Chương trình hạt nhân của Triều Tiên
Chương trình bắt đầu thực hiện từ đầu những năm 1950, khi những nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực hạt nhân được bắt đầu, các cơ sở hạ tầng được xây dựng, các cán bộ khoa học kỹ thuật bắt đầu được đào tạo.
Trong giai đoạn 1947-1950, Liên Xô đã tiến hành loạt các công việc khảo sát địa chất về quặng uranium ở Bắc Triều Tiên và đã phát hiện rằng ở Triều Tiên có gần 26 triệu tấn trữ lượng urnium, trong số chúng, khoảng 4 triệu tấn có ích đối với chế tạo công nghiệp.
Năm 1956, đã ký hiệp định với Liên Xô về sự tham gia của Triều Tiên trong công việc của trung tâm nghiên cứu – khoa học quốc tế ở Dubna (hiện nay là Viện liên hiệp nghiên cứu hạt nhân – OIYAI). Mùng 10 tháng 8 năm 1957 đã ký Hiệp định giữa chính phủ hai nước về các điều kiện công tác cho các chuyên gia Liên Xô ở Triều Tiên và chuyên gia Triều Tiên ở Liên Xô nhằm thể hiện sự giúp đỡ về kỹ thuật cùng những sự giúp đỡ khác. Tháng 5 năm 1959, Liên Xô và Triều Tiên đã ký Hiệp định về sự giúp đỡ kỹ thuật của Liên Xô cho Triều Tiên sử dụng năng lượng hạt nhân trong mục đích hòa bình và Hiệp định về đồng ý sự giúp đỡ của Liên Xô cho Triều Tiên trong việc phát triển các công việc nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực vật lý hạt nhân và trong việc sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục đích dân sự.
Năm 1964, với sự giúp đỡ của Liên Xô đã thành lập trung tâm nghiên cứu khoa học ở Yongbyon, nơi đoàn công tác trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân nhanh chóng tiến hành các nghiên cứu ứng dụng quân sự. Năm 1956, ở Yongbyon đã đưa vào hoạt động lò phản ứng nghiên cứu của Liên Xô IRT-2000 công suất 2 megawat. Từ năm 1985, ở Yongbyon đã bắt đầu xây dựng thêm một lò phản ứng hạt nhân nữa, công suất của lò này – 50 megawat. Đồng thời, cũng triển khai xây dựng lò phản ứng công suất 200 megawat ở khu vực Thonchhon. Toàn bộ các lò phản ứng này, theo đánh giá của các chuyên gia, có hai chức năng: để xử lý năng lượng điện và nhận plutoni chế tạo vũ khí. Đối với chương trình hạt nhân, Triều Tiên đã cọn việc tách vật liệu plutoni cơ sở.
Tháng 12 năm 1985, Triều Tiên đã tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (DNYaO – NPT).
Năm 1986, Mỹ đã phát hiện ở khu vực Yongbyan thêm một lò phản ứng hạt nhân và thiết bị sản xuất nhiên liệu đối với nó không nằm dưới sự kiểm soát của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (MAGATE – IAEA). Phía Triều Tiên khẳng định rằng lò phản ứng này không mới, trước đó là lò phản ứng của Liên Xô, công suất khoảng 5 megawatt. Từ thời điểm đó đã bắt đầu cuộc đấu tranh chính trị quyết liệt giữa một bên là Bình Nhưỡng và bên còn lại – Cộng đồng quốc tế. IAEA, Liên hợp quốc đã yêu cầu Triều Tiên thực hiện trách nhiệm của mình theo NPT, ký hiệp ước kiểm soát với cơ quan quốc tế.
Triều Tiên trong tình trạng này đã chọn chiến thuật “đối thoại đa phương” (nhiều tầng, lớp): Triều Tiên – Mỹ, Triều Tiên – Hàn Quốc, Triều Tiên – IAEA để hy vọng tìm ra lối thoát tháo gỡ căng thẳng. Tháng 11 năm 1989, Bộ ngoại giao Triều Tiên đã đưa ra tuyên bố mà trong đó đề nghị tiến hành các cuộc đàm phán với sự tham gia của Triều Tiên, Mỹ và Hàn Quốc về rút vũ khí hạt nhân của Mỹ khỏi Hàn Quốc, đồng thời các cuộc đàm phán Bình Nhưỡng – Soeul với mục tiêu nghiên cứu và ký tuyên bố phi hạt nhân bán đảo Triều Tiên.
Tháng 1 năm 1992, Triều Tiên đã ký hiệp ước bảo đảm với IAEA mà theo đó, cơ quan quốc tế sẽ thanh tra (giám sát) các công trình hạt nhân của Triều Tiên. Trong gian đoạn 1992-1993, các cuộc thanh tra các công trình hạt nhân của Triều Tiên đã xuất hiện sự mâu thuẫn (sai khác) lớn giữa cái tài liệu được Triều Tiên đưa ra so với các kết quả mà chuyên gia cơ quan quốc tế nhận được. Theo tính toán từ các cuộc thanh tra của IAEA, Triều Tiên đã tái chế số lượng lớn uranium và bí mật tách plutoni số lượng lớn.
Ngày 12 tháng 3 năm 1993, Triều Tiên đã tuyên bố chính thức rút khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, với lý do xuất hiện “mối de dọa hạt nhân” từ phía Mỹ và “các yêu cầu bất công trong các vòng đàm phán với IAEA”.
Ngày 11 tháng 6 năm 1993, Triều Tiên để đổi lấy cam kết của Mỹ không can thiệp vào các công việc nội bộ nước này và không đe dọa sử dụng vũ lực đã tuyên bố “dừng” việc xem xét quyết định rút khỏi NPT.
Ngày 21 tháng 10 năm 1994, Hiệp định khung giữa Triều Tiên và Mỹ về giải quyết vấn đề hạt nhân và giải quyết quan hệ song phương đã được công bố. Hiệp định, cụ thể, buộc Mỹ công nhận các biện pháo của Triều Tiên xây dựng hệ thống năng lượng hạt nhân trên 2 lò phản ứng nước nhẹ tổng công suất 2 triệu kilowatt, đồng thời – tới trước thời điểm xây xong lò phản ứng thứ nhất vào năm 2003 – sẽ bảm đảm cung cấp cho Triều Tiên 500 000 tấn nhiên liệu lỏng trong một năm để bù đắp thiếu hụt năng lượng. Đối với Triều Tiên – là sự cam kết dừng (đóng băng) và tháo dỡ lò phản ứng khí – than chì (газографитный реактор) đang có. Ngoài ra, Hiệp định đã đảm bảo Triều Tiên là thành viên của NPT.
Ngày 12 tháng 12 năm 2002, Triều Tiên đã tuyên bố khôi phục lại chương trình hạt nhân của mình – đã đóng băng theo Hiệp định khung ký năm 1994 giữa Triều Tiên và Mỹ.
Mùng 10 tháng 1 năm 2003, Triều Tiên đã thông báo với đại diện Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước trong Hiệp ước NPT về quyết định tiếp tục các thủ tục rút khỏi Hiệp ước đã được Triều Tiên tiếp nhận vào 11 tháng 6 năm 1993. Nguyên nhân – cần phải bảo vệ lợi ích quốc gia tối cao trong điều kiện “tăng cường chính sách và áp lực thù địch” từ phía Mỹ. Triều Tiên đã tuyên bố rằng từ 11 tháng 1 năm 2003, họ chính thức không có tranh nhiệm (ràng buộc, cam kết) với Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân và đồng thời, theo các hiệp ước với IAEA.
Tháng 8 năm 2003 đã bắt đầu các cuộc đàm phán 6 bên về phi hạt nhân bán đảo Triều Tiên. Trong đó có sự tham gia của các chính khách cao cấp của Nga, Triều Tiên, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản. Kết quả các cuộc đàm phán là Triều Tiên không chỉ “đóng băng” chương trình hạt nhân của mình mà còn bắt đầu tháo dỡ các lò phản ứng ở trung tâm thí nghiệm tại Yongbyan. Tuy nhiên cuộc đối thoại từ năm 2008 thực tế đã đi vào ngõ cụt sau khi Mỹ và Triều Tiên không đạt được thỏa thuận về các khả năng thanh tra danh sách các chương trình hạt nhân mà Bình Nhưỡng đưa ra. Còn Nhật Bản và Hàn Quốc từ chối thực hiện cam kết cung cấp nhiên liệu cho Triều Tiên đối với các nhà máy điện thường để thay thế cho chương trình hạt nhân.
Mùng 10 tháng 2 năm 2005, Triều Tiên lần đầu tiên thừa nhận bắt đầu chế tạo vũ khí hạt nhân riêng. Theo thông tin của Bộ ngoại giao Triều Tiên, vũ khí hạt nhân của nước này là “hoàn toàn phòng thủ” và sẽ trở thành “lực lượng kiềm chế hạt nhân”.