Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:27:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 109345 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #120 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2009, 10:36:12 pm »

3. Trên cơ sở trí dũng song toàn, người tướng phải có phẩm chất “nhân”, tức là phải thương yêu quân lính, nhân dân, cùng với quân lính kết thành một khối, phải tranh thủ được sự ủng hộ của dân mới có sức mạnh để thắng địch.  Như trên đây đã trích dẫn, trong Di chúc của mình, Trần  Quốc Tuấn đã nói: “Phải đạt được quân đội đồng lòng như cha con một nhà, mới có thể dùng được (Thủ đắc phụ tử chi binh, thuỷ khả dụng dã)”. Binh thư yếu lược, tham khảo “binh pháp các nhà” đã trình bày quan điểm đó trên nhiều góc cạnh.

Tướng phải yêu thương quân lính, gắn bó mật thiết, đồng cam cộng khổ với họ. “Người tướng quên mình để báo ơn vua mà không làm cho lòng sĩ tốt cũng như mình, thì tướng ấy chưa phải là tướng lập công giỏi. Cùng sĩ tốt ăn uống, thì sau sĩ tốt quên được nỗi đói khát ở trên cật ngựa; cùng sĩ tốt lên đài đi giày thì sau sĩ tốt quên được nạn chông gai ở ngoài quan ải, cùng sĩ tốt cùng dậy cùng nghỉ thì sau sĩ tốt quên được nỗi lao khổ của chiến chinh; lo cái lo của quân lính, đau cái đau của quân lính, thì sau quân lính quên được vết thương vì gươm tên. Việc đã quen mà tình lại chu đáo, nên lấy đánh giặc làm thiết yếu, lấy đau chết làm phận sự, lấy xông pha tên đạn làm việc gốc mà không biết mình ở vào chỗ gian nguy” 1.

Tướng phải gương mẫu trong sinh hoạt, “mùa đông không mặc áo da, mùa hè không dùng quạt, trời mưa không che lọng, gọi là lễ tướng. Không tự mình theo lễ thì không biết quân lính rét nóng thế nào. Ra cửa ải gặp chỗ bùn lầy, tướng nên xuống đi bộ. Không tự mình ra sức thì không biết quân lính vất vả thế nào. Phàm khi hành quân, quân đã định được nơi đóng thì tướng mới đến nhà ở. Cơm quân nấu chín rồi thì tướng mới đi ăn; quân không đỏ lửa thì tướng cũng không đỏ lửa. Thế gọi là ngăn lòng muốn. Tướng không ngăn lòng muốn thì không thể biết quân lính no đói thế nào” 2.   

Tướng phải đem mình làm trước. Khi nắng thì không trương dù, khi rét thì không mặc áo kép, gặp chỗ hiểm trở thì đi bộ. Giếng quân đào xong rồi mới uống sau. Cơm quân nấu chín rồi mới ăn sau. Lũy quân đắp xong rồi sau mới làm nhà ở. Nhọc hay nghỉ, mình phải cùng với quân lính. Như thế thì quân dù ở lâu cũng không đến nỗi già mỏi” 3. 

“Trong quân có người ốm, tướng phải thân hành đem thuốc điều trị. Quân có người chết, tướng phải khóc thương.  Quân đi thú xa thì sai vợ con đến nhà thăm hỏi. Phàm có khao thưởng thì chia đều cho quan và quân. Khi có hành động thì phải họp các tướng để bàn, mưu đã định rồi sau mới đánh. Cho nên tướng với binh có cái ơn hoà rượu và hút máu.  Cho nên quân sĩ có những cuộc vui thui trâu bày rượu và cái khí ném đá vượt rào. Họ yêu mến tướng như con em yêu mến cha anh, như chân tay giữ gìn đầu mắt, không ai có thể ngăn được Nếu hà khắc làm cho họ đau đớn, bắt làm lụng nặng nề,thì những tiếng thù oán nghe không xiết. Tướng coi quân sĩ như cỏ rác thì quân sĩ coi tướng như cừu thù, mong cho họ làm bộ hạ cũng là khó, còn mong gì họ gắng sức liều chết để đánh địch nữa. Đó là đại lược về phép tướng suý vỗ về quân sĩ vậy  4.

Phạm Ngũ Lão là một vị tướng đã nêu gương tốt về yêu cầu này. “ông coi quân có kỷ luật, đối đãi với tướng hiệu như người nhà, cùng quân lính chia ngọt sẻ đắng cho nên đánh đâu không ai địch nổi. Phàm đánh dẹp lấy được gì đều bỏ vào việc chi dùng cho quân lính, coi của cải như không, là danh tướng trong một thời” 5.

4. Người tướng còn phải rèn luyện phẩm chất “tín” - tức là xây dựng lòng tin với ba quân, phải thanh liêm, sống vô tư khiêm tốn, công bằng với cấp dưới.

Trần Thủ Độ có công lớn trong việc xây dựng triều Trần từ buổi đầu đã có những biểu hiện rõ nét về phẩm chất công bằng, ngay thẳng, tôn trọng sự thật, động viên cấp dưới làm điều phải và thi hành đúng chức trách.

Đại Việt sử ký toàn thư kể chuyện như sau: “Thái Tôn lấy được thiên hạ đều là mưu sức của Thủ Độ cả, cho nên nhà nước phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua. Bấy giờ có người hặc và ra mắt Thái Tôn, khóc nói rằng: “Bệ hạ trẻ thơ mà Thủ Độ quyền hơn cả vua, đối với xã tắc sẽ ra sao?”. Vua lập tức hạ lệnh xa giá đến nhà Thủ Độ và đem cả người hặc ấy đi theo. Vua đem lời của người hặc ấy nói tất cả cho Thủ Độ biết. Thủ Độ trả lời: “Đúng như lời người ấy nói”, rồi lấy tiền lụa thưởng cho người ấy.

Linh từ quốc mẫu có khi ngồi kiệu đi qua chỗ thềm cấm, người quân hiệu ngăn lại không cho đi. Về nhà, khóc bảo Thủ Độ rằng: “Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu khinh nhờn như thế”. Thủ Độ giận sai đi bắt. Người quân hiệu ấy chắc là phải chết. Khi đến nơi Thủ Độ vặn hỏi trước mặt. Người quân hiệu ấy đem sự thực trả lời Thủ Độ không những không trách phạt mà còn ban thưởng.


___________________________
1, 2. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.43-44, tr.69.
3, 4. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.49- 50, tr.13.
5. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t. 2, tr. 110.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #121 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2009, 10:44:18 pm »

Tướng phải công bằng và nghiêm minh trong thưởng phạt. Giết, cốt ở giết người có tội lớn. Thưởng, cất ở thưởng người có công nhỏ. Đáng giết, thì dẫu người quý trọng cũng giết, đó là hình thì xét ngược cả lên trên. Thưởng thì thưởng cho cả những người chăn trâu, giữ ngựa, đó là thưởng thì trôi xuống cả dưới vậy 1.

Giết người quý trọng đương có quyền là hình gia lên trên hết. Thưởng đến những kẻ chăn trâu, nuôi ngựa, nấu bếp là thưởng đến dưới cùng. Do đó mà uy tín của tướng có thể lập được 2.

5. Phẩm chất cơ bản của người tướng là lòng trung. “Tướng giỏi thì không cậy mạnh, không cậy thế, được yêu cũng không mừng, bị nhục cũng không sợ, thấy lợi không tham, rượu ngon không đắm, đem mình hy sinh cho nước, chỉ có một lòng mà thôi” 3.

Tướng phải “tinh thần cho ngay thẳng -, “bỏ tư theo công” nên “giữ được nước” 4.

(Người tướng ngày chịu mệnh quên cả nhà, ra bày quân nằm ở đồng thì quên cả cha mẹ, vén áo bào mà đánh trống thì quên cả mình” 5.

“Người tướng phải “thanh liêm về của cải, tiết kiệm về tiêu dùng, lơ là về rượu, giữ mình theo lễ, thờ bề trên lấy trung, có việc thì lo chung với quân chúng, lấy của địch mà không tích trữ, bắt phụ nữ địch mà không giữ riêng..., gần người mưu trí, xa người dèm pha” 6... . Không nên “người được yêu thì mưu kế dù kém cũng phù hội, mà người bị ghét thì mưu kế dù hay cũng cố tìm cách để ngăn trở” 7. 

Đi đôi với việc xây dựng năm phẩm chất nói trên, tướng phải tránh các xu hướng tiêu cực.

Người tướng không được kiêu ngạo. “Tướng không nên kiêu, kiêu thì thất lễ. Thất lễ thì người ta lìa bỏ...”. “Khổng Tử nói: Nếu có tài giỏi như Chu Công mà có tính kiêu và lận, thì cái khác cũng không đủ để kể nữa” 8. “Tướng kiêu có thể bị đánh bại. Làm tướng không nên cậy trí dũng mà kiêu với người” 9.

“Đạo làm tướng có tám điều tệ là:

- Lòng tham không chán,

- Ghen người hiền, ghét người tài,

- Tin lời dèm, ưa lời nịnh,

- Xét người không xét mình,

- Do dự không quả quyết,

- Say đắm rượu và sắc đẹp,

- Thích xảo trá mà lòng nhút nhát,

- Nói dối mà không theo lễ” 10.

Nhờ có những luận điểm đúng về phẩm chất của người tướng, trong thực tiễn biết bồi dưỡng, rèn luyện, lựa chọn, sử dụng người tướng, chú trọng cất nhắc tướng giỏi, nên nhà Trần, trong thời kỳ hưng thịnh đã xây dựng được một đội ngũ tướng lĩnh, người chỉ huy có phẩm chất và tài năng, văn võ kiêm toàn, hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ lịch sử trọng đại của mình là làm nòng cốt cho toàn quân, toàn dân chiến thắng quân xâm lược lớn mạnh và hung bạo.


_______________________
1, 2, 3, 4, 5, 6 , 7, 8, 9, 10 Binh thư yếu lược, Sđd, tr.12, tr.62, tr.56-57, tr.65.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #122 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2009, 10:49:56 pm »

Không phải chỉ chúng ta ngày nay, mà các sử gia ngày xưa cũng đã đánh giá cao phẩm chất và tài năng các tướng lĩnh nhà Trần.

Ngô Sĩ Liên khâm phục năng lực toàn diện và trình độ học vấn của họ:

“Tôi thường thấy các danh tướng đời Trần, như Hưng Đạo vương thì học vấn tỏ ra ở bài hịch. Phạm Điện Quý (tức Phạm Ngũ Lão - TG) thì học vấn hiện ra ở câu thơ, không những chuyên về võ mà thôi, mà dùng binh tinh diệu, chiến tất phải thắng, đánh tất lấy dược, người xưa không ai hơn. Lê Phụ Trần thì về võ cũng vượt cả ba quân , một mình một ngựa ra vào trận giặc, tuỳ cơ ứng biến, chống đỡ cho chúa lúc gian nguy, mà về văn thì đủ để dạy bảo thát tử. Đủ biết nhà Trần dùng người vốn tuỳ theo tài mà uỷ nhiệm” 1.

Lê Quý Đôn cũng đánh giá rất cao các tướng thời Trần:

“Nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hoà nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt qua thói thường, làm rạng rỡ trong sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất. ôi như thế, người đời sau còn có thể theo kịp thế nào được” 2. 
 

VI. COI TRỌNG CÁC NHÂN TỐ THIÊN THỜI, ĐỊA LỢI, NHÂN HOÀ


Trước quân xâm lược rất mạnh, các nhà quân sự thời Trần đã chăm lo phát huy cao nhất tác dụng của mọi lực lượng và tiềm năng của đất nước: con người, địa hình và thời tiết tạo nên sức mạnh phối hợp lớn nhất để đánh thắng quân địch lớn mạnh. . . .

Trên đây đã trình bày về việc phát huy nhân tố con người, phát động mọi người đứng lên vì vận mệnh của đất nước, hiểu biết và đoàn kết mọi người trong một tổ chức chặt chẽ: triều đình và trăm họ, quân đội và dân chúng, cấp trên và cấp dưới, tạo nên mối quan hệ tốt đẹp cả nước đoàn kết đánh giặc, nguồn gốc của sức mạnh giữ nước. Đó là nội dung chủ yếu của nhân tố “thế người” còn gọi là “nhân hoà”. 

Trên cơ sở đó, lý luận và tư tưởng quân sự Đại Việt thời Trần rất xem trọng phát huy vai trò của địa lợi. Địa hình  thuận lợi bao giờ cũng là nhân tố quan trọng mà người chỉ huy phải khai thác. Chiếm lĩnh địa hình có lợi trên bờ sông đối diện với địch để tổ chức tuyến phòng ngự như ở sông Cà Lồ, sông Phù Lỗ trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, ở sông Hồng trong cuộc kháng chiến lần thứ hai là sở trường của quân Trần.

Đặc biệt, trên chiến trường nước ta, địa hình rừng núi và sông ngòi chằng chịt càng phát huy vai trò quan trọng. Địa hình rừng núi nước ta nằm trên con đường hành binh truyền thống của quân xâm lược, tiến công ta từ phía bắc xuống.

Địa hình đó rất không tiện cho hoạt động chiến đấu của quân Mông - Nguyên: kỵ binh không cơ động được để bảo vây vu hồi đối phương trên những vùng rộng, không quan sát được rộng và rất khó dùng cung nỏ mạnh sát thương đối phương từ xa. Kết quả là không phát huy được sức mạnh chiến đấu và cách đánh sở trường của chúng.

Ngược lại, quân dân ta chiến đấu tại chỗ trên quê hương mình, thông thạo địa hình, có nhiều địa vật để ẩn nấp và tiến đánh địch ở cự ly gần, phát huy hiệu lực của cung nỏ và tên tẩm thuốc độc của giáo mác tự tạo.

Hiệu lực đó được ghi nhận rõ ràng qua rất nhiều sự việc: chủ tướng Thoát Hoan phải chui vào ống đồng cho lính khiêng chạy trốn, tướng giặc là Lý Hằng bị trúng tên độc, Lý Quán bị bắn chết tại trận, tên phản quốc Trần Kiện bị bắn chết trên mình ngựa... trong cuộc kháng chiến lần thứ hai.

Nguyên sử chép về việc quân ta từ trên núi cao bắn tên độc xuống, An Nam chí lược viết về quân ta đào hố bẫy ngựa của giặc. Thoát Hoan hoảng hốt khi nhận được báo cáo ba mươi vạn quân Trần rải ra suốt hơn một trăm dặm từ cửa Nội Bàng đến biên giới trong quá trình tháo chạy cuối cuộc kháng chiến lần thứ ba...


________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q.6, tr.38.
2. Lê Quý Đôn: Toàn tập, Kiên văn tiểu lục, t.2, tr 258-259.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #123 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2009, 10:54:53 pm »

Địa hình đồng bằng miền Bắc nước ta với nhiều sông ngòi chia cắt, nhiều làng mạc có luỹ tre bao bọc cũng không tiện cho việc cơ động và đột phá trong chiến đấu của kỵ binh Mông Cổ. Ta còn có thể cải tạo địa hình và lợi dụng chế độ thuỷ triều lên xuống để tạo nên chiến trường hiểm hóc diệt địch như trong trận Bạch Đằng năm 1288.

Một nhà thơ thời Trận là Nguyễn Sưởng, ca ngợi chiến thắng Bạch Đằng, đã viết:

Thùy tri vạn cổ Trùng Hưng nghiệp
Bán tại quan hà bán tại nhân.

(Có ai biết rằng sự nghiệp thời Trùng Hưng 1 lưu danh muôn thuở
Một nửa là do sông núi, một nửa là do người). 
 
Chính nhờ bám chắc vào thế lợi của địa hình mà quân và dân ta thời Trần đã đánh thắng địch. Ngay cả những lực lượng nhỏ bé ở cơ sở như quân dân Cổ Sở (Thăng Long) và Yên Duyên (Thanh Hoá) đã chặn đánh thắng lợi những mũi tiến công của đại quân Mông - Nguyên. Rõ ràng lòng yêu nước, trí thông minh của quân dân ta cộng với hình thế hiểm trở của núi sông đã tạo nên sức mạnh vô địch đánh thắng quân xâm lược.

Theo nhận thức ngày xưa, khai thác thiên thời bao gồm việc vận dụng những kiến thức về thiên văn và về thời tiết.  Nếu lược bỏ những quan niệm không khoa học về việc xem sao để đoán biết số mệnh thì khái niệm thiên thời bao gồm việc xem thiên văn để định phương hướng và đoán thời tiết và chủ yếu là việc phát huy tác dụng của thời tiết trong hoạt động quân sự.

Thời tiết nước ta cũng góp phần quan trọng tăng thêm sức mạnh kháng chiến. Ba lần xâm lược nước ta, quân Mông- Nguyên đều khởi binh vào đầu mùa đông. Với mưu đồ đánh nhanh thắng nhanh, chúng hy vọng sẽ kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh xâm lược vào mùa Xuân. Như vậy, chúng sẽ hoạt động ở nước ta trong khoảng thời gian lạnh, mát, thời tiết mà người phương Bắc có thể chịu đựng được.

Các cuộc kháng chiến kéo dài của quân, dân ta lần thứ hai (kết thúc vào tháng 7-1285) và thứ ba (kết thúc vào cuối tháng 4-1288) buộc quân xâm lược phải chịu đựng gánh nặng thời tiết mùa Hạ nhiệt đới của nước ta trong những điều kiện khốn đốn: thương vong nhiều, bị triệt lương thảo, quân đội bị sa lầy, chia cắt trong thế trận “làng - nước”. Số đau ốm vì lam sơn chướng khí ngày càng tăng, tinh thần quân đội suy sụp. 

Quân xâm lược đã đánh giá: “... Khí độc hại người còn hơn là binh đao” 2. Còn Trương Lập Đạo, sứ giả vua Mông Cổ phái đến Đại Việt năm 1291, đã nói với vua Trần: “Ngài chỉ cậy có núi biển hiểm trở và lam chướng ác liệt mà thôi”. Lời biện minh vụng về nhằm che dấu nguyên nhân cơ bản của ba lần xâm lược thất bại của quân Mông - Nguyên cũng đã nói lên nỗi sợ hãi của địch đối với địa hình và thời tiết nước ta.
 
Phát huy sức mạnh nhân hoà, khai thác thế lợi của địa hình và thời tiết đất nước, quân dân ta thời Trần đã tạo nên sức mạnh đánh địch to lớn, thực hiện lấy ít đánh nhiều, quán triệt được tư tưởng chỉ đạo của Trần Hưng Đạo “lấy đoản binh chống trường trận”.

Binh thư yếu lược chép: “Đồng cỏ rậm rạp để làm nơi đỗ quân; ải tái núi rừng để lấy ít đánh nhiều” 3.  Nhìn chung, các nhà quân sự thời Trần nắm vững quan điểm chiến lược lấy nhỏ thắng lớn, đã ra sức huy động mọi tiềm năng của đất nước vào cuộc kháng chiến . . . Phát huy các nhân tố thiên, địa, nhân (trời, đất, người), ông cha ta đã đặt lên hàng đầu nhân tố “nhân hoà”, sau đó đến nhân tố “địa lợi” rồi mới đến nhân tố “thiên thời”.

Binh thư yếu lược chép: “Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hoà.  Thánh nhân đời xưa, cẩn thận việc người mà thôi” 4.  xác định như Binh thơ yếu lược là hợp lý. Nhân tố thiên thời rất quan trọng. Nó có thể phát huy tác dụng về chiến lược khi toàn bộ đạo quân xâm lược buộc phải chiến đấu với ta trong mùa Hạ nhiệt đới. Trong phạm vi một trận đánh, như trận Bạch Đằng diễn ra ngày 9-4-1288, ngay khi thời tiết chưa chuyển hẳn sang mùa Hạ, ta vẫn có thể nghiên cứu quy luật của con nước thuỷ triều, tạo ra hoàn cảnh để điều khiển thuỷ binh địch vào nơi và lúc bị tiêu diệt.


_________________________
1. Trùng Hưng nghiệp là sự nghiệp đánh Mông - Nguyên xâm lược thời vua Trần Nhân Tôn, niên hiệu Trùng Hưng.
2. Lời Thượng thư Bộ Lễ triều Nguyên là Lưu Tuyên tâu với Hốt Tất Liệt năm 1286, khi quân Nguyên chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ ba. Theo Hồng Nam và Hồng Lĩnh (chủ biên): Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiên Trung Quốc xâm lược, Sđd, tr.410.
1, 2. Binh thư yếu lược, Sđd, tr. 240, 52. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #124 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2009, 10:56:48 pm »

Tuy nhiên, nhân tố thời tiết chỉ phát huy tác dụng trong một thời gian hạn chế trong một năm. Nếu kẻ địch có cách thực hiện đánh nhanh thắng nhanh, cuộc chiến tranh sẽ có thể kết thúc vào mùa Xuân. Và như vậy thì nhân tố thời tiết khó phát huy tác dụng làm suy yếu địch.

Đáng chú ý là trong cuộc kháng chiến lấn thứ nhất, ta đã đánh thắng địch khi còn đang ở thời tiết mùa Xuân. Trận đông Bộ Đầu diễn ra ngày 29- 1- 1258. Trong khi đó, nhân tố địa lợi phát huy tác dụng thường xuyên, ngay từ khi chúng bắt đầu tiến vào đất ta cho đến khi chúng bị quét sạch ra khỏi bở cõi.

Dựa vào địa hình hiểm trở của nước ta để đánh thắng địch trở thành nhân tố tác động thường xuyên đến thắng lợi của kháng chiến trong mọi tình huống. Và cuối cùng, nhân tố nhân hoà, phát huy tinh thần dũng cảm và trí sáng tạo của quân, dân ta là nhân tố cơ bản quyết định sức mạnh kháng chiến của dân tộc ta.



VII. THÁI BÌNH TU TRÍ LỰC

Từ đầu thời Trần, hiểm hoạ xâm lược của quân Mông Cổ, sau đó là của quân bành trướng Mông - Nguyên luôn treo lơ lửng trên đầu dân tộc ta. Triều đình nhà Trần thấy rõ tình hình đó, vì vậy ngay trong thời bình, nhất là giữa hai cuộc chiến tranh, đã thường xuyên chuẩn bị đất nước sẵn sàng đối phó với quân xâm lược.

Với tư tưởng chỉ đạo tìm nguồn sức mạnh giữ nước ở trong dân, tăng cường mức độ sâu rễ bền gốc của triều đình trong đời sống trăm họ, các vua Trần đều chăm lo xây dựng tiềm lực giữ nước, nâng cao đời sống của dân, trước hết là chăm lo phát triển nghề nông, chú trọng trị thuỷ, đồng thời mở mang thủ công nghiệp và thương nghiệp, mở mang mạng lưới giao thông, vừa nâng cao đời sống của dân, vừa xây dựng ngày càng hoàn chỉnh thế trận phòng thủ của đất nước.

1. Tiếp thu chính sách có từ thời Lý, nhà Trần đã có phương thức mới giải quyết vấn đề sở hữu ruộng đất. Ruộng đất trên danh nghĩa là của nhà vua, trên thực tế được giao cho các công xã nông thôn quản lý. Các thành viên công xã chia nhau cày cấy và làm nghĩa vụ tô thuế. Đồng thời triều đình Trần xác định quyền sở hữu ruộng đất của tư nhân và tạo điều kiện để sở hữu tư nhân về ruộng đất phát triển bằng nhiều cách, cho phép mua, bán, chuộc theo luật lệ, có quy định về việc giải quyết tranh chấp. Chủ trương này làm cho một bộ phận quan trọng nông dân làm chủ phần ruộng đất của mình, đã có tác dụng kích thích sản xuất nông nghiệp. 

Nhà Trần chủ trương cho phép các vương hầu, quý tộc, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán, không sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng hoang, lập thành điền trang, tuy có dẫn đến sự phân hoá xã hội, biến một bộ phận nông dân tự do thành nô tỳ, nhưng cũng có tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp, làm cho diện tích canh tác được mở rộng và dân cơ được phân bố rộng ra trên nhiều vùng quan trọng, lợi cho việc phòng thủ đất nước: vùng bờ biển, vùng ven sông,vùng rừng núi các lộ phía bắc và phía nam.

Hai chủ trương trên cũng có mặt trái là thu hẹp diện tích ruộng công do làng xã quản lý, mà làng xã Việt Nam, với những đặc điểm xã hội của nó là chỗ dựa về kinh tế và chính trị của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, là tế bào của chiến tranh nhân dân ở cơ sở. Nhất là chủ trương lập điền trang, phát triển quá đáng ở cuối thời Trần đã làm tê liệt tinh thần kháng chiến chống ngoại xâm của dân chúng ở xóm làng. Nhưng trong thời kỳ đầu của triều Trần, nó đã thúc đẩy sự gia tăng của sản lượng nông nghiệp, đern lại cho xã hội đời sống no đủ hơn, một nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh “thực túc binh cường” ở thời kỳ đó.

Đi đôi với điền trang là sở hữu riêng của vương hầu, quý tộc triều đình Trần còn có chế độ ban cấp thát ấp cho họ.  Người được ban cấp được quyền hưởng tô, thuế và huy động nhân lực trong phạm vi thát ấp. Vương hầu, tôn thất được tổ chức gia binh để làm nhiệm vụ sản xuất và phục dịch thời bình theo chủ trương “ngụ binh ư nông”. Khi quốc gia hữu sự có xâm lược, loạn lạc, vương hầu, quý tộc được quyền tập hợp và điều khiển gia binh, hương binh trong thái ấp của mình, tổ chức thành những đội quân “ứng nghĩa” để bảo vệ đất nước và nhà vua. Xong việc, lực lượng này lại được giải tán trở về làm công việc sản xuất hay phục dịch của mình.

2. Đi đôi với việc xác lập quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất và tổ chức khai hoang mở rộng diện tích canh tác, nhà Trần còn chú trọng việc tổ chức trị thuỷ. Việc đắp đê phòng chống lụt đã trở thành một chủ trương lớn của Nhà nước phong kiến. Đời Trần Thát Tông, triều đình lệnh cho các lộ đắp đê phòng lụt, đắp các đê quai vạc từ đầu nguồn đến bờ biển để ngăn nước lũ tràn ngập. Đặt chức hà đê chánh, phó sứ để quản đốc. Khi việc đồng áng nhàn rỗi thì đốc thúc quân lính đắp đê đập, đào mương ngòi đề phòng lụt hạn.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #125 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2009, 10:59:55 pm »

3. Thương nghiệp cũng có bước phát triển. Ở Thăng Long cũng như ở các địa phương đều có chợ, có phố phường. Riêng Thăng Long, đẩu thời Trần năm 1230) đã có tới 61 phố phường hoạt động công thương khá sầm uất.  Quan hệ buôn bán với nước ngoài cũng được mở mang. Các bạc dịch trường (chợ biên giới phía bắc) là nơi trao đổi hàng hoá với Trung Hoa. ở phía Lạng Sơn có Vĩnh Bình, Cổ Vạn, ở Cao Bằng có Hoành Sơn và phía Quảng Ninh ngày nay có Vĩnh An, là những chỗ giao lưu hàng hoá. Vân Đồn là nơi buôn bán chủ yếu với Trung Hoa và nhiều nước ở đông Nam Á. Ở vùng Thanh Hoá, Nghệ An còn có Cửa Chào (Lạch Trường), Cửa Tha (cửa Thoi), Cửa Viên là những nơi giao tiếp với thuyền buôn nước ngoài.

4. Để đáp ứng yêu cấu của phát triển kinh tế và phòng thủ đất nước, nhà Trần chú trọng mở mang mạng giao thông đường bộ và đường thuỷ.

Hệ thống đường bộ đi từ Thăng Long lên biên giới phía bắc, chạy dọc các dòng sông thuộc phạm vi châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Lam, nôi liền châu thổ sông Hồng với Hoan Ái (Thanh,- Nghệ, Tĩnh) đã có từ trước, được dần dần phát triển.

Hệ thống giao thông đường thuỷ được chú trọng mở mang để có đường vận tải hàng hoá và cơ động lực lượng trong nội địa, từ Thăng Long vào Hoan Ái là hậu phương chiến lược của triều đình, bổ sung cho đường vận chuyển theo đường biển, đường này có lúc không dùng được do bão hoặc do hoạt động của quân xâm lược.

Triều đình Trần đã có những cố gắng quan trọng: Năm 1231, đào vét kênh Trầm, kênh Hào nối Tĩnh Gia (Thanh Hoá) với sông Hoàng Mai.  Năm 1256, đào vét sông Tô Lịch. Năm 1374, quân dân Thanh Hoá, Nghệ An đào kênh đến cửa biển Hà Hoa (Kỳ Anh, Hà Tĩnh). Năm 1382, quân dân Nghệ An đào kênh Hải Tây. Năm 1399, dùng người tội đày khơi các kênh Vị, kênh Trầm, kênh Hào đến Hà Hoa.

Đi đôi với việc phát triển giao thông đường thuỷ, nhà Trần chú trọng khuyến khích việc đóng thuyền: thuyền vận tải, du thuyền, thuyền chiến. Điều đó phục vụ đắc lực cho hoạt động dân sinh thời bình, mặt khác cùng với thói quen sinh sống và sản xuất ở nhiều vùng sông nước, đã làm cho thuỷ quân của đại Việt mạnh hơn hẳn thuỷ quân của quân Nguyên, không những làm cho các tướng lĩnh Nguyên lo sợ, mà còn đưa chúng đến thảm hoạ trên sông Bạch Đằng năm 1288. 

Đồng thời với các biện pháp và chính sách về kinh tế, nhà Trần đã chú trọng thực hiện có hệ thống các biện pháp và chính sách về chính trị, văn hoá, xã hội và quân sự nhằm xây dựng lực lượng và tiềm lực mọi mặt của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân, thắt chặt thêm mối quan hệ gắn bó giữa triều đình và trăm họ.

Nhờ đó, khi quân xâm lược kéo đến, dân chúng sẵn sàng đánh trả khắp nơi, hăng hái đóng góp sức người, sức của cho triều đình kháng chiến, còn quân đội thì có đủ lực lượng và phương tiện, vừa cùng dân chúng đánh giặc tại chỗ, vừa có khả năng cơ động rộng rãi trên các chiến trường của đất nước để thực hiện những đòn quyết định đập tan quân xâm lược. 


VIII. DĨ ĐOẢN BINH CHẾ TRƯỜNG TRẬN –
CÁCH ỨNG XỬ VỀ CHIẾN LƯỢC

Trong Di chúc Canh Tý, Trần Quốc Tuấn viết: “Nó cậy trường trận, ta cậy đoản binh. Lấy đoản chống trường, đó là việc thường trong binh pháp” (Bỉ thị trường trận, ngã thị đoản binh, dĩ đoản chế trường, binh pháp chi thường dã).  Đây trước hết là quan điểm về chỉ đạo tác chiến. Đồng thời, xét về hoàn cảnh lịch sử trong ba cuộc kháng chiến thời Trần chống quân Mông - Nguyên lớn mạnh, thì đây cũng là quan điểm chỉ đạo cách ứng xử với địch, cách đánh về chiến lược.

Nước ta nhỏ, nước địch xâm lược lớn, quân ta ít, quân xâm lược đông. Trong chiến tranh giữ nước, một mặt ta phải tuân theo những quy luật chung của chiến tranh, nhưng mặt khác, ta cũng phải có luận điểm riêng, về cách ứng xử, cách đánh phù hợp với điều kiện của ta để đánh thắng kẻ xâm lược lớn mạnh. Vì vậy, quan điểm “dĩ đoản binh chế trường trận”, thực chất là quan điểm lấy yếu đánh mạnh, lấy nhỏ thắng lớn, phát huy cao nhất toàn bộ tiềm lực có hạn của một nước nhỏ nhằm tạo nên sức mạnh lớn nhất, đủ để chiến thắng kẻ thù xâm lược có tiềm lực và thực lực quân sự, kinh tế lớn hơn ta gấp rất nhiều lần.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #126 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 01:04:43 am »

Triều đình Trần nhận thức rất rõ hoàn cảnh và yêu cầu chiến lược đó. Vua Trần đã nhiều lẩn đề cập đến vấn đề này trong khi tiếp xúc với các sứ thần Mông Cổ. Năm 1258, vua Trần Thát Tôn đã nói với sứ giả Mông Cổ là Nậu Lạt Đinh: “Nước nhỏ thành tâm thờ nước lớn thì nước lớn đãi như thế nào?”. Năm 1268, vua Trần lại chất vấn Trương Đình Trân (Phó Đarugatri lúc đó): “Đã xưng là nước lớn, tại sao còn đòi tê tượng”. Tháng 2-1275, trong thư gửi vua Nguyên, Trần Thánh Tông đã tố giác: “Những kẻ sai đến (chỉ bọn Đarugatri - TG) động tí gì là cậy thế chân ép nước nhỏ".

Quan điểm lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu đánh mạnh, cũng được quán triệt trong các sứ thẩn của triều Trần. Đào Tử Kỳ đượm phái đi sứ sang Nguyên năm 1293, đã bác bỏ những lời đe doạ của tên thượng thư Trương Lập Đạo triều Nguyên bằng lập luận sắc bén: “Các ông là nước lớn, chúng tôi là nước nhỏ. Chúng tôi chỉ muốn yên ổn, bao giờ chúng tôi lại muốn sinh sự. Chỉ các ông cậy có người đông, sức mạnh đến chực đè đầu đè cổ chúng tôi. Vì lẽ phải giữ mình, chúng tôi phải chống lại.  Người xưa có nói: “Trực vi tráng, khúc vi lão - nghĩa là: “Việc chiến tranh, vì lý thẳng thì thắng, lý cong thì thua. Chúng tôi vì tự vệ nên chúng tôi thắng, các ông vì ăn cướp nên các ông thua, đó là lẽ tất nhiên không thể lấy thế mạnh yếu, nước to nhỏ mà bàn được”.

Có thể thấy chính quan điểm lấy nhỏ thắng lớn đã chỉ đạo toàn bộ các hoạt động kháng chiến của cấp lãnh đạo kháng chiến cũng như của quân dân ta thời Trần. Vì phải lấy nhỏ thắng lớn, nên phải tìm nguồn sức mạnh giữ nước ở trong dân, làm kế sâu rễ bền gốc: phải nêu cao tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến, phải phát huy tinh thần kiên cường bất khuất, động viên quân dân cả nước quyết đánh, quyết thắng, phải đoàn kết cả nước thành một khối, phải có những quan điểm và chính sách hiệu quả về xây dựng lực lượng đánh giặc, phải có quan điểm cất nhắc tướng giỏi phải phát huy cả các nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hoà, phải thực hiện thời bình chuẩn bị đất nước cho thời chiến.  Với tinh thẩn lấy nhỏ chống lớn, trong quan hệ đối ngoại giữa hai triều đình, giữa hai nhà vua, ta đã biết gói những nội dung rất kiên quyết trong những ngôn từ rất khiêm nhường. . .

Cũng chính theo tinh thần đó mà Trần Hưng Đạo khi đề ra quan điểm lấy đoản binh chống trường trận, đã xem đó là điều thường của binh pháp Đại Việt. Quan điểm đó đã chỉ đạo nghệ thuật quân sự thời Trần.

Muốn đánh thắng, ta phải tích cực tiêu diệt địch, nhưng cần chú trọng bảo toàn lực lượng ta . Quy luật chung đó của mọi cuộc chiến tranh lại càng quan trọng trong điều kiện dân tộc ta phải lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu đánh mạnh. Có bảo toàn được lực lượng ta, nhất là trong thời gian đầu của mỗi cuộc kháng chiến, mới có vốn, có sức để tiếp tục tiêu diệt địch, đánh cho đến thắng lợi cuối cùng.

Với lòng yêu nước nồng nàn, với quyết tâm diệt địch rất cao, ta đã biết “tuỳ thời chế nghi”, không đưa quân chủ lực của ta quyết chiến với quân địch quá mạnh từ đầu chiến tranh, mà đã biết lui quân để rồi lại tiến đánh những đòn quyết định. Ta đã biết tạo nên thế trận làng - nước, trong đó quân địch mạnh phải bị sa lầy và suy yếu từng bước. Ta đã chọn đúng phương hướng, đúng thời cơ khi cần đánh những đòn quyết định, đánh đau, đánh hiểm, đánh với hiệu suất chiến đấu rất cao. 

Nhìn chung, ta luôn giữ quyền chủ động, buộc địch đánh theo mưu kế của mình mà không bị động hành động theo ý muốn của địch. Ta lại biết giành thắng lợi từng bước, từng bước đánh thắng ý chí xâm lược của địch. Ta đã biết kết hợp tác chiến trên chiến trường với đấu tranh ngoại giao khôn khéo, hoặc để trì hoãn thời gian địch xâm lơữc~hoặc để cho địch chấp nhận thất bại mà không mất thể diện .sau khi ta đã chiến thắng hoàn toàn, bảo đảm hoà bình lâu dài cho nhân dân hai nước.

Trên đây là những quan điểm, tư tưởng quân sự thời Trần, trong thế kỷ XIII. Bước sang thế kỷ XIV, nhất là từ giữa thế kỷ XIV, vua quan nhà Trần đi vào một quá trình thoái hoá, suy nghĩ và hành động ngược lại với các quan điểm nêu trong Di chúc của Trần Hưng Đạo.

Chế độ điền trang thái ấp được mở rộng quá đáng. Ruộng đất của công xã và của nông dân bị cướp. Nạn cho vay nặng lãi và sự đục khoét của bọn quan lại làm cho đời sống của nhân dân ngày càng khốn khó. Ngày càng nhiều nông dân bị đẩy vào hàng ngũ nô tì.Vua và quý tộc quan lại ngày càng sống xa hoa, triều Trần ngày càng suy đồi, mục nát.

Nhà Trần thế kỷ XIV lại chủ trương phát động chiến tranh với Ai Lao và Chăm pa để củng cố nền thống trị trong nước. Chiến tranh liên miên làm cho nhân dân quanh năm phải đi phu, đi lính phục dịch. Những cuộc xâm phạm của Chăm pa trong thời gian này làm cho đất nước và Kinh thành Thăng Long nhiều lần bị tàn phá.

Sự bất bình và phẫn nộ của nhân dân đối với triều đình ngày càng dâng cao. Mâu thuẫn giai cấp trong nước phát triển gay gắt. Các cuộc khởi nghĩa của nông dân, nô tì và các cuộc đàn áp của triều đình ngày càng mô rộng.  Tất cả đều đi ngược lại quan điểm của lãnh đạo nhà Trần thế kỷ XIII, thời các vua đầu.

Tinh thần kiên cường bất khuất bảo vệ Tổ quốc được thay thế bằng tư tưởng bạc nhược.  Quan điểm chúng chí thành thành, đoàn kết gắn bó với dân để tìm nguồn sức mạnh giữ nước ở trong dân được thay thế bằng quan điểm và chính sách bóc lột và đàn áp nhân dân, trước hết là nông dân và nô tì.

Trong tư tưởng của hàng tướng lĩnh trước đây đã từng lập công cũng có biểu hiện suy thoát. Trần Khánh Dư cho rằng: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt. Dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?”.

Nếu các tư tưởng, quan điểm của đầu thời Trần đã đưa lại phồn vinh của xã hội và sức mạnh to lớn chiến thắng kẻ thù xâm lược, thì sự thoái hoá nặng nề trong tư tưởng, quan điểm quân sự của nhà Trần thế kỷ XIV đã đưa đến sự bần cùng và rối loạn trong xã hội, đi đến sự sụp đổ của nhà Trần vào cuối thế kỷ XIV.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #127 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 07:46:33 pm »

CHƯƠNG VI

NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
TRONG CHIẾN TRANH GIỮ NƯỚC THỜI TRẦN


Ba lần kháng chiến thắng lợi chống Mông - Nguyên xâm lược đã làm nổi rõ tài năng vận dụng nghệ thuật quân sự của Bộ Thống soái đời Trần, của bản thân vị Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo và của các tướng lĩnh.

I. NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO KIÊN TRÌ KHÁNG CHIẾN ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC ĐÁNH NHANH THẮNG NHANH CỦA QUÂN XÂM LƯỢC

1. Tránh quyết chiến trong điều kiện bất lời, thực hành quyết chiến trong điều kiện có lợt. Rút lui chiến lược và phản công chiến lược

a. Nghệ thuật chỉ đạo rút lui chiến lược


Xâm lược nước ta, quân Mông Cổ và quân Mông - Nguyên dùng chiến lược đánh nhanh thắng nhanh quen thuộc của chúng. Chúng tập trung lực lượng có ưu thế áp đảo phát huy cách đánh sở trường của các binh đoàn kỵ binh thiện chiến, hy vọng tiêu diệt lực lượng quân sự của ta trong thời gian ngắn, trong một số trận quyết định như chúng đã thực hiện thành công ở nhiều nước. Với quyết tâm rất cao trong cả hai cuộc kháng chiến lần thứ nhất và lần thứ hai, quân ta đã chặn địch ở biên giới, lập nhiều phòng tuyến để ngăn chặn chúng.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258, với khí thế quyết chiến chống quân xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, vua Trần và Trần Hưng Đạo đã đem quân lên biên giới phía bắc đánh giặc. Cuộc chiến đấu ngăn chặn giặc diễn ra lần đầu tiên ở Bình Lệ Nguyên và ngay sau đó ở sông Phù Lỗ, nhưng đều không thành công. Quân Mông Cổ phá vỡ các tuyến phòng ngự của ta và tiến mạnh về Thăng Long. Trong tình hình đó, vua Trần đã hạ một quyết tâm lớn, táo bạo và đúng đắn là tránh quyết chiến trong điều kiện không có lợi, thực hành cuộc rút lui chiến lược, chặn địch từng bước, rời khỏi chiến trường, rời khỏi kinh Đô để bảo toàn Bộ Thống soái và quân chủ lực.

Rút lui lúc đó là một quyết tâm đúng đắn, được tính toán kỹ. Trong khi quân ta đang giao chiến rất khó khăn với địch ở Bình Lệ Nguyên, không chặn đứng được chúng, “có người khuyên vua đóng lại để trông coi chiến đấu” 1 . Nhưng Lê Phụ Trần, vị tướng xông pha trên trận địa đã sớm phát hiện được sở trường và chỗ mạnh tạm thời của địch, đã đánh giá đúng thế ta, thế địch. Ông tâu với vua: “Như thế này chỉ là bệ hạ dốc túi đánh nước cuối cùng thôi. Nên lánh đi, chớ nên nhẹ dạ tin lời người” 2.  Trần Thái Tông nghe theo, bắt đầu lui quân khỏi Bình Lệ Nguyên, khỏi Phù Lỗ, rời khỏi Kinh thành Thăng đong.

Quân địch không giao chiến được với quân chủ lực của ta, phải rải quân để chiếm đóng thành Thăng Long trống rỗng và để cướp lương thực. Bị quân địa phương và dân binh luôn luôn chặn đánh, làm thanh dã, địch bị thương vong và điều không kém phần quan trọng với chúng là lâm vào cảnh thiếu lương thực ngày càng trầm trọng. Từ mạnh, chúng chuyển thành yếu. Chỉ sau chín ngày chiếm đóng Thăng Long, chúng đã hoàn toàn mất sức chiến đấu.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai năm 1285, Hưng Đạo vương, lúc đó được phong là Quốc công tiết chế (Tổng tư lệnh) đã đem quân triển khai ở biên giới Lạng Sơn và đóng đại bản doanh ở Nội Bàng. Đồng thời các cánh quân quan trọng khác kéo lên trấn giữ Tuyên Quang và Tam Đái 3.
 
Qua đó có thể thấy ý định của Bộ Thống soái là ngăn chặn địch ở vùng biên giới. Nhưng trước sức tiến công mạnh mê của giặc, ta bị tổn thất, không thực hiện được ý định nên Trần Hưng Đạo phải quyết định lui về Vạn Kiếp, tăng cường lực lượng, tổ chức phòng ngự, chặn địch. Địch tiếp tục tiến công mạnh.  Ta vẫn không chặn được quân giặc.


________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q.5, t.22a.
2. Theo Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng Sđd, 1981 .
3. Tam Đái: vùng Phú Thọ, Việt Trì.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #128 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 07:48:17 pm »

Thấy tình hình còn bất lợi sau một số trận đánh, Trần Hưng Đạo chủ động cho quân từ Vạn Kiếp, Phả Lại, Binh Than rút về Thăng Long. Ở Thăng Long, quân Trần đã tổ chức một tuyến phòng ngự dọc theo sông Hồng để chặn địch. Trước thế mạnh của quân xâm lược một lấn nữa triều đình và đại quân ta lại rút khỏi Thăng Long nhằm bảo toàn lực lượng. Trong lúc đó, lực lượng vũ trang các lộ, hương binh, thổ binh và nhân dân ở vùng sau lưng địch tiếp tục hoạt động, tiếp tục tiến công địch và làm thanh dã theo hiệu triệu của triều đình.

Các hoạt động này có tác dụng kìm hãm quân xâm lược, yểm hộ cho cuộc rút lui của quân chủ lực. Địch buộc phải rải nhiều quân ra đóng các trạm, trại, đồn luỹ để đối phó và bảo đảm tiếp tế từ hậu phương. Đáng chú ý là trong lúc chủ trương rút lui chiến lược ở mặt trận phía bắc, thì Bộ Thống soái lại chủ trương chặn đứng quân Toa Đô từ phía nam đánh ra, cố gắng giữ vững khu Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh Bình) làm căn cứ củng cố lực lượng, chuẩn bị phản công chiến lược.  Nhưng chủ trương này cũng không thực hiện được. Trước thế tiến công mạnh mẽ của địch, Trận Quang Khải buộc phải lui quân từng bước .

Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba năm 1287-1288, đại bản doanh và đại quân của triều đình không triển khai ở biên giới phía bắc nữa. Đại quân tập trung ở gần vùng sông Bạch Đằng và ở khu vực giữa Vạn Kiếp và Thăng Long. Lần này quân Nguyên tiến thận trọng, chắc chắn, củng cố khu vực Vạn Kiếp thành căn cứ đứng chân lớn rồi mới tiến về Thăng Long.

Sau mấy lần ngăn chặn địch không có kết quả, trước sức ép mạnh mẽ của địch, bộ phận quân chủ lực được bố tít chặn địch trên hướng từ biên giới Lạng Sơn về Thăng Long cùng triều đình rút khỏi Thăng Long về phía nam.  Nhưng lực lượng vũ trang địa phương của ta, có quân chủ lực làm nòng cốt, vẫn kiên cường tiêu hao quân địch và khi địch đã đi qua thì quay lại hoạt động sau lưng chúng.

Các lực lượng này đánh nhưng trận tiêu hao, tiêu diệt nhỏ, trong đó có trận tiêu diệt cả đoàn quân 5.000 tên hộ tống bọn tay sai Lê Trắc về nước trận Nội Bàng), cắt tiếp tế của địch, yểm trợ đắc lực cho cuộc rút lui của đại quân và kìm hãm, giam chân một lực lượng cơ động quan trọng của địch. 

Ở đây cũng cần chú ý là trong lúc tránh đưa chủ lực ta ra giao chiến lớn với chủ lực địch ngay từ đầu, quân Trần vẫn tổ chức trận tiến công quan trọng ở Vân Đồn ngay vào thời gian đầu cuộc kháng chiến lần thứ ba, tiêu diệt đoàn thuyền của Trương Văn Hổ chở 17 vạn thạch lương, triệt niềm hy vọng của đại quân Mông - Nguyên đang thiếu lương thực. 

Như vậy qua ba cuộc kháng chiến đã hình thành rõ nét quyết tâm chiến lược của nhà Trần. Trước kẻ thù lớn mạnh đang muốn phát huy ưu thế, tìm quân chủ lực của ta để tiêu diệt, bắt sống Bộ Thống soái nhằm nhanh chóng kết thúc thắng lợi cuộc xâm lược, ta chủ trương tránh những trận quyết chiến trong điều kiện không có lợi trong thời gian đầu, rút lui chiến lược, rời bỏ kinh Đô nhằm bảo toàn quân chủ lực và triều đình. Địch buộc địch rải quân chiếm đóng trong điều kiện bị các lực lượng tại chỗ của ta liên tiếp tiến công, cất dấu lương thực và thời tiết chuyển từ Xuân sang Hè ngày càng bất lợi cho sức chiến đấu của quân xâm lược đến từ phương Bắc.

Trong những điều kiện đó, quân xâm lược không phát huy được sức mạnh và cách đánh sở trường của chúng. Lực lượng phân tán và hao mòn ngày càng nhiều, khí thế hăng hái “lúc ban mai” tàn lụi dần. Chúng từ mạnh trở thành yếu.

Triều đình và Bộ Thống soái thời Trần khi quyết định rút lui chiến lược phải giải quyết một bài toán rất khó. Chặn đứng quân địch trên con đường từ biên giới về Thăng Long thì không đủ sức. Nhưng trong điều kiện đất ta không rộng, nếu quân chủ lực rút sâu vào nội địa, để địch tiến quá sâu vào đất ta thì không thể giữ được căn cứ chiến lược ổn định nhằm bảo đảm sức người sức của cho cuộc kháng chiến và để củng cố quân đội, chuẩn bị cho cuộc phản công. 

Bài toán được đặt ra là đất nước ta tuy đất không rộng, nhưng nhân dân và quân đội có lòng yêu nước, ý chí chiến đấu cao, lại gắn bó với triều đình trong sự nghiệp chống xâm lược. Thêm vào đó địa hình nước ta phức tạp, tiện cho ta phòng thủ, không lợi cho quân địch muốn phát huy sức mạnh của các ky đội thiện chiến. Trong điều kiện đó ta buộc phải để cho địch tạm chiếm một khu vực chiến lược đủ sâu buộc địch phải phân tán lực lượng, từ thế mạnh chuyển thành thế yếu. Tuy nhiên cũng không cho địch vào quá sâu, bảo đảm bên ta có căn cứ đứng chân để chuẩn bị và thực hành cuộc phản công chiến lược.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #129 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 07:49:16 pm »

Khi quân xâm lược không quá mạnh như trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất thì chúng cũng chỉ chiếm khu vực Kinh Đô là hết sức. Mà ta thì rút đến sông Thiên Mạc là có thể quay lại phản công. Nhưng khi quân xâm lược quá mạnh, như trong cuộc kháng chiến lần hai (chúng đông gấp 15 lần so với cuộc kháng chiến thứ nhất), lại đánh ta từ cả hai đầu nam, bắc lại phải có cách khác.

Một mặt, triều đình Trần đã chặn quân địch từng bước trên các hướng. Mặt khác, đẩy mạnh cuộc tiến công rộng rãi và quyết liệt của quân dân địa phương bám trụ sau lưng địch khi chúng đã vượt qua, nhất là trên hướng bắc, buộc chúng phải vừa tiến công vừa rải lực lượng ngày càng nhiều để ổn định và củng cố hậu phương tại chỗ. Sức tiến công bị giảm dần, bị chặn đánh đằng trước, co kéo đằng sau, rút cuộc địch phải dừng cuộc tiến công chiến lược.

Trong cả quá trình tiến công, quân xâm lược bị mâu thuẫn giữa tập trung ùa phân tán chi phốt. Tập trung lực lượng để tiến công và phân tán lực lượng để chiếm đóng, củng cố địa bàn đứng chân. Đến đây, mâu thuẫn đó không cho phép chúng tiếp tục cuộc tiến công chiến lược. Chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của chúng thất bạt. Nhưng trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, cách này cũng mới đủ làm cho tập đoàn Thoát Hoan và tập đoàn Toa Đô không gặp được nhau để hội quân đánh quân Trần theo một sự chỉ huy thống nhất, chưa đạt được yêu cầu giữ một vùng căn cứ địa để chuẩn bị phản công.

Vua Trần phải tổ chức một cuộc hành quân nghi binh gian khổ và tài giỏi về các lộ phía đông, sau đó lại trở vào lập căn cứ ở Thanh Hoá. Từ Thanh Hoá mà tiến quân ra bắc khi lực lượng đã được củng cố xong, thực hành cuộc phản công chiến lược từ A Lỗ , Tây Kết đến Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long.

Đến cuộc kháng chiến lần thứ ba thì cách làm đó đã được thực hiện thuần thục. Điều này đi đôi với thực tế là quân Mông - Nguyên cũng rút kinh nghiệm từ cuộc xâm lược lần trước, tiến quân từng bước vững chắc hơn. Trong điều kiện đó, vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã có một quyết định táo bạo mà đúng đắn, sáng tạo: ngay trong giai đoạn rút lui chiến lược đã lập sẵn căn cứ hậu phương, chuẩn bị chiến trường cho cuộc phản công ở vùng đông bắc nhằm thực hiện trận phản công chiến lược đầu tiên trên hướng sông Bạch Đằng.

Cho nên tư tưởng chỉ đạo của triều đình Trần không phải là rút lui chiến lược, nhử địch vào sâu, đem không gian đổi lấy thời gian như cách quân dân Nga chống xâm lược của Napôlêông đầu thế kỷ XIX. Thống soái Nga Cutudốp đã thực sự rút lui chiến lược dử địch vào sâu, ngăn chặn địch có mức độ tránh quyết chiến trong điều kiện không có lợi, buộc 60 vạn quân Pháp phải tự rải mỏng trên hàng nghìn cây số đồng bằng phủ băng tuyết để giữ đường giao thông với hậu phương và đối phó với dân quân Nga tiến công thường xuyên sau lưng chúng. Sau khi quân Pháp đã chiếm Mátxcơva và Mátxcơva bị đốt cháy thì đại quân chiếm đóng đói và rét của Napôlêông phải rút chạy về nước.

Tóm lại, ở đây có vấn đề chiến lược quan trọng là xác định thời cơ chấm dứt cuộc rút lui chiến lược và bắt đầu cuộc phản công. Đó là đoạn thời gian của cuộc kháng chiến, khi quân dân ta đạt được hai yêu cầu dã phân tích ở trên:

Một là, khi quân địch bị buộc phải rải quân đến mức tối đa, khi quân xâm lược đã bị tổn thất, suy yếu đến mức đáng kể, khi khó khăn về hậu cần, tiếp tế và những tác động của thời tiết từ Xuân sang Hè ở vùng nhiệt đới đã trở thành nhân tố buộc địch phải dừng tiến công.

Hai là, khi ta đã có một căn cứ hậu phương để củng cố lực lượng, làm bàn đạp cho cuộc phản công chiến lược và khi quân ta đã được củng cố.

Điều đáng chú ý là trong hai cuộc kháng chiến lần thứ nhất và lấn hai, ý định rút lui chiến lược hình thành trong quá trình ngăn chặn địch từ biên giới không thành công. Đến cuộc chiến tranh thứ ba thì ý định tránh trận quyết chiến chiến lược ban đẩu, rút lui chiến lược một cách chủ động đã hình thành ngay từ đẩu chiến tranh và ngay từ đầu chiến tranh đã chuẩn bị cho đòn phản công chiến lược. Chính vì vậy Trần Hưng Đạo đã có câu trả lời vua Trần rất nổi tiếng: “Năm nay đánh giặc nhàn”.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM