Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:44:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 109363 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #70 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2009, 12:55:16 am »

Tuy nhiên, thế giặc còn mạnh, quân dân ta vẫn không chặn được chúng. Trần Quang Khải bèn cho lui quân.  Tình hình kháng chiến lúc đó trở nên vô cùng khó khăn. Từ Thăng Long, Thoát Hoan huy động đại quân đánh xuống Thiên Trường. Quân Toa Đô từ Thanh Hoá tiến gấp ra Trường Yên. ý đồ của chúng là giáp công hai mặt tiêu diệt căn cứ của triều đình và quân chủ lực của ta. 

Để tranh thủ thêm thời gian, vua Trần tìm kế hoãn binh, sai Trung Hiếu hầu Trần Dương đến gặp Thoát Hoan xin cầu hoà và sai Cận thị Đào Kiên đem Công chúa An Tư, em út của Thánh Tông, cho Thoát Hoan. Riêng việc này cũng nói lên mức độ khó khăn của vua Trần lúc đó.

Thoát Hoan đã giam giữ Trần Dương và sai Thiên hộ họ Ngải đòi vua Trần phải thân đến gặp hắn. Vua Trần tất nhiên không chịu.

Sau khi đã đạt được yêu cầu uy hiếp thế trận chiến lược của địch, làm chậm đà tiến công của chúng xuống Thiên Trường, mặt khác, tăng cường cho lực lượng quân ta đã được chấn chỉnh ở đây, sẵn sàng ứng phó với các tình huống, Trần Quốc Tuấn đã rút quân từ Vạn Kiếp về Thiên Trường. Chiêu Minh vương Trần Quang Khải cũng đã ra bắc gặp vua Trần.  Một kế hoạch chiến lược mới đang hình thành. 

Để thoát khỏi tình thế hai đầu đều bị đánh, vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã rất mưu trí tổ chức một cuộc cơ động lực lượng chiến lược. Quân ta đã rút về các lộ phía đông giáp biển là vùng rộng lớn mà quân Nguyên không kiểm soát được Chờ khi quân Toa Đô tiến ra miền bắc thì vượt biển vào Thanh Hoá.

Vua Trần từ Thiên Trường ra cửa Giao Hải (cửa sông Hồng ở huyện Giao Thuỷ, Nam Định), đi ra biển, ngược lên phía bắc rồi rẽ vào nguồn Tam Trĩ (sông Ba Chẽ, Quảng Ninh), trong lúc đó thuyền ngự đi không ra cửa Ngọc Sơn (Móng Cái) để đánh lừa quân địch. Ngày 7-4- 1285, vua Trấn đã đi bộ từ Tam Trĩ về Thuỷ Chú, rồi dùng thuyền đi ra cửa Nam Triệu, qua biển Đại Bàng (vùng biển trước cửa Văn Úc) rồi vào Thanh Hóa.

Thoát Hoan sai Lý Hằng, Ô Mã Nhi cùng Giảo Kỳ và Đường Ngột Đãi đuổi theo vua Trần ở ngoài biển. Ngày 15-4-1285, thuỷ quân của Giảo Kỳ, Đường Ngột Đãi đến vây ở Tam Trĩ. Quân của Lý Hằng cũng không gặp quân Trần.  Quân Nguyên bắt được một số thuyền bỏ lại, biết là vua Trần đã lên bộ, chúng liền đuổi ba ngày ba đêm trên đường bộ. Lúc đó vua Trần và quân ta đã đến Thanh Hoá từ lâu. 

Triều đình và đại quân rút khỏi Thiên Trường, một số quý tộc quan lại hèn nhát hoảng sợ đã đầu hàng giặc, như Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn, Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộng.

Nhưng quân, dân cả nước vẫn giữ vừng ý chí chiến đấu.  Ở những vùng giặc chiếm, quân dân ta từ các làng xóm vẫn hên tục tiến công vào quân xâm lược, gây cho chúng nhiều thương vong, làm thanh dã (vườn không nhà trống), cất dấu lương thực. Sử cũ chép: “Vượt biển vào nam, thế quân lại nổi” 1.

Tình hình quân Nguyên ngày càng khó khăn. Tuy quân ta rút khỏi Thiên Trường nhưng Thoát Hoan vẫn không dám chiếm đóng. Quân Nguyên chiếm được Thiên Trường, tên Tả thừa Lý Hằng thấy được vị trí quan trọng của vùng này đề nghị với Thoát Hoan đóng thành ở đây, tích trữ lương thực, chờ ngày giao chiến với quân Trần, ngăn chặn cuộc phản công của quân Trần từ Thanh Hoá ra. Nhưng các tên tướng khác phản đối vì sợ binh lực rải ra quá mỏng, tạo thêm nhiều mục tiêu cho quân dân ta tiến công, tổn thất càng nhiều, khó khăn về bảo đảm lương thảo càng lớn. Cuối cùng, chúng bỏ Thiên Trường, rút quân về đóng ở Thăng Long và một số điểm dọc sông Hồng.

Lúc đó quân của Toa ĐÔ đã kéo ra đến Trường Yên. Đạo quân này đóng quân lâu ngày ở Chăm pa, vốn đã thiếu lương, nay lại phải hành quân đường dài ra bắc càng thêm đói mệt. Toa Đô đã cử tên tướng Đường Ngột Đãi cùng với Giảo Kỳ đem một bộ phận quản lính ra gặp Thoát Hoan, báo với chủ tướng về tình hình khốn quẫn của đạo quân Toa Đô. Nhưng Thoát Hoan không muốn cho hội quân, sợ không giải quyết nổi vấn đề cung cấp lương thảo cho một khối lớn quân đội, bên bắt Toa ĐÔ dừng lại ở Trường Yên để kiếm lương” - nghĩa là để cướp bóc ở đây. Như vậy, Toa Đô phải “đóng cách đại bản doanh hơn hai trăm dặm” 2.

Thương vong và đói là những tai vạ ngày càng tăng thêm đối với quân Nguyên. Thời tiết chuyển sang nóng bức và mưa nhiều (bấy giờ là cuối tháng 4- 1285), số đau ốm ngày càng tăng, khí thế ban đầu giảm mạnh. Sức chiến đấu của quân Nguyên ngày càng sa sút.


___________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q.5, t.44b.
2. Nguyên sử. q.120, t.8.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #71 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2009, 12:56:02 am »

Khi nghe tin vua Trần đã rút vào Thanh Hoá, Thoát Hoan lại ra lệnh cho Toa Đô từ Trường Yên quay vào Thanh Hoá để đuổi theo quân ta. Đó chỉ là một hành động tuyệt vọng, vì đạo quân đã sứt mẻ lại ốm đói kéo từ Chăm pa ra, chưa được nghỉ ngơi, nay lại quay lại, rõ ràng là không thể thực hiện được nhiệm vụ đó. Thậm chí có một bộ phận quân Toa Đô đóng lý tại Trường Yên mà không chiu đi. 

Tháng 5-1285, Thoát Hoan sai viên tướng Lý Tích Ban đưa bọn đầu hàng phản bội về Trung Quốc. Khi bọn chúng đi qua Lạng Sơn, đội dân binh người Tày do Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh chỉ huy, phối hợp với một bộ phán quân triều đình hoạt động ở địa phương đã chặn đánh chúng ở trại Ma Lục vùng Chi Lăng. Bọn phản bội cùng với toán quân Nguyên đi hộ tống bị vây đánh cả ngày lẫn đêm. Chúng thoát khỏi trận phục kích này lại rơi vào chỗ phục kích khác.  Nguyễn Địa L ô là gia nô của Hưng Đạo vương đã bắn chết Trần Kiện ngay trên mình ngựa. Các xe lương thực, hành lý của chúng đều lọt vào tay quân, dân ta. Bọn tuỳ tùng cũng bị giết chết gần một nửa.

Từ Thanh Hoá, vua Trần và Hưng Đạo vương thấy rằng quân ta đã được củng cố mà quân địch đang bị suy yếu nhiều về lực lượng và thế trận, thời cơ phản công đã đến. Trong tháng 5- 1285, Trần Quốc Tuấn cùng Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật và các tướng linh khác đem binh thuyền tiến ra bắc trong điều kiện hai tập đoàn quân lớn của địch (Thoát Hoan và Toa Đô) không thể chi viện được cho nhau, phối hợp được với nhau và sức chiến đấu của quân xâm lược đã sa sút nặng nề.

Mục tiêu đầu tiên của cuộc phản công là một số đồn trại đóng dọc khúc sông Hồng chạy qua vùng Khoái Châu ngày nay. Đánh chiếm được những đồn trại này, có thể uy hiếp Thăng Long và càng chia cắt mạnh hơn hai tập đoàn quân lớn của giặc.

Bộ phận quân Nguyên đóng ở các đồn trại này vốn thuộc đạo quân Toa Đô, do Đường Ngột Đãi và Giảo Kỳ chỉ huy tiến ra bắc trước đây để liên hệ với Thoát Hoan. Bọn này sau khi vượt qua vùng Thanh - Nghệ, đã tham gia cuộc đuổi theo vua Trần, nay đã vô cùng mỏi mệt.

Ý đồ chiến lược của bộ thống soái nhà Trần là từ trận đầu tiên, tạo nên thế trận mới và khí thế mới, sẽ tiến lên giải phóng Thăng Long và tiếp theo đó là đập tan quân địch bại trận tháo chạy về nước. Theo ý đồ trên, khi Trần Quang Khải cùng các tướng ngược sông Hồng tiến về Thăng Long, thì Trần Quốc Tuấn đã cùng một số tướng đi vòng qua các lộ phía đông, tiến về Vạn Kiếp.

Trên đường tiến về Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn đã tiến công đồn A Lỗ ở mạn sông Luộc, tiêu diệt đồn này. Tướng Nguyên giữ đồn là Vạn Hộ Lưu Thế Anh bỏ chạy theo hướng Thăng Long.

Đến Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn đã sai Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lão đem ba vạn quân tổ chức một thế trận mai phục ở khu vực này để chờ đón địch, bố trí ở một số nơi dự kiến địch phải rút qua. Đồng thời hạ lệnh cho Hưng Vũ vương Nghiến và Hưng Hiến vương Uy dẫn ba vạn quân bịt kín các cửa ải biên giới, chặn đường địch chạy về Tư Minh. 

Vào tháng 5-1285, đạo quân của Trần Quang Khải đã chia ra nhiều mũi, tiến công đồng thời vào hai cứ đểm của địch đóng gần nhau bên sông Hồng là Tây Kết và Hàm Tử.  Chiêu Thành vương, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn đánh bến Tây Kết. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đánh cửa Hàm Tử. Cả hai cứ điểm đều bị tiêu diệt trong thời gian ngắn. Do rung động của hai trận đó, một loạt đồn trại giặc bên sông Hồng nhanh chóng tan vỡ.

Cũng như trong những ngày chiến đấu ở mặt trận Tuyên Quang, trong quân của Trần Nhật Duật bấy giờ vẫn có nhiều binh sĩ Tống. Họ là những người Trung Quốc không chịu sống dưới sự thống trị của bọn xâm lược Mông Cổ, đã sang Đại Việt cùng với quân, dân ta chống kẻ thù chung. Một người trong số họ là Triệu Trung đã trở thành gia tướng của Nhật Duật. Trong trận Hàm Tử, Triệu Trung cùng với những người Trung Quốc khác đã mặc áo Tống, cầm cung tên chiến đấu cùng Nhật Duật và đã đóng góp một phần vào chiến thắng này.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #72 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2009, 12:58:28 am »

Ngay sau hai trận Tây Kết và Hàm Tử, Trần Quang Khải cùng Trần Quốc Toản và các tướng đem quân đánh vào đồn giặc ở Chương Dương (ở hữu ngạn sông Hồng, thuộc Thường Tín). Đây là căn cứ quan trọng của quân Nguyên, cùng với Hàm Tử, tạo thành hai lá chắn phía nam bảo vệ Thăng Long. Với khí thế áp đảo, quân Trần cùng dân binh các lộ phối hợp đã chiến đấu anh dũng, hạ đồn Chương Dương. Đồn Chương Dương bị hạ, quân viện từ Thăng Long kéo ra bị phục binh ta tiêu diệt. Giặc co lại ở Thăng Long. 

Từ các mặt thuỷ bộ, quân ta tiến vào vây chặt Thăng Long, tiến công mãnh liệt. Phối hợp với quân của triều đình để chiếm lại Thăng Long còn có các đạo dân binh của các lộ do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp và em là Nguyễn Truyền chỉ huy.

Tài liệu thời Nguyên chép rằng: “... Thuỷ lục đến đánh vào đại doanh, vây thành mấy vòng, tuy chết nhiều nhưng quân tăng thêm càng đông, quan quân (chỉ quân Nguyên - TG) sớm tối đánh rất khốn đốn, thiếu thốn, khí giới hết...” 1.  Thoát Hoan và A Lý Hải Nha họp bọn tướng lĩnh để bàn cách đối phó. Bọn chúng phải nhận rằng: “Người Giao (chỉ quân Trần - TG) chống đánh quan quân, tuy mấy lần thua tan  nhưng quân tăng càng đông, quan quân mỏi mệt, tử thương cũng nhiều, quân mã Mông Cổ không thể nào thi thố được tài năng. . .” 2.

Trong tình thế đó bọn địch không có cách nào khác là liều chết phá vây, tháo chạy khỏi Thăng Long. Chúng vượt sông Hồng rồi tạm đóng lại ở Gia Lâm. Ở đây, quân ta tiếp tục tiến công. Thoát Hoan liền ra lệnh rút quân. 

Như vậy là sau một thời gian phản công mạnh mẽ, vào khoảng cuối tháng Tư âm lịch - nói như tài liệu của nhà Nguyên: “tháng Tư, quân Giao nổi lên rất lớn” 3 - quân ta đã giải phóng được Kinh đô Thăng Long.
 
Đường rút lui của giặc cũng là đường lúc tiến vào. Quân của Thoát Hoan đi qua vùng các huyện Tiên Sơn và Quế Võ (Bắc Ninh). Toán quân Vân Nam do Nạp Tốc Lạt Đinh chỉ huy cũng rút theo đường cũ, qua lộ Tuyên Quang.  Trần Quang Khải cùng các tướng đem quân vào thành Thăng Long mở tiệc khao quân. Trần Quang Khải sai người về Thanh Hoá dâng biểu báo tin thắng trận. Hai vua Trần thấy thế quân đã mạnh, bèn kéo quân từ Thanh Hoá ra, tiến công tập đoàn Toa Đô.

Đối với cánh quân này, vua Trần nhận xét: “Quân giặc đi xa lâu năm, đem lương muôn dặm, ắt phải mệt nhọc. Lấy nhàn đợi mệt, trước làm nhụt khí thế của chúng, tất phá tan được” 4.  Ngày 7-6, vua Trần đánh tan bộ phận của tập đoàn Toa Đô còn đóng lại ở Trường Yên, rồi đem quân tiến thẳng ra Thiên Trường. Ngày 11-6, vua Trần được tin Toa Đô kéo quân từ Thanh Hoá ra. Ngày 19-6, hai vua ghé về Long Hưng (Thái Bình) bái yết lăng mộ tổ tiên.

Vì không biết Thoát Hoan đã rút quân, ngày 21 -6, Toa Đô và Ô Mã Nhi đã cho thuyền theo đường biển vào cửa sông Hồng rồi tiến lên sông Thiên Mạc (khúc sông Hồng ở vùng Khoái Châu, Hưng Yên). Ngày 24-6, vua Trần đã chỉ huy quân ta tiến công mạnh mẽ vào đoàn thuyền Toa Đô trên khúc sông này. Ở bến Đại Mang, tướng Nguyên là Trương Hiển đầu hàng. Ở bến Tây Kết, quân Trần phá tan giặc, giết và đánh bị thương rất nhiều. Toa Đô bị chém đầu ngay tại trận. Ô Mã Nhi và Lưu Khuê trốn thoát ra biển bằng thuyền nhẹ.

Cánh quân của Thoát Hoan rút về hướng bắc, bị Hưng Ninh vương Trần Tung đem hơn hai vạn quân đón đánh, kịch chiến với tướng giặc là Lưu Thế Anh. Quân Nguyên thua chạy đến sông Như Nguyệt (sông Cầu) bị quân của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản chặn lại. Quân địch bị đánh tan tác nhưng Trần Quốc Toản đã anh dũng hy sinh.

Không vượt được sông Như Nguyệt, quân địch hoảng hốt tháo chạy về hướng sông Sách tức sông Thương chảy qua vùng Vạn Kiếp).  Ở đây quân địch bắc cầu phao sang sông. Theo kế hoạch của Trần Quốc Tuấn: quân ta đã mai phục ở đây từ trước. Quân của viên Tả thừa Đường Ngột Đãi đang qua sông thì phục binh của ta đã từ trong rừng đổ ra đánh mạnh vào sườn chúng. Bị tiến công bất ngờ, bọn chúng hoảng loạn xô đẩy nhau, giẫm dứt cả cầu phao, ngã xuống sông chết đuối rất nhiều.


__________________________
1, 3. Kinh thế đại điển tự lục, tr.564.
2. Nguyên sử, q. 209, An Nam truyện, t.8a.
4. Đại Việt sử ký toàn thư, q.5, t.48a.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Năm, 2009, 12:12:39 am gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #73 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2009, 01:01:35 am »

Trận Vạn Kiếp đã làm cho đạo quân Thoát Hoan về cơ bản bị tan rã. Tàn quân giặc tìm cách mở dường máu chạy về Lạng Sơn. Nhưng trên các cửa ải biên giới, quân ta đã bố trí sẵn chờ đợi chúng. Đến Vĩnh Bình, phục binh của Hưng Vũ vương Hiến đổ ra đánh, tên độc bắn như mưa. Bọn tướng giặc hoảng sợ phải dấu Thoát Hoan vào trong ống đồng rồi khiêng chạy. Lý Hằng đi sau để bảo vệ Thoát Hoan bị trúng tên độc, chạy về đến Tư Minh thì chết.

Tàn quân của Thoát Hoan cố mở đường tháo chạy. Về gần đến châu Tư Minh lại bị quân của Hưng Vũ vương Nghiền và Hưng Hiến vương Uy đuổi đánh một trận nữa. Lý Quán trúng tên chết. Thoát Hoan, A Bát Xích, Phàn Tiếp thoát chết về đến Tư Minh. Đạo quân của Thoát Hoan hoàn toàn tan rã. Chiến thắng Như Nguyệt - Vạn Kiếp - Vĩnh Bình góp phần quyết định vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến lần thứ hai.

Cánh quân của Nạp Tốc Lạt Đinh rút theo hướng Vân Nam theo con đường cũ. Các lực lượng vũ trang dịa phương và nhân dân các dân tộc thiểu số trên hướng lộ Tuyên Quang dưới sự chỉ huy của Phụ đạo Hà Đặc cũng đã bám đánh một cách dũng cảm và mưu trí cánh quân này.

Hà Đặc dã lấy tre đan thành những hình người to lớn, cho mặc áo, đợi chiều tối thì dẫn ra dẫn vào. Lại cho đục lỗ ở trên thân cây, cắm vào đó những mũi tên lớn. Trong lúc quân giặc chưa dám tiến lên núi vì sợ đội quân người khổng lồ đó thì đội quân của Hà Đặc đã bất ngờ xông ra, đánh vào nơi giặc đóng. Chúng phải bỏ chạy. Em Hà Đặc là Hà Chương đã tìm cách lấy trộm được y phục và cờ xí của quân Nguyên. Hà Chương cùng với dân quân của mình cải trang thành quân Nguyên, tiến vào doanh trại giặc. Quân giặc lầm nên đã bị tập kích bất ngờ, thua chạy tan tác.

Thế là sau hai tháng phản công với những chiến công liên tục: A Lỗ, Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, Tây Kết (lần hai), Như Nguyệt, Vạn Kiếp, Vĩnh Bình...  quân, dân Đại Việt đã đập tan đạo quân xâm lược vốn rất mạnh, quét sạch chúng ra khỏi bờ cõt. Cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai đã kết thúc thắng lợi. 

Ngày 9-7-1285, hai vua Trần cùng nhiều đạo quân đã chiến thắng trên các mặt trận trở về Thăng Long. Cả nước tưng bừng mềm vui chiến thắng. Trong không khí đó, Thái sư Trần Quang Khải đã làm bài thơ:

Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực.
Vạn cổ thử giang san



(Chương Dương cướp giáo giặc,
Cửa Hàm Tử bắt thù.
Thái bình rèn trí lực,
Non nước ấy muôn Thu
.)

Bài thơ ngắn gọn có nhiều ý nghĩa. Vừa ca ngợi những chiến công của quân Trần, vừa nhắc nhở quân, dân phải rên luyện trí và lực, sẵn sàng chiến đấu trong hoàn cảnh xây dựng hoà bình sau thắng lợi để giữ cho giang sơn đất nước của ông cha để lại vững bền muôn thuở.

Từ diễn biến của cuộc kháng chiến này, có thể rút ra mấy nhận xét như sau:

Về địch:

Với một số quân đông gấp đến 15 lần so với cuộc xâm lược năm 1258, tiến đánh Đại Việt từ cả hai đầu đất nước, chúng cậy mạnh, nóng lòng muốn tiếp xúc với quân chủ lực của ta, hy vọng sẽ tiêu diệt đối phương dễ dàng bằng các trận đánh chính quy giữa hai đạo quân chủ lực, trong đó chúng chiếm ưu thế hơn hẳn, qua đó sớm kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh xâm lược.

Chúng ra sức phát triển thuỷ binh để tang thêm khả năng cơ động trên chiến trường nhiều sông ngòi của nước ta. Chúng cũng đã cố gắng lớn để giải quyết việc bảo đảm lương thảo, thuốc men cho đạo quân xâm lược đông người.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #74 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2009, 12:50:27 pm »

- Nhưng đối sách của triều đình Trần đã làm cho chúng hụt hẫng, vội vàng chia quân tìm bắt triều đình và chủ lực của ta. Quân Nguyên từng bước sa lẩy vào thế trận cả nước đánh giặc của ta. Càng cố gắng, chúng càng phân tán lực lượng, càng mất sức chiến đấu. Chúng có sức mạnh mà không dùng được, có cách đánh sở trường đã giúp ky binh của chúng chiến thắng ở nhiều nước, nhưng không thi thố được ở nước ta. Thuỷ binh mới vội vàng thành lập của chúng không địch nổi với thuỷ binh có truyền thống chiến đấu lâu đời của ta. Chúng luôn phải bị động đối phó với cách đánh của quân và dân ta. Luôn mất quyền chủ động chiến lược. Thương vong chồng chất, lương thực bị triệt. Từng bước, chúng chuyển mạnh thành yếu và bị tiêu diệt nhanh chóng khi ta phản công chiến lược.

-Địa hình rừng núi và nhiều sông ngòi của nước ta không tiện cho việc dùng ky binh dành ào ạt. Thời tiết nước ta tác dộng nhiều dện sức khoẻ và sức chiến đấu của quân xâm lược dện lừ phương bắc nhất là khi mùa Xuân chuyển sang mùa Hè.

Về ta :

- Triều đình cùng quân, dân Đại Việt chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến rất chu đáo. Đặc biệt trong thời gian 25 năm giữa hai cuộc chiến tranh xâm lược của dịch, nhà Trần đã thực hiện nhiều chính sách, nhiều biện pháp bồi dưỡng sức dân, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho dân, tạo nên sự gắn bó giữa triều dình và trăm họ. Khi giặc tiến vào xâm lược, đã chú trọng động viên tinh thần cho tướng sĩ và toàn dân hăng hái đánh giặc, làm cho cuộc kháng chiến mang tính chất nhân dân khá rộng rãi.

- Trên cơ sở quyết tâm kháng chiến rất cao, lúc đẩu ta đã có ý định quyết chiến với địch ở biên giới. Nhưng vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã tỉnh táo đánh giá tình hình, khai thác được kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất, kịp thời thay đổi ý định chiến lược, tránh quyết chiến chiến lược trong điều kiện không có lợi, rút khỏi Kinh đô để bảo toàn triều đình và quân đội.

- Theo mưu kế đó và dựa vào sức mạnh kháng chiến của toàn dân, Bộ thống soái đã biết kéo dài thời gian cuộc kháng chiến làm cho địch mỏi mệt, ngày càng suy yếu cả về lực lượng và thế trận. Trong khi đó, quân, dân ta lại có thời gian củng cố lực lượng và xây dựng thế trận ngày càng mạnh hơn. 

- Ta đã kết hợp chặt chẽ hoạt động tác chiến của các lực lượng vũ trang tại chỗ, đứng vững trên các địa phương, đánh nhỏ rộng khắp, thường xuyên, buộc địch phải rải mỏng lực lượng dối phó, với tác chiến của đại quân triều đình đánh những trận nhỏ và vừa như Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết (lần thứ nhất), những trận lớn như Thăng Long, Tây Kết )lần thứ hai và Vạn Kiếp), trong những thời cơ có lợi, đánh địch cả trước mặt và sau lưng, kết hợp tiêu diệt, tiêu hao quân dịch với triệt tiếp tế lương thảo của chúng. 

- Đã xử lý các tình huống lớn trong chiến tranh linh hoạt và mạnh bạo. Tổ chức cơ động lực lượng dại quân một cách kịp thời, chặt chẽ trong những điều kiện rất khó khăn, gian khổ. Trong những tình huống rất hiểm nghèo vẫn luôn giữ vững quyền chủ động hành động.

- Đã phản công đúng thời cơ, từ nhỏ đến lớn, kiên quyết và liên tục danh địch cho đến thắng lợi hoàn toàn.


IV. CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ BA (1287 - 1288)


Ngay sau thất bại thảm hại của cuộc xâm lược lần thứ hai năm 1285, Hốt Tất Liệt lập tức xúc tiến chuẩn bị một cuộc chiến tranh xâm lược mới để trả thù. Hắn ra lệnh đình chỉ việc chuẩn bị đánh Nhật Bản để tập trung lực lượng vào việc đánh Giao Chỉ, khẩn trương điều thêm tướng, tăng thêm quân.

Ngày 9- 7- 1285, vua Trấn trở về Thăng Long thì ngày 21 – 8- 1285, Khu mật viện nhà Nguyên đã đề nghị cử Thoát Hoan và A Lý Hải Nha đem quân đánh Đại Việt, với lời xin tập trung quân ở Đàm Châu (Hồ Nam) vào tháng Mười âm lịch (29- 10 đến 27- 1l-1285). Mặt khác, Đường Ngột Đãi, vừa mới được Hốt Tất Liệt cử làm Tả thừa Hành tỉnh Kinh Hồ, đánh giá quân lính đánh Đại Việt trở về còn quá mỏi mệt, nên đề nghị cho chúng được nghỉ ngơi. Sau khi cân nhắc, Hốt Tất Liệt bất đắc dĩ phải chấp nhận đề nghị này, nhưng vẫn tích cực xúc tiến việc chuẩn bị xâm lược nước ta, nhất là từ đầu năm 1286.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #75 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2009, 12:54:39 pm »

Ngày 18-2- 1286, Hốt Tất Liệt ra lệnh cho bọn A Lý Hải Nha bàn kế hoạch đánh Đại Việt. Ngày 3-3- 1286, Hốt Tất Liệt duyệt danh sách các tướng đi đánh Đại Việt và điều động thêm quân. A Lý Hải Nha vẫn được cử làm An Nam Hành trung thư tỉnh Tả thừa tướng. Hốt Tất Liệt sai sứ đến Vân Nam, ra lệnh cho Vân Nam vương điều cho A Lý Hải Nha một hoặc hai ba nghìn quân người dân tộc Ô Man.

Ngày 21-2-1286, Hốt Tất Liệt lại ra lệnh điều động 6 vạn quân của ba tỉnh Giang Chiết, Hồ Quảng, Giang Tây. Tất cả số quân chuẩn bị đánh Đại Việt này được lệnh tập trung ở Tĩnh Giang (Quế Lâm, Quảng Tây) vào tháng Bảy âm lịch (23-7 đến 20-8-1286). Việc điều động và tập trung quân gấp rút như vậy, lại lấy mỗi nơi một ít, khó có thể bảo đảm chất lượng của đạo quân xâm lược.

Theo kinh nghiệm bại trận của cuộc chiến tranh xâm lược lần trước, lần này Hốt Tất Liệt rất chú trọng xây dựng thuỷ quân. Từ ngày 16-3-1286, hắn đã ra lệnh cho Hành tỉnh Hồ Quảng đóng 300 thuyền biển để dùng vào việc đánh Đại Việt hẹn đến tháng Tám âm lịch (21-8 đến 19-9-1286) tập trung ở châu Khâm và châu Liêm (Quảng Đông).

Thời gian này tên tướng A Lý Hải Nha ốm nặng và đến 18-6-1286 thì chết. Viên Bình chương chính sự áo Lỗ Xích được giao nhiệm vụ tổ chức đạo quân đánh Đại Việt thay A Lý Hải Nha, phụ tá cho Thoát Hoan trong cuộc xâm lược Đại Việt sắp tớt. Hốt Tất Liệt đã khuyến khích áo Lỗ Xích: Ngày trước bọn Mukhali 1 tận lực với vương thất, tiếng thơm đến nay vẫn bất hủ. Khanh cố gắng lên, há lại không vẻ vang như người xưa hay sao?

Để có công cụ thực hiện những âm mưu chính trị, chúng thành lập một triều đình bù nhìn gồm những tên đã đầu hàng trong cuộc chiến tranh vừa qua. Trần Ich Tắc được phong làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn được phong làm Phụ Nghĩa công. Những tên khác đều nhận những chức tước khác nhau như con Trần ích Tắc là Bá Ý được phong làm An phủ sứ lộ Đà Giang, em họ Tú Hoàn là Lại Ích Khuy được phong làm An phủ sứ lộ Nam Sách Giang, Trần Văn Lộng làm Tuyên phủ sứ lộ Quy Hoá Giang.

Để chuẩn bị cho cuộc xâm lược và đưa cái triều đình bù nhìn ấy về nước, Hốt Tất Liệt đã cho thảo một tờ “chiếu- cho nhân dân Đại Việt, “kể tội” Trần Thánh Tông đã giết Trần Di Ái, không nhận Bột Nhan Thiết Mộc Nhi. Hắn vin vào đó để đem Trần Ích Tắc thay thế 2 .

Nội dung tờ chiếu như sau:

Trước kia, vua nước các ngươi đã xơng thần, quy phục, hàng năm dâng cống, nhưng không thân vào chầu, nên khi chú y là Trần Di Ái sang chầu, ta uỷ cho trông coi việc nước An Nam thay y. Di Ái về nước thì bị giết 3. Đạt Lỗ Hoa Xích là Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi sang thì không chịu nhận. Còn như quân ta đi đánh Chiêm Thành, lệnh phải giúp lương thì lại không chịu giúp. Vì thế, Trấn Nam vương Thoát Hoan, Hành tỉnh bình chương sự A Lý Hải Nha phải đem quân sang đánh. Trong khi giao chiến, hai bên đều giết hại lẫn nhau.  Nay, cận thần của nước các ngươi là bọn Trần Ich Tắc, Trần Tú Hoãn lo sợ nước bị sụp đổ, tuyệt diệt, tai hoạ đến kẻ vô tội nên thường xuyên bảo vua các ngươi vào chầu, nhưng rốt cuộc vẫn không được nghe theo. Bọn ấy đã tự đến quy phục.  Ta thương bọn này có lòng trung hiếu, đã đặc cách phong Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn làm Phụ Nghĩa công, để phụng tự họ Trần. Lại sai Trấn Nam vương Thoát Hoan, Bình chương sự áo Lỗ Xích đem quân sang bình định nước các người. Những tội lỗi trước đây chỉ thuộc một mình y, quan và dân không liên quan. Khi chiếu thư tới, các ngươi nên trở về đồng ruộng yên ổn làm ăn. Vậy xuống chiếu để hiểu dụ.

___________________________
1. Viên tướng thân tín của Thành Cát Tư Hãn đã đánh chiếm vùng đông bắc Trung Quốc.
2. Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm. Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.253.
3. Tháng 1-1282, đoàn quân Nguyên hộ tống Trần Di Ái về nước bị quân Trần đánh tan ở biên giới. Tên Đarugatri Bột Nhan Thiết Mộc Nhi bỏ chạy về Nguyên, Trần Di Ái bị đem về kinh trị tội. Hốt Tất Liệt tưởng là Trần Di Ái đã bị giết chết. .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #76 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2009, 12:57:45 pm »

Trong khi Hốt Tất Liệt ra sức xúc tiến việc chuẩn bị xâm lược nước ta thì tình hình chính trị và kinh tế của Trung Quốc có những khó khăn lớn. Dưới ách áp bức bóc lột của bọn thống trị Mông Cổ, nhân dân Trung Quốc, nhất là ở các tỉnh miền nam đã lâm vào tình trạng kiệt quệ vì phải cung ứng cho những cuộc chiến tranh xâm lược liên miên do bọn thống trị Mông Cổ gây ra. Cảnh nghèo đói xác xơ diễn ra khắp vùng nông thôn phía nam sông Trường Giang. Hàng trăm cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở đồng bằng cũng như ở miền núi.

Tình hình đó làm cho bọn quan lại vùng này rất lo lắng.  A Lý Hải Nha là tên tướng hiếu chiến đã ra sức thúc giục Hốt Tất Liệt hối hả ra quân để trả thù cho thất bại thảm hại của quân Nguyên trong cuộc xâm lược Đại Việt vừa qua. Việc hắn chết là dịp để các quan lại Nguyên đòi xét lại việc gây chiến với Đại Việt. A Lý Hải Nha chết cuối tháng Năm âm lịch thì tháng Sáu âm lịch đã có một loạt kiến nghị đòi huỷ bỏ hoặc hoãn lại việc ra quân xâm lược mà bọn Hốt Tất Liệt, Áo Lỗ Xích đang gấp rút chuẩn bị.

Tháng Sáu âm lịch ngày 23-6 đến ngày 22-7-1286, Tuyên uý ty Hồ Nam đã đề nghị hoãn binh: “Luôn năm đánh Nhật Bản và dùng binh ở Chiêm Thành, trăm họ phục dịch vận chuyển rất vất vả cực nhọc, quân sĩ mắc phải chướng lệ chết rất nhiều. Dân chúng kêu than, tứ dân bỏ nghiệp. Người nghèo phải bỏ con để cầu sống, kẻ giàu phải bán sản nghiệp để ứng dịch. Nỗi khổ như bị treo ngược, mỗi ngày một tăng.  Nay lại có việc đánh Giao Chỉ, điều động đến trăm vạn người, tiêu phí đến nghìn vàng, đó chẳng phải là việc để thương sĩ dân. Vả lại trong lúc cử động, lợi hại không phải chỉ là một.  Lại thêm nữa, Giao Chỉ vẫn thường sai sứ dâng biểu xưng phiên thần. Nếu theo lời xin để phục hồi sức dân thì là kế hay nhất. Nếu không được thì nên nới phú thuế cho trăm họ, chứa lương thực, sắm giáp binh, đợi đến năm sau thiên thời địa lợi tất hơn chút nữa hãy cất quân cũng chưa muộn” 1. 

Viên quan ở Hành tỉnh Hồ Quảng là Xen Ghê đồng ý với lời đề nghị đó, đã sai người về Kinh đô tâu với Hốt Tất Liệt.  Y còn nói thêm: “Tỉnh tôi trấn giữ hơn 70 sở, luôn năm chinh chiến, quân sĩ tinh nhuệ đều mệt nhọc ở ngoài. Kẻ còn ở lại đều già yếu mỗi thành ấp nhiều không quá hai trăm quân, trộm nghĩ rằng sợ kẻ gian dò xét được tình hình đó. Năm ngoái, Bình chương A Lý Hải Nha xuất chinh, thu ba vạn thạch lương, dân còn kêu khổ, nay lại thu gấp bội số đó, quan không có tích trữ, còn mua ở trong dân, trăm họ sẽ khốn khổ khôn xiết. Nên theo lời của tuyên uý ty, xin hoãn quân đánh  phương Nam 2”.

 
 Rõ ràng Xen Ghê lo lắng nếu cất quân đánh Đại Việt dân chúng quá cùng khổ - mà hắn gọi là kẻ gian - sẽ nổi dậy, lực lượng quân đội già yếu còn lại ở địa phương sẽ không đủ sức đối phó.

Ngay ở triều đình Nguyên cũng có những người phản đối việc xuất chinh đánh Đại Việt. Viên Lễ bộ thượng thơ Lưu Tuyên cũng lo ngại về điều mà Xen Ghê đã nói và tỏ ra không tin tưởng ở kết quả của cuộc xuất chinh đó. Lưu Tuyên đã tâu với Hốt Tất Liệt:

“Luôn năm đánh Nhật Bản, trăm họ oán hờn, quan phủ nhiễu nhương. Mùa Xuân năm nay bãi binh, quân dân Giang Chiết reo mừng như sấm. An Nam là nước nhỏ, thần phục đã bao năm, tuế cống chưa từng sai hạn.  Vì tướng ở biên sinh sự hưng binh, nên kẻ kia trốn tránh ra hải đảo, khiến cất đại quân đi mà không được công trạng gì, tướng sĩ lại bị thương tổn. Nay lại hạ lệnh đi đánh nữa, ai nghe thấy cũng lo sợ. Từ xưa dấy quân tất phải theo thiên thời. Ở vùng Trung Nguyên đất bằng còn phải tránh giữa mùa Hạ. Giao Quảng là đất viêm chướng khí độc hại người còn hơn là binh đao. Nay định tháng Bảy họp các đạo quân ở Tĩnh Giang, đến An Nam tất nhiều người mắc bệnh chết, lúc cần cấp gặp giặc biết lấy gì ứng phó.


____________________________
1. Nguyên sử. q.209, An Nam truyện, t.8b.
2. Nguyên sử, q.209, An Nam truyện, t.8b, Nguyên sử q.14, Bản kỷ, t 4a chép: “Ngày quý sửu (10-7-1285), Xen Ghê Hành tỉnh Hồ Quảng nói: “Nay dùng binh ở Giao Chỉ chia quân của bản tỉnh 28.700 người, hẹn tháng Bảy đều hội ở Tĩnh Giang, nay đã phát quân tinh nhuệ ra đi còn lại hơn 17.800 người đều là quân ốm yếu, đồn điền không thể dùng được”.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #77 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2009, 01:00:16 pm »

Ở Giao Chỉ lại không có lương, đường thuỷ khó đi, không có xe ngựa, trâu, bò chuyên chở thì không thể tránh được vận chuyển đường bộ. Một người phu gánh 5 đấu gạo, đi về ăn hết một nửa, còn quan quân được một nửa. Nếu có 10 vạn thạch lương, dùng 40 vạn người cũng chỉ có thể được lương cho quân 1-2 tháng. Chuyên chở, đóng thuyền, phục dịch việc quân phải dùng đến 50, 60 vạn người. Quảng Tây - Hồ Nam điều động nhiều lần, dân ly tán nhiều, lệnh cho cung dịch cũng không thể làm được.  Huống chi Hồ Quảng rất gần khe động, trộm cướp thường nhiều, vạn nhất kẻ gian dò được, chờ đại quân một khi đi khỏi, thừa lúc bỏ không mà gây biến 1. Tuy có quân mã lưu lại nhưng là người già yếu mệt nhọc, khó bề ứng biến. Sao không cùng người hiểu biết sự thể trong quan quân bên kia mà bàn bạc phương lược an toàn. Nếu không làm thế thì sẽ dẫm vào vết xe cũ” 2.

Trước những khó khăn thực tế của việc chuẩn bị xâm lược Hốt Tất Liệt bất đắc dĩ phải hoãn cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt. Khi nghe Khu mật viện tâu lên những lời của Hành tỉnh Hồ Quảng, tháng 7- 1286, hắn ra lệnh ngừng việc tập trung quân và cho quân sĩ trở về các doanh. Bọn Việt gian Trần Ích Tắc lại lủi thủi trở về Ngạc Châu (Hồ Bắc). 

Tuy nhiên, Hốt Tất Liệt không hề lãng quên mưu đồ xâm lược Đại Việt Tháng 11-1286, hắn ra lệnh cấp hơn nghìn ngựa cho Thoát Hoan. Ngày 23- 11- 1286, Hốt Tất Liệt lại cử A Ba Tri làm Hữu thừa của Chinh Giao Chỉ Hành thượng tỉnh, cơ quan lo việc chuẩn bị đánh Đại Việt. 

Sang năm 1287, Hốt Tất Liệt xúc tiến mạnh mẽ hơn việc chuẩn bị, gấp rút điều động lực lượng cho cuộc xâm lược. Cơ quan phụ trách việc xâm lược Đại Việt được gọi là Chinh Giao Chỉ Hành thượng tỉnh. Áo Lỗ Xích vẫn được cử làm Bình chương chính sự. Ngoài viên hữu thừa A Ba Tri đã cử từ trước, Hốt Tất Liệt còn lấy Trịnh Bằng Phi làm hữu thừa và A Li làm tả thừa, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp làm tham tri chính sự. Phần lớn các tướng là những tên đã sang xâm lược Đại Việt năm 1284 - 1285. Tất cả đều đặt dưới quyền của Thoát Hoan.

Số quân được điều động lần này có khoảng 30 vạn người 3.  Trong số đó có 1000 quân tân phụ (quân miền nam của Nam Tống cũ) do A Ba Tri chỉ huy. 70.000 quân Mông Cổ và quân Hán (người Trung Quốc miền bắc) của ba tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng, 6000 quân Vân Nam do Ái Lỗ chỉ huy.  Ngoài ra còn có 15.000 quân người Lê ở đảo Hải Nam và một số nữa là quân lấy ở Quảng Tây.

Việc tiếp tế cho một đạo quân đông người rất nặng nề.  Không thể huy động mấy chục vạn phu gánh gạo theo quân, nên quân Nguyên lần này phải vận lương bằng đường biển. Trương Văn Hổ, con một tên cướp biển đã đầu hàng Hốt Tất Liệt được giữ chức Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ, chỉ huy 70 thuyền vận tải chở 17 vạn thạch lương 4.

Để hộ tống đoàn thuyền lương, đồng thời cũng là mở một mũi tiến công bằng đường thuỷ vào một hướng của quân ta, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Trương Ngọc, Lưu Khuê được lệnh đem 500 thuyền chiến từ Khâm Châu tiến vào Đại Việt. Huy động 500 thuyền chiến đánh Đại Việt là một biện pháp tổ chức lực lượng chiến lược mới đáng chú ý trong cuộc xâm lược lần này.

Rút kinh nghiệm cuộc xâm lược thất bại lần trước, Hốt Tất Liệt thấy được rằng tiến công vào một xứ sông ngòi chằng chịt mà không có thuyền thì rất khó bảo đảm cơ động cho quân kỵ, bộ. Hơn nữa, qua thực tiễn, quân Nguyên cũng nhận thấy thuỷ binh của Đại Việt khá mạnh và thiện chiến.

Yêu cầu có thuỷ binh lớn mạnh càng trở nên cấp bách. Vì vậy Hốt Tất Liệt đã tăng 200 thuyền thêm vào số 300 chiếc đã chuẩn bị từ trước. Có thể Hốt Tất Liệt chưa bằng lòng với số chiến thuyền đã quy định. Đến tháng Chín âm lịch (9-10) đến 6-11- 1287) An phủ sứ Quỳnh Châu (Hải Nam) là Trần Trọng Đạt Tổng quản Nam Ninh là Tạ Hữu Khuê, Tổng quản Diên Lan là Hồ Tý Thành đem số thuyền riêng là 120 chiếc và hơn 1700 quân người Lê giúp đạo quân đánh Đại Việt. Hốt Tất Liệt liền ban hổ phù cho Trọng Đạt, kim phù cho Hữu Khuê và Tý Thành.


___________________________
1. Ý nói, Y lo sợ về các cuộc khởi nghĩa của nhân dân.
2. Nguyên sử, q.168, Lưu Tuyên truyện, t.8a.
3. Toàn thư. q.5, t.25a chép là vua Nguyên điều 50 Vạn quân để đánh ta. Lại chép năm 1287 khi quân Nguyên tiến vào, hội quân ở Vạn Kiếp thì quân số là 30 vạn. Tổng các loại quân chép ở Nguyên sử An Nam truyện là 92.000, chưa kể động binh (quân miền núi Quảng Tây).
4. An Nam chí lược, q.4 chép là 70 thuyền vận tải. Nguyên sử, q 209 An Nam truyện, t. 9a và q. 14 Bản Kỷ t. 7a chép là 17 vạn thạch lương. Toàn thư q.5 t.51b chép là 17 vạn thạch lương
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #78 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2009, 01:03:31 pm »

Hốt Tất Liệt dã chuẩn bị khá chu đáo cho cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng hắn vẫn e ngại sức mạnh của Đại Việt Hắn vẫn chưa quên thất bại thảm hại vừa qua của 60 vạn quân Nguyên, vẫn nhớ lời của Lưu Tuyên: “Nước nhỏ bé thế mà sai thân vương đem quân tiến sâu vào chưa từng thấy báo công. Toa Đô lại bị địch giết, tự lưu lại điều xấu hổ, nhục nhã” 1. Chính vì thế, trước khi đạo quân xâm lược xuất phát, ngày 19-9- 1287, Hốt Tất Liệt đã chỉ thị cho Thoát Hoan và bọn áo Lỗ Xích “không được cho Giao Chỉ là nước nhỏ mà khinh thường” 2.

Trong khi triều đình Nguyên đang ráo nết chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược, thì triều dình nhà Trần và quân, dân nước ta cũng đang nhộn nhịp chuẩn bị kháng chiến.  Sau chiến thắng oanh liệt năm 1285, quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, nhà Trần vẫn giữ quan hệ ngoại giao mềm dẻo như trước. Vua Trần cử các sứ bộ mang cống vật sang triều đình Nguyên. Tháng Giêng năm Bính Tuất (26-1 đến 24-2-1286), vua Trần tha năm vạn tù binh về nước 3.

Triều đình Trần muốn tỏ thát độ nhân nhượng, để cho nhà Nguyên đỡ mất thể diện, mong tránh được cuộc chiến tranh báo thù. Nhưng bản chất xâm lược, thái độ nước lớn của nhà Nguyên không thay đổi. Các sứ thần của ta đều bị Hốt Tất Liệt bắt giữ. Trước thát độ khiêu khích của kẻ thù, triều đình Trần cũng như quân đội và nhân dân cả nước hết sức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu. Khi được tin vua Nguyên lại chuẩn bị xâm lược thì cả nước chuyển sang trạng thái sẵn sàng đánh địch.

Việc chuẩn bị kháng chiến rất khẩn trương. Nhưng với truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng và tình đoàn kết nhất trí đã được thử thách trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, với kinh nghiệm phong phú của hai cuộc kháng chiến thắng lợi, triều đình và quân dân ta bước vào cuộc kháng chiến thứ ba này với một tư thế chủ động, đàng hoàng và lòng tự tin cao độ.

Tháng Sáu năm Trùng Hưng thứ hai (23-6 - 22-7-1286) Trần Nhân Tông ra lệnh cho tất cả vương hầu, tôn thất mộ thêm binh lính, chấn chỉnh lực lượng. Quân dân gấp rút chế tạo tu sửa khí giới, chiến thuyền. Hưng Đạo vương Trần  Quốc Tuấn lại được cử làm Quốc công tiết chế, đôn đốc việc chuẩn bị kháng chiến của triều đình, vương hầu và chư tướng. Các tướng được phân công trấn giữ các hướng địch có thể tiến công.

Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư được phong làm phó tướng đóng quân ở Vân Đồn, trấn giữ vùng biển đông bắc. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật được điều lên vùng Bạch Hạc, chuẩn bị chặn đánh quân địch từ Vân Nam xuống. Nhiều tướng khác được giao nhiệm vụ đem quân chặn đánh địch và bám trụ hoạt động ở các vùng hiểm yếu trên các nẻo đường tiến quân của địch từ Lạng Sơn về Thăng Long. 

Biết quân Nguyên tăng cường thuỷ binh, nhà Trần đã chú trọng tăng cường phòng thủ mặt biển.Tháng Mười âm lịch năm đó (19-10 - 16-1l-1286) một cuộc diễn tập lớn được tiến hành. Tất cả các nơi hiểm yếu đều dã có quân đóng giữ, sẵn sàng đánh địch.

Được tin quân Nguyên lại sang xâm lược, Trần Nhân Tông hỏi Trần Hưng Đạo : “Thế giặc năm nay thế nào?” Vị tướng thiên tài đó trả lời: “Nếu quân giặc lại sang thì quân ta đã quen đánh trận mà chúng thì sợ đi xa, lại bị thất bại của Hằng, Quán đe doạ, không có chí chiến đấu. Cứ như thần xem thì tất thế nào ta cũng phá được chúng” 4. Khi quân Nguyên kéo vào biên giới. Trần Hưng Đạo lại nhận định: “Năm nay đánh giặc nhàn” 5.

Với tinh thần “Sát Thát”, có quyết tâm cao tiêu diệt địch, quân sĩ ta đã ra sức luyện tập để có khả năng chiến đấu cao. Đầu năm 1287, khi quan chấp chính xin tuyển thêm quân, Hưng Đạo vương đã nói: “Quân quý ở chỗ tinh, không quý ở chỗ nhiều, như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng chẳng làm gì được” 6.


______________________________
1 . Nguyên sử, q. 1 68, Lưu Tuyên truyện, t.8a-8b.
2. Nguyên sử, q. 14 Bản kỷ t. 10a.
3. Nguyên sử q.209, An Nam truyện, t.13b, An Nam chí lược q.2.
4, 5.  Đại Việt sử ký toàn thư q.5, t.51a -b, 52a.
6. Toàn thư q.52a. Trần Quốc Tuấn nhắc đến trận sông Phì trong lịch sử Trung Quốc. Năm 383, Bồ Kiên vua Tiền Tần (một nước ở bắc Trung Quốc), đã kéo gần 100 vạn quân đánh Đông Tấn.  Tướng Tấn là Tạ Thạch, Tạ Huyền đã đánh tan quân Tiền Tần ồ sông Phì. Bồ Kiên phải bỏ trốn về Lạc Dương, thu thập tàn quân, chỉ còn hơn mười vạn.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #79 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2009, 01:04:13 pm »

Phản ánh những nét mới trong đánh giá âm mưu của địch, lực và thế của địch và của ta, trong ý định và quyết tâm tác chiến chiến lược đối với toàn bộ cuộc chiến tranh, trong dự báo từng bước phát triển của cục diện chiến lược, thế trận bố trí chiến lược của quân và dân ta lần này có những điểm rất khác so với hai cuộc kháng chiến trước:

- Thứ nhất, đại bản doanh và các tập đoàn chủ yếu của đại quân triều đình không bố trí ở các khu vực gần hoặc sát biên giới trên đường tiến quân chủ yếu của đại quân địch từ biên giới về Thăng Long.

- Thứ hai, một khối quan trọng của quân chủ lực của triều đình gồm có quân bộ và thuỷ binh bố trí trong khu vực từ Thiên Trường đến Tháp Sơn (Đồ Sơn) sẵn sàng cơ động đánh địch trên hướng Hải Đông. Một khối quan trọng khác của quân chủ lực bố trí giữa Thăng Long và Vạn Kiếp, sẵn sàng cơ động đánh địch trên hướng Thăng Long - Lạng Sơn. 

- Thứ ba, trên các nẻo đường dự kiến giặc sẽ tiến quân, Trần Quốc Tuấn bố trí những đội quân không lớn của triều đình trấn giữ các nơi hiểm yếu, phối hợp với quân các lộ và hương binh, thổ binh. Những lực lượng này có nhiệm vụ ngăn chặn, làm chậm bước tiến của giặc và sát thương một phần nào sinh lực của chúng; khi quân xâm lược đã đi qua thì lực lượng đã bảo toàn được không rút lui về phía sau, mà quay lại hoạt động ở khu vực cũ, trừ những lực lượng cơ động đã được giao nhiệm vụ từ trước.

Ngày 11- 10- 1287, từ Ngạc Châu (Hồ Bắc), quân Nguyên bắt đầu cuộc hành quân xâm lược nước ta. Toàn bộ quân xâm lược đặt dưới quyền chỉ huy của Trấn Nam vương Thoát Hoan, có bình chương Áo Lỗ Xích làm phụ tá. Đại quân giặc đến huyện Lai Tân (Quảng Tây) ngày 4-12-1287. Từ đây, Thoát Hoan cho tách quân thuỷ bộ. Thoát Hoan đi với quân bộ. Trấn Ích Tắc cũng được Thoát Hoan đem về theo. A Bát Xích đem một ngàn quân tiếp tục dẫn đường đưa Thoát Hoan đến châu Tư Minh. Ngày 18- 12 đến Tư Minh, Thoát Hoan dừng lại chấn chỉnh đội ngũ.

Cuối tháng 12-1287, quân Nguyên chia làm ba cánh từ ba mặt tiến công nước ta. Cánh chủ yếu do Thoát Hoan chỉ huy tiến vào vùng Lạng Sơn. Cánh từ Vân Nam kéo sang theo đường sông Hồng do viên Hữu thừa Ái Lỗ chỉ huy. Cánh thuỷ binh do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy cùng với đoàn thuyền tải lương chở 17 vạn thạch lương do Trương Văn Hổ phụ trách từ Khâm Châu vượt biển tiến vào theo cửa sông Bạch Đằng.

Trên mặt trận Lạng Sơn, ngày 25- 12- 1287, quân Nguyên vượt qua biên giới đã bị quân ta chặn đánh. Sau một trận giao chiến với đội tiên phong của giặc, quân ta rút. Ngày 29- 12, đạo quân của Thoát Hoan tiến đến Lộc Châu (Lộc Bình).  Thoát Hoan chia quân làm hai cánh tiếp tục tiến công, theo con đường phía đông và phía tây qua đất Lạng Sơn như trong cuộc chiến tranh trước.

Trình Bằng Phi và Bột La Hợp Đáp Nhi chỉ huy một vạn quân Hán tiến theo con đường phía tây từ Vĩnh Bình đến Chi Lăng. Thoát Hoan và Áo Lỗ Xích dẫn đại quân theo con đường qua các ải Nữ Nhi, Khả Ly (tức là từ Lộc Bình đi Sơn Động ngày nay). Lần trước, Thoát Hoan cũng tiến theo con đường này, nhưng lần này y hành động thận trọng hơn, không phải giao cho mấy tên vạn hộ đem quân mở đường như lần trước, mà đã sai tên Hữu thừa A Bát Xích làm tướng tiên phong chỉ huy một vạn quân tiến quân ở phía trước.

Cánh quân của Trình Bằng Phi và Bột La Hợp Đáp Nhi tiến qua các ải Lão Thử chi Lăng), Hãm Sa, Tư Trúc. Trên con đường này, chúng bị các lực lượng tại chỗ của ta chặn đánh 17 lần. Ngày 20-12-1287, cánh quân này đến cửa Lãnh Kinh trên sông Cầu (khoảng Đáp Cầu). Quân của Hoàng Đức hầu Quán phòng thủ ở đây đã bắn tên độc như mưa, diệt nhiều giặc. Quân Nguyên buộc phải rút về đóng ở cửa Vũ Cao (gần Bắc Giang).
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM