Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:40:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 109412 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #140 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 09:48:12 pm »

Trong cuộc kháng chiến thứ hai, sau khi quân ta giải phóng Thăng Long, đại quân địch muốn rút về nước theo hướng Thăng Long - Lạng Sơn, đường ngắn hơn và an toàn hơn. Nhưng quân ta đã chặn đứng chúng ở Đáp Cầu buộc chúng phải xuống Phả Lại, qua sông ở đó. Và khi quân địch qua sông nửa chừng thì quân ta đã mai phục sẵn, đổ ra tiến công tiêu diệt chúng .

Đặc biệt, việc điều động địch trong trận Bạch Đằng thì thật là tài giỏi. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy thuỷ quân rút lui theo dường sông ra biển, trên bờ có quân của Trình Bằng Phi hộ tống. Quân ta chặn đánh và phá cầu buộc quân của Trình Bằng Phi phải quay trở lạt. Thuỷ quân địch đi vào sông Giá. Quân ta chặn địch ở Trúc Động không cho chiến thuyền của chúng vào sông Giá mà buộc phải quay trở lại theo sông Tràng Kênh xuôi xuống Bạch Đằng.

Ở dưới sông Chanh, quân ta đã lợi dụng địa hình đặc biệt của sông Bạch Đằng ở ghềnh Cốc, ngăn chặn địch, buộc chúng đi vào sông Chanh. ở đó các hàng cọc của ta đã cắm sẵn . Nắm vững quy luật thuỷ triều, ngăn chặn thuỷ binh địch từ Vạn Kiếp, buộc chúng phải vừa đi vừa đánh, suốt trong 10 ngày nước triều cường chúng chỉ đi được khoảng 50 km. Nhờ đó mà đã dẫn dắt địch đến trên hàng cọc vừa lúc thuỷ triều xuống nhanh, làm cho chiến thuyền của địch bị nước triều đang rút nhanh xô mạnh vào bãi cọc và bị gác lên hàng cọc để quân ta tiêu diệt.

Đó là một nghệ thuật điều động địch đặc biệt sáng tạo, vừa kiên quyết, vừa có tính toán chính xác về không gian và thời gian. Khái quát các hiện tượng đó, Binh thư yếu lược dẫn Binh pháp Tôn Tử, đã viết: “Người thiện chiến khiến người đến mà không bị người đến khiến” 1 (Cố thiện chiến giả, chí nhân nhi bất chí vu nhân). 

Thực hiện được những hoạt động chủ động điều địch như vậy là đã đạt được đỉnh cao của tư tưởng tiến công.  Các nhà chỉ đạo, chỉ huy quân sự của ta thời Trần luôn nắm vững quyền chủ động, quyền tự do hành động. Không những chủ động tiến công, chủ động điều động địch mà trong những tình huống cần thiết, còn chủ động ngăn chặn kìm hãm chúng, nhấn cho chúng sa lầy ngày càng sâu vào thế trận bất lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho ta thắng địch sau đó.

Binh thư yếu lược viết về bản lĩnh này như sau: “... Địch đem quân đến, thế không thể ở lâu được thì ta cầm. Thế bách, kíp muốn thắng ngay thì ta cầm. Địch đánh có lợi, ta đánh không có lợi, thì ta cầm. Thời nên giữ yên, động trước thì nguy thì ta cầm... Nó ở thế hiểm ta ở thế yên thì ta cầm.  Nó đói mà ta no thì ta cầm. Nó nhọc mà ta rỗi thì ra cầm”. Thiên thời sắp hại, địa nạn sắp hãm, nhuệ khí sắp nhụt, thì ta cầm. Cầm cho nó đã mệt, bấy giở ta nổi dậy mà đánh, thì sức vẹn mà công nhiều” 2.
 
3. Tư tưởng đánh địch linh hoạt. quyền biến, tuỳ cơ ứng biến

Đi đôi với tư tưởng chủ động, buộc địch hành động theo ý chí của mình mà tiêu diệt chúng, các nhà quân sự thời Trần cũng quán triệt tư tưởng đánh địch linh hoạt, tuỳ theo tình thế thay đổi mà xác định cách đánh thích hợp: Khi âm mưu chiến lược và hoạt động tác chiến của đích đã thay đổi, khi khả năng của ta chưa đáp ứng với nhiệm vụ tác chiến đã được xác định trước, khi phát hiện hoặc dự kiến xu thế phát triển của cục diện chiến lược.

Trong hai cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất và lần thứ hai, quân Mông - Nguyên chủ trương đánh nhanh thắng nhanh, hành động ào ạt, dùng sức mạnh quân sự hòng áp đảo đánh bại quân ta. Sau khi các chủ trương này bị đánh bại, đến cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ ba, địch thay đổi kế sách: hành động thận trọng từng bước, đánh đến đâu củng cố thế trận đến đó, kết hợp hoạt động quân sự với sự lừa bịp, lôi kéo về chính trị bằng con bài Trần Ích Tắc, tăng cường vận chuyển lương thực từ chính quốc mà giảm bớt việc cướp bóc lương thực trên đất ta, tăng cường lực lượng thuỷ binh, v v .

Trần Hưng Đạo cho rằng cách hoạt động này của quân Mông - Nguyên gây cho ta nhiều khó khăn mới. Ta phải có cách đối phó thích hợp. Người chỉ huy phải vững vàng, tỉnh táo và linh hoạt thì mới phá được kế sách mới của địch.  Phản ánh thực tiễn này, Di chúc của Trần Hưng Đạo có đoạn viết: Nếu thấy quân giặc lướt đến như lửa như gió thì dễ chống lại thế của chúng. Nếu chúng dùng cách chiếm dần như tằm ăn dâu, không ham của dân, không cầu thắng chóng, thì mình phải dùng tướng giỏi, xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tuỳ theo tình thế mà quyết định cách xử trí (Để kiến bỉ quân phiên chí như hoả như phong, kỳ thế dị chế. Nhược dụng tàm thực hoãn hành, bất vụ dân tài bất cầu tốc thắng, tắc bạt dụng lương tướng, quan kỳ quyền biến, như vi kỳ nhiên, tuỳ thời chế nghi). Ý nói nếu người tướng chỉ có tinh thần dũng cảm tiến công mà không nhạy bén với sự thay đổi trong âm mưu thủ đoạn của địch để có cách đối phó thích, hợp thì sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ.


_______________________________
1. Binh thư yếu lược, Sđd, tr. 201 .
3. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.190.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #141 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 09:49:27 pm »

Trong hai cuộc kháng chiến lần thứ nhất và lần thứ hai, vua Trần và Trần Hưng Đạo đã đem quân lên biên giới phía bắc với khí thế đánh địch rất cao. Nhưng qua thực tiễn một số trận chiến đấu, thấy quân ta không chặn nổi đà tiến công của địch, Bộ Thống soái đã hạ quyết tâm rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị thế và lực để đánh thắng địch trong các bước tiếp theo. Đó cũng là cách xử lý rất linh hoạt, dũng cảm và đúng đắn khi khả năng của ta chưa đáp ứng với yêu cầu của nhiệm vụ tác chiến đã định.

Việc rút lui chiến lược cũng phù hợp với xu thế phát triển của cuộc chiến tranh. Qua thực tiễn của cuộc kháng chiến lần thứ nhất, rồi cuộc kháng chiến lần thứ hai, Bộ Thống soái Đại Việt thấy đà tiến công ào ạt của quân Mông - Nguyên không bền khi chúng bị hãm vào thế trận cả nước đánh giặc của ta. Cho nên ta tạm lùi một bước để tạo thế phản công địch vào bước sau.

Dẫn Binh pháp Tôn Tử, Binh thư yếu lược chép: “Ba quân có thể đoạt được khí, tướng quân có thể đoạt được lòng, ấy cho nên buổi sáng thì khí hăng hái, ban trưa thì khí uể oải, buổi chiều thì khí suy kiệt. Người giỏi dùng binh tránh lúc khí hăng hái, đánh lúc khí uể oải và suy kiệt” 1. 

Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, quyết tâm để cho các lực lượng địa phương là chính có một bộ phận quân triều đinh làm nòng cốt, đương đầu với địch trên đường tiến quân của chúng về kinh thành, trong lúc đó đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho trận Bạch Đằng cũng là một quyết tâm hnh hoạt và dũng cảm, phù hợp với tình hình lúc đó, tỏ rõ trình độ dự báo chiến lược rất cao của Bộ Thống soát.

Trong trận chiến đấu cụ thể, các tướng Trần cũng đã biết tuỳ cơ ứng biến, phán đoán sắc sảo âm mưu của địch, tuỳ theo tình huống thay đổi mà điều chỉnh quyết tâm chiến đấu của mình. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, Trần Nhật Duật phụ trách chặn địch ở hướng Tuyên Quang. Sau khi giao chiến với giặc ở vùng Yên Bái, thế giặc quá mạnh, Nhật Duật cho quân rút lui theo đường sông về phía dưới để bảo toàn lực lượng. Quân giặc đuổi theo dọc hai bờ sông. Bỗng Nhật Duật ngoảnh lại thấy quân giặc tiến từ từ, liền bảo với quân sĩ: “Phàm đuổi thì cần nhanh, nay giặc tiến từ từ, sợ có tiền quân chắn ngang phía trước”. Quân trinh sát phái đi đều trở về báo là giặc đã cắt ngang phía hạ lưu, đúng như phán đoán của Nhật Duật. ông liền cho quân bỏ thuyền, lên bộ. Nhờ đó thoát khỏi kế của địch và quân của ông đã rút lui an toàn.

Tư tưởng đánh địch linh hoạt gắn liền với tư tưởng đánh địch chủ động. Vì linh hoạt tức là tuỳ theo tình thế thay đổi mà quyết định cách đánh thích hợp. Linh hoạt cũng tức là chủ động trong từng tình huống tác chiến cụ thể. 

4. Tư tưởng tác chiến mưu trí, sáng tạo.

Quân, dân ta thời Trần đánh giặc, đi đôi với tinh thần dũng cảm đã có trình độ mưu trí cao. Đánh đích mưu trí, sáng tạo, tư tưởng đó được quán triệt trong các hoạt động tác chiến tầm chiến lược, cũng như trong phạm vi chiến thuật.  ở tầm chiến lược, Bộ Thống soái nhà Trần đã dùng mưu làm thất bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch. 

Địch muốn quân chủ lực của ta phải đương đầu với kỵ binh thiện chiến để chúng phát huy sức mạnh và cách đánh sở trường nhằm tiêu diệt quân chủ lực của ta. Đại quân ta tuy tinh thần đánh giặc cứu nước rất cao, nhưng đã khôn khéo tránh quyết chiến với địch trong điều kiện bất lợi lúc đầu, đã thực hành rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng. Trong lúc đó các lực lượng tại chỗ chiến đấu ngăn chặn, kìm hãm từng bước đà tiến công của chúng, làm cho “quân mã Mông Cổ không thể nào thi thố được tài năng”.

Trong các trận đánh cụ thể, việc phát huy mưu trí, sáng tạo cũng rất nổi bật.

Trong điều kiện cả nước đánh giặc thời gian đầu cuộc kháng chiến, khi quân địch còn tập trung lực lượng tiến công, cũng như khi chúng đã dần dấn rải mỏng lực lượng, bị suy yếu mà quân dân ta thì hăng hái giết giặc, thông thuộc địa hình, trong chiến đấu đã diễn ra nhiều cách đánh sáng tạo về chiến thuật.

Quân Trần đã dùng chiến thuật tập kích như đánh đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương; dùng chiến thuật phục kích khi quân địch từ Thăng Long ra ứng cứu cho cứ điểm Chương Dương, khi đánh quân địch hành quân, nhất là khi chúng rút quân về biên giới ở giai đoạn cuối các cuộc kháng chiến; dùng chiến thuật truy kích khi đánh đuổi quân địch thua trận chạy về nước; dùng chiến thuật phòng ngự khi chặn địch ở bờ nam sông Cầu trong cuộc kháng chiến lần thứ hai; dùng chiến thuật vận động tiên công khi tiêu diệt tập đoàn Toa Đô ở Tây Kết.


__________________________________-
1. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.228.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #142 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 09:53:05 pm »

Một số lực lượng tinh nhuệ được huấn luyện công phu dùng cách đánh hiểm bằng lực lượng nhỏ, lặn xuống nước đục thuyền địch, như cách đánh của Yết Kiêu, Dã Tượng.

Trận Bạch Đằng biểu hiện một cách đánh sáng tạo, độc đáo chưa thấy trong lịch sử chiến tranh thế giới. Việc nghiên cứu kỹ thuật để đóng được một hệ thống cọc dài mà lớn, việc xác định những nơi đóng cọc, việc nghiên cứu để kết hợp sát sao mức thuỷ triều với thời gian dẫn dắt, kiềm chế địch, đưa chiến thuyền nặng của chúng gác lên bãi cọc đúng lúc thuỷ triều xuống nhanh là cả một công trình nghệ thuật dàn dựng phương án, hiệp đồng tác chiến hết sức tài tình. Đây cũng là vận dụng sáng tạo cách đánh độc đáo của Ngô Quyền năm 938 trong điều kiện mới. Ngô Quyền đánh quân địch đi từ biển vào sông, Trần Quốc Tuấn đánh quân địch đi từ sông ra biển.

Mưu trí sáng tạo là một nội dung quan trọng trong tư tướng quân sự của nhiều nước. Trong điều kiện dân tộc ta phải lấy nhỏ thắng lớn, phát huy cao độ mọi khả năng của mình để chiến thắng kẻ thù xâm lược lớn -mạnh thì mưu trí sáng tạo đã trở thành một đòi hỏi bắt buộc,rất cấp bách của lịch sử. Hồ Chủ tịch dã nói về đòi hỏi lịch sử này như sau: “Khôn ngôn hơn cường bạo, kẻ yếu thì chỉ có cách đó để tự vệ” 1 . 

Thời Trần, trước sự xâm lược của quân đội Mông - Nguyên rất hùng mạnh, sự cliênh lệch trong so sánh lực lượng địch - ta rất to lớn. Tình hình đó bắt buộc triều đình, các tướng lĩnh, quân dân ta phải phát huy đến mức cao nhất mọi khả năng trí tuệ của mình mới tránh khỏi bị tiêu diệt, mới thắng được địch, giữ vững được chủ quyền dân tộc.

Điều đó được phản ánh trong các chủ trương, các quyết định khi xử lý các tình huống khó khăn trong kháng chiến, đồng thời cũng được phản ánh sâu sắc trong lý luận quân sự thời này.  Để đánh địch được mưu trí sáng tạo, trong việc bồi dưỡng người làm tướng binh pháp thời Trần rất chú trọng nhấn mạnh yêu cầu phải lo nghĩ, suy ngẫm, tính toán kỹ trước khi đánh.

Binh thư yếu lược chép: “Tính được nhiều thì thắng, tính được ít thì không thắng, huống chi là không tính ư?” 2.  Nếu sự suy tính của ta mà không hơn người thì dù quân có nhiều, cũng không ích gì cho sự thắng vây” 3.  Quá trình chiến đấu là một quá trình đấu trí phức tạp giữa ta và địch, không nên suy nghĩ giản đơn. Binh thư yếu lược viết: “Mưu lạ có thể làm một lần mà không thể làm hai được. Ta có trí mà địch không phải là không khôn, chỉ là cái trí của ta tính được trước, mà địch thì chưa tính kịp, nên địch sa vào trí của ta. Nếu lại cứ đem mưu trước mà làm thì ít khi không bị địch đem kế để phá kế vậy” 4.
 
Binh thư yếu lược cũng nhấn mạnh: Muốn thấu hiểu tình hình địch và đưa địch vào kế của ta, phải biết vận dụng phép thực hư. Thực là chỗ có quân,chỗ phòng giữ mạnh, vững, hư là chỗ không có quân, chỗ phòng giữ yếu, mỏng. “Chỉ có hư mà không có thể thực thì lừa dối không thể thành công; chỉ có thực mà không có thể hư thì đến việc không biết biến hoá. Vận hành ở khoảng giữa không và có;... mịt mịt mờ mờ, địch vốn có trí mà không thể nghĩ vào đâu, địch vốn có mưu mà không thể tính vào đâu; thực là biến hoá thần kỳ ở trong chỗ hư không vậy . . .” 5 .

Trong việc vận dụng mưu kế, các tướng giỏi của ta rất chú ý lừa địch. Dẫn Binh pháp Tôn Tử, Binh thư yếu lược chép: “Binh là đạo dối trá, cho nên giỏi mà tỏ là không giỏi, dùng mà tỏ là không dùng, gần mà tỏ là xa, xa mà tỏ là gần, đem lợi để nhử, gây loạn để đánh người;... trêu cho nó tức, nhún cho nó kiêu; nó nhàn thì khiến cho nhọc; nó thân thì khiến cho lìa; đánh ở chỗ không phòng, ra ở chỗ không ngờ.  Đó là chỗ giỏi của nhà binh mà không thể truyền trước vậy” 6. 

Binh thư yếu lược lại vạch rõ: “Điều cốt yếu để đánh được địch không phải chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa... Hoặc dùng cách lừa của ta mà lừa nó; hoặc nhân cách lừa của nó mà lừa nó; lừa bằng tình, lừa bằng lợi, lừa bằng vụng, lừa bằng khôn, cũng lừa bằng sự lẫn lộn hư thực, lấy sự lừa của nó để làm cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì .  biết. Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị người lừa” 7.

Quân dân ta thời Trần đã tích cực vận dụng cách lừa địch để đánh chúng. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, trong lúc quân ta đang chuẩn bị trận phản công chiến lược trên sông Bạch Đằng, vua Trần Thánh -Tông đã phái Hưng Ninh vương Trần Trung mấy lần đến thành giặc giả vờ hẹn ngày ra hàng để làm cho địch mất cảnh giác.


_____________________________
1. Hồ Chí Minh: Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr.12.
2, 3, 4. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.197, tr.238, tr.248.
5, 6, 7. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.43, tr.197, tr. 183.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #143 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 09:54:28 pm »

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, khi cánh quân tây bắc của địch thua rút chạy về Vân Nam, quân dân địa phương đã đổ ra đánh chúng. Phụ đạo tử huyện Phù Ninh là Hà Đặc cho lấy tre đan thành những hình người to lớn, cho mặc áo, đợi chiều tối thì dẫn ra dẫn vào. Hà Đặc lại cho đục lỗ trên các thân cây to rồi cắm vào đấy những mũi tên lớn. Bọn giặc tinh thần đã sút kém trong lúc bại trận lui quân, nay rất khiếp sợ trước đội quân người khổng lồ có sức khoẻ bắn được mũi tên xuyên cây đó. Chúng không dám tiến đánh Hà Đặc. Trong tình hình đó, Hà Đặc cùng với dân địa phương đã mạnh mẽ tiến công, đánh tan quân giặc. Em Hà Đặc là Hà Chương đã tìm cách lấy trộm được quân phục và cờ xí của địch, cùng với dân quân của mình cải trang thành quân giặc, tiến vào doanh trại của giặc, bất ngờ tập kích. Quân địch trở tay không kịp, thua chạy tan tác.

Cũng trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, khì triều đình cùng đại quân từ Thiên Trường đã đi thuyền ra biển rồi rẽ vào vùng Tam Trĩ (Ba Chẽ), thì thuyền rồng của vua thẳng đường đi thông ra cửa Ngọc Sơn (Móng Cái) để lừa địch.

5. Tư tưởng kết hợp hoạt động tác chiến của mọi lực lượng, quân chủ lực của triều đình, quân địa phương của các lộ, các phủ, châu và hương binh, dân binh các xã, làng, bản.

Xuất phát từ chủ trương dựa vào dân dể chống giặc, do thực hiện chính sách ngụ binh ơ nông, có cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang thích hợp, nhà Trần đã thực hiện được cả nước đánh giặc, trăm họ là binh. Khi quân xâm lược kéo đến, triều đình đã có một lực lượng vũ trang hùng hậu bao gồm đại quân của triều đình, quân của các vương hầu, tôn thất là lực lượng chủ lực của quân đội, chiến đấu cơ động trong phạm vi cả nước, quân của các lộ, phủ, châu là lực lượng quân đội chiến đấu ở từng địa phương và hương binh, dân binh bảo vệ các xã, làng, bản.

Phối hợp khéo léo, chặt chẽ các lực lượng đông đảo đó, làm sao tạo nên sức mạnh đánh định lớn nhất, có hiệu lực nhất là một vấn đề lớn trong tư tưởng chỉ đạo tác chiến. Qua thực tiễn các cuộc kháng chiến, có thể thấy nhà Trần đã giải quyết tốt vấn đề đó với một trình độ nghệ thuật ngày càng cao. Việc phối hợp đã diễn ra trong các trạng thát như sau:

a. Phối hợp về mặt chiến lược chung trong phạm vi từng cuộc kháng chiến.

Trong cuộc rút lui chiến lược, đại quân của triều đình ngăn chặn địch từng bước ở trước mặt địch, còn lực lượng vũ trang địa phương bám trụ tại chỗ sau khi địch đã tiến qua, nhiều nơi có một bộ phận đại quân làm nòng cốt, tiến công liên tục vào sau lưng địch tạo nên một sức mạnh kìm giữ địch từ phía sau. Địch càng vào sâu thì vai trò của các lực lượng vũ trang địa phương càng quan trọng: tiến công tiêu hao địch, phá hoại giao thông liên lạc với phía sau của địch, đánh trả bọn địch đi cướp lương thực và cất dấu lương thực. 

Cho đến khi địch sắp hết sức tiến công thì đại quân của triều đình chuẩn bị phản công chiến lược, còn các lực lượng địa phương thì tăng cường đánh phá sau lưng địch, giữ không cho chúng tiếp tục phát triển tiến công. Sự phối hợp hành động của quân chủ lực và quân địa phương, nhất là trong cuộc kháng chiến lần thứ hai và lần thứ ba đã tạo nên sức mạnh ngăn chặn từng bước, tiến tới chặn đứng cuộc tiến công chiến lược của địch.

Hiệu lực hoạt động của các lực lượng địa phương càng được nâng cao từ cuộc kháng chiến lần thứ nhất sang cuộc kháng chiến lần thứ ba. Lần này, đại quân chỉ để một bộ phận làm nòng cốt cho các lực lượng địa phương chặn địch phía trước và kìm địch phía sau trên đường tiến quân của chúng, còn đại bộ phận đại quân thì tập kết ở những khu vực khác, chuẩn bị cho các đòn phản công chiến lược. Qua chiến đấu, lực lượng địa phương cũng phát triển mạnh. 

Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, quân địa phương ở vùng địch hậu Nội Bàng đã đánh tan 5.000 quân Mông - Nguyên hộ tống tên phản bội Lê Trắc tiến theo sau bọn xâm lược.  Bước sang giai đoạn phản công chiến lược, đại quân của triều đình tập trung đánh đòn quyết định vào những mục tiêu quan trọng như đông Bộ Đầu, Thăng Long, Bạch Đằng. 

Trong lúc đó và tiếp theo đó, phát huy thắng lợi của đòn phản công chiến lược, các lực lượng địa phương có một bộ phận đại quân làm nòng cốt đánh chặn, đánh đuổi địch đang tan vỡ tháo chạy trên suốt cả đường rút lui của chúng, tiêu diệt và đập tan hoàn toàn lực lượng quân xâm lược.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #144 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 09:56:03 pm »

b. Phối hợp trong một trận đánh quan trọng, trên cùng một hướng tiến công.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, sau chiến thắng Hàm Tử, Trần Quang Khải và Trần Que Toàn đem quân đánh Chương Dương và Thăng Long. Phối hợp với quân chủ lực của triều đình còn có các đội dân binh các lộ do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền chỉ huy.

c. Phối hợp trên hai hướng khác nhau, lực lượng vũ trang địa phương khuếch trương thắng lợi của đòn chủ lực.

Đó là trường hợp lực lượng vũ trang dân tộc vùng núi ở trại Quy Hoá (Phú Thọ) dưới sự chỉ huy của trại chủ Hà Bổng đổ ra đánh, khi quân Mông Cổ rút chạy về Vân Nam sau thất bại lớn ở đông Bộ Đầu trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất. Các lực lượng vũ trang huyện Phù Ninh (Tây bắc) do Hà Đặc, Hà Chương chỉ huy chặn đánh quân địch khi chúng rút chạy sau trận quân ta giải phóng Thăng Long trong cuộc kháng chiến lần thứ hai. Các lực lượng tại chỗ suốt từ Vạn Kiếp đến biên giới Lạng Sơn đã đánh chặn, đuổi đánh quân địch tháo chạy sau chiến thắng Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến lần thứ ba.

6. Tất cả những tư tưởng tác chiến trên đều xoay quanh một tư trưởng tác chiến chủ đạo: lấy đoản binh chống trường trận, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy mềm chế cứng.

Như đã đề cập ở chương trên, trong Di chúc Canh Tý, Trần Quốc Tuấn viết: “Nó (quân địch - tg) cậy trường trận, ta cậy đoản binh; lấy đoản chống trường, đó là điều thường trong binh pháp”.

Đoản binh là quân đánh tại chỗ, hoạt động ở cự ly ngắn, quân yếu. Trường trận là quân có thể triển khai thành thế tiến công đối phương từ xa, cơ động xa và sâu để bao vây vu hồi đối phương. Đoản binh, trước hết là quân các lộ, các phủ, châu và hương binh, thổ binh ở các, xã, làng, bản chiến đấu tại chỗ.

Trường trận là kỵ binh của quân Mông Cổ, với khả năng cơ động cao. Bành Đại Nhã đời Tống, tác giả của Hắc Thát sự lược đã chép: “Về đánh trận, họ lợi ở dã chiến, không thấy lợi, không tiến quân... Trăm quân kỵ quay vòng, có thề bọc được vạn người, nghìn quân ky tản ra, cq thể dài đến trăm dặm... địch phân tức phân, địch hợp tức hợp, cho nên kỵ đội là ưu thế của họ. Hoặc xa, hoặc gần, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc tụ hoặc tán, hoặc hiện hoặc ẩn, đến như rơi trên trời xuống, đi như chớp giật...” 1. So sánh với kỵ binh Mông Cổ thì đại quân của triều đình Trần cơ động bằng đôi chân, cũng là đoản binh.
 
Khi đại quân của địch đang tập trung thì khả năng chiến đấu của các lực lượng đánh tại chỗ của ta không đáng kể.  Nhưng khi địch đã phân tán thành từng cánh, từng mũi, từng tốp nhỏ để chiếm đóng địa bàn, khi chúng đã đói vì tiếp tế không kịp và cướp bóc lương thực không được, khi chúng đã bị đau ốm vì khí hậu nhiệt đới thì các lực lượng này thông thạo địa bàn và có nhiều cách đánh rất linh hoạt, bám đánh địch liên tục ngày đêm đã phát huy tác dụng hết sức to lớn. 

Đại quân của ta so với quân địch cũng yếu và ít hơn, không cơ động nhanh, đánh xa được như chúng. Nhưng trong quá trình rút lui chiến lược, khi địch đã vào khá sâu trong đất ta, lại gặp phải tình thế như vừa nói ở trên thì quân chủ lực của triều đình trở thành những quả đấm mạnh, có thể đánh những đòn tiêu diệt lớn như đông Bộ Đầu, Bạch Đằng. 

Lấy đoản binh chông trường trận cũng có thể hiểu như lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh . Trong điều kiện cả nước đánh giặc, trăm họ là binh thì số người cầm vũ khí của ta tất nhiên là đông hơn quân địch. Nhưng xét về số lượng quân đội hai bên thì thường là địch đông hơn ta.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, quân Nguyên có dện 60 vạn, quân Trần lúc đầu chỉ có khoảng 20 vạn. Vấn đề dặt ra trên tầm chiến lược cũng như chiến thuật là phải làm sao để một lực lượng nhất định của quân đội ta, dựa chắc vào dân, có sự phối hợp của dân, có thể đánh thắng một lực lượng đông hơn, lớn hơn, mạnh hơn của địch.


___________________________
1. Hồng Nam và Hồng Lĩnh (chủ biên): Những trang sử vẻ đang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược Sđd, tr.345.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #145 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 09:59:59 pm »

Nghệ thuật quân sự thời Trần vận dụng khéo léo không gian và thời gian, thế trận và thời cơ đã làm cho lực lượng thực tế chiến đấu của quân Mông - Nguyên đông mà hoá ít, làm cho quân đội xâm lược mạnh lúc đầu trở thành yếu về sau.

Về vấn đề này, Binh thư yếu lược đã viết: “ít có thể thắng nhiều, yếu có thể thắng mạnh”, Phàm hay lấy ít mà thắng nhiều, lấy yếu mà địch mạnh, lấy nhỏ mà chế lớn, thế mới gọi là thiện chiến” 1.

Binh thư yếu lược cũng nêu các điều kiện để có thể lấy ít đánh nhiều: Phải dựa vào địa hình hiểm trở, khai thác trạng thái tinh thần, tình hình kỷ luật và sức khoẻ của địch, biết vận dụng chiến thuật và phải hết sức cố gắng: “Ai tái núi rừng là để lấy ít đánh nhiều..., nhân họ sợ hãi là để lấy một dành mười; nhân họ mệt mỏi không phòng là để lấy mười đánh trăm” 2. “quân địch đi đến, nhởn như không lo, cờ xí rối loạn, người ngựa ngơ ngác thì một người có thể đánh được mười người, hẳn khiến họ không thể kịp trở tay” 3. “Ta nhân nó nhọc có thể thu được cái công lấy ít phá nhiều” 4. “Lấy quân ít mà thắng quân nhiều, không khó nhọc thì không được” 5.

Tuy quân Trần lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh một cách phổ biến, nhưng khi cần thiết thì các tướng thời Trần cũng biệt tập trung lực lượng lấy nhiều đánh ít, lấy mạnh đánh yếu. “Địch yếu nên dùng lối xông vào giày xéo, ngựa bọc giáp, quân bộ mạnh dạn, xông vào đi lại đánh giết, khiến cho địch tan tành. Thế gọi là phép nhân địch yếu, lấy mạnh của ta chống kẻ yếu” 6.

Thực hiện “đánh như sông vỡ, đánh như sấm vang” 7. Trận đông Bộ Đẩu năm 1258, các trận phản công trong cuộc kháng chiến lần thứ hai năm 1285 ở Thăng Long, Vạn Kiếp, trận Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến lần thứ ba năm 1288, đều thực hiện theo tinh thần đó. 

Quan điểm cơ bản của Trận Quốc Tuấn là lấy đoản binh chống trường trận. Phân tích tình hình thực tiễn của ba cuộc kháng chiến thì thấy đó chủ yếu là phương châm hành động trong thời kỳ đẩu cuộc kháng chiến, trong giai đoạn rút lui chiến lược.

Nhưng khi địch đã suy yếu, trường trận của địch đã biến thành đoản binh, lực lượng ta được bảo toàn và củng cố đoản binh của ta đã biên thành trường trận, ta thực hành phản công chiến lược mãnh liệt, thì chính lúc đó ta đã dùng trường trận đáp đảo, đánh bại đoản binh của địch. 

Đi đôi với quan điểm lấy đoản binh chống trường trận, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh được vận dụng trong thực tiễn ba cuộc kháng chiến, Binh thư yếu lược đã đề xuất quan điểm lấy mềm để chế cứng, với lập luận như sau:

“Người tướng giỏi, cứng không thể bẻ được, mềm không thể uốn được. Cho nên lấy yếu để chế mạnh, lấy mềm để chế cứng. Mềm cả, yếu cả thì thế phải kém; cứng cả mạnh cả thì thế phải mất. Không cứng không mềm, đó là đạo thường” 8.

Lại viết: “Mấu chốt của việc hành binh, cốt phải nắm được lòng  người anh hùng, nghiêm sự thưởng phạt, tóm được đạo văn võ, gồm được thuật cứng mềm...” 9.

Có thể hiểu rằng, đối với người tướng chỉ huy tác chiến không nên bao giờ cũng mềm, cũng như không nên bao giờ cũng cứng, phải biết lúc nào nên mềm và lúc nào nên cứng, phải biết lúc nào thì lấy mềm để chế cứng, lại phải biết lúc nào thì lấy cứng để chế mềm. 

Đối chiếu với thực tiễn ba cuộc kháng chiến, thì thấy rõ các vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã chỉ đạo kháng chiến theo tinh thần đó. Vào đầu cuộc chiến tranh, địch đang mạnh, ta đang yếu. Lúc đó nếu ta cứng, trực tiếp đương đầu với địch, thì lực lượng ta sẽ tan vỡ, ta sẽ mất nước. Lúc đó ta lấy mềm chế cứng, rút lui chiến lược, kìm chế quân địch, dần dần làm cho chúng suy yếu, đó là chủ trương đúng đắn.  Nhưng sau khi địch đã từ mạnh trở thành yếu, mà ta đã củng cố được lực lượng lại nhằm vào chỗ yếu, sơ hở của địch kịp thời đánh đòn phản công chiến lược, thì ta đã lấy cứng chống mềm.


_____________________________
1, 2, 3, 4, 5. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.236, tr.240, tr.220, tr.252, tr.225.
6, 7. 8. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.244, 56.
9. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.57.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #146 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 10:01:14 pm »

Nghiên cứu cách chỉ đạo chiến tranh của triều đình Trần, có thể nói rằng ta mềm nhưng không để bị uốn cong, ta cứng nhưng không để bị bẻ gãy. Trước kẻ địch xâm lược lúc đầu quá mạnh, ta phải lấy mềm chế cứng, rút lui chiến lược.  Không thể liều lĩnh, phiêu lưu lấy cứng chọi cứng, quyết chiến ngay từ đầu chiến tranh.

Ta rút lui chiến lược, nhưng không phải để địch muốn vào đến đâu thì vào, mà kiên quyết kiềm chế chúng từng bước theo ý định chiến lược của ta. Khi phản công, ta rất cứng, đánh tan đạo quân xâm lược vốn lớn mạnh, nhưng ta cũng biết tỏ ra mềm, dừng quân ở biên giới  và xúc tiến các biện pháp ngoại giao để giữ thể diện cho nước lớn đã thua trận, ngăn ngừa một cuộc chiến tranh tiếp theo, bảo đảm hoà bình lâu dài cho hai dân tộc.

Xem đây có thể thấy triều đình Trần dã nắm vững và vận dụng khéo léo thuật cứng mềm, kết hợp cứng mềm, trong mềm có cứng, trong cứng có mềm. Nếu xét cả mối quan hệ giữa hoạt động quân sự với hoạt dộng ngoại giao trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời gian đó thì lại càng thấy rõ.

Vận dụng tư tưởng lấy đoản chế trường, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy mềm chế cứng, quân, dân ta thời Trần vẫn thực hiện một quy luật chung của chiến tranh là quy luật mạnh được yếu thua.

Ta chủ trương lấy yếu đánh mạnh là xuất phát từ so sánh lực lượng giữa nước ta và nước địch, quân ta và quân địch khi chúng gây chiến tranh xâm lược. Nhưng đã ba lần, quân, dân nhà Trần đã thắng trong kháng chiến, đã đập tan toàn bộ đạo quân xâm lược của địch.

Nhìn chung trên phạm vi cả ba cuộc kháng chiến, địch thua trận là chúng yếu, ta thắng trận là ta mạnh. Quy luật mạnh được, yếu thua không hề mâu thuẫn, đối lập với tư tưởng lấy yếu đánh mạnh.  Đó là do ta có nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự ưu việt. Ta nhỏ, yếu, ít, mềm so với địch, nhưng ta đã biết huy động lực lượng lớn nhất của dân tộc.  Lại biết bố trí lực lượng đó theo một thế trận thích hợp nhằm phát huy uy lực lớn nhất của nó.Ta đã biết tạo ra thời cơ, nhằm đúng thời cơ mà đánh, biết tuỳ thời mà dùng mưu kế thích hợp để đánh địch.

Điều rất quan trọng là nhờ đó, ta đã biết làm cho địch từ mạnh dần dần trở thành yếu, bồi dưỡng sức ta, làm cho ta từ yếu dần dần chuyển thành mạnh. Trên cơ sở đó ta đã có nghệ thuật giành thắng lợi từng bước. Khi quân dân ta thực hành phản công chiến lược, trong mỗi trận đánh cụ thể ta đã biết tập trung lực lượng ưu thế  cần thiết, phát huy mọi điều kiện thuận lợi về thiên thời, địa lợi, nhân hoà, đánh dịch trên thế mạnh, tạo nên sức mạnh áp đảo, tiêu diệt và đập tan quân địch. Đó là cách “đánh như sông vỡ, đánh như sấm vang”, đánh như “tháo vỡ nước chứa ở trên cao nghìn nhẫn” đã nêu trong Binh thư yếu lược.

Trong tác chiến trên chiến trường, với chí căm thù quân địch sâu, với mức độ tinh nhuệ cao, tướng và quân nhà Trần đều sẵn sàng lấy một đánh mười, lấy mười đánh trăm. Nhưng khi mũi tên tẩm thuốc độc, mũi tên thường, hoặc mũi giáo nhọn của quân ta xuyên vào người địch, khi ngựa chiến của quân xâm lược sụt xuống hầm bẫy ngựa của ta, khi quân ta nhổ từng cứ điểm đóng quân của địch hoặc khi quân ta bao vây tiêu diệt từng cánh quân lớn của chúng, quân dân ta đều đã thực hiện mạnh được yếu thua. Các trận đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Thăng Long, Vạn Kiếp, Bạch Đằng đều diễn ra theo cách đó.

Như vậy, vận dụng khéo léo tư tưởng tác chiến lấy đoản binh chế trường trận, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy mềm chế cứng, ta đã tạo nên sức mạnh kháng chiến cần thiết lớn hơn địch, tiêu d;ệt chúng trong từng trận, ba lần đập tan đạo quân xâm lược lúc đầu hùng mạnh của Mông - Nguyên, thực hiện đúng quy luật mạnh được yếu thua của mọi cuộc chiến tranh.

Thực ra, yêu cầu lấy đoản chế trường, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy mềm chế cứng không phải là một ý muốn chủ quan của Trần Hưng Đạo và các tướng thời Trần. Nó là một yêu cầu khách quan do hoàn cảnh chiến lược đề ra.

Đó là những tư tưởng chỉ đạo tác chiến cần thiết để thực hiện quan điểm chiến lược “lấy nhỏ thắng lớn”. Địch lớn ta nhỏ, muốn chiến thắng và tồn tại, dân tộc ta phải làm như vậy. Ông cha ta thời Trần đã giải đúng một bài toán do lịch sử khách quan đề ra và đã điều hành ba cuộc kháng chiến giữ nước theo đúng quy luật khách quan là mạnh được yếu thua.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #147 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 10:03:38 pm »

7. Tư tưởng đánh giá đúng địch, ta.

Đánh giá đúng địch ta là căn cứ để thực hiện tốt các tư tưởng chỉ đạo tác chiến khác, vì nó là cơ sở khách quan để hạ quyết tâm đúng đắn của người lãnh đạo, chỉ huy kháng chiến.  Dẫn Binh pháp Tôn Tử, Binh thư yếu lược chép; “Biết người biết mình, trăm trận không nguy. Không biết người mà biết mình thì một được một thua. Không biết người, không biết mình thì hễ đánh là thua” 1 (tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi; bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ; bất tri bỉ, bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại...). 

Ở đây yêu cầu trước tiên là phải biết người, tức là biết địch. các nhà lãnh đạo kháng chiến và các tướng lĩnh thời Trần qua thực tiễn ba cuộc kháng chiến, đã tỏ ra biết địch sâu sắc.

Trong hai cuộc kháng chiến lần thứ nhất và lần thứ hai, sau những trận giao chiến ban đầu ta thấy rõ là địch quá mạnh. Có ý chí “bêu đầu Hốt Tất Liệt trước cửa khuyết, làm rửa thây Vân Nam vương ở Cảo Nhai”, nhưng Bộ Thống soái đành phải lui quân để bảo toàn lực lượng. Lại biết quân  địch “buổi sáng thì khí hăng hái, ban trưa thì khí uể oải, buổi chiều thì khí suy kiệt”. Từ đó mà đi đến kết luận. “Người giỏi dùng binh tránh lúc khí hăng hái, đánh lúc khí uể oải và suy kiệt” 2.

Do đó, ngay trong quá trình rút lui chiến lược, quân dân ta đã kịp thời chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược. Bộ Thống soái nhà Trần lại biết quân Mông - Nguyên chỉ mạnh khi chúng phát huy được “trường trận” của chúng. Nghĩa là khi chúng có thể dùng lực lượng kỵ binh cơ động rất nhanh, tung hoành trên chiến trường rộng, bằng phẳng, đột phá mạnh mẽ vào một đối thủ công khai dàn trận đương đầu với chúng, như tình hình đã diễn ra trên chiến trường nhiều nước trước đó.

Còn nếu ta biết dùng “đoản binh”, phát huy khả năng đánh gần của cả quân và dân, dựa vào địa thế hiểm trở của đất nước, bí mật bất ngờ đánh địch nhỏ, lẻ ở khắp nơi,thì có thể khắc phục được trường trận của giặc.  Sự đánh giá đó, rõ dần qua hai cuộc kháng chiến đầu, đến cuộc kháng chiến thứ ba thì trở thành rành mạch, chắc chắn, qua câu trả lời của Trần Hưng Đạo với vua Trần “Năm nay đánh giặc nhàn”.

Các vua Trần cũng thấy thế lực xâm lược Mông - Nguyên không những mạnh về quân sự, mà còn có sĩ diện rất lớn của nước lớn đã từng thắng trận, khuất phục nhiều nước từ châu Âu sang châu Á. Cho nên sau khi quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, đều noi gương triều đại trước, cho quân dừng lại ở biên giới, phái sứ thần sang triều cống, lập lại quan hệ bình thường giữa hai nước.

Bộ Thống soái lãnh đạo kháng chiến thời Trận cũng hiểu  rõ bản chất cực kỳ ngoan cố của triều Mông - Nguyên nên sau mỗi lần kháng chiến thắng lợi lại củng cố thực trận phòng thủ đất nước, thực hiện nhiều chính sách và giải pháp toàn diện để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho dân, tăng cường sức mạnh đoàn kết giữa các tầng lớp dân chúng, các dân tộc, không hề thoả mãn, mất cảnh giác, sẵn sàng đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược tiếp theo nếu kẻ thù lại tiếp tục gây ra. Cho đến khi đập tan những lực lượng chiến lược cuối cùng, những biện pháp chiến lược cuối cùng, đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược cuối cùng mới có điều kiện bảo đảm hoà bình lâu dài cho đất nước.

Mặt khác, triều Trần lại nhận thấy khả năng của triều Nguyên cũng có hạn. Nội bộ nhà Nguyên không phải không có vấn đề. Sự uy hiếp từ bên ngoài ở biên giới phía bắc, phía tây, cuộc xung đột liên miên giữa các tập đoàn vương tôn Mông Cổ, đấu tranh của nông dân Trung Quốc phát triển ngày càng cao với đà thua trận liên tiếp của quân xâm lược Mông - Nguyên ở Đại Việt làm cho khả năng động viên lực lượng đánh Đại Việt không phải vô tận. Qua đó mà nhận thức thấy là có thể đánh thắng được ý chí xâm lược của triều Mông - Nguyên.

Về yêu cầu biết mình, nhà Trần thấy muốn có sức mạnh không được quân xâm lược, giữ được nước, triều đình phải gắn bó với dân theo tinh thần mà Trần Hưng Đạo đã nêu trong Di chúc Canh Tý: “Khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc, là thượng sách để giữ nước”. Thời bình phải chăm lo bồi dưỡng sức dân. Làm cho dân luôn hướng về triều đình.  Phải đoàn kết mọi lực lượng trong nước. Quân đội phải gắn bó trên dưới theo tinh thần “phụ tử chi binh”. Những quan điểm, tư tưởng đó, đi vào cuộc sống đã làm cho ba quân có ý chí và khí thế “nuốt sao Ngưu”, đã tạo nên thế trận làng - nước lợi hại, làm phân tán, sa lầy, tê liệt quân đội xâm lược, tạo điều kiện tiêu diệt chúng với quy mô ngày càng lớn, để cuối cùng quét sạch chúng ra khỏi bờ cõi.

Trên đây là nói về thực tiễn biết người, biết mình của triều đình Trần trên tầm vĩ mô của các cuộc kháng chiến.  Cũng theo yêu cầu biết người, biết mình, trong các trận đánh, trên từng chiến trường cụ thể, người chỉ huy các cấp thời Trần đã quán triệt những tư tưởng chỉ đạo tác chiến về chiến lược, đánh giá đúng địch, ta trong các trận đánh cụ thể và đã giành được thắng lợi. Quân dân các địa phương bị địch đến cướp phá, chiếm đóng cũng đã phát huy lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm, mưu trí, qua thực tiễn cũng đã đánh giá đúng địch, ta, dám đánh và biết cách đánh và đã giành thắng lợi khắp nơi. .


___________________________
1. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.198.
2. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.228.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #148 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 10:05:41 pm »

Trên đây là nội dung của nghệ thuật quân sự trong chiến tranh giữ nước trong thời kỳ các triều vua đầu của nhà Trần, trong thế kỷ XIIT. Bước sang thế kỷ XIV, triều Trần đi vào thời kỳ suy thoát. Sự suy thoái về chính trị kéo theo sự suy thoái về tư tưởng quân sự. Và từ đó, đã dẫn đến sự suy thoái trong nghệ thuật quân sự.

Một thành công lớn của các triều đầu của nhà Trần là xây dựng được thế trận cả nước đánh giặc. Thế trận này đã làm cho những dạo quân xâm lược lớn mạnh của quân Mông-Nguyên sa lầy và bị tiêu diệt. Nhưng sang thế kỷ XIV thì không thể thực hiện được thế trận đó. Bao lần giặc ngoài vào cướp phá kinh thành và các địa phương trong nước, nhưng dân chúng thờ ơ, giặc mặc sức hoành hành. Phẩm chất thông minh, sáng suốt biết người, biết mình của Bộ Thống soái được thay bằng lối suy luận và chủ trương chủ quan, giản đơn, mất cảnh giác, dẫn đến cái chết của vua Duệ Tông tháng Giêng năm 1377.


KẾT LUẬN


1. Thế kỷ thứ XIII dân tộc ta đã lập nên chiến công vĩ đại nhất trong lịch sử cổ, trung đại của mình, liên tiếp đánh thắng ba cuộc chiến tranh xâm lược của giặc Mông - Nguyên, bảo vệ vững chắc nền độc lập tự chủ của nước nhà. 

Vào đầu thế kỷ XIII, quân đội Mông Cổ đã tung hoành khắp các lục địa, chinh phục nhiều nước, lập nên một đế quốc rộng lớn từ châu Âu sang châu Á. từ bờ Hắc Hải đến tận bờ Thái Bình Dương. Đó là đội quân xâm lược mạnh nhất, thiện chiến nhất và tàn bạo nhất thời bấy giờ.

Từ khi thôn tính được Trung Quốc, lập nên triều Nguyên, tư tưởng đế quốc Mông Cổ kết hợp với chủ nghĩa bành trướng đại Hán trở thành mối nguy cho nhiều nước. Từ nước Trung Hoa phong kiến xuất phát các cuộc viễn chinh xâm lược nhằm chinh phục các nước châu Á, từ Nhật Bản đến Java. 

Trong mưu đồ điên cuồng đó, nước ta có vị trí quan trọng đặc biệt. Theo Hốt Tất Liệt và tướng lĩnh của ông ta: “Java là - vật ở đầu ngón tay, An Nam là vật trong lòng bàn tay” 1. Đại Việt trở thành bàn đạp cần phải đánh chiếm để tiện đường tiến xuống đánh chiếm các nước khác ở đông Nam á. Vì vậy, trong vòng 30 năm, từ năm 1258 đến năm 1288 chúng đã ba lần xâm lược nước ta. Nhưng cả ba lần chúng đều bị đánh cho thất bại thảm hạt. Đây là những thất bại nặng nề đầu tiên trên bước đường tung hoành chinh chiến của quân đội Mông Cổ.

Đánh thắng ba lần xâm lược, đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mông - Nguyên, nhân dân ta không những đã bảo vệ được độc lập chủ quyền của Đại Việt mà còn tránh cho các nước đông á và đông Nam á khỏi sự xâm lược của đội quân viễn chinh tàn bạo này. Chiến thắng đó đã bảo đảm cuộc sống hoà bình lâu dài không những cho dân tộc ta mà còn cho cả các dân tộc trong khu vực và cho chính nhân dân Trung Quốc.

2. Dân tộc ta thời đó tìm đâu ra đủ sức mạnh và trí tuệ để đạt được những chiến thắng oanh liệt như vậy? Đó trước hết là vì quân xâm lược lớn mạnh không phải chỉ đương đầu với quân đội Đại Việt mà chúng có khả năng đánh bại trong những trận giao chiến chính quy, cổ điển, mà chúng phải đương đầu với cả một dân tộc dám kiên cường đánh lại chúng và biết phát huy sức mạnh của toàn dân tộc theo kiểu cách của mình để đánh thắng chúng.

a. Sức mạnh giữ nước vô địch của nước Đại Việt thời Trần bắt nguồn từ sức sông mãnh liệt của nền văn hoá Văn Lang cổxưa.

Từ hơn 3.000 năm trước đó, người Việt cổ đã chung lưng đấu cật hợp sức khai phá miền châu thồ sông Hồng xây dựng đồng ruộng và làng mạc, tạo dựng nên một nền văn hoá xóm làng. Quá trình lâu dài đấu tranh thắng lợi đã hun đúc cho cộng đồng người Việt những giá trị tinh thần rất quý báu.

Đó là lòng yêu làng, yêu nước Việt Nam, tinh thần kiên cường bất khuất, tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết gắn bó trong cộng đồng, tinh thần nhân ái, khoan dung, tinh thần lao động cần cù, bền bỉ, đặc biệt là tư chất thông minh, sáng tạo trong sản xuất và nhất là trong chiến đấu tự vệ, biết ứng xử một cách khôn ngoan, vững vàng mà tinh tế trong mọi tình huống.


_______________________
1. Theo Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.324.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #149 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 11:27:37 pm »

Yêu làng, yêu nước nồng nàn là phẩm chất cơ bản nhất và tư chất thông minh sáng tạo là đặc điểm nổi bật nhất của cộng đồng người Việt. Những giá trị tinh thần đó là động lực mạnh mẽ bảo đảm thắng lợi trong cuộc đấu tranh lâu dài chống thiên tai, địch họa của dân tộc ta. 

Những giá trị tinh thần được tôi luyện, duy trì và phát triển trong hơn 10 thế kỷ chiến đấu chống ách Đô hộ của phong kiến phương Bắc. Trong hơn 1.000 năm đen tối này, kẻ đô hộ dù đã dùng mọi thủ đoạn tàn bạo và xảo quyệt mà vẫn không đồng hoá được nước ta, không biến được nước ta thành quận huyện của chúng.

Dân tộc ta mất nước nhưng không mất làng. Giữ được làng, giữ được bản sắc văn hoá ở cơ sở dân tộc ta đã tiến lên giành lại được nước. Do nhu cầu chống ngoại xâm, quốc gia tập quyền ở nước ta hình thành rất sớm từ thời vua Hùng, thời Âu Lạc và trong những thời gian khác nhau của thời kỳ Bắc thuộc (Trưng Nữ Vương, Lý Nam Đế...) và được xây dựng ổn định từ khi bước sang kỷ nguyền độc lập tự chủ bắt đầu từ Tiền Ngô vương.

Trước mối đe doạ ngoại xâm uy hiếp thường xuyên, tình yêu làng xóm phát triển thành lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần cố kết ở làng, xã phát triển thành tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc, trong nội bộ triều đình phong kiến, giữa trăm họ và triều đình.

b. Những thành tựu trong công cuộc xây dựng đất nước thời Trần, trên cơ sở những thành tích đạt được từ đầu kỷ nguyên độc lập tự chủ là cơ sở vật chất và tinh thần vững chắc cho sức mạnh quốc phòng và sức mạnh kháng chiến của dân tộc ta vào nửa đầu thế kỷ XIII.

Quốc gia tập quyền ở nước ta vốn đã hình thành sớm, được thử thách qua cuộc kháng chiến lâu dài thắng lợi chống mấy mươi vạn quân Tần xâm lược cuối thế kỷ thứ ba TCN, lại được củng cố từ đẩu kỷ nguyên độc lập tự chủ, nhất là từ thời Lý sau gần 300 năm xây dựng (939-1225).

Và sang thời Trần thì đã ở vào thời kỳ phát triển hưng thịnh. Nhà nước phong kiến đã thi hành nhiều chính sách tiến bộ về kinh tế, văn hoá, xã hội hợp lòng dân.  Ưu điểm rất lớn của triều đình Trần đấu thế kỷ XIII là đã giải quyết phù hợp quan hệ giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc đặt lợi ích dân tộc lên vị trí rất cao. Đã chăm lo bồi dưỡng sức dân, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho dân. Nhờ đó mà phát huy được tinh thần yêu nước truyền thống của cả dân tộc gắn bó triều đình phong kiến với trăm họ muôn dân, tạo nên một sức mạnh kháng chiến cực kỳ to lớn. 

c. Những nhà lãnh đạo thời Trần đã kế thừa được truyền thông của những kinh nghiệm đánh giặc giữ nước phong phú mà tiền ta đã tích luỹ được từ hơn 1.500 năm trước đó, học tập được tinh hoa quân sự nước ngoài, xây dựng nên hệ thông tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự rất có hiệu quả. 

Tổ tiên ta đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm thành công và thất bại rất phong phú trong hơn 1.500 năm giữ nước, từ cuộc kháng chiến chống Tần thời Âu Lạc (214 Tr.CN - 209 Tr. CN). Cho đến cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý (1075- 1077). Đó là những kinh nghiệm tham khảo rất tốt cho các nhà quân sự thời Trần để hoạch định các kế sách giữ nước và xây dựng lý luận quân sự.

Điều rất quan trọng là hệ thống lý luận quân sự, tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIII đã hình thành rõ nét và phát triển ngày càng hoàn chỉnh, có hệ thống.

Đó là quan điểm phát huy tinh thần kiên cường bất khuất, liều chết đánh giặc, bỏ mình vì nước; quan điểm tìm nguồn sức mạnh ở trong dân, khoan thơ sức dân; làm kế sâu rễ bền gốc, xem đó là thượng sách để giữ nước; quan điểm cả nước đánh giặc; quan điểm vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước cả nhà góp sức; quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang lợi cho cả nước, trăm họ đánh giặc; quan điểm ngụ binh ư nông; quan điểm quân cốt tinh không cất nhiều; quan điểm phụ tử chi binh; quan điểm bạt dụng lương tướng, xây dựng phẩm chất của người tướng; quan điểm thái bình tu trí lực, dựng nước đi đôi với giữ nước, thời bình chuẩn bị đất nước cho thời chiến; quan điểm biết lấy nhỏ thắng lớn. . .

Đó là nghệ thuật quân sự biết chỉ đạo chiến tranh về mặt thời gian và không gian, giỏi vận dụng mưu kế, thế, thời, nghệ thuật vận dụng tư tưởng chỉ đạo tác chiến, biết đánh giá đúng địch, ta, biết lấy đoản binh thắng trường trận, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu địch mạnh, lấy mềm chống cứng, phát huy sức mạnh cả quân và dân chống quân đội xâm lược, luôn phát huy mưu kế, giữ quyền chủ động điều địch và lừa địch, đánh hiểm, đánh đau...
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM