trí trong xã hội như trước; nhà nước phong kiến Đại Việt cũng không cho phép các chủ điền trang tổ chức lực lượng quân sự riêng nữa. Phép “hạn điền” “hạn nô” của Hồ Quý Ly ban hành đã đánh mạnh vào loại hình kinh tế này. Tuy vào cuối thời Trần, lãnh địa của các đại vương và trưởng công chúa vẫn còn, nhưng tổ chức quân vương hầu về cơ bản không còn tồn tại nữa.

Như vậy, dưới triều Trần, lực lượng nông nô, nô tỳ đã gia nhập quân đội, tham gia chiến đấu. Phần lớn họ được tổ chức thành các đạo quân dưới sự chỉ huy của các vương hầu, quý tộc Lực lượng quân vương hầu được nhà nước huy động và đã góp phần vào chiến thắng oanh liệt trong ba lần kháng chiến; khi hoà bình họ lại trở về với công việc sản xuất hay phục dịch của mình trong các thái ấp, phủ đệ của quý tộc Trần.

Sự xuất hiện quân vương hầu là một hiện tượng xã hội, là một nét đặc thù trong hệ thông tổ chức quân sự thời Trần.  Loại quân này sinh ra và mất đi cùng với sự xuất hiện và tiêu vong của chê’độ kinh tế điền trang thát ấp thời đó.


____________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr 51.
2. Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.5, tr.86. 
3. Đại Việt sử ký toàn thơ, Sđd, t.2, tr.68.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #37 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 10:06:10 pm »

4. Dân binh làng, xã

Dân binh (hương binh hay thổ binh) là một bộ phận trong tổ chức lực lượng vũ trang thời Trần; đó là tổ chức quân sự cơ sở ở các địa phương có nhiệm vụ chủ yếu là canh phòng, bảo vệ trị an và đánh giặc bảo vệ làng, xã quê hương mình. 

Nếu như quân triều đình nhà Trần được tổ chức chính quy tinh nhuệ, số lượng không đông nhưng đóng vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nói chung và nếu như quân địa phương thời Trần là lực lượng quân thường trực ở các châu, lộ có số lượng vừa phải, chiến đấu chủ yếu bảo vệ địa phương. . . thì dân binh là lực lượng vũ trang địa phương đông đảo nhất, là tổ chức quân sự cơ sở gắn liền với sản xuất, dưới sự chỉ huy của các xã quan, của những thủ lĩnh quân sự địa phương hoặc những người có uy tín, giỏi võ nghệ trong các vùng.

Tổ chức dân binh bao gồm những đinh nam trong làng bản, những trai tráng đã được ghi tên trong “Sổ quân” mà chưa nhập ngũ, những nông dân đã làm nghĩa vụ binh dịch trở về địa phương. Đối với họ “tĩnh vi nông, động vi binh” tức là lúc “vô sự” là dân, lúc có giặc là binh.

Trong thời bình, dân binh vừa là tuần đinh, vừa là người dân thường, vừa sản xuất vừa bảo vệ trị an trong vùng; khi có chiến tranh họ nhanh chóng được tổ chức và trở thành một lực lượng quân sự quan trọng đánh giặc giữ làng, giữ nước. 

Trên cơ sở tình yêu quê hương, đất nước, với ý thức Làng-Nước, Nước-Nhà, Nước gắn liền với Làng và với những mối quan hệ truyền thống trong gia đình, tông tộc, láng giềng, thôn xã..., dân binh thực sự là một tổ chức để trăm họ, muôn dân có thể trực tiếp đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung là đánh giặc để bảo vệ quê hương, đất nước.

Tầm quan trọng của dân binh không chỉ vì nó có số lượng lớn chiến đấu tại chỗ, có mặt ở khắp mọi nẻo miền Tổ quốc, dân binh còn là nguồn bổ sung dồi dào, vô tận cho lực lượng vũ trang thường trực theo tinh thần “có việc điều động thì gọi ra” . 

Khác với tên gọi “giặc cỏ”, “giặc cướp” mà bọn xâm lược và phản động thường gán cho, dân binh đúng như tên gọi của nó, trước hết là những người dân bình thường ở các hương xã, được tổ chức, được trang bị và huấn luyện ở mức độ nhất định, vừa canh phòng, chiến đấu vừa sản xuất và khi có chiến tranh họ là lực lượng nòng cốt của làng, xã chiến đấu. 

Trong các địa phương thời Trần, đã hình thành những đội dân binh tuân theo phép nước. Tuy số lượng nhiều hay ít không do triều đình quy định, nhưng mỗi làng, bản đều căn cứ vào sổ hộ tịch và theo nhu cầu để quy định số lượng dân binh - tuần đinh đảm đương việc làng. Bình thường họ chỉ là những đội tuần đinh có số lượng nhỏ; gặp khi giặc giã, biến loạn thì ai có tên trong danh tịch hương binh đều phải ra phục dịch, chiến đấu; xong việc họ lại về nhà làm ăn. 

Dưới thời Trần, trước khi bước vào các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, không chỉ ở Kinh đô Thăng Long mà ngay cả ở các phủ đệ vương hầu và đặc biệt là từ các hương ấp, bản làng đã diễn ra không khí náo nức chuẩn bị kháng chiến. Nhiều làng xã mở lò luyện võ, “toàn dân sắm sửa vũ khí, đóng thuyền ghe”, tự vũ trang và tổ chức những đội dân binh sẵn sàng đánh giặc, đáp lời kêu gọi của triều đình: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến đều phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh, không được đầu hàng giặc” 1.

Thế kỷ XIII, dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần, cuộc chiến tranh nhân dân đã phát triển cả bề rộng và chiều sâu. Sự phát triển của lực lượng dân binh cũng như sự tham gia chiến đấu của họ thật phong phú và đa dạng.

Trần Phu, sứ giả nhà Nguyên đã viết về hoạt động của dân binh Đại Việt như sau: “Mỗi khi có biến động là trai tráng khắp mọi nơi kéo ra ngay, khí giới đều tự họ trang bị lấy, có người còn vác cả cây gậy trơn” (Sử Giao Châu cảo).

Thực hiện mệnh lệnh của vua, nhân dân các làng xã trong nước với nhiều hình thức đều tham gia chiến đấu. Phan Huy Chú đã tổng kết: “Lúc vô sự thì phục binh ở nơi thuận tiện, khi có nạn thì hết sức chống cự, thế là đời Trần nhân dân ai cũng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh” 2.


___________________________
1. Nguyên sử, q.209, t.7b.
2. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.IV, tr.6.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #38 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 10:10:03 pm »

Tổ chức dân binh với cấu trúc đặc biệt của làng xã chiến đấu ở nước ta từ xưa, đã tạo nên một nguồn sức mạnh quân sự, đã trở thành những pháo đài xanh kiên cố, những chướng ngại tai hại trên bước đường hành quân chinh phục của bọn xâm lược.

Trong chiến tranh giữ nước, lực lượng dân binh đã có mặt ở khắp nơi, dưới sự chỉ huy của các xã quan, hào trưởng hay thổ tù họ đã anh dũng chống lại quân giặc. Tổng kết lần kháng chiến thứ ba (1288) chống giặc Mông - Nguyên, cả nước Đại Việt chỉ có hai hương Bàng Hà và Ba Điểm là không đánh giặc, còn hầu hết các hương xã nơi có giặc đến đều anh dũng chiến đấu, ngăn chặn bước tiến của chúng. 

Vua Trần Nhân Tông ra lệnh xử tội đồ quân dân hai hương đó, cho làm thang mộc binh (lính hầu trong các vùng đất phong của vương hầu), cấm họ đời đời không được làm quan và ban cho tể thần làm “sai sử hoành” (tức nô tỳ); những hương xã có công đánh giặc thì được ban thưởng và ghi vào chính sử. Tiêu biểu về tinh thần chiến đấu lúc bấy giờ là dân binh làng Cổ Sở (Yên Sở) đã đánh thắng hai cuộc hành quân cướp phá của giặc vào các năm 1258 và 1288.

Năm 1258, sau khi chiếm được Thăng Long, vì thiếu lương ăn, kỵ binh Mông Cổ tiến hành các cuộc hành quân cướp phá quanh thành, nhưng ở đâu chúng cũng bị nhân dân chống trả mãnh liệt.  Khi chúng tiến đến làng Cổ Sở, hương binh và dân chúng ở đây đã đánh cho chúng tan tác bỏ chạy.

Cũng năm đó, dân binh ở trại Quy Hoá do chủ trại Hà Bổng và Hà Khuất chỉ huy đã chặn đánh kỵ binh Mông Cổ trên đường tháo chạy. Sử chép “Quân Mông Cổ chạy trốn về, đến trại Quy Hoá, chủ trại là Hà Bổng chiêu tập người Man ra tập kích, cả phá bọn chúng” 1.

Trong kháng chiến lần thứ hai (1285), dân binh làng Yên Duyên (Quảng Xương, Thanh Hoá) dưới sự lãnh đạo của viên đại toát (xã quan) Lê Mạnh, chặn đánh quân Toa Đô buộc chúng phải tháo chạy khi vừa xâm phạm vào địa phận của làng. Bi ký chùa Hưng Phúc khắc năm 1324) chép: “Đại toát đại liêu ban Lê Mạnh đã đốc suất dân chúng trong hương ra phòng ngự ở bến Cổ Bút, đánh nhau với quân giặc, giặc hầu như không còn đường tháo lui được nữa. Nhưng hiềm vì trong hương có kẻ gian giảo hàng giặc, đã dẫn đường cho chúng, nên nhà cửa đều bị giặc đốt phá” 2.

Sử gia Ngô Sĩ Liên viết rằng: “Giặc Nguyên vào cướp, các vương hầu đem hương binh và thổ hào sung vào đội quân cần vương” 3. Như vậy lực lượng dân binh, hương binh thời Trần cũng đã chịu sự điều động và chỉ huy của các vương hầu quý tộc Trong các giai đoạn phản công chiến lược, dân binh đã tập hợp thành những lực lượng lớn, phối hợp với quân chủ lực tiến công, tiêu diệt địch.

Tháng 2- 1285, thổ binh người Tày mà thủ lĩnh là Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh đã cùng với quân địa phương và quân triều đình đánh trận Ma Lục nổi tiếng, tiêu diệt bọn phản động Trần Kiện và đoàn quân Nguyên hộ tống trên đường tháo chạy sang Trung Quốc. Ba tháng sau, các đội dân binh do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền hợp cùng với quân của Thượng tướng Trần Quang Khải và quân của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn đánh tan giặc ở Chương Dương - Thăng Long.

Lịch sử ghi nhận chiến công của dân binh các làng xã ở huyện Phù Ninh (Vĩnh Phú) do hai anh em Hà Đặc và Hà Chương chỉ huy; bằng trí thông minh và lòng dũng cảm, đã đánh tan giặc Nguyên khi chúng rút chạy qua địa phương mình. . .

Dân binh chiến đấu độc lập giữ làng bản, họ chiến đấu trong các đạo quân do các thủ lĩnh địa phương hay các vương hầu, quý tộc thống linh, họ còn hợp sức đánh giặc cùng với các đạo quân chủ lực của triều đình. Quả là, nếu không có sự phối hợp của dân binh thì không thể nhân thêm sức mạnh chiến đấu lên được.


__________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.28.
2. Theo Phùng Văn Cường và Phạm Văn Kính: Một tấm bia thời Trần mới phát hiện, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 156, tr.69.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.32.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #39 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 10:12:30 pm »

Chính vì thế, sự kết hợp giữa dân binh với quân các lộ và quân triều đình đánh giặc là một đặc điểm trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược thời Trần. Dân binh Đại Việt đánh giặc mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi vũ khí với nhiều hình thức. Đó cũng là một điểm nổi bật của dân chúng vũ trang đánh giặc đã được Ăng ghen tổng kết khi nghiên cứu về nhân dân tự nguyện chiến đấu cho nền độc lập của mình, rằng: Một dân tộc muốn giành được độc lập cho mình thì không tự giới hạn trong những phương thức tiến hành chiến tranh thông thường. Khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, các đội du kích ở khắp mọi nơi - đó là phương thức duy nhất, nhờ đó mà một dân tộc nhỏ có thể thắng được một dân tộc lớn, mà một quân đội ít mạnh hơn có thể đương đầu được với một đội quân mạnh hơn và có tổ chức tốt hơn 1.
 
Hoạt động chiến đấu của dân binh khắp nơi đã làm quân giặc khiếp sợ. Những đội dân binh đó đã thực sự “liều chết mà đánh khi có giặc ngoài đến”, đồng thời cũng hoạt động trong lòng địch, ở những vùng quân địch đã tiến qua hay chiếm đóng; họ đã góp phần vào chiến thắng oanh liệt trong ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên.

Vai trò của dân binh quan trọng như vậy, song tổ chức quân sự này chỉ được phát huy khi nhà nước phong kiến đang trong giai đoạn tiến bộ, khi những người cầm quyền nhận thức đúng nó, thi hành những chính sách tiến bộ, biết tổ chức họ và có đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, biết dựa vào dân tiến hành các cuộc chiến tranh giữ nước hay để bảo vệ một vương triều tiến bộ.

Từ giữa thế kỷ XIV, Nhà nước phong kiến Đại Việt suy yếu, vua quan nhà Trần lo sống xa hoa hưởng lạc, bóc lột, xa rời dân chúng. Vì thế nhân dân các địa phương đã bất bình và nổi dậy chống áp bức. Chính dân binh lúc đó đã trở thành lực lượng đối kháng giai cấp, chống lại chính quyền phong kiến.

Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn xã hội phát triển dẫn đến những cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thời Trần, như các cuộc khởi nghĩa Ngô Bệ, của nông dân ở Lạng Giang và Nam Sách, ở Nghệ An và Thanh Hoá. Đó là những lúc “dân nổi can qua” chống lại triều đình, buộc các vua Trần phải huy động cấm binh hay quân các lộ đi đánh dẹp những cuộc nổi dậy mà chính quyền gọi là “giặc cỏ” hay “giặc cướp” “làm loạn” ở địa phương.

Tóm lại, trong khi chú ý xây dựng lực lượng vũ trang thường trực, chuyên nghiệp để làm công cụ chủ yếu bảo vệ chính quyền hoặc để giành được những thắng lợi quyết định trong chiến tranh chống lại những kẻ thù đông và mạnh, thì Nhà nước Đại Việt vẫn luôn lưu tâm đặc biệt đến tính rộng khắp của lực lượng vũ trang nhằm tạo ra một lực lượng quân sự không chuyên nghiệp có thể canh phòng và chiến đấu tại chỗ và việc xây dựng tổ chức dân binh địa phương cũng để nhằm mục đích đó.

Tổ chức dân binh cũng như vai trò chiến lược của họ chính là một nét độc đáo cửa lực lượng vũ trang thời Trần. Đó là một tổ chức quân sự cơ sở, rộng khắp trong các làng bản, thôn ấp có nguồn gốc từ xa xưa, vừa mang tính tự nguyện vừa được nhà nước thể chế hoá, để mọi người dân đều có thể tham gia đóng góp vào sự nghiệp đánh giặc giữ làng, giữ nước.

Ở thế kỷ XIII, Nhà nước phong kiến thời Trần đã biết tổ chức và động viên dân binh các làng xã, tạo nên thế mạnh của cuộc chiến tranh toàn dân, cả nước đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương xứ sở của mình.

II. CHẾ ĐỘ TUYỂN MỘ VÀ ĐỘNG VIÊN QUÂN ĐỘI

1 Quản lý nhân đinh - một cơ sở để tuyển mộ và động viên quân đội.

Cũng như lệ cũ của triều Lý, vấn đề định quân hạng, tuyển mộ và động viên quân đội dưới triều Trần căn cứ vào số lượng đinh tráng đã được phân hạng và quản lý từ các cơ sở làng xã.

Ở Đại Việt, vấn đề dân tịch và quân tịch luôn luôn gắn liền với nhau. Để tuyển mộ binh sĩ, xây dựng quân đội quốc gia và lực lượng vũ trang nói chung được hùng mạnh, điều trước tiên nhà nước phải nắm vững và quản lý nhân đinh trong nước.

Vì thế, việc lập hộ tịch và khai báo dân đinh được tiến hành đều đặn với định kỳ một năm một lần vào mùa Xuân ở các địa phương và do các xã quan đảm nhận dưới sự giám sát của quan lại trung ương. Sách Đại Việt sử ký toàn thơ chép: “Theo lệ cũ, hàng năm đầu mùa Xuân, các xã quan lại khai báo hộ khầu, gọi là đơn số, rồi sau đó theo sổ mà kê ra các hạng: Tôn thất, quan văn giai, quan theo hầu, quân nhân, tăng đạo, hoàng nam, già yếu, bất cụ, phụ tịch, phiêu tán, v.v..” 2.


____________________________
1. Ph. Ăng ghen: Sự thật bại của người Piêmông, trong Ăng ghen - Lênin - Xtalin: Bàn về chiến tranh nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.72.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.9.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM