http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/Trien%20lam%20vu%20khi%20tho%20so%20va%20tu%20tao/tn_IMG_2262.jpgẢnh trên có ghi Du kích Nam Bộ chuẩn bị
thủy lôi tự chế ?? Trông quả thủy lôi đó chắc là tự chế ở Mỹ hay Nhật quá. Du kích Nam Bộ có đến cỡ cả chục lần đánh tầu to bằng thủy lôi và súng không giật các loại, có lẽ cần mở chuyên đề "những trận đánh tầu trong Kháng Chiến 9 năm" nhỉ. Đánh bộ thì có thể dùng tinh thần mưu lược, chứ đánh thủy thì phải vũ khí cao hơn tinh thần rồi.
Cũng ghi "giám đốc Nha nghiên cứu Cục Quân Giới".Trần Đại Nghĩa được Bác Hồ phong Cục Trưởng ngay lần đầu tiên tháng 10 năm 1946, trước khi chiến tranh xảy ra.Bà con xem ông lên xuống thế nào mà lại thành nhân viên dưới quyền của mình thế nhỉ ??
Có lẽ, lựu đạn là thứ vũ khí nóng hiệu quả nhất, dễ chế tạo nhất và được Quân Giới chế tạo đầu tiên,chỉ sau khi chế tạo các vũ khí nguội như mã tấu mà thôi.
Tuy rất nhiều nơi chế tạo lựu đạn, nhưng do thiếu hiểu biết kỹ thuật, nên khả năng chiến đấu của các loại lựu đạn thời gian đầu rất dở. Nếu lựu đạn ta mà không dở, thì Đác đã không còn mảnh giáp mà về với tu viện của hắn. Tất nhiên là quả lựu đạn không nổ đó làm Đác tởn đời, ném mịe nó quần áo nhà binh đi, trở về khoác aó thầy tu, nhưng cũng quá đáng tiếc.
Loại lựu đạn được du kích và Quân Giới các nơi chế tạo nhiều nhất đều theo mẫu chung, vỏ đúc gang xám, chuôi gỗ,có dây cháy chậm trong chuôi, điểm hỏa bằng nụ xòe giật nổ hoặc đập nổ. Toàn bộ các vậy liệu đều dễ kiếm.
Gang xám là loại gang cổ truyền từ thượng cổ, đúc rất ăn khuôn, được nấu ở nhiệt độ thấp nhất trong các loại hợp kim sắt, chỉ 1200 độ.Lò nấu rất đơn giản, là loại lò cao mini, với một lò có kích thước trong 30cm, cao 2 mét, thì cần công suất quạt tối đa chỉ vài kw, thực hiện công suất quạt tối đa chỉ cần trong giai đoạn cuối, còn trước đó lò tự cháy bằng hiệu ứng ống khói cao 3-4 mét. Loại quạt lò đủ công suất đó rất nhiều trong các lò rèn công nghiệp và nhiều người thợ đã được dùng, được sửa và thậm chí được chế tạo bằng các loại vòng bi phổ biến của xích lô, xe đạp. Loại lò đó mỗi ngày nấu được một mẻ, thân lò chuẩn bị mấy ngày mới xong nhưng có vài thân lò thay thế. Nồi lò thì ít cần thay thế. Thân lò bằng tôn thùng phuy cuốn, cho đến lò gang đúc chảo 198x ở sân trường Nguyễn Trãi Ba Đình Hà Nội cũng vẫn thế (nhưng to hơn vì có quạt điện). Sau mỗi lần nấu, thân lò được đắp lại bằng cát, sử dụng loại xi măng là xỉ lò giã vụn, trộn thêm xỉ lò thô để cách nhiệt. Nồi lò là cái chảo gang dầy, có cán để lật nghiêng đổ gang lỏng ra. Mỗi lò thủ công như thế mỗi mẻ cho ra cỡ 30 kg gang, đủ dùng cho 100 quả lựu đạn.Nếu có động cơ như động cơ nổ ô tô, động cơ hơi nước máy lu đường... có công suất đến 10kw thì làm được loại lò đường kính trong đến 40-50 phân, mỗi ngày cho ra cả tạ gang. Nguyên liệu ngoài sắt vụn chỉ cần than đá gầy là loại gang ta sẵn nhất. Phản ứng tạo xỉ khử rất đơn giản, tùy theo kinh nghiệm người thợ, xỉ axít là cát trắng (hay dùng nhất), xỉ kiềm là vôi bột. Bột tạo xỉ được đổ lên mặt cốc đựng gang nóng chảy trước khi đổ khuôn. Mỗi lò như thế nếu có động cơ chỉ cần 5-6 thợ làm việc không vất vả lắm. Dễ dàng tưởng tượng ra một động cơ đơn giản nhất làm bằng xích của độ 10 cái xế lô, nhưng ở các lò thủ công không được như thế, mà dùng bễ đẩy cổ truyền khá tốn nhân lực. Để gia công tinh vỏ gang chỉ cần dao để cạo, thêm chút giũa mài thì siêu đẹp.
Cũng dễ dàng kiếm được loại gỗ tốt, nhẹ, không thấm nước, không mối mọt, như gỗ thông khô (gỗ thông nhựa đẵn cây xuống để khô mới xẻ,không ngâm). Để gia công gỗ này thì khỏi bàn. CHỉ cần tiện tròn và khoan lỗ. Không có máy tiện thì gọt tròn. Khoan thủ công tối thiểu là mỗi cái dùi nung đỏ, muốn đẹp thì dùng loại khoan quay tay có hình gấp khúc chế tạo từ một thanh sắt 6mm.
Keo dán là hắc ín, nếu có dầu thông, cánh kiến, cồn... làm keo cánh kiến (vec ni) thì quá mỹ mãn, vừa đẹp vừa chắc lại vừa bền. Nhưng có lẽ trong kháng chiến keo cánh kiến khá hiếm nên chỉ dùng để dán hạt nổ và đầu đạn.
Kíp hai đầu dễ kiếm. Có thể tự chế bằng thuốc nổ đen. Nhưng Quân Giới cũng không thiếu kíp xịn vì đó là hàng công nghiệp dễ kiếm ở các vùng mỏ. Thật ra,kíp xịn cũng là thuốc nổ đen nên kíp tự chế không khác gì kíp xịn cả.Kíp tự chế cũng y như kíp xịn, là một ống đồng mỏng, có điều đồng không dập công nghiệp mà cuốn lại hàn thiếc, chỉ việc đổ đầy thuốc pháo là xong.
Kíp giật nổ là thuốc pháo ném,pháo giật, là loại cát silic trộn thuốc nổ đen.
Dây cháy chậm công nghiệp không thiếu, nhưng nếu muốn chế tạo lấy cũng không khó, đặc biệt là với lựu đạn có kích thước nhỏ cố định. Loại dây cháy chậm tin cậy nhất có lẽ là lỗ khoan trong một thanh gỗ dài, có kích thước chính xác, dùng loại thuốc cháy chậm được cân đo đong đếm chính xác, thành phần cũng như Tây, thuốc nổ đen gia thêm bột carbon.
Mọi thứ đều dễ, nhưng do thiếu hiểu biết về quân sự, kỹ thuật, nên trước khi Trần Đại Nghĩa chế tạo ra "phương thức quản lý chất lượng Ai Giô 47" thì lựu đạn tệ hại. Mỗi người thợ có lẽ chỉ cần biết lựu đạn nổ là đạt yêu cầu. Thế nhưng ngay cả yêu cầu tối thiểu đó cũng không đáp ứng được. Rất nhiều lựu đạn không nổ, nổ quá chậm thậm chí nổ quá nhanh. Từ thành phần thuốc, cách bóp đầu kíp đều phải tiêu chuẩn hóa.
Sau khi lựu đạn đã nổ thì đến vấn đề sát thương mà bộ đội và thợ không thể tính được, nhiều quả lựu đạn trước đó nổ chỉ vỡ văng 2-3 mảnh. Trần Đại Nghĩa đã tổ chức một bãi thử rất châu Âu. Lựu đạn được treo ở giữa, xung quanh là các cọc gỗ đóng ghép thành các bia có tầm hướng khác nhau.Từ đó đánh giá được số mảnh, độ dày đặc, kích thước mảnh và sức sát thương mỗi mảnh. Từ đó hiệu chỉnh lại độ dầy vỏ gang và lượng thuốc nhổi, kích thước cổ.
Trần Đại Nghĩa cũng đưa ra chế độ kiểm tra ngẫu nhiên, từ lô sản xuất không còn xếp bừa bãi lẫn lộn nữa, mà đánh số lưu kho nghiêm chỉnh đâu ra đấy, ghi chép đàng hoàng, mỗi lô được lấy ngẫu nhiên nổ thử để đánh giá chất lượng.
Bộ Đội ban đầu rất ớn lựu đạn Quân Giới, vì quân ta giết quân mình khá nhiều, nhưng không có phải dùng mà thôi. Mỗi lần về lấy lựu đạn, các đơn vị kêu ca rất nhiều. Cho đến cả khi lựu đạn đã tốt thì các đơn vị cũng không tin lắm. Từ năm 1949, các đơn vị về lấy lựu đạn được hưởng chế độ "quảng cáo tiếp thị miễn phí". Ngoài rau xanh chè tươi mà người sống cố định đương nhiên sẵn hơn dân du mục, thì đại diện các đơn vị được chứng kiến nổ thử lô lựu đạn của họ chọn theo ngẫu nhiên, nổ thử ngay trên bãi thử "tiêu chuẩn châu Âu", rồi mảnh lựu đạn được tìm kiếm, móc ra, đo đếm sức sát thương... Vì vậy, từ cảm giác ớn lạnh mỗi khi cầm quả lựu đạn quân giới, bộ đội chuyển sang hoàn toàn tin tưởng.
Trần Đại Nghĩa không phát minh gì nhiều trong lựu đạn, ông chỉ tiêu chuẩn hóa các kỹ thuật mà thợ thuyền và bộ đội đề nghị. Điểm này chứng minh sự cần thiết của một Vị Giám Đốc Quân Giới tài năng, được học hành chu đáo và đã từng làm việc công nghiệp trong các hãng danh tiếng. Việc quản lý mới là phát minh lớn nhất, cần thiết nhất với Quân Giới Cách Mạng mang nhiều tính tự phát. Đáng tiếc là ngoài Trần Đại Nghĩa, Lê Tâm và một kỹ thuật viên ở Thái Bình, chúng ta quá ít những người như thế. (à, mà hỏi CS mãi, cái ông ở Thái Bình nấu ăng ti moan tên gì nhỉ ??)
Có lẽ, "phát minh" lớn nhất của Trần Đại Nghĩa về lựu đạn là loại kíp đập nổ. Nhờ loại kíp này, bộ đội chỉ cần một tay, trong khi đó việc cắn chốt loại ta chế khá... gây ra nhiều xấu giai. Không phải lúc nào cũng đập nổ được nên bộ đội dùng song song giật nổ và đập nổ. Đó không phải là phát minh to tát gì, và ông cũng chả bao giờ nhắc đến. Kể cả các phát minh lớn nhất của đời mình, cho đến lúc chết ông cũng chả nhắc đến, hoặc nhắc đến một cách cợt nhả ù mờ.
Điều này ngược hoàn toàn với một con bệnh trong Quân Giới in sách vỗ ngực khoe "niềm tự hào của khối xã hội chủ nghĩa". Mình đáng làm bản án vạch tội hắn đây.