Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:41:47 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 109351 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #80 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2009, 01:04:58 pm »

Sơ đồ cuộc kháng chiến chống quân nguyên lần thứ 3


Cánh quân của Thoát Hoan và Áo Lố Xích, sau khi tiến qua các cửa quan trên con đường phía đông như Nữ Nhi, Khả Ly, ngày 2-1-1288 đã đến Vạn Kiếp. Cánh quân này đã tiến khá nhanh, đi bốn ngày từ Lộc Châu đến Vạn Kiếp. Có thể là các tướng Trần đã biết đây là con đường tiến quân của đạo quân mạnh nhất của địch nên đã tránh những trận giao chiến lớn, mà chỉ đánh kìm chân giặc ở một số cửa ải rồi rút lui để bảo toàn lực lượng, bám giữ địa bàn. 

Cánh quân Vân Nam do viên Hữu thừa Ái Lỗ chỉ huy xuất phát từ trước ngày đại quân Thoát Hoan đến Tư Minh, từ Trùng Khánh (Côn Minh) đã đi đến biên giới Đại Việt.  Ngày 11-12-1287, Ái Lỗ đã cùng với các tướng A Thái và Mang Cổ Đại tiến đến Bạch Hạc, đánh nhau với bốn vạn quân của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật ở cửa Mộc Ngột (Việt Trì).

Theo sử nhà Nguyên thì trong trận này, quân ta mất một số thuyền và các tướng Trần là Lê Thạch và Hà Anh bị giặc bắt. Trần Nhật Duật lui quân. Quân Nguyên theo đường bộ, men sông Hồng tiến đánh cửa quan Phù Lương.  Trong khi các cánh quân bộ binh, kỵ binh của Thoát Hoan và Ái Lỗ ào ạt tiến vào Đại Việt thì thuỷ binh của địch cũng đã lên đường.

Sau khi tách khỏi đạo quân Thoát Hoan ở Lai Tân ngày 4-12-1287, Ô Mã Nhi và phàn Tiếp đi Khâm Châu. Từ đây đoàn thuỷ binh của chúng xuất phát.  Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp trực tiếp chỉ huy gần hai vạn quân. Vài vạn quân khác do các Vạn hộ thuỷ quân Trương Ngọc, Lưu Khuê, Ô Vy chỉ huy. Đoàn thuyền lương đặt dưới quyền Trương Văn Hổ. Ngày 17- 12- 1287, chiến thuyền của bọn Ô Mã Nhi tiến trước.

Ngày 20-12-1287, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi tiến vào vùng biển Vạn Ninh (Móng Cái). Khi chúng qua Ngọc Sơn (mũi Ngọc), binh thuyền của tướng Trần là Nhân Đức hầu Trần Toàn đã chặn đánh ở Đa Mỗ, diệt một số tên, thu được một số thuyền, nhưng vẫn không ngăn được mũi tiến công của Ô Mã Nhi. Đoàn thuyền của giặc tiếp tục tiến vào vùng biển An Bang.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #81 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2009, 01:09:05 pm »

Ở đây Trần Khánh Dư chỉ huy một lực lượng lớn thuỷ quân chặn đánh chúng nhưng ta bị tổn thất phải rút lui. Ô Mã Nhi chủ quan, chỉ huy đội chiến thuyền vượt lên trước theo sông Bạch Đằng tiến nhanh về Vạn Kiếp để hội quân với Thoát Hoan, bỏ đoàn thuyền lương chậm chạp tiến theo sau.

Nghe tin này, Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã cho gọi Trần Khánh Dư về triều hỏi tội. Khánh Dư xin hoãn ít ngày, chờ lập công chuộc tội. Vì ông cho rằng đoàn thuyền chiến đã đi qua, đoàn thuyền lương sẽ vào theo. Ta có thể dễ dàng chặn đánh, tiêu diệt chúng. Trần Khánh Dư liền bố trí quân mai phục.

Tháng 1-1288, đoàn thuyền lương nặng nề của Trương Văn Hổ không có chiến thuyền bảo vệ đã tiến vào vùng biển Hạ Long, lọt vào thế trận phục kích của Trần Khánh Dư. Quân ta từ nhiều phía tiến công mạnh mẽ đoàn thuyền lương ở Vân Đồn. Trương Văn Hổ cố gắng tiến về phía đất liền nhưng đến Lục Thuỷ (Cửa Lục) thì binh thuyền ta tiến ra đánh càng đông. Trương Văn Hổ đổ lương thực xuống biển rồi trốn chạy về Quỳnh Châu (Hải Nam) trên một chiếc thuyền nhỏ. Đoàn thuyền chở 17 vạn thạch lương đã bị tiêu diệt toàn bộ. Quân ta “bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất đông” 1.

Chiến thắng Vân Đồn có ý nghĩa rất to lớn, là một đòn mạnh đánh vào kế hoạch xâm lược của địch. Một nguồn hậu cần, trong lúc không thể cướp bóc lương thực trong dân, quân đội viễn chinh chắc chắn sẽ nhanh chóng mất sức chiến đấu. 

Vào đầu tháng 1-1288 khi cánh quân phía đông của Thoát Hoan tiến quân đến Vạn Kiếp thì cánh quân phía tây của Trình Bằng Phi và cánh thuỷ quân của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp cũng đến hội ở đây.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, Hưng Đạo vương đã tập trung một binh lực rất lớn để giữ Vạn Kiếp. Nhưng lấn này, lực lượng phòng thủ ở đây không nhiều và đã rút lui an toàn trước sức tiến công của địch. Về phía quân xâm lược, Thoát Hoan lại muốn củng cố vùng Vạn Kiếp thành một căn cứ vững chắc rồi mới tiến quân về Thăng Long.

Có thể là hắn đã rút kinh nghiệm từ cuộc xâm lược trước, khi hắn hối hả thúc đại quân tiến về Thăng Long thì Trần Quốc Tuấn lại đem 1000 chiến thuyền trở lại đóng ở Vạn Kiếp. Lần đó, bị uy hiếp, hắn đã hoảng sợ phải xin Hốt Tất Liệt tăng viện. Lần này, khi tiến đến Vạn Kiếp hắn đã sai Lưu Tuyên đem hai vạn quân thuỷ bộ đánh chiếm sông Vạn Kiếp (sông Lục Đầu) và thành Linh Sơn (ở núi Chí Linh). Tích Đô Nhi được lệnh của A Bát Xích đem quân đánh chiếm thành chữ nhất 2.  Thoát Hoan sai Trình Bằng Phi, A Li, Lưu Giang chỉ huy 3 vạn quân giữ Vạn Kiếp và làm thành trại bằng gỗ ở núi Phả Lại, núi Chí Linh để chứa lương.
 
Vì chưa thấy thuyền lương của Trương Văn Hổ đến, Thoát Hoan phải sai Ô Mã Nhi đem quân cướp lương thực của dân. Tất cả các hoạt động của đạo quân Thoát Hoan nhằm dựa vào địa thế thuận lợi của sông Lục Đầu để xây dựng cát cứ điểm trên các ngọn núi dọc hai bên sông, lại tích trữ lương thảo nhằm củng cố Vạn Kiếp thành một căn cứ quan trọng và chắc chắn cho cả quân bộ và quân thuỷ kéo dài gần một tháng.

Trong khi đó, lực lượng chủ yếu của quân Trần có trách nhiệm chặn địch ở vùng này đã lui về giữ vùng sông Đống để chặn địch tiến về Thăng Long. Một bộ phận đã ở lại vùng địch chiếm đóng tiếp tục đánh chúng. Ngày 20-1-1288, vua Trần sai tướng Nguyễn Thức đem quân dũng nghĩa Thánh Dực đến giữ cửa Đại Than, tăng thêm lực lượng cho quân phòng thủ tại chỗ.

Ngày 21-1, Thoát Hoan đánh cửa Mao La, sau đó lại đánh trại Phú Sơn nhằm mở rộng khu căn cứ Vạn Kiếp.  Trong thời gian này, cánh quân Vân Nam của Ái Lỗ cũng tiến về phía Thăng Long để phối hợp với Thoát Hoan tiến đánh Kinh đô.

Ngày 27-1-1288, Thoát Hoan bắt đầu chia quân tiến về phía Thăng Long. A Bát Xích chỉ huy quân ky, bộ tiến lên trước. Ô Mã Nhi chỉ huy thuỷ binh. Phàn Tiếp đem chiến thuyền hộ vệ Thoát Hoan tiến theo dọc sông Đống. Ngày 30- 1, tướng Nguyễn Thức chặn cửa sông Đống, chiến đấu với giặc. Quân giặc bị thua, nhưng sau đó chúng lại tiến được về Gia Lâm. Ở đây, chúng lại gặp phục binh của ta, nhưng rồi quân ta lại rút lui và thuyền giặc tiến ra sông Hồng.


_________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q.5, t.53a
2. Theo Nguyên sử q.133, Tích Đô Nhi truyện, t.qb. Thành chữ nhất (nhất tự thành) có lẽ là thành dọc theo sông Lục Đầu vì Nguyên sử chép Tích Đô Nhi bắt được 7 thuyền của ta trong trận này.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #82 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2009, 01:09:45 pm »

Bấy giờ Thoát Hoan đang ở bên bờ sông Hồng. Vua Trần phái người chú đến chỗ Thoát Hoan đóng quân giả cầu hoà để dò xét tình hình địch. Thoát Hoan sai viên Lý vấn quan Tra Gan kể tội vua Trần. Tháng 2- 1288, quân Nguyên vượt sông Hồng tiến công thành Thăng Long. Triều đình và quân ta tạm thời rút khỏi Kinh thành, lui dần xuống hạ lưu sông Hồng. Thoát Hoan huy động quân thuỷ bộ đuổi theo ráo riết.

Ô Mã Nhi bắn tin đe doạ vua Trần: Ngươi chạy lên trời, ta theo lên trời. Ngươi chạy xuống đất, ta theo xuống đất. Ngươi trốn lên núi, ta theo lên nút. Ngươi lặn xuống nước, ta theo xuống nước.  Nhưng chúng không làm sao bắt được vua Trần và bộ thống soái Đại Việt cũng không giao chiến được với quân chủ lực của ta. chúng điên cuồng quật lăng mộ vua Trần Thái Tông, đốt phá làng mạc, tàn sát nhân dân. Những tội ác của địch đã đổ thêm dầu vào ngọn lửa căm thù của quân dân ta và càng thúc đẩy mạnh việc đánh trả của toàn dân ở bất cứ nơi nào chúng đến.

Không đạt được các mục đích đề ra, lại bị tổn thất đáng kể, Thoát Hoan phải trở về Thăng Long, củng cố vùng chiếm đóng.  Khi thấy các cánh quân của Thoát Hoan đã tiến về phía Thăng Long, bọn quân Nguyên còn lại ở Tư Minh cùng với bọn Lê Trắc cũng tiến vào Lạng Sơn. Lực lượng quân Nguyên gồm năm nghìn dư binh của các cánh do bọn Tỉnh đô sự hầu sư Vạn hộ Đạt, Thiên hộ Tiên chỉ huy.

Bọn Việt gian gồm Lê Trắc, Thiêm sự Nguyễn Lĩnh, Phủ phán Lê Án và con trai của Trần ích Tắc là Dục mới lên chín tuổi. Chúng tiến theo con đường mà Thoát Hoan và Áo Lỗ Xích đã đi qua. Bọn xâm lược và bán nước này tưởng rằng quân Nguyên đã tiến sâu về phía Thăng Long thì chúng có thể yên thân tiến vào những khu vực bị chiếm đóng.

Ngày 1-2-1288, bọn phản bội và quân hộ tống tiến đến ải Nội Bàng bị quân ta chặn đánh. Vừa đến nơi, chúng đã sa vào thế trận bày sẵn của ta. Dân binh của Vũ Thành, Trần Tuấn Sơn phối hợp với quân đội đã gây cho địch thiệt hại nặng nề. Bọn giặc điên cuồng đốt phá nhà cửa của dân, bày trận quay lưng ra sông Bình Giang (sông Lục Nam) để chống lại. Cuộn chiến đấu kéo dài suốt một ngày đêm. Đến gần sáng quân địch tan vỡ, bỏ chạy bị lực lượng của ta chiến đấu ở địa phương tiêu diệt gần hết.

Trong số năm nghìn quân tiến từ biên giới vào, chỉ còn sống sót 60 ky binh. Bọn Việt gian thạo đường đã tháo chạy bán sống bán chết về phía biên giới. Nỗi kinh hoàng của giặc được toát ra trong những dòng hồi ký của Lê Trắc: “Chật vật hiểm nghèo, muôn phần chắc chết, ngày chạy mấy trăm dặm, từ nửa đêm đến tảng sáng đến châu, vọng bái cửa khuyết, mừng Tết năm Mậu Tý”. Mồng một Tết (3-2- 1288), những tên sống sót ra khỏi biên giới, đặt tiệc rượu mừng thoát chết rồi về Tư Minh.

Lực lượng nào mà có sức mạnh tiêu diệt 5000 quân xâm lược trong một ngày đêm ngay trong vùng chúng đã chiếm đóng? Đó là những lực lượng vũ trang vốn có nhiệm vụ phòng thủ vùng này gồm quân của triều dình, quân địa phương và dân binh, thổ binh các làng bản.

Họ đã từng chặn đánh địch khi chúng tiến từ biên giới xuống. Sau khi quân địch đã vượt qua, trừ một bộ phận quân triều đình có nhiệm vụ rút lui để bảo toàn lực lượng, tiếp tục chiến đấu ở tuyến sau, thì lực lượng còn lại gồm quân chủ lực làm nòng cốt và quân địa phương đã quay lại đứng vững và hoạt động sau lưng địch.

Họ có điều kiện thuận lợi là rất thông thạo địa hình, lại bất ngờ đánh địch từ trong lòng chúng, phối hợp với các lực lượng tiếp tục chặn địch đang tiến công trong một thế trận xen kẽ giữa ta và địch. Thế trận cài xen này xuất hiện rộng rãi trong cuộc kháng chiến lần thứ hai đã làm cho quân Nguyên rất hoảng sợ.

Chính vì vậy, nên Thoát Hoan đã ra sức củng cố khu vực Vạn Kiếp mong xây dựng được một vùng hậu phương an toàn. Và cũng chính vì thế mà trong cuộc xâm lược lần này, khác với cách tiến quân ào ạt lần trước, quân địch đã tiến quân thận trọng, đánh đến đâu, củng cố đến đấy.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #83 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2009, 01:12:30 pm »

Không bao lâu, nạn thiếu lương thực lại trở thành mối đe doạ nghiêm trọng đối với hàng chục vạn quân xâm lược.  Thoát Hoan phải sai bọn áo Lỗ Xích và A Bát Xích cho quân đi cướp thóc gạo của dân để có lương ăn. Nhưng việc này nguy hiểm mà không có kết quả. Nguyên sử chép: “Người Giao (tức dân Đại Việt - TG) đều giấu thóc gạo rồi trốn đi” 1. 

Không những không tìm thấy thóc gạo mà nhiều nơi chúng còn bí các lực lượng vũ trang tại chỗ và dân chúng chống trả kịch liệt. Ví dụ, trong một chuyến di cướp lương của A Bát Xích, tên tuỳ tướng của hắn là Tích Đô Nhi đã bị quân ta chặn đánh ở Tháp Sơn (Đồ Sơn). Đoàn thuyền lương của   Trương Văn Hổ mãi không thấy đến. Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi đem một đội chiến thuyền ra biển đón thuyền lương.

Đến cửa biển An Bang (Hải Ninh), Ô Mã Nhi mới biết đoàn thuyền lương đã bị tiêu diệt. Đoàn thuyền của Ô Mã Nhi bị quân Trần chặn đánh nhiều lần. Ngày 10-2- 1288, chúng bị chặn đánh ở cửa Đại Bàng (cửa Văn Úc). Địch bị thiệt hại nhưng vẫn cố tiến đến vùng biển Tháp Sơn (Đồ Sơn). Đến đây chúng lại bị chặn đánh lần nửa. Tình hình đó chứng tỏ lực lượng quân Trần khá hùng hậu và sẵn sàng chiến đấu ở vùng sông biển phía đông.

Tình hình quân xâm lược rất nguy ngập. Vừa thiếu lương thực, đau ốm nhiều, vừa bị các lực lượng vũ trang và dân chúng tiến công khắp mọi nơi. Khi nghe tin đoàn thuyền lương bị tiêu diệt thì toàn bộ tướng sĩ từ trên xuống dưới lâm vào một tâm trạng tuyệt vọng. Sức chiến đấu của quân đội suy sụp nhanh.

Trong lúc đó, đại quân của ta vẫn còn nguyên vẹn, sẵn sàng chờ thời cơ phản công. A Bát Xích bàn với Thoát Hoan: “Giặc bỏ sào huyệt trốn vào núi, biển là có ý đợi chúng ta mệt mỏi rồi thừa cơ đánh lại. Tướng sĩ phần nhiều là người phương bắc, lúc Xuân Hè giao nhau, chướng khí lại hoành hành, nếu chưa bắt được giặc thì ta không thể giữ lâu được. Nay chia quân bình định các nơi, chiêu hàng những người quy phục, ngăn cấm quân lính không được cướp bóc, kịp bắt ngay Nhật Huyên (tức Trần Thánh Tông - TG), đó là thượng sách” 2.
 
Mưu kế này không thể thực hiện được vì ngược lại những điều mà quân địch và quân, dân ta đang làm. Qua đó có thể thấy rõ chúng đã thú nhận sự phá sản của âm mưu đánh bại ta bằng hành động quân sự.  Trong tình hình đó và rút kinh nghiệm thất bại lần trước, Thoát Hoan thấy đại bản doanh để ở Thăng Long không an toàn. Tháng 3-1288, hắn ra lệnh đốt phá Kinh thành rồi rút quân về Vạn Kiếp.

Con đường từ Thăng Long về Vạn Kiếp đã bị quân ta kiểm soát. Tuy đây là hậu phương của chúng, nhưng quân Nguyên phải chiến đấu để mở đường mới đi được. Nguyên sử chép rằng: “Trấn Nam vương trở về Vạn Kiếp, A Bát Xích đem quân tiên phong cướp cửa ải, bắc cầu phao, phá cửa Ba Sông (Tam Giang khẩu)” 3. Tân Nguyên sử chép rằng, chính ở trận cửa Ba Sông này, Vạn hộ Đường Tông bỏ mạng 4. 

Sau khi trỏ về Vạn Kiếp, Thoát Hoan lại sai A Bát Xích đem quân đánh vào căn cứ của ta ở Trúc Động (Thuỷ Nguyên) và vùng cửa An Bang (Quảng Ninh). Hoạt động này chứng tỏ Thoát Hoan lo lắng cho sự an toàn trên con đường ra vào của thuỷ quân của chúng. Đồng thời cũng chứng tỏ y muốn nới lỏng phần nào thế bao vây của quân Trần quanh Vạn Kiếp. Nguyên sử cũng phải thú nhận: Những nơi xung yếu đã chiếm được, nay đều thất thủ.

Khu căn cứ Vạn Kiếp mà hắn đã tốn bao công sức để xây dựng nay cũng không còn là nơi an toàn. Tình cảnh lương thực thiếu, quân số hao hụt, quân tướng ốm đau vì thời tiết, lại bị quân ta tiến công liên tục vẫn tiếp diễn nặng nề hơn.  Không còn con đường thoát nào khác, Thoát Hoan quyết định rút quân về nước.

_______________________
1. Nguyên sử, q.166 - Phàn Tiếp truyện, tr.10b.
2. Nguyên Sử, q.166, Phàn Tiếp truyện, tr.10b.
3. Nguyên sử, quyển 209, t .9b. Đây là nơi sông Bình Than (Lục Đầu) sông Cầu, sông Thương giao nhau.
4. Tân Nguyên sử, q. 180, Đường Tông truyện, t . 14b.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #84 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2009, 01:17:33 pm »

Bọn tướng đã nói với Thoát Hoan: “ở Giao Chỉ không có thành trì để giữ. Không có lương thực để ăn, mà thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ lại không đến. Vả lại khí trời đã nóng nực. Sợ lương hết, quân mệt, không lấy gì để chống giữ lâu được, làm hổ thẹn cho triều đình. Nên toàn quân mà về thì hơn” 1.

Thoát Hoan cũng phải thừa nhận: “ở đây nóng nực, ẩm thấp, lương hết, quân mệt” 2.  Điều lo lắng lớn của giặc là rút quân theo đường nào?  Bọn tướng thuỷ binh đề nghị: “Thuyền lương hai lần vào đều bị hãm, chi bằng huỷ thuyền đi dường bộ là thượng sách” 3. Nhưng phần lớn bọn tướng khác đã trải qua nỗi kinh hoàng của cuộc rút lui theo đường bộ trong cuộc chiến tranh trước không tán thành đề nghị đó. Họ cho rằng rút lui theo hai đường thuỷ, bộ sẽ chia sẻ được lực lượng ta, hy vọng có bộ phận thoát được cũng nhiều hơn. Cuối cùng Thoát Hoan quyết định chia quân làm hai đạo, theo hai đường thuỷ bộ lui quân. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy đạo thuỷ binh rút lui trước theo đường sông Bạch Đằng. Thoát Hoan tự chỉ huy đạo quân bộ rút theo đường Lạng Sơn về nước. 

Toàn bộ tình cảnh và ý đồ chiến lược của Thoát Hoan từ đầu cuộc chiến tranh nằm trong dự báo chiến lược của Bộ Thống soái Đại Việt và Trần Quốc Tuấn. Trần Quốc Tuấn dự báo thế nào địch cũng phải rút lui chiến lược và cuộc rút lui phải được thực hiện theo hai đường thuỷ, bộ. Trên khắp các ngả đường quân địch có thể rút quân, quân ta đã được bố trí và chuẩn bị chờ sớm diệt địch.

Từ đầu cuộc chiến tranh, Trần Que Tuấn đã dự báo cuộc  rút lui của thuỷ binh Nguyên qua sông Bạch Đằng, chọn sông Bạch Đằng làm chiến trường của một trận quyết chiến chiến lược tiêu diệt thuỷ binh là lực lượng chủ lực tinh nhuệ mới xây dựng của địch - lực lượng chúng gửi gắm nhiều hy vọng trong các cuộc chiến tranh xâm lược sau này.

 Bạch Đằng là một sông lớn do sông Đá Bạc, sông Giá và nhiều nhánh sông khác đổ vào. Dòng sông rộng mênh mông, bên phải có dãy núi đá vôi Tràng Kênh bám sát bờ, bên trái là rừng cây um tùm. Sông Bạch Đằng đổ thẳng ra biển theo cửa Nam Triệu và theo mấy nhánh sông phía tả ngạn như sông Chanh, sông Kênh, sông Rút.

Trên dòng sông chảy ra cửa Nam Triệu, ghềnh Cốc là một bãi đá ngầm chạy ngang qua sông Bạch Đằng phía dưới cửa sông Chanh. Khi nước triều xuống, đây là một bãi chướng ngại rất nguy hiểm đối với các loại thuyền. Cho nên các thuyền đi ra biển, nhất là các thuyền lên Khâm Châu thường đi đường sông Chanh là đường ngắn nhất và thuận tiện nhất. Từ hữu ngạn sông Đá Bạc còn có một nhánh sông (sông Giá), chảy theo phía tây dãy núi Trành Kênh, đổ ra sông Bạch Đằng phía trên cửa sông Chanh một đoạn. 

Ý định tác chiến của Trần Quốc Tuấn là buộc thuỷ quân rút lui của địch phải đi vào sông Bạch Đằng, rẽ vào sông Chanh, tiêu diệt chúng trong một trận quyết chiến lớn ở khu vực sông Bạch Đằng và sông nhánh. Trần Quốc Tuấn đã cho quân, dân ta đẵn gỗ lim, gỗ táu trên rừng về, đẽo nhọn, cắm xuống sông thành nhiều bãi chướng ngại vật ở những nơi hiểm yếu ta định đánh địch, chủ yếu là trên sông Chanh, một phần trên sông Kênh, sông Rút. Các bãi cọc chắn ngang sông, cách ngã ba sông, nơi nước sông Bạch Đằng đổ vào sông Chanh, sông Kênh, sông Rút khoảng 400 mét 4.

Cách đánh của Ngô Quyền từ thuở phá quân Nam Hán lại một lần nữa được vận dụng sáng tạo với đặc điểm là Ngô Quyền đánh địch từ biển vào còn Trần Quốc Tuấn đánh chúng từ trong sông đi ra biển.  Trong ý định này, mức nước thuỷ triều lên xuống ở khu vực các bãi cọc trong các thời gian khác nhau trong ngày, trong tháng đã được Trần Quốc Tuấn trực tiếp tìm hiểu. 


_______________________________
1. Nguyên sử, q. 209, t . 9b.
2, 3. An Nam chí lược, q.4.
4. Theo Nguyên Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Sđd, tr.301, tại cánh đồng xã Yên Giang, bên bờ trái sông Chanh, từ năm 1953 trở đi, nhân dân địa phương đã đào tìm được khoảng vài trăm cọc gỗ. Cánh đồng này xưa vốn là dòng sông Chanh, nhưng cát bồi dần bên bờ trái nên lòng sông Chanh chuyển dần xuống phía dưới như vị trí ngày nay. Từ năm 1958, các nhà khảo cổ đã tiến hành bốn đợt khảo sát, khai quật tại khu vực cánh đồng Yên Giang này (thuộc huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh) vào các năm 1958, 1964, 1965, 1976. Các cọc được phát hiện đều làm bằng gỗ lim, hoặc gỗ táu còn nguyên vỏ, cọc dài nhất khoảng 2 m98, cọc ngắn nhất là lm40, đường kính từ 0m18 đến 0m33, phần cọc được đẽo nhọn để cắm xuống bùn đất dài khoảng từ 0m50 tới 1m. Cọc cắm thành hàng, cọc nọ cách cọc kia khoảng trên dưới 1m. Giữa các hàng cọc, có những khúc gỗ đặt ngang.
Tại sông Bạch Đằng, nước triều lên xuống mạnh nhất là ở kỳ nước cường: mực nước triều khi dâng cao và khi xuống thấp chênh lệch nhau tới hơn năm thước (hai mét). Trái lại, khi không phải kỳ nước cường thì mực nước triều cao thấp chỉ chênh nhau khoảng hơn một thước (khoảng nửa mét).[/color]
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #85 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2009, 01:22:54 pm »

Nhiều hoạt động chuẩn bị và thực hành tác chiến phụ thuộc vào con nước. Muốn đóng các cọc gỗ, phải chọn lúc nước triều đang lên cao, nhưng muốn cho bãi cọc phát huy tác dụng phá thuyền giặc phải chọn lúc nước triều đang xuống, vừa để bộc lộ hàng cọc khỏi mặt nước, vừa để cho dòng nước đang rút chảy mạnh từ sông Bạch Đằng vào sông Chanh, sông Kênh, sông Rút, xô thuyền giặc vào bãi cọc.

Trần Quốc Tuấn hẳn cũng tính rằng thuyền của giặc phần nhiều là thuyền lớn, đi biển. Nay đi trong sông, chúng phải chọn thời kỳ nước triều cường. Vấn đề đặt ra phải là kiềm chế địch từ khi chúng xuất phát, suốt trong thời gian nước triều cường, dẫn dắt chúng đến đầu bãi cọc vào lúc nước triều bắt đầu xuống thấp.

Một bà bán hàng nước ở một bến đò ngang trên sông Bạch Đằng đã giúp Trần Quốc Tuấn xác định các kỳ con nước và tình hình thuỷ triều lên xuống trên sông Bạch Đằng 1.  Kiến thức của quần chúng cộng với trí tuệ của lãnh đạo đã đưa đến mưu lược lớn và thắng lợi vang dội. 
 
Trong dãy núi Tràng Kênh ở hữu ngạn cũng như trong các khu rừng rậm rạp ở tả ngạn, quân bộ của ta đã chiếm lĩnh các địa hình có lợi, sẵn sàng đánh địch từ phía sông tiến lên. Và trong các khe ngách hai bên sông Bạch Đằng các đội thuỷ binh của ta đã mai phục, sẵn sàng xuất kích.  Phía ghềnh Cốc, một lực lượng thuỷ binh của ta cũng đã được bố trí sẵn, kết hợp với thế hiểm trở của ghềnh, không cho thuỷ binh địch lợi dụng khe hở tiến xuống cửa Nam Triệu. 

Thế trận bao vây, tiến công địch, sẵn sàng dồn chúng vào cái bẫy lớn của quân ta đã được hình thành, hiểm và chắc.  Theo truyền tụng dân gian và gia phả các dòng họ ở địa phương, thì nhân dân dọc hai bên bờ sông Bạch Đằng, sông Giá, sông Chanh và nói chung cả vùng ven biển đều tích cực tham gia công việc chuẩn bị trận đánh trên sông Bạch Đằng, như xác định các kỳ con nước của sông Bạch Đàng, định vị trí cắm cọc trong lòng sông, làm cọc, đóng cọc, làm bè hoả công, giúp lương thực và tổ chức những đội dân binh để phối hợp chiến đấu với quân đội của triều đình.

Ngày 30-3- 1288, đạo quân thuỷ của địch do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy bắt đầu rút, trên bờ có kỵ binh do Trình Bằng Phi và Tháp Xuất chỉ huy đi hộ tống. Quân dân ta đã phá cầu đường, chặn đánh liên tục, buộc đội kỵ binh phải quay trở lại Vạn Kiếp. Đoàn thuyền của Ô Mã Nhi không được bảo vệ trên bờ nối đuôi nhau theo sông Đá Bạc tiến ra sông Bạch Đằng.

Ngày 8-4- 1288, một đội thuyền đi trước dò đường do Vạn hộ Lưu Khuê chỉ huy tiến vào sông Giá với ý định đưa thuỷ binh lớn gồm hàng trăm chiến thuyền nặng rút theo nhiều đường để bảo đảm an toàn và tăng thêm tốc độ lui quân. Đến Trúc Động (Thuỷ Nguyên) đội thuyền này bị quân ta chặn đánh kịch liệt. Bị tổn thất, đoàn thuyền địch phải quay trở lại sông Đá Bạc. Đường sông Giá bị bịt, toàn bộ đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi buộc phải theo sông Đá Bạc xuôi về sông Bạch Đằng, nơi ta đã chuẩn bị xong chiến trường để tiêu diệt chúng.

Cuộc chiến đấu ngăn chặn quân địch rút lui được thực hiện quyết liệt từ ngày 30-3-1288 đến hết ngày 8-4, suốt cả thời gian nước thuỷ triều đang cường. Quân Nguyên phải thú nhận rằng suốt dọc đường từ Vạn Kiếp ra đi, quân Trần “đã nghênh chiến, đại chiến liên tục ngày này sang ngày khác” 2.
 
Bị đánh mạnh và liên tục nên mặc dù nước chảy xuôi dòng, tốc độ lui quân của địch rất chậm. Từ Vạn Kiếp tới chỗ rẽ vào sông Giá, đường thuỷ chỉ dài không đến 50 km, mà giặc phải đi mất 10 ngày.

Theo tin tức về các kỳ con nước thuỷ triều lên xuống có tính quy luật mà bà hàng nước mách bảo, Hưng Đạo vương đã tính toán và nắm chắc được thời gian nước thuỷ triều rút nhanh và mạnh nhất là vào sáng ngày 8-3 âm lịch (tức là sáng ngày 9-4- 1288) và quyết định kìm giữ, dẫn dắt đoàn thuyền đến trước các hàng cọc gỗ ta đã đóng sẵn đúng vào lúc đó.


____________________________
1. Theo Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Sđd, tr.303. Khi bà mất, nhân dân địa phương lập đền thờ tại xã Yên Giang thuộc huyện Yên Hưng (bên bờ trái sông Chanh), dựng bia ghi công và tôn xưng là Vua Bà. 
2. Nguyên sử, q. 166, Trương Vĩnh Thục truyện, t.16a. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #86 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2009, 12:36:14 pm »

Sáng ngày 9-4, đoàn thuyền địch bắt đầu tiến vào sông Bạch Đằng. Lúc bấy giờ nước triều còn cao, che khuất các bãi cọc. Thuỷ binh ta vẫn tiếp tục chiến đấu ngăn chặn địch. Chờ lúc nước triều bắt đầu xuống, một đội thuyền của ta được lệnh tiến lên khiêu chiến rồi giả thua vừa đánh vừa rút, dẫn đoàn thuyền địch đi vào hướng các bãi cọc 1. Ô Mã Nhi liền ra lệnh đuổi theo.

Nước triều xuống thấp dần. Khi đoàn thuyền địch vừa lọt vào trận địa mai phục, từ các ngách sông, những đội thuyền nhẹ của ta lao ra bất ngờ tiến công, đánh tạt sườn vào đội hình của địch, dồn chúng về phía các bãi cọc. Phàn Tiếp vội cho một số thuyền áp sát bờ sông phía Tràng Kênh, thúc quân đổ bộ lên bờ, toan chiếm núi cao để yểm hộ cho đoàn thuyền rút. Nhưng lực lượng quân ta phục sẵn trong núi, do Trần Quốc Bảo chỉ huy đã đánh hắt chúng xuống. 

Quân thuỷ bộ của ta đổ ra mỗi lúc một đông. Trước hết là quân Thánh Dực do tướng Nguyễn Khoái chỉ huy. Tiếp đó,  hai vua Trần cũng dẫn đại quân đến. Trận chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Quân ta bám sát địch, bắn tên nhơ mưa. Giặc chết rất nhiều, máu chảy đỏ cả khúc sông.



Nước triều xuống gấp. Chiến thuyền của địch vừa to vừa nặng lại lao nhanh theo dòng nước đang chảy xiết nên vấp phải cọc gỗ, một số bị tan vỡ và bị đắm. Đội hình của địch bị dồn lại, rối loạn. Quân ta lao những bè lửa đã chuẩn bị sẵn trôi xuống, thuyền giặc nhiều chiếc bén lửa bốc cháy ngùn ngụt. Nhân dân địa phương đã tả lại khí thế mãnh liệt của trận đánh hoả công trong câu thơ:

Bạch Đằng nhất trận hoả công,
Tặc binh đại phá huyết hồng mãn giang.

(Bạch Đằng một trận hoả công,
Đại phá binh giặc máu hồng tràn sông
).

Đại Việt sử ký toàn thư thì ghi: “Quân Nguyên chết đuối không kể xiết, nước sông đỏ ngầu”. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt từ mờ sáng đến chiều tối.  Phản ánh tính quyết liệt và hùng tráng của cuộc chiến, Trương Hán Siêu, một môn khách của Hưng Đạo vương đã viết trong bài Phú sông Bạch Đằng:

Bấy giờ.
Muôn dặm thuyền bè, tinh kỳ phấp phới,
Sáu quân oai hùng, gươm đao sáng chói,
Sống mái chưa phân, Bắc Nam lũy đối,
Trời đất rung rinh chừ sắp tan
Nhật nguyệt u ám chừ mờ tối. . .


Với khí thế tiến công dũng mãnh, quân ta tiêu diệt toàn bộ đạo quân thuỷ của địch. Tên tướng Ô Mã Nhi bị bắt sống.  Tên phó tướng Phàn Tiếp bị thương nhảy xuống sông, quân ta dùng câu liêm móc lên. Nhiều tên tướng khác cũng bị bắt như viên đại quý tộc Tích Lệ Cơ và viên quan giữ văn thơ đi theo Ô Mã Nhi là Lý Thiên Hựu. Quân giặc bị giết, chết đuối và bị bắt rất nhiều. Quân ta thu được hơn bốn trăm thuyền chiến.

Trận Bạch Đằng (1288) đã đập tan ý chí xâm lược của nhà Nguyên và là đỉnh cao tuyệt vời của sức mạnh và nghệ thuật quân sự Việt Nam thời đó.


__________________________
1. Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Sđd, tr. 305.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #87 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2009, 12:39:11 pm »

Ngày 8-4-1288, Thoát Hoan bắt đầu rút quân từ Vạn Kiếp theo hướng Lạng Sơn. A Bát Xích đi trước mở đường với một lực lượng được lựa chọn. Tích Đô Nhi chỉ huy cánh quân rút theo đường phía tây. Thoát Hoan cùng bản đội rút theo đường phía đông. Cánh quân của Tích Đô Nhi tiến đến cửa Hãm Nê thì bị quân ta chặn đánh kịch liệt. Tích Đô Nhi không qua được phải quay về con đường phía đông, làm cho mật độ quân rút lui ở hướng này càng thêm dày đặc.

Trên các nẻo đường lui quân của giặc, lực lượng chủ lực và địa phương của ta đã chiếm lĩnh trước các địa hình lợi hại chặn đánh và truy kích địch liên tục. Biết bao kỵ binh địch đã sa xuống hố bẫy ngựa mà quân dân ta đã đào trên đường. Biết bao quân tướng bị tên tẩm thuốc độc bắn trúng từ trong rừng rậm, từ trên núi cao. Biết bao hành động yêu nước và cách đánh sáng tạo của quân và dân ta với chí căm thù giặc cao độ đã gây cho địch những tổn thất hết sức nặng nề.

Ngày 11-4-1288, Thoát Hoan dẫn quân chạy đến cửa quan Nội Bàng, lọt vào trận địa phục kích của quân ta. Quân Nguyên phải “hết sức đánh”.  Lưu Thế Anh và Vạn hộ Đáp Lạt Xích phải liều chết mở đường máu mới thoát ra được. Nhưng quân ta vẫn tiếp tục truy kích. Thoát Hoan phải cho Vạn hộ Trương Quân chỉ huy ba nghìn quân tinh nhuệ đi sau hộ vệ.

Vừa qua khỏi cửa Nội Bàng, quân Nguyên lại được tin quân ta đã đóng ở cửa Nữ Nhi và núi Khâu Cấp, “ba mươi vạn quân Trần rải ra suốt hơn một trăm dặm” 1 để chặn đường về của chúng. Thoát Hoan hoảng sợ vội quay theo đường tắt qua huyện Đơn Uỷ về Lộc Châu để ra khỏi biên giới. Tình cảnh quân Nguyên lúc đó thật là khốn khổ.

Nguyên sử chép: “Lúc đó quân ta đã thiếu ăn, lại mệt vì chiến đấu, các tướng nhìn nhau thất sắc” 2, chúng phải “cố xông vào mà đánh” 3, “buộc vết thương lại mà đánh” 4. A Bát Xích chết vì trúng ba mũi tên độc.  Xác giặc nằm rải ra trên đoạn đường dài gần trăm dặm. Mãi đến ngày 19-4-1288, Thoát Hoan và tàn quân của hắn mới về đến Tư Minh.

Cuộc xâm lược lần thứ ba của quân Nguyên đã bị đập tan. Ngày 18-4-1288, hai vua Trần về phủ Long Hưng đem theo bọn tù binh Ô Mã Nhi và các tướng Nguyên khác làm lễ hiến tiệp ở lăng Trần Thái Tông. Trần Nhân Tông đã biểu lộ cảm xúc trong hai câu thơ:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.

(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,
Non sông nghìn thuở vững âu vàng
). 

Ngày 28-4-1288, các vua Trần và triều đình trở về Kinh đô Trước cảnh cung điện và phố xá bị thiêu huỷ, tàn phá,  vua Trần ban lệnh đại xá thiên hạ, miễn tô dịch toàn phần cho những nơi bị giặc cướp phá.

*

*       *

Có thể rút ra mấy nhận xét về cuộc kháng chiến lần này về địch và ta:

Về địch:

- Quân thù tiến quân thận trọng, củng cố từng bước, không ồ ạt như lần trước.

- Lực lượng thuỷ quân được sử dụng trên một hướng tiến công chiến lược.

- Vấn đề chuẩn bị lương thực đã được coi trọng hơn.

- Mục tiêu chiến lược của quân Nguyên vẫn là bắt được vua Trần và tiêu diệt quân đội của ta bằng cách giao chiến trực tiếp. Tơ tưởng chỉ đạo chiến lược cơ bản vẫn là đánh nhanh thắng nhanh.

Nhưng thế trận cả nước đánh giặc của ta được triển khai có tổ chức, chặt chẽ hơn cuộc kháng chiến trước đã sớm làm mất sức chiến đấu của quân Nguyên, không cho chúng thực hiện các mục tiêu chiến lược đó.


___________________
1. Nguyên sử, q.209, An Nam truyện, t.10a. 
2, 3. Nguyên sử, q.133, Tích Đô Nhi truyện.
4. Nguyên sử, q.129, Lai A Bát Xích truyện, t.2a.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #88 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2009, 12:39:54 pm »

Về phía ta:

- Triều đình và Bộ Thống soái nhà Trần đã rút được nhiều kinh nghiệm quan trọng từ hai cuộc kháng chiến trước, nắm chắc quy luật hành động của địch và đánh giá đúng âm mưu và khả năng của địch cũng như tinh thần và khả năng chiến đấu của quân, dân ta. Quân và đần ta đã có kinh nghiệm đánh địch và đã được chuẩn bị sẵn sàng về các mặt.

Cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Mông Cổ diễn ra trong điều kiện quân, dân ta từ khi thành lập triều Trần chưa hề trải qua trận mạc. Cuộc xâm lược lần thứ hai của quân Nguyên diễn ra khi quân dân ta đã trải qua gần 30 năm không có chiến tranh, tuy đã có một số kinh nghiệm của cuộc kháng chiến lần thứ nhất. Cuộc xâm lược lần thứ ba của kẻ thù diễn ra chỉ sau ba năm, quân, dân ta được rèn luyện trong cuộc kháng chiến thắng lợi lần thứ hai. Trên, dưới đều có kinh nghiệm chiến đấu, khí thế chiến thắng còn nóng hổi.  Đó là một nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh kháng chiến của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến lần này. 

- Dự kiến chiến lược về quá trình diễn biến cuộc chiến tranh được xác định sắc sảo và chính xác. Việc bố trí thế trận chiến lược biểu lộ một tinh thần tự tin lớn: Các khối chủ lực được bố trí một cách táo bạo mà đúng đắn. Không đưa lên gần biên giới mà đặt gần chỗ sẽ diễn ra trận quyết chiến chiến lược. Hai khối quân phụ trách đánh trận Bạch Đằng và trận đánh quân địch rút lui đường bộ đã được bố trí sẵn từ trước khi địch kéo vào nước ta. Vai trò và tác dụng của lực lượng tại chỗ trên các hướng được nâng cao hơn trước.

- Chỉ đạo chiến lược qua từng bước của cuộc kháng chiến được thực hiện bình tĩnh, đàng hoàng, chủ động. Chỉ đạo tác chiến đã tỏ ra rất sắc bén, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự trong trận Bạch Đằng. Không những đã điều động buộc quân giặc phải rút quân theo ý định của mình về hướng đi và thời gian đến, mà còn tổ chức hiệp đồng các lực lượng chặt chẽ, đưa đoàn thuyền địch vào các bãi cọc vừa đúng lúc thuỷ triều rút mạnh, khiến giặc bị đẩy vào đất chết mà không thể nào cưỡng lại được.

Qua thực tế diễn biến cuộc kháng chiến, có thể thấy Trần Quốc Tuấn đã dự kiến trước từ đầu cuộc chiến tranh:

- Mặc dù thay đổi thủ đoạn xâm lược, thế nào quân Nguyên cũng phải thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh và bị sa lầy vào thế trận cả nước đánh giặc đã được bố trí sẵn.

- Trong thế bị sa lầy, mất nguồn tiếp tế, thế nào quân Nguyên cũng phải rút lui chiến lược.

- Cuộc rút lui chiến lược thế nào cũng phải theo hai đường thuỷ, bộ.

- Quân thuỷ của địch thế nào cũng phải rút theo sông Bạch Đằng. Và trận quyết chiến chiến lược nhất định sẽ diễn ra ở khu vực quân Trần đã chuẩn bị, vào sáng ngày 8 tháng Ba âm lịch (tức 9-4-1288), lúc nước thuỷ triều xuống nhanh và mạnh nhất.

Trong cuộc kháng chiến lần này, phương hướng và mục tiêu đánh đòn quyết định cũng được xác định một cách đúng đắn và sáng tạo. Đi đôi với việc nhằm tiêu diệt sinh lực địch thì đã thực hiện những đòn rất hiểm, rất đau vào đoàn thuyền lương của địch, vào thuỷ binh của chúng.

Trong điều kiện cả nước đánh giặc trên đất ta, địch không thể thực hiện âm mưu quen thuộc của chúng lấy lương thực tại chỗ để nuôi quân, thì việc tiêu diệt đoàn thuyền lương là một đòn chí tử đánh vào sức chiến đấu của quân xâm lược.

Việc tiêu diệt thuỷ binh địch càng có tác dụng quan trọng hơn. Nếu kỵ binh Mông Cổ là con chủ bài để chiến thắng trên những chiến trường lục địa rộng lớn ở châu Âu và Trung Quốc thì thuỷ binh là con chủ bài để hy vọng chiến thắng trên các vùng sông biển ở châu Á. Việc tiêu diệt trong một trận một lực lượng thuỷ binh lớn gồm 500 - 600 thuyền chiến là một đòn quyết định đánh vào ý chí xâm lược của quân Mông - Nguyên đối với nước Đại Việt và cũng là đòn cảnh cáo rất mạnh đối với mưu đồ xâm lược các nước khác ở đông Nam Á. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #89 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2009, 12:41:14 pm »

V. CUỘC ĐẤU TRANH GIỮ VỮNG HOÀ BÌNH SAU CHIẾN THẮNG

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến lần thứ ba, vua Trần rất cảnh giác với tham vọng điên cuồng của triều Nguyên - tên đế quốc xâm lược to lớn xấu hổ vì đã bị đánh bại, cố gắng giữ vững hoà bình, tránh cho đất nước những cuộc chiến tranh xâm lược mới.

Triều đình Trần đã giữ quan hệ ngoại giao bình thường với triều Nguyên. Sau khi Thoát Hoan thua trận chạy khỏi biên giới, vua Trần đã sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng và Tòng nghĩa lang Nguyễn Mạnh Thông đi sứ Nguyên.

Trong bài biểu gửi Hốt Tất Liệt viết tháng 5 - 1288, vua Trần đã dùng lời lẽ mềm mỏng, nhưng đồng thời cũng vạch rõ tội ác của quân giặc: Năm Chí Nguyên thứ 22 (1285) Bình chương A Lý Hải Nha tham công ngoài biên giới, làm trái thánh chiếu 1, vì thế mà sinh linh một nước nhỏ chúng tôi phải chịu lầm than. Mùa đông năm Chí Nguyên thứ 24 (1287) lại thấy đại quân thuỷ bộ tiến đánh, cướp giết dân chúng già trẻ, phá phách sản nghiệp trăm họ, không sót điều tàn ác gì không làm . . . Đến khi nhờ được thái tử thương xót (?) nghe theo lời kêu xin của nước chúng tôi rút đại quân về, tham chính Ô Mã Nhi lại đem quân thuyền đi riêng ra ngoài biển, bắt hết nhân dân ven biển, lớn thì giết, bé thì cướp đi, cho đến cả treo, trói, mổ, cắt, vứt mình một nơi, đầu một ngả.  Trăm họ bị bức đến chỗ chết, mới nổi lên cái hoạ chim cùng thú quẫn”.

Trong tờ biểu, vua Trần đã nhắc đến việc trả tù binh, với những lời lẽ trân trọng, cốt xoa dịu lòng căm tức của vua Nguyên: Thấy bách tính đưa đến một người là Đại vương Tích Lệ Cơ, nói là bậc quý thích của đại quốc. Thần từ hôm đó đã lấy lễ đối đãi rất mực tôn trọng, kính hay không kính thì đại vương tất rõ, còn những hành vi tàn bạo của Ô Mã Nhi, đại vương trông thấy tận mắt, vi thần không dám nói dối. Tiểu quốc thuỷ thổ độc, viêm chướng nhiều, thần lo ở lại lâu ngày sinh ra bệnh tật, tuy vi thần đã cố hết sức phụng dưỡng cũng không khỏi bị những bọn tham công ngoài biên cương vu tấu đặt điều cho nên tội. Vi thần kính xin sắm đủ lễ vật đi đường sai người đến biên giới đưa đại vương về nước.  Ngoài ra, đại quân rơi rớt lại còn hơn nghìn người thần đã ra lệnh cho trở về hết, sau này nếu còn tìm được người nào, thần cũng sẽ cho về. . .

Về phía vua Nguyên, Hốt Tất Liệt rất giận dữ về thất bại của cuộc xâm lược lần thứ ba. Khi Thoát Hoan lần thứ hai bại trận trở về, chúa Mông Cổ Hốt Tất Liệt nổi giận đuổi con trai của hắn ra Dương Châu và hạ lệnh suất đời không cho gặp mặt. Tên tướng phụ tá cho Thoát Hoan là Áo Lỗ Xích cũng bị đuổi đi Giang Tây.

Hốt Tất Liệt cay cú, rắp tâm chuẩn bị một cuộc chiến tranh xâm lược mới đối với Đại Việt. Trong hoàn cảnh lúc đó, việc làm này không dễ dàng. Trong lúc chờ đợi, hắn lại trở lại dùng phương pháp cũ là cử sứ sang Đại Việt, vừa nhằm giải quyết vấn đề cấp bách là yêu cầu ta thả tù binh, vừa dùng lời lẽ đe doạ vua Trần, bắt vua Trần phải khuất phục, sang chầu vua Nguyên.

Trong chiếu thư do sứ giả mang sang, Hốt Tất Liệt dùng lời lẽ trịch thượng, láo xược, đồng thời rất gian xảo, đổi trắng thay đen hòng che dấu thất bại thảm hại vừa qua của quân xâm lược và thắng lợi to lớn của quân, dân ta.

Ngày 12- 12-1288, Hốt Tất Liệt cử Lưu Bình Trực, Đề hình án sát sứ đạo Sơn Bắc Liêu Đông cầm đầu một sứ bộ sang ta, mang theo hai yêu sách:

Thứ nhất là đòi vua Trần vào chầu. Trong tờ chiếu có đoạn viết: Nếu quả do lòng thành thì sao không tự mình đến mà bày tỏ? Sao lại hễ nghe sai tướng sang đánh thì lo trốn tránh, hễ thấy quân rút về thì lại đánh tiếng vào cống. . .  Ngươi thử nghĩ nếu cứ sống lén lút trên non dưới biển, ngày nào cũng lo quan quân kéo đến thì sao bằng vào khuyết đình chịu mệnh để hưởng sung sướng. Trong hai chước đó, chước nào hay chước nào dở? . . . Nếu ngươi sửa soạn đồ đạc sang ngay, đủ rõ nghĩa bề tôi, thì trẫm sẽ tha hết tất cả các tội lỗi trước kia, phục hồi các tước phong cũ. Nếu còn chần chừ không quyết thì hãy nên tu sửa thành quách, rèn luyện giáp binh tự ý ngươi muốn làm gì thì làm để chờ trẫm cất quân đi . . . .

Thứ hai là đòi vua Trần trả hết tù binh, đặc biệt phải giao trả Ô Mã Nhi. Chiếu thư viết: Tích Lệ Cơ là người tộc thuộc của ta, ngươi đã lấy lễ cho về. . . Nếu ngươi lấy chuyện đó tô vẽ thêm thì hãy đem bọn quân quan Ô Mã Nhi Bạt Đô trả về, như thế mới tỏ được lòng trung thuận . . . Bọn ấy nếu phải xử lý thế nào, trẫm sẽ khu xử hoàn bị. Ngươi phải cho đưa họ về tất cả.


_____________________
1. Vua Trần nhắc đến tờ chiếu của Hốt Tất Liệt năm 1261, quy tội cho A Lý Hải Nha, nhưng thực ra muốn nói đến sự bội ước của Hốt Tất Liệt.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM