Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:35:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 109349 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #60 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:15:15 pm »

Nội dung chiếu thơ trách vua Trần: “Nội phụ đã hơn 20 năm mà vẫn không chịu làm theo sáu điều”. Hốt Tất Liệt đòi vua Trấn phải sang chầu và doạ: “Nếu trái ý thì hãy sửa thành, chỉnh quân mà đợi đại quân của ta”.  Trong biểu trả lời, vua Trần đã viết: “Vì thần sinh trưởng ở đất Việt Thường, sức người yếu đuối, không quen thuỷ thổ, không dạn nắng mưa, tuy được xem biết văn hoá của thượng quốc, được dự làm tân khách ở vương đình, nhưng e đi đường có sự không may xảy ra, chỉ dãi phơi xương trắng để động lòng nhân của bệ hạ thương xót mà thôi, không ích chút nào cho thiên triều vậy . . .” 1 .

Tháng 2-1279, quân xâm lược Mông Cổ hoàn thành việc tiêu diệt quân đội và triều đình Nam Tống.  Tháng 4 năm đó, Khu mật viện nhà Nguyên đã đề nghị Hốt Tất Liệt cất quân đánh Đại Việt. Hốt Tất Liệt ra lệnh khẩn trương triển khai các công việc chuẩn bị xâm lược Đại Việt.  Tuy nhiên, hắn còn hy vọng nhà Tống bị tiêu diệt sẽ làm cho Đại Việt run sợ và có thể tiếp tục khuất phục nước ta bằng các biện pháp đe doạ và gây sức ép về ngoại giao.

Triều đình Trần khẩn trương triển khai các biện pháp chuẩn bị chống xâm lược. Mặt khác, để tranh thủ thêm thời gian hoàn chỉnh việc chuẩn bị kháng chiến, năm 1281, Trần Nhân Tông phái chú họ là Trần Di Ái dẫn đầu phái bộ Đại Việt sang Nguyên.  Hốt Tất Liệt vốn rất tức giận về thát độ vua Trần, đã nhiều lẩn sai sứ mang thư sang, đe doạ : “Nếu ngươi không yên, cố ý chống cự mệnh trẫm, thì ngươi cứ sửa đắp thành luỹ sắm sửa giáp binh, sẵn sàng mà đợi” 2.

3. Giai đoạn thứ ba của cuộc đấu tranh ngoại giao bắt đầu tư năm 1279.

Nay gặp cơ hội chú họ vua Trần sang, hắn đã nhanh chóng nắm lấy để thực hiện dã tâm chinh phục Đại Việt. Vua Nguyên bèn phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, hai nhân vật khác của phái bộ: Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, và Lê Tuân làm thượng thư, hình thành một triều đình bù nhìn. Đồng thời Hốt Tất Liệt thành lập bên cạnh triều đình bù nhìn đó một bộ máy thống trị của đế quốc Nguyên gọi là An Nam Tuyên uý ty, cử Bột Nhan Thiết Mộc Nhi (Buyantêmua) làm An Nam Tuyên uý đô nguyên soái, Sài Thung và Hốt Kha Nhi (khuke) làm phó. Tháng 1-1282, phái một nghìn quân hộ tống bọn này vào Đại Việt.

Bột Nhan Thiết Mộc Nhi mang theo chiếu thư ngày 19-12-1281  của Hốt Tất Liệt bắt vua Trần thôi làm vua. Chiếu thư viết: Ngươi cáo bệnh không vào chầu, nay cho ngươi được nghỉ để thuốc thang điều dưỡng. Ta lập chú ngươi là Di Ái thay ngươi làm Quốc vương An Nam, coi quản dân chúng...”.  Thật là một hành động ngạo mạn, hống hách và chủ quan.  Được tin đó, triều đình Trần đã cử quân đánh tan đội quân hộ tống của nhà Nguyên, bắt sống bọn bù nhìn phản bội đưa về Kinh trị tội, đồng thời xuống chiếu cho cả nước chuẩn bị kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược. 
 

III. CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ HAI (1285)

Ngay sau khi tiêu diệt Nam Tống, vào đầu năm 1279, quân Nguyên khẩn trương chuẩn bị đánh Đại Việt và các nước phương nam. Tuy nhiên, cân nhắc về chiến lược, Hốt Tất Liệt thấy trước mắt cần tạm gác việc này, tập trung cố gắng đánh chiếm Nhật Bản. Lấy xong Nhật Bản là nước láng giềng ở đông bắc, sẽ tiến đánh nhiều nước láng giềng khác ở phía nam.

Năm 1274, quân Nguyên đã xâm lược Nhật Bản, nhưng bị thất bạI. Từ đây Hốt Tất Liệt vẫn nung nấu tham vọng đánh chiếm Nhật Bản. Đánh Nhật Bản có thể lôi kéo được quân của Triều Tiên lúc đó là một thuộc quốc của nhà Nguyên tham gia. Nay lại huy động được tướng Tống và quân Tống đầu hàng thì lực lượng sẽ mạnh hơn, khả năng thắng lợi sẽ nhiều hơn lần xâm lược trước.

Giữa năm 1281, Hốt Tất Liệt phái 15 vạn quân và hơn một nghìn thuyền chiến chia làm hai hạm đội tiến đánh Nhật Bản. Một hạm đội xuất phát từ Triều Tiên. Hạm đội thứ hai xuất phát từ bờ biển miền nam Trung Quốc là hạm đội chủ yếu gồm 10 vạn quân, phần lớn là quân cũ của nhà Tống. Hai hạm đội hẹn nhau hội quân tại bờ biển Cự Châu để cùng tiến vào nước Nhật. Nhưng hạm đội phía nam tới chậm lỡ kỳ hạn. Hạm đội xuất phát từ Triều Tiên tới trước, bị quân Nhật Bản đánh cho tan tành, phải chạy trở về. Khi 10 vạn quân từ bờ biển phía nam Trung Quốc đổ bộ lên đất Nhật tiến tới Ngũ Long Sơn thì gặp bão lớn, hầu hết thuyền chiến bị bão phá vỡ. Bọn tướng Nguyên vội thu thập những thuyền tốt còn lại chạy trốn về nước, bỏ mặc 10 vạn quân trên đất Nhật Số quân này đều bị quân Nhật tiêu diệt hết, chỉ còn sót ba tên chạy thoát về Nguyên. Bấy giờ là tháng 8- 1281.  Sau thất bại này, Hốt Tất Liệt càng điên cuồng xúc tiến cuộc xâm lược các nước phía nam.


_____________________
1. An Nam chí lược q.6. Biểu năm Chi Nguyên 15 (1278). Nguyên Sử An Nam truyện có chép tóm tắt.
2. Thư Hốt Tất Liệt gửi vua Trần, do Sài Thung, sứ thần Mông Cổ mang sang Đại Việt năm 1279.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #61 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:20:06 pm »


Ngày 29-11-1281, Hốt Tất Liệt lập Hành trung thư tỉnh chuyên trách tổ chức việc xâm lược Chăm pa chiêm Thành), lấy Toa Đô làm hữu thừa, Lưu Thâm làm tả thừa và Diệt Hắc Mê Thất làm tham tri chính sự cùng đôn đốc công việc của Hành trung thư tỉnh Chiêm Thành.

Ngày 30- 11, Hốt Tất Liệt hạ lệnh lấy 100 hải thuyền, một vạn quân tân phụ và thuỷ thủ “để tháng Giêng năm sau đánh các nước Phiên ở hải ngoại”. Cùng ngày đưa chiếu dụ vua Chăm pa cấp quân lương. Ngày 19- 12- 1281, gửi chiếu đòi vua Trần phải cấp quân lương cho “Hành tỉnh Chiêm Thành”.

Từ tháng 1- 1282, Hốt Tất Liệt ban tiền sao, tức tiền giấy cho những quân tân phụ trong đoàn quân đi đánh Đại Việt. Tháng 7-1282, Hốt Tất Liệt điều khoảng 10 vạn quân các tỉnh Hoài Triết, Phúc Kiến, Hồ Quảng, 100 hải thuyền, 250 chiến thuyền giao cho Toa Đô đi đánh Chiêm Thành.

Triều đình nhà Trần theo dõi sát sao các hoạt động chuẩn bị xâm lược của nhà Nguyên. Tháng 9-1282, trấn thủ Lạng Châu là Lương Uất báo tin về triều: “Hữu thừa nước Nguyên là Toa Đô đem 50 vạn quân tinh nhuệ, phao tin là mượn đường đi dành Chiêm Thành, nhưng thực là đến xâm lược nước ta” 1 .


__________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, q.5, t.41b, 42a.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #62 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:20:50 pm »

Cuối năm 1282, Hốt Tất Liệt cử Toa oô đem quân theo đường biển đánh Chăm pa. Mục đích trước mắt là chinh phục Chăm pa, từ Chăm pa tiến quân lên phía bắc đánh Đại Việt, phối hợp với cánh quân chủ yếu sẽ đánh Đại Việt từ phía bắc. Mục đích lâu dài là biến nước này thành căn cứ để phát triển xâm lược xuống phía nam.

Cuộc kháng chiến anh dũng và bền bỉ của quân, dân Chăm pa đã làm cho cuộc xâm lược bị thất bại thảm hại. Cùng chiến đấu với quân, dân Chăm pa có một đạo quân Đại Việt gồm hai vạn người và 500 chiến thuyền do triều đình Trần phái vào giúp Chăm pa chống kẻ thù chung. Lực lượng đó tương đương với số quân chủ lực của Chăm pa.  Viện binh của Hốt Tất Liệt phái đến cho Toa Đô bị bão đánh tan. Toa Đô đành rút quân ra phía bắc nước Chăm pa trong vùng Ô Lý -Việt Lý (Quảng Trị, Thừa Thiên), đóng quân tại đó, chờ ngày tiến công vào Đại Việt. 

Lúc đó, Hốt Tất Liệt chuẩn bị ráo riết cho cuộc xâm lược Đại Việt: điều động tướng lĩnh, chuẩn bị quân đội, tăng cường binh thuyền.

Về phía Đại Việt, thấy rõ chiến tranh xâm lược sẽ sớm xảy ra, triều đình Trần đã khẩn trương tiến hành chuẩn bị kháng chiến trên các mặt.

Tháng 11- 1282, vua Trần ra Bình Than, mở hội nghị vương hầu, bách quan bàn kế sách đánh giặc. Hội nghị này cũng có tác dụng làm cho vương hầu, bách quan quán triệt được quyết tâm và chủ trương kháng chiến của triều đình, động viên được lực lượng của toàn bộ tầng lớp quý tộc hăng hái tham gia kháng chiến. Hội nghị họp ở Bình Than mà không họp ở Thăng Long, chắc là để tránh sự theo dõi của sứ bộ Mông Cổ, mặt khác là để tiện bàn bạc trên thực địa về các phương án công phòng trên một địa bàn sẽ có thể là chiến trường quan trọng.

Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư là một vị tướng giỏi trước đây bị nhà vua cách chức vì phạm tội, ra bán than ở Chí Linh. Vào dịp này, vua Trần đã tha tội cho ông, mời về họp. Khánh Dư đã có nhiều ý kiến phù hợp với ý vua.  Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn, một thiếu mền quý tộc yêu nước cũng đã đến Bình Than với hy vọng bày tỏ ý nguyện giết giặc của mình, nhưng không được dự họp vì còn ít tuổi.  Quốc Toàn vô cùng uất ức, đã bóp nát quả cam cầm trong tay mà không biết.

Khi trở về, Quốc Toàn bèn lập một đội quân gồm hơn một nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền ngày đêm luyện tập, chờ ngày giết giặc lập công. Lá cờ của đội quân do Trần Quốc Toàn chỉ huy mang sáu chữ lớn: “Phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh, báo ơn vua).

Hoạt động sôi nổi của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn cũng cho ta hình dung được không khí náo nức chuẩn bị kháng chiến trong các vương hầu, quý tộc cũng như quân, dân các địa phương trong nước.

Sau hội nghị Bình Than, các tướng lĩnh được lệnh đem quân trấn giữ các nơi hiểm yếu. Các chức vụ quan trọng để lãnh đạo cuộc kháng chiến được xác định: Chiêu Minh vương Trần Quang Khải giữ chức thát sư, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được chỉ định làm Quốc công tiết chế thống lĩnh quân đội cả nước.

Quân triều đình, quân địa phương và quân vương hầu được tăng cường nhanh chóng về số lượng và chất lượng.  Nhiều cuộc diễn tập, duyệt binh lớn được tổ chức để rèn luyện quân đội và biểu dương lực lượng, gây lòng tin trong dân chúng. Tháng 11-1283, Trần Nhân Tông đã tự mình chỉ huy các vương hầu điều quân thuỷ bộ tập trận.

Năm sau, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lại điều động các vương hầu đem quân đến Đông Bộ Đầu, tổ chức một cuộc duyệt binh lớn ở Thăng Long. Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương công bố bài Hịch tướng sĩ. Đó là một văn kiện có tác dụng to lớn đối với việc phát huy khí thế chiến đấu của quân đội. Với lời lẽ có sức thuyết phục cao, bài hịch đã động viên lòng yêu nước, tinh thần tự tôn của dân tộc, chí căm thù, ý thức cảnh giác tinh thần khẩn trương học tập binh pháp và chuẩn bị kháng chiến về mọi mặt, đồng thời lại phê phán những khuynh hướng vun vén lợi ích cá nhân, ăn chơi, cờ bạc... lơ là việc nước, việc binh. Hịch văn có tác dụng động viên, cổ vũ to lớn không những đối với tướng sĩ mà còn đối với dân chúng cả nước.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #63 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:22:44 pm »

Các chiến sỹ xăm vào tay mình hai chữ “Sát Thát” để tỏ quyết tâm diệt địch.

Tháng 1-1285, Thượng hoàng Thánh Tông đã mời các phụ lão trong cả nước về Kinh đô hội họp ở điện Diên Hồng, hỏi kế đánh giặc. Trả lời câu hỏi của vua là nên đánh hay không, các phụ lão đã đồng thanh hô lớn “Đánh!”. Sử chép rằng, bấy giờ “muôn người cùng nói, như từ một miệng” 1 .
 
Đó là quyết tâm của toàn dân mà các phụ lão là đại diện đã biểu thị với triều đình. Triều đình thông báo cho nhân dân cả nước: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh. Nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng!” 2 .
 
Thông báo mang tính mệnh lệnh này được viết lên bảng lớn, treo khắp các nẻo đường đất nước. Nhân dân các xóm, làng, bản đã lập các đội dân binh, tự vũ trang để phối hợp với quân đội bảo vệ quê hương và sẵn sàng thực hiện “thanh dã” (vườn không nhà trống) cất dấu lương thực, không để lọt vào tay quân xâm lược.

Các biện pháp nói trên đã nâng cao trình độ sẵn sàng kháng chiến của quân, dân, khơi dậy được lòng yêu nước truyền thống của dân tộc, từng bước biến quyết tâm kháng chiến của triều đình, của vương hầu quý tộc thành quyết tâm kháng chiến của các bô lão, của muôn dân trăm họ trong cả nước.

Các đơn vị chủ lực của triều đình và các đội quân địa phương đã triển khải đóng giữ các khu vực quy định. Phạm Ngũ Lão và một số tướng đóng giữ các cửa ải quan trọng từ biên giới đến Chi Lăng. Quản quân Nguyễn Lộc đóng quân ở châu Thất Nguyên (nay là huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn). Chiêu Văn vương Trần Nhật Quật tiến giữ lộ Tuyên Quang gồm đất tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang). Hoài Thượng hầu Trần Văn Lộng giữ vùng Tam Đái (gồm nhiều địa phương thuộc tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc).

Bản doanh của Hưng Đạo vương đóng ở ải Nội Bàng. Đây là chiến ải lớn nằm ở khu vực giữa thung lũng sông Lục Nam, địa thế bằng phẳng, rộng rãi, có thể chứa được hàng vạn quân. Hai bên ải là dãy núi Bảo Đài và Huyền Đinh - Yên Tử bao bọc. Sông Lục Nam chảy giữa thung lũng tạo nên một trực giao thông thuỷ bộ nối liền vùng đồng bằng với miền nút. Chặn ngang thung lũng là ngọn núi ải đồ sộ, tạo nên hai cửa ra vào thung lũng, cửa phía tây giáp núi Bảo Đài, cửa phía đông giáp sông Lục Nam.Dựa vào địa thế hiểm trở, Trần Hưng Đạo cho xây dựng phòng tuyến và đặt đại bản doanh ở đây (tại khu vực xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang).

Về phía nhà Nguyên, tháng 7- 1284, Hốt Tất Liệt đã phong cho con trai là Thoát Hoan làm Trấn Nam vương, thống lĩnh toàn bộ các lực lượng viễn chinh. Cử A Lý Hải Nha làm phụ tá cho Thoát Hoan.

A Lý Hải Nha là viên tướng người Hồi Hột (Uigua) khét tiếng gian hùng và tàn bạo, được sử nhà Nguyên xếp vào hàng công thần khai quốc. Y đã tham gia chỉ huy cuộc chinh phục Nam Tống, dìm trong máu lửa nhiều vùng miền nam Trung Quốc, kể cả đảo Hải Nam. Sau khi chiếm được toàn bộ đất đai Trung Quốc, Hốt Tất Liệt đã cử A Lý Hải Nha cầm đầu Hành tỉnh Kinh Hồ (còn gọi là Hành tỉnh Hồ Quảng), là cơ quan chuyên trách việc xâm lược các nước phương nam. 

Dưới trướng của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha, còn có nhiều viên tướng đã quen chiến trận ở vùng nam Trung Quốc. Trong đó có nhiều tên người Hán. Tên tướng người Hán có chức vụ cao nhất là viên Trung thư tả thừa Lý Hằng.  Hằng đã tham gia tiêu diệt căn cứ cuối cùng của vương triều Tống ở Nhai Sơn (Quảng Đông).

Tháng 8- 1284, đại quân của Thoát Hoan lên đường, và cuối tháng 1-1285, các mũi tiến công của quân Nguyên bắt đẩu vượt qua biên giới.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai này, nhà Nguyên huy động một lực lượng rất lớn, từ ba mật tiến đánh nước ta. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thì riêng hai đạo quân tiến công từ phía bắc qua (từ Quảng Tây và từ Vân Nam) đã gồm đến 50 vạn quân. Đạo quân Toa Đô đóng ó miền bắc Chăm pa, tiến công nước ta từ phía nam cũng tính đến gần 10 vạn.


_____________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q.5, t. 1, t.44b.
2. Nguyên sử, q.209, t.7b.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #64 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:24:04 pm »

Để bảo đảm hậu cẩn cho đạo quân xâm lược, Hốt Tất Liệt đã chuẩn bị một số lương thực rất lớn. Y ra lệnh cho các tỉnh miền nam Trung Quốc phải nộp và vận chuyển thóc gạo xuống phía nam cho quân đội. Theo lời một viên quan ở Hành tỉnh Kinh Hồ thì “A Lý Hải Nha xuất chinh, thu ba vạn thạch lương. Dân rất khốn đốn” 1.
 
Tuy nhiên, việc cung ứng lương thực vẫn là một khó khăn rất lớn của quân xâm lược. Việc thu và vận chuyển lương thực đều không dễ dàng.  Hốt Tất Liệt hạ lệnh cho các tỉnh miền nam Trung Quốc phải nộp thóc gạo và chịu phu dịch chuyển vận lương thực. Trên đường hành quân của Thoát Hoan, dân các địa phương phía bắc phải nộp gạo và chở xuống phía nam gần biên giới Việt Trung. ở Sầm Châu (Hồ Nam), dân phải nộp một nghìn thạch gạo và phải chở đến Quế Châu (Quế Lâm, Quảng Tây). 

Viên vạn hộ Sầm Châu là Đề Trạch đã nói: Từ đây vào đất Quế, đường bộ đến nghìn dặm, dân phải gồng gánh, mỗi người chỉ mang được năm đấu mà thôi, thế là phải có hai nghìn người làm phu gánh, lại còn mang theo quần áo, lương thực cho họ đến một nửa. Như thế thì đi chưa đến nửa đường, ắt vứt tất cả mà bỏ trốn.

Có thể biết trước được như vậy, nhiều nơi ở Quảng Đông, nông dân đang nổi dậy. Tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng bọn đầu sỏ xâm lược cũng phải tìm mọi cách để giải quyết, vì việc tìm lương thực tại chỗ trong dân ở chiến trường Đại Việt là không thể thực hiện được. Cuộc chiến tranh xâm lược thất bại năm 1258 đã dạy cho chúng bài học đó.

Về phía ta, vua Trần đã hạ quyết tâm chặn đánh địch trên tất cả các hướng tiến công của chúng và đã phân công các tướng chỉ huy các mặt trận.

Trần Hưng Đạo trực tiếp chỉ huy đánh định hướng Quảng Tây sang, bố trí các tuyến phòng ngự ở những nơi xung yếu. Trần Nhật Duật đảm nhiệm việc chặn địch ở hướng Vân Nam sang.

Triều đình Trần phái Thiện trung đại phu Nguyễn Đức Dư và Triều thỉnh lang Nguyễn Văn Hàn đưa thư cho Thoát Hoan. Trong thư vua Trần đòi chúng rút quân, phải làm theo đúng chiếu văn của Hốt Tất Liệt năm 1261 là “đã cấm biên tướng không được đem quân xâm phạm bờ cõi nước khanh”.  Phái bộ Nguyễn Đức Dư gặp bọn Thoát Hoan khi chúng đã kéo quân tới Lộc Châu. Chúng phái Tổng bả A Lý đi theo sứ ta cầm thư của A Lý Hải Nha sang nói: “Sở dĩ tiến quân thật vì Chiêm Thành, không phải vì An Nam” để yêu cầu ta lui quân, mở đường cho chúng tiến vào.

Đạo quân Nguyên từ Quảng Tây sang tiến quân theo hai đường. Một đường theo hướng tây qua huyện Khâu Ôn (Ôn Châu, Lạng Sơn), một đường theo hướng phía đông, qua ải Khâu Cấp, tức là theo con đường từ Lộc Bình đi Sơn Động.  Đại quân của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha tiến theo sau cánh quân phía đông.

Ở các ải, các tuyến phòng ngự vùng biên giới, quân Trần đã dựa vào các điểm cao và rừng núi hiểm trở kiên cường chiến đấu chặn đánh địch ở Ải Khâu Cấp và ải Khả Ly, nhưng quân địch quá mạnh đã vượt qua được.  Sau đó, quân Nguyên tiến dành ải Động Bản tức Biển Động (thuộc huyện Sơn Động). Điểm xung yếu này chặn con đường tiến xuống lưu vực sông Lục Nam (bấy giờ gọi là Bình Giang). Quân Trần đã kiên cường đánh trả giặc, nhưng đã bị tổn thất lớn. Người chỉ huy là Trần Sầm bị thương nặng và hy sinh. Quân ta phải rút.

Biết Hưng Đạo vương đóng bản doanh ở Nội Bàng, A Lý Hải Nha sai người đưa thư đòi ông mở đường đón Trấn Nam vương. Việc đó dĩ nhiên vô hiệu. Quân Nguyên lại tiến sát Nội Bàng. Thoát Hoan lại sai người “chiêu dụ” Hưng Đạo vương. Tất nhiên âm mưu này cũng thất bại.  Ngày 2-2- 1285, quân Nguyên chia làm sáu mũi đánh vào Nội Bàng.

Tổ chức phòng ngự ở đây với một lực lượng lớn, Hưng Đạo Vương vốn có ý định chặn đứng quân địch. Nhưng trước thế giặc mạnh, quân số đông, tiến công ồ ạt từ nhiều mặt, quân Trần bị nhiều tổn thất. Trong khi đó cánh quân Nguyên tiến công theo đường phía tây cũng đã vượt qua ải Khâu ôn, chiếm được cửa quan Lão Thử (gần ga xe lửa Chi Lăng ngày nay) . Trong tình hình đó, Trần Quốc Tuấn đã quyết định lui quân về Vạn Kiếp, tổ chức một tuyến phòng ngự mạnh ở đó.


__________________________
1. Nguyên sử, q.209, t.8b.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #65 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:26:29 pm »

Trần Quốc Tuấn đi thuyền theo sông Lục Nam, xuống sông Thương rồi về Vạn Kiếp. Nghe tin quân ta không ngăn được giặc, phải lui quân, Trần Nhân Tông vội vã đi thuyền ra Hải Đông gặp Hưng Đạo vương. Gặp Quốc Tuấn, vua Trần hỏi: “Thế giặc như thế, ta nên hàng chúng chăng?” Câu hỏi của vua Trần một mặt có ý ướm thử sự đánh giá và ý định của vị tiết chế, nhưng mặt khác cũng bộc lộ sự lo ngại của nhà vua trong tình hình chiến sự rất nguy hiểm. Trần Quốc Tuấn trả lời: “Trước hết hãy chém đầu thần, rồi sau hãy hàng” 1.

Trần Quốc Tuấn đã bình tĩnh cùng vua Trần bàn bạc các phương sách đối phó với kẻ thù. Ở Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn đã tập trung một binh lực lớn. Riêng các lực lượng của các con Trần Quốc Tuấn - Hưng Vũ vương Hiến, Minh Hiến vương Uy, Hưng Nhượng vương Tảng, Hưng Trí vương Nghiến rút từ mấy địa phương gần đó thì đã có tới hai mươi vạn.

Dựa vào địa thế vùng này, có núi tiện cho phòng ngự, có sông tiện cho cơ động bằng thuyền, có rừng rậm tiện che dấu quân, cơ động lực lượng kín đáo và bất ngờ tiến công địch, Trần Quốc Tuấn đã bố trí một phòng tuyến lớn. Quân Trần đã chiếm lĩnh và tổ chức phòng ngự trên một số điểm hiểm yếu ở vùng Vạn Kiếp, ở tả ngạn và hữu ngạn sông Bình Than (tức sông Lục Đầu). Có hơn nghìn thuyền chiến đóng cách Vạn Kiếp mươi dặm, trên sông Bình Than, gần cửa sông Đống, sẵn sàng chi viện cho quân bộ.

Có thể hiểu rằng Trần Quốc Tuấn quyết tâm thực hiện một số trận đánh lớn ở đây để chặn bước tiến của giặc. Đồng thời Trần Quốc Tuấn còn dùng một bộ phận lực lượng đóng giữ một số nơi phía sau phòng tuyến Vạn Kiếp - Bình Than trên đường về Thăng Long. Cách bố trí này nhằm tăng cường chiều sâu phòng ngự. Mặt khác, qua đó có thể hiểu rằng Trần Quốc Tuấn cũng đã tính đến khả năng còn có thể lui quân. 

Thấy khí thế của quân ta phấn chấn, lực lượng còn hùng hậu, số quân lớn tập trung ở Vạn Kiếp mới chỉ điều từ các lộ đồng bằng phía bắc, Trần Nhân Tông đã cảm xúc viết vào đuôi thuyền hai câu thơ:

“Cối Kê cựu sự quân tu ký,
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh
”
(Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ,
Hoan Diễn còn kia chục vạn quân
) 2.
 
Thoát Hoan và A Lý Hải Nha tiến đến gần Vạn Kiếp thì dừng lại, chuẩn bị cho cuộc tiến công vào phòng tuyến quân ta. Theo các tin tức nhận được, chúng biết Trần Quốc Tuấn có nhiều binh thuyền. Điều đó làm cho chúng lo ngạt. Thoát Hoan cho quân đì lùng cướp thuyền ở ven sông và tìm cướp ván, gỗ, đinh, lập công trường tại chỗ để đóng thuyền chiến.  Lại ra lệnh tuyển thủy quân trong các cánh quân bộ, giao cho viên tướng Ô Mã Nhi chỉ huy. Cánh quân do Bôn Kha Đa chỉ huy đi theo con đường phía tây qua Lạng Sơn có lẽ cũng đã theo thung lũng sông Thương xuống hội quân với Thoát Hoan trước khi đánh Vạn Kiếp.

Trong thời gian này, bọn Thoát Hoan, A Lý Hải Nha gửi thư sang ta dụ dỗ và đe doạ. Chúng cho một sứ của ta bị chúng giữ lại từ trước là Nguyễn Văn Hàn cầm thư sang đại bản doanh ta. Trong thư, bọn Thoát Hoan trách vua Trần: “Triều đình điều binh đánh Chiêm Thành, nhiều lần gửi thư cho thế tử chỉ vua Trần (TG) bảo mở đường, chuẩn bị lương thực.  Không ngờ cố ý trái mệnh triều đình, để cho Hưng Đạo vương đem binh nghênh chiến, bắn bị thương quân ta”. Rồi chúng lại dụ dỗ theo những nội dung cũ là lui quân, mở đường, đón tiếp chúng. Và cuối thư chúng doạ: “Nếu không, đại quân sẽ đóng lại ở An Nam, mở Phủ”.

Ta không trả lời. Tại gần nơi đóng quân của địch, ta cho rải giấy phản đối hành động xâm lược của giặc. Quân Nguyên nhặt được hai tờ giấy này ở trên bờ sông. Theo Nguyên sử, nội dung những tờ giấy của ta là: “Chiếu trước (1261 - TG) nói là “lệnh riêng cho quân ta không được vào nước người”, thế mà nay lấy cớ nước Chiêm Thành đã thần phục lại phản đem đại quân qua nước tôi, tàn hại trăm họ, đó là việc làm của Thát tử sai lầm, chứ không phải nước tôi sai lầm, xin đừng làm khác với chiếu trước, rút lui đại quân...” 3.


___________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q.6, t.11a.
2. Toàn thư, q5, t.44b - 45a. “Việc cũ Côi Kê” là chuyện Câu Tiễn nước Việt (thời Chiến quốc) chỉ còn một nghìn quân ở Cối Kê mà sau đánh thắng Ngô Phù Sai. Hoan Diễn là vùng Nghệ An, Hà Tĩnh.
3. Nguyên sử, q.209, An Nam truyện, t.6b.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #66 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:28:24 pm »

Ngày 11-2- 1285, cuộc tiến công của quân Nguyên vào phòng tuyến Vạn Kiếp - Bình Than bắt đầu. Hơn 30 vạn quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy từ nhiều hướng tiến công Vạn Kiếp. Quân bộ của địch đánh vào các khu vực phòng ngự của quân ta ở hai bờ sông như Vạn Kiếp và núi Phả Lạt. Quân ta chống cự mãnh liệt. Binh thuyền của giặc cũng giao chiến ác liệt với binh thuyền của ta do vua Trần chỉ huy trên sông Bình Than. Cuộc chiến đấu ác liệt kéo dài bốn ngày.

Tuy cuộc kháng cự mãnh liệt của quân ta có gây cho địch nhiều tổn thất, nhưng thế giặc còn mạnh. Vua Trần và Trần Quốc Tuấn nhận định là chưa thể chặn đứng được cuộc tiến công của địch. Vì thế sau trận đánh trên sông Bình Than, Trần Quốc Tuấn đem binh thuyền theo sông Đường về Thăng Long. Cuộc chiến đấu ở Vạn Kiếp dã làm chậm bước tiến của Thoát Hoan, tạo điều kiện cho triều đình và nhân dân ở Kinh thành Thăng Long thực hiện “thanh dã” để chống giặc. 

Chiếm được Vạn Kiếp và Phả Lại, Thoát Hoan tiếp tục tiến công đánh chiếm Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh), phát triển xuống Đông Ngàn (nay thuộc đất Tiên Sơn, Bắc Ninh và Đông Anh, Hà Nội). Ở sông Đống, một bộ phận binh thuyền của ta đã chặn dành quân địch. Quân giặc bắt được một số quân ta. Thấy chữ “Sát Thát” trên cánh tay những binh sĩ này, chúng liền đem giết hết. Sau trận chiến đấu, quân ta lại rút. Quân địch kết bè làm cẩu phao, vượt sông Đống, tiến đánh Gia Lâm.

Sau khi rút từ các nơi về, quân ta đã tổ chức một phòng tuyến trên bờ nam sông Hồng, trước Kinh thành Thăng Long. Thuyền chiến bố trí ở dọc sông. Trên bờ chiến luỹ được dựng lên bằng rào gỗ. Sau chiến lũy các cỗ pháo đã chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 17- 2-1285, quân Nguyên tiến đến bờ bắc sông Hồng, tìm cách vượt sông. Trên trận địa bờ nam, quân ta bắn pháo và hò reo, hô to thách đánh 1. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt nhưng địch không chọc thủng được phòng tuyến của ta.  Cuộc chiến đấu kiên cường và có tổ chức trên một phòng tuyến mới tổ chức được vài ngày sau trận Bình Than, cũng như tinh thần chiến đấu dũng mãnh của quân Trần chứng tỏ sức chiến đấu của quân Trần vẫn được giữ vững. 
 
Chiều 17-2, vua Trần phái Trần Khắc Chung đến gặp viên tướng Ô Mã Nhi để trinh sát tình hình. Trong trại giặc, trước sự uy hiếp của Ô Mã Nhi, Khắc Chung vẫn bình tĩnh, ứng đối linh hoạt, khiến tướng giặc phải khâm phục. 

Về sự kiện này, sách Đại Việt sử ký toàn thơ chép như sau: “Vua muốn sai người đi xem hư thực mà chưa tìm được ngườt. Chi hậu cục thư là Đỗ Khắc Chung tiến lên nói: “Thần tuy hèn mọn bất tài nhưng xin được đi”. Vua mừng lắm nói: “Ngờ đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ, ngựa ký”, rồi sai mang thư nói xin hoà. Ô Mã Nhi hỏi: “Chúa ngươi vô lễ sai người thích chữ “Sát Thát”, khinh nhờn thiên binh, tội thật là lớn”. Khắc Chung đáp: “Chó nhà cắn người, không phải tại chủ nó, vì lòng trung phẫn mà họ tự thích vào, quốc vương không biết việc đó. Tôi là cận thần tại sao lại không có . Nói rồi đưa cánh tay cho xem. Ô Mã Nhi nói: “Đại quân từ xa đến, nước ngươi tại sao không quay giáo đến tương kiến, lại còn chống mệnh. Bọ ngựa dám chống xe, liệu sẽ ra thế nào?”. Khắc Chung nói: “Hiền tướng không thi hành cái chính sách của Hàn Tín bình nước Yên, đóng quân ở đầu biên giới trước hết đưa thư, nếu không thông hiếu thì mới là có lỗi.  Nay lại bức bách nước tôi. Người ta nói: thú cùng thì chống lại, chim cùng thì mổ lại, huống chi là người”. Ô Mã Nhi nói: “Đại quân mượn đường để đánh Chiêm Thành, quốc vương nếu đến hội kiến thì trong nước vẫn được yên ổn, một chút gì cũng không phạm đến. Nếu cứ mê muội thì chỉ trong chốc lát núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ nát”... 

Sáng 18-2, Khắc Chung trở về sau khi đã nắm được một số tình hình địch. Ô Mã Nhi hối tiếc vì đã thả Khắc Chung, cho quân đuổi theo, nhưng không kịp. Ô Mã Nhi bảo chư tướng: “Người này ở vào lúc bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ là Chích, không mình ta là Nghiêu, giỏi ứng đối có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước này có những người như thế, chưa dễ đã chiếm được” 2 .


____________________________
1. Nguyên sử, q.200, An nam truyện, t.7a.
2. Toàn thư, q.5.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #67 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:31:44 pm »

Trong quá trình chiến đấu, đã hình thành quyết tâm của triều đình rút khỏi Thăng Long. Lực lượng ta tuy vẫn được bảo toàn, còn sung sức, ý chí chiến đấu còn cao, nhưng thế tiến công của địch còn rất mạnh. Địa hình vùng nam sông Hồng không tiện lợi cho việc tổ chức phòng ngự như ở Vạn Kiếp. Quân ta đã đánh thiệt hại và làm chậm đà tiến công của địch, nhưng chưa có khả năng chặn đứng chúng trước Kinh đô.

Rút kinh nghiệm cuộc kháng chiến năm 1258, triều đình Trần đã quyết định rút khỏi Thăng Long, sau khi đã ngăn chặn, tiêu hao địch trên một số phòng tuyến nhằm bảo toàn lực lượng, làm suy yếu quân địch, tạo thời cơ phản công chiến lược, thu phục bờ cõt.

Có thể nghĩ rằng ý định rút khỏi Thăng Long được hình thành từ khi quyết tâm ban đầu chặn đứng địch ở Vạn Kiếp không thực hiện được, quân Trần phải rút bỏ Vạn Kiếp. Và theo tinh thần đó, thì mục đích của tuyến phòng ngự sông Hồng không giống mục đích của tuyến phòng ngự Vạn Kiếp - Bình Than. Cuộc rút lui này được thực hiện một cách chủ công và có tổ chức. Một bộ phận gia đình của vương hầu, quý tộc đã lên thuyền rời khỏi Kinh thành từ trước Tết âm lịch, trong tháng 1-1285.

Ngày 18-2-1285, khi những lực lượng cuối cùng đã rút khỏi Kinh thành, binh thuyền của ta trên sông Hồng cũng rút về xuôi. Bấy giờ Thoát Hoan và A Lý Hải Nha mới cho quân vượt sông, tiến vào Thăng Long và mãi đến hôm sau, ngày 19-2, Thoát Hoan mới dám vào khu thành nội. Cả Kinh thành vắng lặng, cung điện, lầu gác không một bóng người. 

Sử nhà Nguyên chép: “Cung thất đều trống không, chỉ còn những tờ chiếu sắc mấy lần gửi sang và điệp văn của trung thư 1 đều đã bị xé bỏ. Ngoài ra còn một số giấy tờ đều là cửa các biên tướng nam bắc báo cáo tin tức và tình hình chống địch”’.

Quân giặc lại thấy khắp nơi đều treo bảng kêu gọi nhân dân liều chết đánh địch. Đối với đại quân của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha, việc triều đình Trần cũng như quân đội và nhân dân rút hết khỏi Kinh đô là một hiện tượng lạ hiếm thấy trong quá trình chinh chiến xâm lược các nước khác. Thường quốc đô là nơi các nước bị xâm lược ra sức cố thủ.

Tuy nhiên, quân Nguyên cũng đã có kinh nghiệm của đạo quân xâm lược dưới quyền Ngột Lương Hợp Thai 28 năm về trước: chiếm đóng thành Thăng Long trống rỗng, sau 9 ngày bị chặn đánh và triệt lương thảo đã mất sức chiến đấu và bị đánh bật khỏi Kinh đô, tháo chạy về nước sau một trận phản công bất ngờ. Thoát Hoan và A Lý Hải Nha không yên tâm đóng quân trong thành, sợ bị quân ta vây hãm và tiến công. Quân giặc lại rút hết ra khỏi Kinh thành Thăng Long, không phải để đóng quân ở ngoại thành mà vượt sông Hồng sang đóng bên bờ bắc như khi mới kéo quân từ sông Đuống đến 2.
 
Cánh quân Mông Cổ do tướng giặc là Nạp Tốc Lạt Đinh chỉ huy từ Vân Nam kéo sang, quân của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cũng chiến đấu kiên cường ngăn giặc. Lúc đó Trần Nhật Duật chặn đánh địch ở trại Thu Vật (vùng huyện Yên Bình, Yên Bái). Quân Nguyên tiến công từ nhiều phía. Sau vài trận giao chiến, Nhật Duật cho quân rút lui theo đường sông. Địch đuổi đánh theo đường sông, đồng thời cho một mũi vu hồi chặn dành theo đường bộ.

Phán đoán được âm mưu của địch, Nhật Quật quyết định bỏ thuyền lên bộ, đi tắt đường khác, thoát khỏi thế bao vây của địch. Khi quân của Trần Nhật Duật về đản Bạch Hạc (20-2-1285) thì triều đình đã rút khỏi Thăng Long mấy ngày. Nhật Duật dừng quân, làm lễ tuyên thệ nguyện dốc lòng trung, báo ơn vua nợ nước. Rồi theo đường tắt qua vùng dân tộc thiểu số về hội quân với triều đình ở hạ lưu sông Hồng. 

Sau khi chiếm được Thăng Long, Thoát Hoan phái nhiều cánh quân lớn đuổi theo quân Trần. Hữu thừa Khoan Triệt cùng với Vạn hộ Bôn Kha Đa và Vạn hộ Mang Cổ Đại đuổi theo bằng đường bộ. Tả thừa Lý Hằng cùng Ô Mã Nhi đuổi theo bằng đường thuỷ.


______________________________
1. Tức cơ quan Trung ương của triều Nguyên.
2. Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng.  sđd, tr.182 (Dẫn Nguyên sử q. 13, Thế tổ bản kỷ, t.13a).
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #68 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:34:11 pm »

Ngày 24-2-1285, tức năm ngày sau khi quân của Thoát Hoan tới Thăng Long, ở Thiên Mạc (nay thuộc Duy Tiên, Hà Nam), Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng đã dũng cảm chiến đấu chặn địch để yểm hộ đại quân ta rút lui. Chiến đấu trong điều kiện địch đông và mạnh, quân ta ít, Trần Bình Trọng đã bị giặc bắt. Mọi thủ đoạn đe doạ và dụ dỗ của giặc không thể khuất phục được Bình Trọng. Ông tuyệt thực, không trả lời những câu dò hỏi của giặc. Khi chúng mang tước vương để mua chuộc, ông đã hiên ngang thét lớn: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thêm làm vương đất Bắc!” 1. Ngày 26-2-1285, quân giặc đã giết ông. Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng đã tiêu biểu cho tinh thần của cả dân tộc ta lúc đó. 

Ở cửa Hải Thị (vùng sông Luộc gặp sông Hồng), quân ta cũng đóng cọc, chắn sông để ngăn chặn địch. Khoan Triệt và Lý Hằng phải phối hợp quân bộ và quân thuỷ mới vượt qua được.

Sau những trận đánh cản giặc trên sông Hồng, triều  đình Trần lui về vùng Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh Bình). Ở đây Trần Quốc Tuấn chăm lo củng cố và bổ sung lực lượng về cơ bản đã bảo toàn được. Trong một thời gian ngắn, thế quân lại mạnh. Sử Nguyên cũng thừa nhận rằng, sau khi rút lui, số quân của nhà Trần còn rất đông và khi về đến Thiên Trường và Trường Yên “binh lực lại tập hợp” 2. 

Đến đây, hai cánh quân thủy - bộ của quân Nguyên đều thấy vùng Thiên Trường được tổ chức phòng ngự vững chắc.  Tự lượng sức mình, chúng không dám tiếp tục tiến xuống Thiên Trường mà phải quay lại Thăng Long. Quân giặc chiếm được Thăng Long và một số địa bàn nhưng chúng không thể kiểm soát được các khu vực đã chiếm.

Những đội quân của triều đình có nhiệm vụ ở lại sau lưng địch, quân của các lộ, các huyện, dân binh các làng, bản tiếp tục chiến đấu, tiến công vào các mục tiêu trong lòng địch, tiêu hao sình lực, ngăn trỏ việc cơ động lực lượng và vận chuyển tiếp tế của dịch, chặn đánh bọn giặc đi cướp lương thảo, giúp dân chúng thực hiện thanh dã theo lệnh của triều đình.

Những hoạt động tích cực tiến công của các lực lượng tại chỗ sau lưng địch làm cho vùng địch chiếm đóng trở nên không an toàn ổn định. Đường liên lạc, vận chuyển giữa tiền tuyến và hậu phương của dịch bị uy hiếp thường xuyên và bị đánh phá mạnh mẽ. Những hoạt động đó có tác dụng kìm hãm tốc độ tiến công xuống phía nam của quân xâm lược và yểm trợ cho cuộc rút lui của đại quân ta.

A Lý Hải Nha phải sai lập các đồn trại trên con đường từ biên giới Lạng Sơn đến Thăng Long. Cứ 30 dặm chúng lập một trại, 60 dặm dựng  một trạm ngựa. Mỗi trại, trạm có 300 quân đóng giữ. Chúng còn phải lập thêm nhiều đồn để đốc thúc công việc của trại, trạm và đối phó với các trận tiến công của dân chúng và các lực lượng vũ trang địa phương. Chính các đồn này cũng thường xuyên bị quân dân ta đánh phá, làm cho quân địch rất hoảng sợ.

Đặc biệt, làm cho kẻ địch lo sợ là các lực lượng tại chỗ vùng Lạng Sơn. Các lực lượng ở lại sau lơng địch của Nguyễn Lộc, một hào trưởng dân tộc Tày, vốn có nhiệm vụ chặn địch ở vùng châu Thất Nguyên (huyện Tràng Định, Lạng Sơn). Khi quân xâm lược đi qua Lạng Sơn, thì các lực lượng dưới quyền Nguyễn Lộc đã mở rộng hoạt động ra cả một vùng rộng lớn từ trại Vĩnh Bình (Văn Lãng, Cao Lộc, Lạng Sơn) cho đến ải Chi Lăng. Lực lượng của quân đội địch phân tán ngày càng nhiều để đóng giữ và tự bảo vệ. Lực lượng cơ động để tiếp tục tiến công ngày càng giảm sút. Cánh quân từ Vân Nam do Naxirútđin chỉ huy kéo đến hội quân với Thoát Hoan chỉ còn 1.000 ngườt.

Trong tình hình.dó, để làm chậm đà tiến công, truy kích của quân Nguyên, tạo điều kiện cho quân ta ở trước mặt và sau lưng địch có thêm thì giờ củng cố và bố trí lại lực lượng, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lão đã đem hơn một nghìn thuyền chiến từ Long Hưng (Thái Bình) ngược sông Thái Bình kéo lên đóng ở Vạn Kiếp. Lực lượng quan trọng này uy hiếp cạnh sườn toàn bộ thế trận chiến lược của Thoát Hoan và có tác dụng chi viện mạnh mẽ cho các lực lượng tại chỗ hoạt động bên trong hậu phương chiến lược của địch.

Việc hơn 1000 chiến thuyền của quân Trần có thể tiến lên Vạn Kiếp chứng tỏ quân Nguyên không kiểm soát được các phủ, lộ phía đông như Long Hưng (Thát Bình), Hồng (nam Hải Dương) Nam Sách (bắc Hải Dương). Đây là một mối đe doạ lớn đối với Thoát Hoan. Chúng hoảng sợ, viết thư cầu cứu triều đình Nguyên. A Lý Hải Nha đã báo cáo với Hất Tất Liệt: “Ở hai xứ Thiên Trường và Trường Yên, binh lực 3 lại tập hợp. Hưng Đạo vương đã tập trung hơn một nghìn chiến thuyền ở Vạn Kiếp. Nguyễn Lộc đóng ở Vĩnh Bình. Còn quan quân 4 thì đi xa, đánh lâu, bị treo lơ lửng ở quãng giữa.  Quân của Toa Đô và Đường Ngột Đãi lại không đến kịp thời”.


_______________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q. 13, t.8b.
2. Nguyên sử, q. 13, t. 8b.
3. Chỉ quân Trần.
4. Chỉ quân Nguyên.
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Năm, 2009, 12:42:56 am gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #69 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2009, 12:52:03 am »

Than vãn “bị treo lơ lửng ở quãng giữa”, bộ thống soái quân xâm lược đã nói lên tình trạng bị bao vây tiến công trước mặt cũng như sau lưng, chúng bị sa lầy trong thế trận cả nước đánh giặc của ta. Và qua đó cũng nói lên hiệu lực của việc Hưng Đạo vương kéo lực lượng lớn binh thuyền về Vạn Kiếp, cũng như của việc các lực lượng vũ trang ta đánh địch rộng rãi sau lưng chúng.

Để cải thiện thế bố trí chiến lược, Thoát Hoan và A Lý Hải Nha đành đem quân rời bờ bắc sông Hồng, trở lại thành Thăng Long cố thủ, chờ đạo quân của Toa Đô 1. 

Có thể là trong những ngày khó khăn đầu tháng 3- 1285, Thoát Hoan đã cho người về nước xin viện binh. Ngày 16-3-1285, Hốt Tất Liệt ra lệnh cho quân đi tiếp viện 2. có lẽ Thoát Hoan xin thêm nhiều thuỷ binh nhưng Hốt Tất Liệt không đáp ứng được, chỉ có bộ binh đi tiếp viện, nên mới có lệnh của Hốt Tất Liệt: “Thấy đường thuỷ nguy hiểm, lệnh theo đường bộ mà đi” 3. Hữu thừa A Bát Xích được giao nhiệm vụ chỉ huy quân tiếp viện 4.

Trong lúc xin viện binh, Thoát Hoan vẫn cố gắng tiến công xuống Thiên Trường hòng bắt được triều đình Trần, tiêu diệt lực lượng và phá vỡ các căn cứ của quân ta, đánh thông con đường liên lạc với Toa Đô, hòng thoát khỏi cái thế đang “bị treo lơ lửng ở quãng giữa”.

Vào lúc đó vua Trần cũng đã chuẩn bị lực lượng, ngược sông Hồng, tiến đánh Thoát Hoan. Ngày 10-3-1285, quân ta gặp địch do Thoát Hoan chỉ huy ở sông Đại Hoàng (khúc sông Hồng chảy qua huyện Lý Nhân). Thế địch còn mạnh, quân ta lại phải rút lui.

Trong lúc chủ trương rút lui chiến lược ở phía bắc, vua Trần và Trần Quốc Tuấn quyết định chặn đứng địch ở mặt trận phía nam, không cho Toa Đô tiến ra bắc. Trước đây, Trần Quốc Tuấn đã để một lực lượng quan trọng trấn giữ Nghệ An và Diễn Châu. Nay lại tăng cường hơn nữa cho mặt trận này. Trần Nhật Duật vừa từ lộ Tuyên Quang về đã phải vội vã vào tăng cừơng cho Nghệ An. Chương Hiến hầu Trần Kiện cũng được lệnh đem quân vào giữ Thanh Hoá. Theo đề nghị của Hưng Đạo vương, ngày 5-3-1285, vua Trần lại cử Thượng tướng Thát sư Chiêu Minh vương Trần Quang Khải vào chỉ huy mặt trận phía nam.

Khi đại quân của A Lý Hải Nha đang tiến xuống Thiên Trường thì quân của Toa Đô từ Chăm pa đánh ra phía bắc đã tiến đến Nghệ An. Quân ta không cản nổi, phải rút lut. Quân của Trần Quang Khải cũng chưa vào kịp. Quân Nguyên tiến ra Thanh Hoá. Tên quý tộc Trần Kiện trong tay còn nắm một vạn quân đã cùng với bọn Lê Trắc hàng giặc. Sau đó lại dẫn đường cho kẻ thù tiến đánh quân ta.

Cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở Thanh Hoá vô cùng anh dũng. Ngày 9-3, tướng Nguyên là Giảo Kỳ cho quân lội qua cửa Vệ Bố (thuộc Quảng Xương, Thanh Hoá). Cuộc chiến đấu ác liệt đã diễn ra. Tướng Trần là Đinh Xa và Nguyễn Tất Thông đã hy sinh. Dân chúng trong các xóm làng ở vùng này cũng đã tự vũ trang chống giặc. Khi quân Nguyên tiến qua hương Yên Duyên thì đại toát (tức đại tư xã, xã trưởng) Lê Mạnh đã “đốc xuất dân trong hương ra chặn địch ở bến Cổ Bút, đánh nhau với quân giặc. Giặc hầu như không còn đường tháo lui được nữa. Nhưng hiềm vì có kẻ gian hàng giặc đã dẫn đường cho giặc, nên nhà cửa đều bị giặc đốt phá” 5.


______________________________
1. Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Sđd, tr. 188. 
2, 3. Nguyên sử q.13, Thế tổ bản kỷ, t.16a.
4. Có thể sau sự kiện này, Thoát Hoan thua nhanh cho nên số quân viện này không đến kịp gặp hắn.
5. Theo tấm bia ở chùa Hưng Phúc, xã Quảng Hùng, Quảng Xương, Thanh Hoá, khắc năm 1324. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM