huyphuc1981_nb
Thành viên

Bài viết: 788
|
 |
« Trả lời #62 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 12:45:29 pm » |
|
Thưa bác Đoàn, Trần Đại Nghĩa ở Việt Bắc đã làm Sten và súng trường. Ở Nam Định và sau là Thanh Hoá, quân ta cũng di tản được một ít máy móc và cũng đã làm Sten. Ở Trung Bộ và Nam Bộ, một số súng ngắn và Sten cũng được chế tạo. Nhưng tất cả đều dừng ở mức thử nghiệm. Em dẫn chứng bản thân các nỗ lực của Trần Đại Nghĩa ở Việt Bắc. Sten không thực hiện được do khi bắn liên thanh không chịu được nhiệt. Ngay cả khi bắn phát một, thì súng trường lúc đó cũng là loại nòng không chính xác và không có khương tuyến. Cơ hội duy nhất để tự chế một số bộ gá khoan và chuốt khương tuyến, cùng một số vật liệu làm lưỡi dao cứng để gia công chính xác trên kim loại cứng là trước khi Toàn quốc Kháng chiến bùng nổ, đã bị bỏ qua, Trần Đại Nghĩa về nước quá muộn. Nếu lúc đó chúng ta có một người biết tổ chức, biết chọn lọc, tìm mua, tự chế... thì chúng ta đã có một dây chuyền nhỏ chở trên một xe tải lên chiến khu, như du kích Ba Lan và Hà Lan làm Sten. Máy móc thì có một số trong các trung tâm công nghiệp ở vùng mỏ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định. Sten được uốn, hàn, mài, rèn, với độ chính xác thấp rồi tiện với độ chính xác không cần cao lắm, thêm cái nòng súng bằng ray tầu hoả là được súng bắn phát một, tối thiểu như thế.
Mause và Mosin đều có các kiểu nòng ban đầu là thép đen dễ kiếm. Ray tầu hỏa không cho phép dùng lê giáp lá cà, nhưng không thiếu phương pháp làm nòng súng từ một cái xà beng Pháp khá giầu măng gan, kiểu xà beng Trung Quốc sau này cũng vậy. Tất cả chỉ thiếu máy khoan và chuốt nòng.
Đến thập niên 190x thì một số súng quý như pháo tầm xa hay súng máy mới dùng thép crom-nickel, nhưng cũng chỉ phổ biến ban đầu ở các nước xung quanh Đức, như Đức, Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Áo, Bỉ, Thụy Sỹ, Hung, Tiệp. Cho đên WWII súng trường vẫn là thép đen. Súng trường có hình dáng phức tạp hơn súng ngắn liên thanh, nhưng lại có rất nhiều thiết kế làm mẫu để chọn công nghệ thích hợp. Ví dụ loại khóa nòng chèn nghiêng, chèn ngạnh có thể áp dụng cả trên súng tự động hay súng lên cò tay cho phép dùng các loại lò xo to, dễ kiếm áp dụng cho búa thẳng như G43 Đức, DP Liên Xô. Các loại khóa nòng chèn ngạnh (DP, G43) hay chèn nghiêng như FN FAL, Bren (ZB-30), ZB-26... tuy to hơn khóa xoay, nhưng dễ làm hơn. Thực tế đã chứng minh là phần lò xo rất dễ kiếm, đặc biệt với các lò xo to cho búa thẳng, như Sten, chúng ta không thiếu cái đó.
Tuy vậy, nhiều công xưởng lạc hậu vẫn chọn khóa xoay, như Tầu Tưởng. Tuy hình dáng phức tạp, nhưng phần lớn các khóa xoay của Mauser, Mosin được làm từ rèn và mài, phần cắt gọt cho khóa nòng chỉ là các máy nhỏ. Phần hao tốn lớn nhất mà họ phải trả là công nhân lành nghề, nhưng công nhân chuyên nghiệp làm một bộ phận lại đào tạo nhanh. Nhờ đó, Tầu Tưởng cả mua và tự chế có hàng chục triệu Mauser, kể cả M1924-M1935 hiện đại nhất (Trung Chính Bộ Thương). Các Mauser và Mosin đều được thiết kế tránh dùng các công đoạn sau này mới có như hàn chịu lực, cắt gọt với yêu cầu chính xác cỡ rem, nếu trừ các công đoạn khoan chuốt thì toàn bộ súng làm được từ rèn, mài, giũa, uốn, tán đinh, nhiệt luyện. Nếu có một máy phay và tiện nhỏ thì súng đẹp hơn, nhưng nếu không có thì vẫn có súng.
Về súng ngắn liên thanh. Thế giới có hai loại, thường được gọi là súng quý phái và súng bình dân. Súng quý phái có Thompson, MP19 Rheinmetall Đức, MP34 Áo, Suomi Phần Lan. Các loại súng này có bịt đáy nòng làm bằng hợp kim crom-nickel, kích thước nhỏ, ống nạp đạn nhỏ, tin cậy và nhờ đó làm được kim hỏa liền. Súng bình dân có MP18/I, MP28/II, MP38/40/41 Đức, Sten Anh, M3 Grease Mỹ, PPSh Liên Xô. Các súng bình dân thường làm bịt đáy nòng bằng hợp kim rẻ tiền, to bù cho tốt, vì thế khoang chuyển động nạp đạn lớn, không ổn định và thường làm kim hỏa rời. Sten thực chất giống MP28/II nhưng làm kim hỏa liền, rất chuối nhưng không phải là không dùng được. Riêng PPSh , BMP35 Đức, Cz-383 Tiệp Khắc dùng kiểu bịt đáy nòng bằng hợp kim yếu nhưng có cải tiến, chuyển động của đạn khá tốt. PPSh dùng khối lùi hình khối, mặt trượt phẳng, chính xác hơn tròn nên tin cậy, áp dụng tốt kim hỏa liền, trong khi vẫn là rèn và hàn. Suomi ban đầy mài khối lùi từ cục hợp kim crom-nicken độ cứng 55R mua của Thụy Điển, đây là phương pháp mà nước Phần Lan hết sức lạc hậu dùng để tự chế súng ngắn liên thanh tốt nhất của WWII, sau này dùng hàn phần cổ hợp kim cứng với phần đuôi làm từ gang măng gan cho rẻ đi. Phần nòng Phần Lan cũng làm từ thép măng gan- carbon rẻ tiền, lúc đó thép măng gan là loại thép dễ luyện hơn cả thép carbon chất lượng cao, do măng gan lúc đó còn chưa hiếm, được dùng như phụ gia lọc lưu huỳnh-phốt pho khi nấu gang, vì vật các công cụ rẻ tiền như xà beng, ray tầu hỏa... khá nhiều măng gan. Loại gang măng gan dùng làm nòng súng ngắn là tốt rồi, còn súng trường cũng dùng thép măng gan cỡ như xà beng, ủ ngấm carbon phía trong là đủ.
Loại Sten mà quân du kích ưa nhái là Mk.II nhưng bỏ cổ băng xoay đi. Phần tĩnh của súng chỉ có 3 bộ phận chính, là ống vỏ máy súng (receiver), bao cổ súng và nòng, các bộ phận như ống bao cách nhiệt nòng lắp vào cổ súng. Cả vỏ máy súng và ống bao cách nhiệt đều làm từ kim loại cuốn tròn, hàn dọc rồi mài, tiện ren để bắt vào cổ súng. Cổ súng liền nòng được tiện từ một cục sắt rẻ tiền, có tiện ren để bắt ống cách nhiệt và vỏ máy súng, du kích hiệu chỉnh vị trí của vỏ máy súng bằng đệm chèn để giảm yêu cầu tiện ren chính xác. Bao cổ súng (cổ lắp băng) được uốn, hàn, mài và giũa từ thép mềm. Máy uốn vỏ máy súng và bao cổ súng là một cái ê tô to. Hàn dùng acetylen. Mài dùng máy mày quay, nhưng dễ dàng dùng loại quay tay. Giũa thì rõ ràng tự chế, bất cứ lò rèn nào cũng tự làm mới giũa được từ thép rẻ tiền như ray tầu hỏa.
Nếu như có một chuyên gia kỹ thuật từ năm 1944, thì chúng ta thử đứng trên quan điểm của ông ?? Vâng, vị trí đó ông Tạ Quang Bửu đã làm, nhưng ông không biết một chút nào về cơ khí, cũng như kỹ thuật nói chung. Bây giờ ta gọi một chuyên gia nếu có như thế là ông X. Việc đầu tiên, là ông X phải làm là làm một vĩ nhân, là format súng chủ lực cho một quân đội anh hùng trong tương lai. Ông sẽ phải chọn thiết kế, công nghệ, tính đến các điều kiện rất rộng, từ chiến khu Việt Bắc cho đến các nhà máy trong hầm ngầm khi đánh Mỹ. Đó là việc hết sức lớn. Ban đầu, giai đoạn 1944-1945, ông X phải tuyển chọn được một nhóm nhân lực mà sau này sẽ xây dựng lên một Tula, một Spring Field, một Norinco, một MAT hay MAS nhiều trăm năm tuổi. Điều đó trong điều kiện nước ta, có 2 ngàn năm truyền thống quân sự nhưng chưa có cách mạng kỹ thuật, là khó hơn tuyển những anh tài như Lê Trong Tấn, Vương Thừa Vũ... Trần Đại Nghĩa vĩ nhân như vậy, các nhà kỹ thuật của chúng ta hoàn toàn có thể có các "kỹ công" sánh được với các chiến công quân sự, nhưng khi Võ Nguyên Giáp format đội Việt Nam Tuyên Tuyên Giải Phóng Quân, thì chúng ta chưa có Trần Đại Nghĩa, chỉ mới có Tạ Quang Bửu. Sau khi có một nhóm nhân lực đầu tiên, ông X phải tổ chức sản xuất súng trường bắn đạn có vỏ giấy hay đồng, không cần khương tuyến hay loại nòng thép mềm chuốt khương tuyến bằng dao chuốt gang, trên một bộ giá chuốt thô sơ làm từ xe đạp và ray tầu hỏa mài chéo, tuổi thọ cần gì cao, 300 khẩu như thế là bằng một trăm "mút giáp ba", "mút giáp năm", sánh được với Khai Phắt, Nà Ngần, và dễ dàng đổi 300 khẩu khai hậu đó thành 300 súng trường Nhật. Vỏ đạn đồng ư, không cần nhiều, một chuyên gia như ông X sẽ có cách để mỗi bộ đội tự mang theo một túi thuốc, đầu đạn, hạt nổ để tự dùng lại vỏ đạn cho súng khai hậu.
Ngay khi về Hà Nội, ông X phải tìm mua bên Tây, bên Hồng Công lưỡi gia công cứng, tổ chức các công nhân đi thu thập động cơ điện, lắp ráp máy phát điện hơi nước, ngay cả loại động cơ nổ chạy than lúc đó không thiếu, chủ yếu các loại xe đò chạy ở cả Bắc và Nam là do các nhà kỹ thuật của chúng ta cải tiến lại từ chạy xăng, chỉ cần năm mười động cơ như thế sẽ đủ cho Tula của Việt Bắc, có chúng, có máy cắt gọt, thì phụ tùng duy trì chúng sống sẽ tự sinh ra cùng súng trường, súng máy.
Riêng về máy gia công, thì các công đoạn được ưu tiên sẽ là rèn và thợ đặc biệt khéo, chỉ những người cực kỳ thông minh mới hiểu được những người thợ đặc biệt hiếm có. Lịch sử kỹ thuật ghi rõ rằng, những khẩu súng lừng danh như Fedorov (sau là DP), Sten, Suomi được thực hiện mẫu thử bằng những người thợ khéo, trước khi chúng được duyệt và chọn được công nghệ làm ra chúng bằng công nghiệp. Những kỹ sư và những người thợ khéo nhất sẽ tìm ra cách làm giũa, cờ lê, dưỡng, thước, kìm, búa... và tất cả những gì là người thợ rèn còn thiếu để duy trì "công nghiệp du kích" lâu dài. Loại bột mài và đá mài quay khả dĩ được tìm kiếm, như keo da trâu, như sành sứ trộn bột mài gốc nhôm, những máy mài quay đơn sơ nhưng làm được Sten sẽ có từ xe đạp, đương nhiên công đoạn bôi trơn bằng mỡ lợn thay thế mỡ bò khoáng cũng được phát triển. Những ê tô rất thô sơ và rẻ tiền với Tây, nhưng sẽ là máy uốn ra Sten được tìm kiếm trong khi chọn được nguyên liệu và cách làm khuôn cho chúng, bằng rèn, mài, dũa. Những người thợ rèn khéo sẽ cho bao cổ Sten, vỏ máy súng Sten mà không cần đến hàn, khi đất đèn bị cấm vận.
Loại máy công cụ đầu tiên cho Tula Việt Bắc của ông X chế tạo ở đất nước non trẻ là cái bễ lò rèn quay tay như thường thấy sau này ở các lò rèn chuyên chuốt liềm đầu làng, nó hiện đại hơn rất nhiều loại bễ đẩy cổ truyền đã quá lạc hậu, thứ "phụ tùng" đáng lo nhất cho máy công cụ này là dây cu roa, thì đã có lốp ô tô hỏng quân Pháp viện trợ, như viện trợ nguyên liệu làm dép bộ đội. Vòng bi của xe đạp xích lô, mà nếu không có vòng bi thì các lò rèn này dùng loại trục bạc không bi, bôi trơn bằng dầu vừng mỡ lợn, tuổi thọ 1 tháng nhưng mỗi tháng chúng tự làm ra cả chục bộ trục bạc cho chính chúng, cái cần chuẩn bị cho lâu dài là ê cu bu lông để bắt bộ trục bạc đó thì có tuổi thọ hàng chục năm. Mỗi máy cắt gọt nếu một mình chỉ cho ra 1 súng một ngày, thậm chí không đến, nhưng nếu có hàng trục hàng trăm lò rèn trợ lực, thì cho ra rất nhiều súng một ngày. Để tiết kiệm máy cắt gọt tối đa, thì lò rèn tự làm giũa, làm máy mài quay tay, làm đục, làm chầy cối dập để thợ thủ công tự "cắt gọt" những gì mà họ làm được.
Máy cắt gọt không cần nhiều, đây là cái sai lầm của chúng ta khi chuyển máy lên chiến khu, do thiếu người chỉ huy. Chỉ cần 5-10 máy cắt gọt là đủ, vì quá nữa thì chiến khu sẽ thiếu nguyên vật liệu, điện hay nhiên liệu cho chúng chạy. Tuy ít, nhưng phải cực hiệu quả, hiệu quả thể hiện cần thiết nhất là hai mặt, phải đồng bộ và có đủ khuôn gá-thứ mà sau khi lên chiến khu không làm được nữa. Sten chỉ cần một máy tiện cho "dây chuyền" tối thiểu, nhưng để làm súng hiệu quả cần một số máy khoan, chuốt có bộ gá thích hợp, thậm chí là các công đoạn làm gá sẽ thực hiện được khi thay đổi thiết kế súng. Không những không hề có bộ gá nào, mà máy cắt gọt của chúng ta trên Việt Bắc cũng không có động cơ. Trong khi đáng ra, cần bỏ vài kg vàng để mua vật liệu làm lưỡi cắt gọt.
Đây là đoạn mà ông X cùng các nhà tư bản yêu nước, công nhân cách mạng sẽ hết sức vất vả. Họ sẽ chọn trong hàng ngàn máy công cụ, hàng núi các bộ phận để chọn ra một nhóm rất nhỏ máy gia công hợp nhất. Nếu như còn lực, thì việc vận chuyển một số lượng lớn máy, phụ tùng và nguyên liệu không thừa. Công việc này vất vả và diễn ra trong khi đường sá đang bị phá hủy. Có thể hình dung các máy móc được chọn từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Hà Nội được mua và chuyển bằng ô tô, tầu hỏa và sau đó là thuyền đến Thái Nguyên, rồi từ đó, thậm chí là các xe xích sẽ kéo máy móc đi xa vào rừng núi. Thậm chí nữa là lại chuyền lần nữa xuống một vài đoạn thuyền nào nữa.
Có lẽ, loại thuốc súng sẽ được ông X chọn là loại Pour B của Tây cho Lebel. Thuốc súng không phải là thuốc nổ mạnh, chỉ cần cháy ổn định. Nhưng nếu thuốc súng cháy không ổn định lắm thì chỉ cần nòng to ra 0,5 kg là đủ, vì cái đoạn áp suất cao không dài, nhất là với các súng có cấu tạo bịt đáy nòng đơn giản như blow back hoặc lên cò tay. Pour B loại đơn sơ nhất làm bằng hòa tan bông thuốc súng vào aceton, cồn rồi cán, sấy, cắt thành miếng nhỏ. Cả cồn và aceton đều dễ kiếm. Nhưng nếu cần, thì đơn giản hơn nữa là dùng bông thuốc súng giặt kỹ, ngâm chất kiềm như vôi. Chúng ta không có máy giặt như Tây ư, thì ngâm một tháng trong nước vôi, đựng bằng chum sành, có sao đâu. 3 tấn thuốc làm được 1 triệu viên đạn, nhòe nhoẹt, chỉ cần độ 10 cái chum sành ngâm một tháng một năm như mắm cá, sao đâu. Loại xenlluloz được đánh giá là rất ổn định để dùng bông thuốc súng thô lại rất dễ kiếm ở ta, đã từng vì thế làm dân ta chết đói, đó là đay, hết sức nguyên chất chỉ bằng ngâm giặt như làm võng thủ công, có độ bền cao, cỡ kích thước thích hợp, không vụn quá cháy nhanh, dễ làm các máy cắt thô sơ. Bắc chước thằng Nhật độc ác thêm thầu dầu nữa thì có cordite, nhưng không cần. Những nguyên liệu khác là acide sunfuaric, nitoric được làm từ khoáng firit, phương pháp ozon... cũng đã được Trần Đại NGhĩa tiến hành, nhưng do thiếu chuẩn bị nên sản lượng không cao. Khi có chuẩn bị, thì chỉ cần một hec ta trồng đay, một lò chế acid nhỏ, một vài chục chum "mắm nổ" là đủ 3 tấn thuốc cho 1 triệu viên đạn. Châu Âu làm từ bông vải, nhỏ mịn cháy nhanh không tốt, gọi là "bông thuốc súng". Còn đay cao cấp sợi to không kém mấy viên thuốc Môsin M1930, sẽ được gọi là "xơ thuốc súng".
Một lượng tối thiểu nhưng không thể thiếu các phụ liệu khác, ví dụ, đất đèn, khi cần thỉ chỉ các lưỡi dao cắt gọt mới được dùng đến, nhưng cũng không thể tiết kiệm hơn. Hay một lô các đồng hồ đo điện, điện trở... cần thiết cho các máy móc phục vụ nghiên cứu, một số lượng khá máy ảnh, phim ảnh và một số hóa chất đặc biệt.... CHo đến bút vẽ, sách giáo khoa dạy nhau, giấy mực cho những trẻ em sẽ chế tương lai của AK Việt Nam... đều cần
Cao hơn cả những điều đó, là tổ chức một đường dây qua Thái Lan, Hồng Công... để bí mật chuyển những tài liệu khoa học về nước, và tổ chức các Việt Kiều trí thức đủ để sưu tầm tài liệu theo yêu cầu của Tula Việt Bắc. Mặt này Israel và Ấn Độ, Trung Quốc đặc biệt coi trọng, họ giầu tri thức hơn ta. Sau này, những đường dây như vậy còn chuyển cho các nước trên máy bay, tên lửa, hạt nhân và vệ tinh. Đây là bước đi lâu dài lớn lao với một Quốc Gia sơ sinh, nhưng chúng ta không có ai làm nổi lúc đó. Không những thế, những vậy liệu thiếu sót sẽ được bù đắp nếu cần, như vật liệu làm kim hỏa cho loại súng đặc biệt, hay hạt nổ, hay lưỡi cắt gọt. Sau 1954, chúng ta làm điều đó, nhưng với 9 năm đánh Tây đã quá muộn.
|