TRIEU XUAN HOAN
Thành viên

Bài viết: 14
|
 |
« Trả lời #32 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2009, 02:17:46 am » |
|
Chào hatuyenha. Nói đến Đoàn 125 Hải quân (Đoàn tàu không số), những người mở đường Hồ Chí Minh trên biển, vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam từ những năm 1962 đến trước ngày 30/4/1975, có rất nhiều câu chuyện về những gương hy sinh thầm lặng để đảm bảo bí mật tuyến đường vận tải trên biển của các thế hệ đàn Anh đi trước, những chuyến tàu cập bến thành công tận vùng cực Nam Nam bộ, Nam Trung bộ và Khu 5, những lần gặp tàu chiến và máy bay Mỹ theo sát vài ba ngày giữa biển khơi mênh mông, những trận đụng độ phải đánh lạc hướng địch và có chuyến phải hủy tàu, hủy hàng... Nếu có dịp bọn mình sẽ mô tả lại trong diễn đàn, thông qua những nhân chứng lịch sử trong Ban liên lạc Hội truyền thống Đoàn tàu không số. Lính 1972 bọn mình chỉ được tham gia những chiến dịch vận chuyển giai đoạn 1973 đến chiến dịch Tổng tấn công mùa xuân 1975, đặc biệt là những chuyến tàu con thoi chở hàng, chở bộ đội lúc bắt đầu chiến dịch. Từ 10/4/1975, chở bộ đội đặc công Đoàn 126 Hải quân và tiểu đoàn 471 đặc công Quân khu 5 giải phóng một số đảo thuộc quần đảo Trường sa, đảo Phú Quý (Cù Lao Thu)... Và một kỷ niệm khó quên trong đời lính của mình là được trong đội hình hành quân cùng các tàu chiến đấu của Đoàn 171 (02 chiếc) loại T100, tàu phóng lôi của Đoàn 172 và lực lượng bộ đội đặc công Hải quân (đội 1) của Đoàn 126, phối hợp với một bộ phận lực lượng của Sư đoàn 3 bộ binh (Quân khu 5) tiến ra giải phóng Côn Đảo, giải thoát cho tù chính trị, những chiến sỹ cách mạng bị địch giam giữ, tù đầy. Trong bài trước mình đã đề cập, là khi tới Côn Đảo thì được tin các chiến sỹ cách mạng đã nổi dậy giải phóng đảo, trước khi lực lượng Hải quân của ta đến, cụ thể là: Sau khi Dương Văn Minh Tổng thống chính quyền VNCH tuyên bố đầu hàng không điều kiện và Thành phố Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng từ trưa ngày 30/4/1975, buổi tối ngày 30/4, hầu hết bọn chúa đảo, sỹ quan chỉ huy và số cai ngục đầu sỏ cùng gia đình đã xuống tàu chạy trốn ra tàu khu trục của Mỹ đậu ở ngoài khơi. Các chiến sỹ cách mạng của ta đã giác ngộ được một số binh lính, cai ngục tiến bộ, đặc biệt là vai trò của một linh mục (nghe nói như là cơ sở của ta), sáng sớm ngày 1/5 1975 đã mở cửa phòng giam, để các chiến sỹ tù chính trị của ta lần lượt đến phá các cửa ngục khác, giải phóng hàng ngàn tù chính trị được tự do, trong khi đó bọn chúa đảo trước khi rút chạy còn chỉ đạo bọn ở lại thực hiện việc tàn sát các chiến sỹ ta bằng việc mỗi phòng giam thả 3 trái lựu đạn, song chúng đã không thực hiện được. Còn nói đến những cảm xúc, những niềm vui sướng của các chiến sỹ bị tù đầy khi được gặp các chiến sỹ Hải quân của ta thì không thể tả xiết, ngay trong ngày đầu tiên trong bộn bề công việc, vừa phải ổn định tình hình trật tự trị an, truy bắt bọn tàn binh còn lẩn trốn chưa chịu ra trình diện và xây dựng chính quyền cách mạng trên đảo, các chiến sỹ tù chính trị đã biểu dương lực lượng bằng hình thưc xếp hàng thành các đoàn theo biên chế từng trại, giương cao cờ, biểu ngữ đi diễu hành trên các trục đường cạnh bến cảng, khu trung tâm hành chính và hô vang các khẩu hiệu chào mừng ngày giải phóng hoàn toàn miền nam, chào mừng các chiến sỹ Quân đội NDVN ra giải phóng Côn Đảo. và xuống tàu thăm hỏi các chiến sỹ Hải quân. Các bà, các chị không nén nổi những giọt nước mắt và ôm chầm lấy chúng tôi, làm bọn mình cũng không nén được xúc động, nhưng đó là những giọt nước mắt "dành cho ngày gặp mặt". Tàu của Đoàn 125 được nhận nhiệm vụ chở toàn bộ số tù chính trị trở về đất liền, chuyến đầu tiên, được gọi là "Chiến thắng I" chở những người sức khỏe yếu nhất về đất liền trước, khởi hành từ ngày 05/5/1975, sau 10 tiếng đồng hồ tàu cập bến Ô Cấp Vũng Tàu, ngày 10/5 chuyến tàu "chiến thắng II" chở các chiến sỹ tù chính trị Côn Đảo cập bến Bạch Đằng thành phố HCM. Thật tình cờ, trong số các chị có chị Lê Thị Tâm (tên hoạt động của chị thường gọi là chị mười Đào), quê chị ở thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, trong lúc nói chuyện, hỏi và biết chị quê ở Phú Yên, mình nói luôn: "đó là tỉnh kết nghĩa với tỉnh Hải Dương quê em ngoài miền Bắc" (những năm chiến tranh chống Mỹ, có phong trào mỗi tỉnh ngoài Bắc kết nghĩa với một tỉnh ở miền nam, để thi đua sản xuất, chiến đấu...và chi viện sức người, sức của cho chiến trường đánh Mỹ, ví dụ TP Hải Phòng kết nghĩa với TP Đà Nẵng; Hà Nội- Huế-Sài Gòn; Hải Dương-Phú Yên...) nghe tới đó chị tất tưởi về trại, mang đến cho tôi 2 chiếc khăn đan len và nói: "Em mang về tặng mẹ chiếc này (chiếc khăn chéo), còn chiếc này tặng người yêu (chiếc khăn dài). Lúc đó Mình thật sự bối rối, không giám nhận, Chị ôn tồn nói: "Em về nói với mẹ là có người con Phú Yên gởi tặng mẹ chiếc khăn này vì ngoài Bắc lạnh lắm phải không em", không giám từ chối, mình nhận món quà bất ngờ và sâu nặng nghĩa tình này, khi ra miền bắc và trở về quê đã trao tận tay mẹ, chiếc còn lại sau này đúng lời chị dặn, mình đã trao cho vợ. Lại nói tiếp, sau khi nhận món quà của chị, mình không biết phải làm gì ? trong lúc mang các thứ có sẵn trong phòng ở của thủy thủ trên tàu (Sữa ông Thọ, kẹo bánh và cả luơng khô) để mời chị uống nước, mình chợt nhớ ra là phải có một vật gì kỷ niệm cho chị, sẵn có cuốn sổ công tác của đơn vị phát cho còn mới chưa viết gì, mình đề vội dòng địa chỉ Hòm thư và địa chỉ ở quê Hải Dương đưa tặng chị, và thật không ngờ chị đã giữ cuốn sổ qua mấy chục năm, mỗi lần có dịp ra miền Bắc, Chị lại đem địa chỉ và Hòm thư ra hỏi tìm mình, nhưng đều không thấy. Mãi lần gần đây nhất, năm 2005, nhân kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền nam thống nhất đất nước, chị cùng đoàn cán bộ lão thành và cán bộ tù chính trị côn đảo của thành phố Hồ Chí Minh ra tham quan miền Bắc, lúc đoàn sắp hết thời gian, chị có nói với một người cháu: chuyến ra miền Bắc lần này, có hai nhiệm vụ: - Một là, tham quan theo chương trình của Đoàn; - Hai là, có một việc phải cố tìm cho được người mang tên, địa chỉ này (chính là mình). Vì năm đó (2005) chị đã 78 tuổi, rất khó có dịp đi xa ra miền Bắc trở lại. Người cháu là con của em gái chị, công tác tại Báo Sức khỏe và đời sống, đã lặn lội theo dòng địa chỉ về tận quê hương mình ở HD, sau khi người thân ở quê cho số điện thoại, cháu từ Hà Nội đã điện thoại cho mình, và như có dòng điện sinh học tích tụ từ lâu về sự khao khát gặp lại, ngay từ câu hỏi đầu tiên phía đầu dây bên kia, hỏi về họ, tên, địa chỉ quê quán, số hòm thư trong quân đội, không hiểu sao mình đã nghi ngờ và đoán rằng đây là thông tin về Chị, cũng cách đó mấy hôm, tại cơ quan khi sinh hoạt CCB nhân kỷ niệm 30 năm để ôn lại những kỷ niệm tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chính mình vừa kể với mọi người kỷ niệm trong chuyến ra Côn Đảo chở tù chính trị về đất liền có gặp một người chị kết nghĩa như thế, thì hôm nay chị ra Hà Nội và đang đi tìm mình ? Vậy là, sau bao lần tìm kiếm cuối cùng ông Trời cũng cho chị em gặp lại nhau, chị nói ra Bắc lần này trước khi đi, chị có thắp hương kêu khấn với Bác Hồ, và ước vọng đã được toại nguyện, chị ở lại chơi cùng gia đình tôi, trong khi Đoàn tham quan thì quay trở về miền Nam. Trong lần gặp này chị vẫn mang cuốn sổ theo bên người, chị giữ gìn thật cẩn thận, trông như còn mới nguyên, những trang giấy bên trong cuốn sổ chị ghi chép những kỷ niệm từ lúc gặp mình tại Côn Đảo, và những lần ra miền Bắc, những năm chị đi học tại trường Đảng Nguyễn Ái Quốc... Từ khi gặp lại nhau sau 30 năm, chị, em thường xuyên trao đổi thông tin để thăm hỏi, năm 2007, trong chuyến đi công tác tại thành phố HCM, mình đã được gặp lại chị, sức khỏe chị dạo này có yếu đi, do ảnh hưởng của những năm bị tù đầy và do chứng cao huyết áp. Chị là Lê Thị Tâm, quê chị ở thị trấn Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, tham gia cách mạng từ năm 1946, 60 năm tuổi Đảng, lúc hoạt động cách mạng ở Ban Binh vận R, sau đó vào nội thành Sài gòn hoạt động trong đội biệt động thành, chị bị bắt và bị đầy ra Côn Đảo từ năm 1966, năm 1975 sau giải phóng, chị trở lại công tác Đảng tại Quận ủy Phú Nhuận, đến lúc về nghỉ hưu. Hiện nay chị ở tại số 592/1 Đường Nguyễn Kiệm, Phường 4, Quận Phú Nhuận, thành phố HCM.
|