Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:22:13 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lời thú nhận muộn mằn  (Đọc 43823 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #10 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:04:59 pm »


IV
YÊN CHÂU VÀ BẢN THÌN TRÊN CON ĐƯỜNG THUỘC ĐỊA SỐ 41


Ngày 7 tháng hai, công việc gay go hơn. Chúng tôi phải tấn công Yên Châu nằm trên con đường thuộc địa số 41, tại đó quân Việt với một tiểu đoàn đầy đủ đã bố trí trên nhiều ngọn núi bao bọc lấy ngôi làng. Sau một buổi sáng làm việc với các trinh sát viên, chúng tôi nắm được tình hình vị trí quân địch. Kế hoạch của chúng tôi được chuẩn bị tỉ mỉ. Cần phải giành thắng lợi với tổn thất tối thiểu.

Sau một cuộc hành quân ban đêm, sử dụng một con đường mòn được mở ra bằng dao phát rừng, chúng tôi tới những điểm cao ở phía bắc, đứng trên đầu tất cả những vị trí do quân đối phương chiếm giữ. Tảng sáng, chúng tôi dùng ống nhòm quan sát. Việc nghiên cứu của chúng tôi là đáng giá. Chúng tôi chơi con bài mà sau này quân Việt cũng sẽ chơi ở Điện Biên Phủ: chiếm lĩnh điểm cao và tấn công. Tất nhiên, lần này là ở một cấp độ khác.

Các khẩu cối 81 của chúng tôi ở trên các điểm cao nhìn thấy mục tiêu rõ mồn một. Một trung đội được để lại trong thung lũng phát triển từ phía tây, lợi dụng con đường thuộc địa số 41. Nhiệm vụ là kìm chân quân Việt, nổ súng lúc 8 giờ. Lại một lần nữa, mọi việc diễn ra như dự kiến: Bruillot ở phía dưới thung lũng, được ngụy trang ở khoảng cách hợp lý, sử dụng hết cỡ các hoả lực, làm cho đối phương tin là một trận tấn công tổng lực đến từ con đường thuộc địa số 41, trong lúc đó chúng tôi từ chính bắc vừa tràn xuống, vừa hò hét, được các khẩu súng cối yểm trợ.

Những trận đánh ác liệt kéo dài từ 8 giờ đến 17 giờ. Chúng tôi phải xung phong đánh chiếm năm ngọn núi. Bản tổng kết tốt, gần trăm quân Việt chết tại trận, thu được nhiều vũ khí, tài liệu. Về phía chúng tôi, tiếc thay mấy chục thương vong phải chuyển về Sơn La bằng những cáng thương đi bộ... Thượng sĩ Bruillot là một trong những tác giả chủ yếu của thắng lợi này. Mũ trên đầu và chiếc quần dài bị đạn xuyên thủng, không có chuyện gì có thể ghìm cậu ta lại, một mình cậu ta dùng tiểu liên và lựu đạn không ngơi tay.

Một tuần lễ sau, chúng tôi chuẩn bị bước nhẩy mới. Đó là việc đánh chiếm bản Thìn, nằm cách Yên Châu mười kilômét về phía đông. Hai ngọn núi ôm lấy dải thung lũng và con đường thuộc địa nổi danh do quân Việt chiếm giữ. Vẫn là một cách đánh gần như giống nhau: đánh lạc hướng và tấn công từ những điểm cao. Hai đại đội quân Việt bị đánh bật ra khỏi vị trí sau khi đã thiệt hại nặng.

Giờ đây phải bình tĩnh lại một chút. Bruillot, bố trí trên những điểm cao, ở những vị trí cũ của quân Việt. Guilleminot và Duteuil, cùng sở chỉ huy của tôi, chúng tôi xây dựng một điểm tựa ở phía dưới, nằm bên dòng sông trong vắt, ở cách xa ngôi làng vài trăm mét.

Trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ, nhờ có dân địa phương giúp sức, một cái lán nhỏ bằng tre được dựng lên. Hệ thống phòng thủ của chúng tôi được xác định: các vị trí chiến đấu, kế hoạch hỏa lực, chuông báo động trên các đường mòn, tập luyện báo động, các trinh sát phải đi về thăm dò tình hình. Chúng tôi lợi dụng việc này để huấn luyện lại một chút, bổ sung các tổn thất bằng việc tăng viện một số dân binh.

Đánh chiếm Văn Yên:

Ngày 8 tháng năm, Văn Yên rơi vào tay chúng tôi. Thật bất ngờ! Văn Yên nằm ở một đoạn khuỷu sông, trên một mỏm đồi bao quát cả khúc sông đã bị phá huỷ hoàn toàn, chỉ còn lại nền móng ngôi nhà cũ của viên tri châu.

Ở cách Sơn La một trăm hai mươi kilômét, giữa vùng đất của quân Việt, cuộc sống tuyệt vời với “những người con của vùng Viễn Đông”. Tôi thấy thoải mái, đơn vị của tôi được rà trơn kỹ lưỡng với chiến tranh du kích, thật có ấn tượng. Chúng tôi là những con thú hoang dã đích thực, thân hình gầy gò, cơ bắp nổi rõ, có phản xạ cực nhanh, có đôi chân sắt và một sức bền không bao giờ cạn kiệt. Chúng tôi là người thợ săn, săn quân Việt.

Từ mấy ngày nay tôi đã không báo cáo với cấp trên và họ bắt đầu lo lắng. Tôi chờ đợi để nói: “Văn Yên đã chiếm được!”. Kể lại với họ một cách chi tiết những khó khăn của chúng tôi mà làm gì? Kể từ ngày tôi rời khỏi Sơn La, không một người lãnh đạo nào tới nắm tình hình và hỏi han vì sao lại có mặt ở giữa bầy sói ấy? Điều đó đòi hỏi tôi phải suy xét và tập làm quen với ý nghĩ này.

Với việc chiếm được Văn Yên và Mộc Châu ở phía nam con đường thuộc địa số 41, con đường này bị đánh chiếm bởi binh đoàn của Vanuxem, lúc này đã nổi tiếng, tôi nghĩ rằng xứ Thái đen đã gần như được giải phóng hoàn toàn. Vanuxem về sau này sẽ trở thành một trong những “vị soái” của tướng De Lattre và rồi người ta còn nhắc đến ông ấy ở Algérie. Cũng vì vậy tôi quyết định đặt sở chỉ huy của tôi ở Văn Yên trong vài tháng.

Các trung đội của tôi sẽ phân tán theo hướng bắc và chiếm giữ thung lũng kể từ suối Tóc cho đến Quế Lãng, cách Văn Yên ba mươi kilômét về phía bắc. Liên lạc bằng vô tuyến với các trung đội độc lập của tôi, được bố trí trong các đồn bốt có tổ chức vững chắc. Việc thu thập tình báo được đẩy mạnh đến mức tối đa, tôi sẽ tập hợp lại quân số cần thiết để mở các trận tập kích, phục kích cách xa căn cứ v.v... Việc thâm nhập của chúng tôi tỏ ra là cần thiết để giải quyết tốt việc bình định trong cái thung lũng được bố trí phòng thủ đối mặt với kẻ địch.

Chúng tôi đã sửa sang lại đống đổ nát của toà nhà hành chính cũ ở Văn Yên. Trên nền nhà lát gạch vuông còn nguyên vẹn, chúng tôi đã xây dựng những căn nhà xinh đẹp bằng tre nứa, và khu đồn trại đã nhanh chóng có vẻ tươm tất. Từ trên đồn nhìn xuống dòng sông, quang cảnh thật mỹ lệ, những buổi mặt trời lặn vô cùng ấn tượng.

Đã một năm nay, tôi không gặp một phụ nữ người Âu nào. Tôi đã quên chuyện làm tình, tuy nhiên chút ít tình cảm lãng mạn là cần thiết cho sự cân bằng tâm lý của chúng tôi. Chúng tôi đã nhận được qua một lần thả dù hiếm hoi một chiếc máy hát cũ cùng với vài chiếc đĩa của Tino Rossi và các chị em nhà Étienne có giọng hát tuyệt vời... Chúng tôi hình dung ra hình ảnh của họ xinh đẹp, dịu dàng, âu yếm. Chúng tôi nghĩ tới cuộc chiến tranh này, tới những người đã chết, tới những thương binh nặng của chúng tôi đã không trở lại nữa. Nhưng mà, dù sao, giữa chúng tôi với nhau cuộc sống là tốt lành. Trong cuộc sống của đàn ông, mọi chuyện đều minh bạch.

Mỗi tháng ba lần, tôi luân phiên cử một trung đội đi Mộc Châu, phải đi bộ mất cả ngày, để nhận bó thư tín và một ít đồ đạc cồng kềnh. Lần này đến lượt thiếu uý Guilleminot. Cậu ta báo cáo là đến nơi yên ổn, xác định giờ xuất phát quay về vào ngày hôm sau. Tiên đường về, cậu ta sẽ cho trung đội nghỉ đêm ở Ba Lay, ở khoảng quá nửa chặng đường.

Ngày hôm sau nữa, mới tảng sáng, từ bờ sông phía bên kia, ba tay dân binh gọi to. Tôi cho một chiếc thuyền độc mộc chèo sang, đó là ba người Thái thuộc trung đội của Guilleminot, trung đội bị tấn công ban đêm và có lẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. Trước hết, đây là đòn đau. Làm gì bây giờ? Dù sao thì cũng đã quá muộn, nhưng tôi mơ hồ cảm thấy là trong đêm tối như mực, không có lí nào Guilleminot lại không thoát được... Giờ phút chờ đợi kéo dài tưởng như vô tận.

10 giờ. Một bóng người lo lớn, mặc quần áo trắng, theo sau là lố nhố người có vũ khí, ra dấu hiệu ở bờ phía bên kia.... Nghe tiếng gọi đó đúng là các dân binh của chúng tôi. Tôi đi trên chiếc thuyền độc mộc thứ nhất, được các khẩu cối sẵn sàng yểm trợ, và thấy mình đứng trước mặt Guilleminot.

- Anh làm cái quái gì trong bộ trang phục ấy hả?

- Thưa đại úy, tôi đã may bộ đồ ngủ bằng một chiếc dù cũ và bị đánh bất ngờ trong bộ trang phục này!

- Guilleminot, anh bị phạt giam mười lăm ngày để cho anh hiểu bài học về việc chiến đấu trong bộ đồ ngủ!

Nhưng tôi hết sức sung sướng vì đã gặp lại được cậu ấy và thú thực, tôi muốn được ôm hôn cậu ấy hơn là quở trách.

Cậu ta kể lại với tôi câu chuyện của mình. Rất thoải mái, tin tưởng, cậu ta không nghĩ lại sẽ bị trận tấn công, tuy nhiên vẫn phổ biến cho trung đội một trục đường rút chạy trong trường hợp bị đánh bất ngờ... Đám dân binh của cậu ta thoát hiểm một cách nhanh chóng nhưng cậu ta thì bị quân Việt giữ lại trong mấy phút. Do đêm tối họ tưởng đâu cậu ta là một cô gái Thái.. Cậu ấy thú thực với tôi là rất sung sướng vì trong mấy phút dài lê thê đã được thuộc về phái yếu. Hoan hô Guillemiot dũng cảm? Vận may vẫn còn đi theo cậu ấy trong những năm dài để rồi bỏ mặc cậu ta một cách tệ hại trong một buổi chiều nào đó ở Algérie.


*   *
*


Những ngày cuối cùng nhiệm kỳ của tôi đang tới gần. Tôi phải kết thúc nhiệm kỳ một cách tốt đẹp... Một tin tình báo cho biết một sở chỉ huy tiểu đoàn quân Việt ở cách bốn mươi kilômét về phía đông bắc giải thung lũng nằm sâu giữa vùng đất của họ. Cùng với cậu Logier trung thành của tôi, chúng tôi làm việc với các trinh sát viên cả một ngày dài để xác định vị trí, đường hành quân, các chặng nghỉ, những khó khăn. Bởi lẽ trong trường hợp đặc biệt này, vừa đi xuyên qua ngọn núi vừa né tránh các vị trí có quân đối phương, cần thiết chừng ba ngày hành quân... Các trinh sát viên khẳng định: họ có thể dẫn đường cho chúng tôi và tấn công sở chỉ huy đó mà không bị phát hiện.

Tôi nắm quyền chỉ huy khoảng một trăm người, trao quyền chỉ huy hậu cứ cho Logier... Ba ngày hành tiến, trong đó hai ngày dưới cơn mưa... Trèo lên, lao xuống, đi dọc theo những con suối nước ngập ngang thắt lưng trên đoạn đường dài nhiều kilômét, cái đám vắt quỷ quái hút máu liên tục, những trận tấn công của lũ muỗi vào lúc sẩm tối... Nhiều lúc tôi thấy ngán đến cổ. Hai năm trong nhiệm kỳ bắt đầu cảm thấy là dài, nhưng kết quả đã tới gần. Một bước chân... Thêm một bước nữa… Mệt nhoài, chúng tôi tiến gần tới địa điểm dự kiến. Liệu chúng tôi có bị phát hiện hay không? Nếu bị lộ thì cuộc rút lui sẽ gay go, rất gay go.

Chúng tôi nghỉ lấy lại sức tại một địa điểm được ngụy trang hoàn hảo cách sở chỉ huy quân Việt hai kilômét. Lại một lần nữa xác định tình hình với các trinh sát. Một cuộc họp ngắn giao nhiệm vụ cho từng người: một nhóm yểm trợ, một nhóm thu dung và cùng với đại bộ phận, tôi sẽ chỉ huy xung phong... Phải, những cuộc xung phong như vậy, cần phải tiến hành không chút do dự. Mọi động tác dậm chân tại chỗ đều có thể dẫn đến chết người, và đó là hành động dũng mãnh. Bảy mươi con người hò hét, được các khẩu súng cối 60 ly yểm trợ, tràn vào khu đóng quân của quân Việt: sáu tù binh, trong đó có một sĩ quan, hàng chục bị chết. Tôi bị thương nhẹ với một mảnh lựu đạn găm vào lưng.

Mười lăm phút sau, lui quân cấp tốc trong tám hoặc mười tiếng đồng hồ. Tiếp đó, chúng tôi nằm đổ vật ra cả loạt. Ngủ, ngủ trong mấy tiếng đồng hồ nhưng mà luân phiên, mỗi đợt một nửa quân số. Hành trình chúng tôi đi qua ít có khả năng quân Việt tìm thấy dấu vết của chúng lôi.

Hoạt động này, lẽ ra tôi có thể giao cho một trong số các sĩ quan của tôi chỉ huy. Nhưng nếu làm như vậy tôi sẽ phải chịu biết bao nỗi lo lắng, trong năm hay sáu ngày không được tin tức gì của cánh quân đó. Và tôi cho rằng người chỉ huy phải thường xuyên mạo hiểm thân mình. Làm như vậy, về sau mới có thể đòi hỏi, yêu cầu mọi việc đối với cấp dưới của mình. Về đến Văn Yên, tôi nghe thấy các chiến binh của tôi nói: “Ông già” lại thắng lợi trong đòn đánh cuối cùng của ông ấy”. Những lời nói đó có giá trị bằng tất cả các huân, huy chương và những lời khen của các cấp trên cộng lại.

Và đây là thời hạn đã báo trước của việc trở về tổ quốc. Hai năm trong nhiệm kỳ của tôi đã kết thúc. Tôi sẽ rời khỏi Văn Yên cùng với một đội hộ tống nhỏ để đi bộ suốt năm ngày về Sơn La, sau khi đã bàn giao đơn vị của tôi cho một đại úy khác. Viên đại úy này về sau sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhiều cay đắng bởi lẽ quân Việt đã không ngừng lớn mạnh, không ngừng quyết chiến.

Những buổi chia tay xúc động với đồng ngũ. Trung úy Logier, cấp phó của tôi, lúc tôi khởi hành đã cho tất cả các loại vũ khí nhả đạn và khoảng ba mươi trái đạn cối... Tôi lên đường trong tiếng đạn súng trường tiểu liên và tiếng đạn cối, trong khuôn mẫu của cái năm chiến trận ấy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #11 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:07:05 pm »


V
TRỞ VỀ NƯỚC PHÁP


Một trang đời mới được lật giở. Tôi không biết liệu tôi đã có thể làm nổi bật những gì của hai cái năm tuổi trẻ ấy hay không. Hai năm trời xa vợ, không ngủ hoặc ngủ rất ít trên một chiếc giường, không có lấy một bữa ăn đích thực, sống như một con vật thật sự, bước đi bằng đôi chân trần, chiến đấu hầu như không nghỉ. Nhưng bù lại là được bao bọc trong tình thương mến của một nhóm đồng sự tuyệt vời, nhóm đồng sự ấy tôi đã phải bỏ lại, phó thác cho số phận mà lẽ ra tôi những muốn biết bao, được đưa họ đi theo về nước Pháp để lấy lại chút ít hơi thở của cuộc sống.

Bị thương nặng trong một tai nạn nhảy dù ở Ấn Độ Dương năm 1972 - hai mươi nhăm năm sau, tôi đã nhận được một lá thư đầy xúc động của trung sĩ Minart, thư ký của tôi thời kỳ đó, một chàng trai rất tốt.

Thưa tướng quân.

Tôi rất vinh dự, qua lá thư này, nhắc lại với tướng quân một kỷ niệm vui, một anh trung sĩ đã ở bên cạnh tướng quân trong cái kỳ ghê gớm đến như vậy, cái thời kỳ mà không có bất cứ chuyện gì có thể xóa đi trong trí nhớ của một người đàn ông...

Từ những khoảng cách này đến khoảng cách khác (tiếc thay cả về thời gian cũng như về không gian ) tôi vẫn không ngừng theo dõi bước đi của tướng quân. Sung sướng trước tin tức về một lần thăng cấp ít hay nhiều muộn mằn, lo lắng và buồn phiền khi được biết một số câu chuyện về các thủ đoạn lừa lọc lúc nào tôi cũng trông chờ mọi tin tức liên quan đến tướng quân. Nếu như tôi có chỗ đứng nhỏ nhoi trong trí nhớ của tướng quân, ngài hẳn phải biết, thưa tướng quân (theo thói quen cũ suýt nữa tôi đã viết là thưa đại úy) ngài hẳn phải biết, tôi xin nói như vậy, rằng tôi viết thư cho ngài hoàn toàn không phải để nịnh nọt vô bổ mà hoàn toàn trái ngược lại, đó là để gợi nhớ lại cho cả hai người rằng tôi luôn luôn mến phục ngài và giữa chúng ta đã từng tồn tại một điều gì đó ngoài mối quan hệ giữa chỉ huy và cấp dưới.

Ngài không biết được đâu, thưa tướng quân, tôi tự hào đến mức nào, khi có người nhắc đến Bigeard tôi được nói lên câu sau đây: “Tôi từng là thư ký riêng của ông ấy”. Nhưng mà điều này chỉ có giá trị trước con mắt của chính tôi. Không một ai có thể hình dung ra cụ thể và thậm chí là trong hoàn cảnh như thế nào...

Vào thời kỳ đó, trang phục của chúng ta (những bộ trang phục thảm hại) chỉ có thể che dấu, bên dưới về bề ngoài đáng khinh thường, tinh thần và vinh dự của quân đội Pháp thục thụ, cái đội quân mà đáng buồn thay, người ta chỉ trông thấy bắt tay vào hành động trong những thời điểm xấu nhất của đất nước vĩ đại và tươi đẹp của chúng ta!...

Thưa tướng quân, tôi đã có dịp trở lại “cái văn phòng” của ngài ở Văn Yên, nơi mà mỗi buổi sáng, tôi đã từng đến để nhận các mệnh lệnh của ngài. Tôi vẫn còn nghe thấy giọng nói âm vang của ngài chào tôi “Xin chào, anh Minart”! Tôi cũng đã nhìn thấy lá cờ lớn, trên mảng màu trắng của nó có đóng khung một bức ảnh của con gái Marie Fance của ngài, mà lúc đó ngài chưa hề nhìn thấy mặt cháu...

Xin ngài thứ lỗi, thưa tướng quân, về cái cao trào tình cảm chủ nghĩa này, nhưng vì tôi đã là cha, thậm chí là ông nội và tôi thật lòng cầu mong là ngài cũng cùng chia sẻ niềm hạnh phúc ấy.

Liệu ngài có ghi chép trong sổ tay về tôi rằng “tính cách vẫn còn trẻ trung”? Điều đó bao giờ cũng đúng đấy, thưa tướng quân, và tôi tự khen mình về chuyện đó.

Nếu như tôi không giữ được tâm hồn trẻ trung như vậy, cái tâm hồn trẻ trung mà ngài cũng vậy, ngài đã giữ gìn được trước mọi việc và chống lại mọi việc, thì giờ đây tôi đã không có vinh dự và hạnh phúc để gửi tới ngài tất cả những lời cầu mong, chúc ngài mau chóng bình phục.

Thưa tướng quân, cho phép tôi được ôm hôn ngài với tấm lòng của đứa con trai.

Xin kính thư và mãi mãi là Minart của ngài”.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #12 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:09:18 pm »


*   *
*

… Sau năm ngày đi bộ, chúng tôi đã tới được Sơn La. Ngọn núi đã thay đổi nhiều. Tòa nhà của viên tỉnh trưởng đã được xây dựng lại. Khu thành cũ đã được sửa sang. Trên mảnh sân bay nhỏ Nà Sản có một chiếc Dakota chờ đưa tôi trở về Hà Nội, nơi tôi phải đợi bốn mươi tám tiếng đồng hồ mới có máy bay đi Paris.

Thời kỳ đó, hành trình Hà Nội - Paris mất ba ngày, miễn sao máy bay không tự gẫy cánh. Đây không phải lúc. Ít nhất làm sao cho tôi gặp lại được những người thân yêu.... Gaby sẽ ra sao? Và Marie France nữa? Nó giống ai nhỉ? Lạy trời, ba cài ngày ấy sao mà tôi thấy dài lê thê!

20 tháng chín 1947... Sân bay Orly. Họ kia kìa. Marie France trong tay của mẹ nó. Thật ngộ nghĩnh, một bé gái xinh xắn mà ta không nhìn thấy lúc nó sinh ra. “Nó giống anh, nó sẽ giống tính anh....” Gaby, vốn dĩ như vậy, không đặt ra một vấn đề gì, chúng tôi có cảm giác chưa từng sống cách xa nhau lâu đến như thế.

Khách sạn Terminus, nhà ga Saint Lazarre. Một vài ngày ở Paris. Tôi bị nhức đầu vì tất cả cái thứ tiếng ồn này. Tôi đã mua những đôi giầy với hai kích cỡ phụ. Tôi đã cho cắt đi một cái chai chân rộng hai xăngtimét ở nhà một thầy thuốc ngoại khoa. Những tháng dài đi chân đất đã huỷ hoại bàn chân của tôi. Tôi sẽ thấy thoải mái hơn nếu được đi chân trần trên các đường phố của Paris... Sung sướng, chắc chắn là như vậy, nhưng không hài lòng, tôi nghĩ đến các đồng ngũ của tôi bị bỏ lại trong cái khu rừng rậm tệ hại nhưng hấp dẫn ấy.

Sân ga Toul! Vẫn cái sân ga không bao giờ thay đổi.

Bốn tháng nghỉ phép trong cái khung cảnh u ám của mùa đông vùng Lorraine1 trú ngụ trong một căn buồng nhỏ ở nhà mẹ vợ, thân hình tôi gầy đi, sốt rét, kiết lị. Một buổi chiều khi ngồi ở nhà người thợ cắt tóc, tôi bị ngất xỉu. Tôi trả giá cho những gì phải chịu đựng trong suốt những năm chiến trận ấy, lúc đó tôi không hề bị hắt hơi bao giờ.

Khẩu phần ăn quá béo bổ không thích hợp cho tôi, tôi cần phải có thời gian thích ứng dần dần: tôi yêu cầu cho ăn món cháo gạo và món thịt hầm. Phải, đây là thu hoạch của chúng tôi: Thiếu uý François chết, Bruillot, “ông Bournazel” của tôi, tôi quên không nhắc đến cậu ấy, đã bị thương ở chân trong trận tấn công Văn Yên, Bréau sẽ tử vong trong thời kỳ tôi nghỉ phép. Và đối với những người trở về nhà, cần phải học lại lối sống ở nơi những người văn minh.

Thời gian dài tôi cố gắng tìm cách lấy lại một sự thăng bằng có ích kể cả việc tập đi bộ hàng ngày, cuộc sống trong sạch, những chuyến đi tản bộ trong khu rừng. Chiếc xe Mercédès M.G.6142 vẫn còn chạy được. Rõ ràng là tôi thấy thiếu vắng rừng cây và các trách nhiệm. Ngày cuối cùng của kì nghỉ phép tới gần, tôi đề nghị lại được đi sang Đông Dương. Tôi không thể bỏ mặc các đồng ngũ chiến đấu ở bên đó, hoặc là nếu không thì tôi phải rời bỏ quân đội. Cuối cùng, tôi được bổ nhiệm... Tôi phải tới tiểu đoàn dù số 3 đang được xây dựng ở Saint Brieuc2.

Tháng hai 1948... Tôi sắp tròn ba mươi hai tuổi. Khoảng sân nhà ga. Tôi ra đi một mình, bao giờ cũng là cùng với một nỗi xé lòng. Tôi là đại úy, mang danh hiệu sĩ quan của đội lê dương danh dự, mười một lần dược tặng thưởng huân chương chữ thập chiến tranh, huy chương vì thành tích phục vụ xuất sắc, hai lần bị thương. Nhưng tôi vẫn cứ là con người lãng mạn và nhậy cảm của tháng chín năm 1936.

Tại sao lại tới cái tiểu đoàn dù số 3 đang xây dựng này? Liệu có lại sang Đông Dương hay không? Bỏ lại những người thân ư?... Không, không thể nào làm khác đi được. Một sức mạnh thúc đẩy tôi đáp lời “có mặt”, mỗi một khi quân đội kêu gọi lên đường đi chiến đấu và bất chấp ý kiến phản bác của những người thân của tôi. Tôi lăn bánh về cái vùng Bretagne ấy... Đến đó, tôi sẽ gặp được ai nhỉ? Ai sẽ là người chỉ huy tôi đây?
______________________________________
1. Lorraine: Vùng phía đông nước Pháp, trên sườn phía đông rặng núi Vosges và ở phía đông của Paris - N.D
2. Saint Brieuc: Thành phố có tòa lâu đài cổ ở bờ biển Bắc nước Pháp, trông ra biển Manche, bên cửa sông Gouet - N.D

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #13 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:11:57 pm »


VI
Ở TIỂU ĐOÀN DÙ SỐ 3


Saint Brieuc. Một trại lính giống như mọi trại lính khác, mang cái tên “Charner” khiến cho tôi có ý muốn rời bỏ nơi này. Tôi đến trình diện với tiểu đoàn trưởng, thiếu tá Ayrolles: nhỏ nhắn, cơ bắp nổi rõ, bốn mươi bẩy tuổi, chuyên gia về chiến trận. Ông đã từng nhẩy dù xuống các khu du kích của nước Pháp trong thời kỳ kháng chiến chống phát xít Đức.

Tôi tiếp xúc với nhóm các trung úy của tôi, những người sẽ thực hiện nhiệm kỳ đầu tiên của họ ở Đông Dương: Vallet de Peyraud, một bàn tay bị dập trong trận đánh giải phóng nước Pháp, thuộc một dòng dõi rất lâu đời của nước Pháp, được mệnh danh là “chàng tử tước”, sẽ là cấp phó cho tôi. Chevret, có tên gọi là “Biquette”, nhanh nhẹn đẹp trai, vẫn còn là một con dê non, rất khoái chí tiếp nhận cả một đống to tướng thư từ của phụ nữ. Emptoz sôi nổi, năng động, say mê với vai trò người giải phóng, sẵn sàng đốt cháy cuộc đời. Lhuillier, được tặng thưởng nhiều danh hiệu chiến tranh, tham gia trận đánh nổi danh ở Italia, một sĩ quan vững vàng, người mà tôi gửi gắm nhiều hi vọng. Rougier, mờ nhạt hơn, nhưng nắm rất vững công việc người lính bộ binh của mình, thanh thản và thích uống rượu.

Các hạ sĩ quan, mà một nửa trong số họ đã được khẳng định, được tặng thưởng những danh hiệu vẻ vang của quân đội, và những thanh niên chưa từng tham gia chiến trận nhưng mơ ước được sánh vai với các “bậc lão thành” của họ.

Các binh sĩ tình nguyện trẻ tuổi của chúng tôi từ mười tám đến hai mươi tuổi, thuộc về một thế hệ đã chịu đau khổ trong thời kỳ đất nước bị chiếm đóng và trong thời kỳ hậu chiến.

Một số người không có vị thế gì cả, một số khác trong cuộc sống dân sự có đôi chuyện phiền phức, đa số có mặt ở đây là vì ý thích muốn phiêu lưu mạo hiểm. Sẽ phải rèn dũa, nhào nặn họ, bồi dưỡng cho họ một ý chí, một lí tưởng, dạy cho họ biết cách chịu đựng gian khổ, tiến lên một bước, lại một bước nữa. Việc làm này, qua kinh nghiệm tôi biết được là dễ dàng. Chỉ cần làm gương cho họ, trò chuyện với họ, yêu quí họ, những chàng trai dũng cảm đang hết sức sẵn sàng ấy! Sống với họ theo cách đó, người ta tự thấy như cùng tuổi tác với họ và tôi có thể nói với họ rằng: “Nào Nghiến răng lại. Tôi cũng vậy, cách đây mười hai năm, tôi đã khóc khi tiến đến chiến luỹ Maginot”1.

Việc huấn luyện được tiến hành với cường độ cao. Chúng tôi sẽ giữ lại một phần ba số tình nguyện bởi lẽ trong vài tháng nữa chúng tôi phải tham chiến với một công cụ sắc nhọn tới mức tối đa có thể, do đó phải có một cuộc chọn lọc khẩn trương, nghiêm khắc. Những cuộc hành quân đường dài, hoạt động ban đêm, xạ kích theo trực giác, đột kích theo la bàn, những cuộc vượt sông. Đại đội mỗi ngày một tiến bộ, nhưng với nhịp điệu này, đám thanh niên của chúng tôi đôi khi sẽ tự buông thả ở các quán nhậu trong thành phố.

Tiểu đoàn trưởng: quả thật, phản ứng một cách cứng rắn. Bị phạt cấm trại trong mười lăm ngày, Sautereau và Martellino, hai cậu bé láu cá của Paris, trông rất điển trai, xin với tôi cho nghỉ phép bốn mươi tám tiếng đồng hồ để về Paris. Giấu diếm thủ trưởng của mình, tôi đã đồng ý cho họ đi phép với lời dặn dò là họ phải có mặt vào buổi sớm ngày thứ hai đầu tuần. Mãi đến ngày thứ sáu họ mới trở về và ngượng ngùng lúng túng đến trình diện ở bàn giấy của tôi.

- Thưa đại úy, chúng tôi là hai thằng khốn nạn, điên khùng.

Câu trả lời:

- Cho phép lựa chọn: kỷ luật ghi vào lí lịch hay là phạt cải hối tại chỗ?

- Chúng tôi xin được phạt cải hối tại chỗ!

Tôi phạt họ “nốc-ao” trong mấy giây, hình thức có phần nào chính thống được coi là hợp pháp vào thời kỳ đó. Hai thanh niên này, về sau trở thành hai trung sĩ và sẽ đi theo tôi trong suốt năm năm trời, với nhiều lần được tuyên dương. Một cậu bị chết trong lần đánh chiếm Điện Biên Phủ, cậu kia vĩnh viễn mất tích trong cuộc tháo chạy sau khi tập đoàn cứ điểm bị thất thủ. Tôi nêu tên hai cậu đó bởi lẽ họ phản ánh rõ bước phát triển của tất cả số binh sĩ tình nguyện ấy, về sau đều trở thành những chiến binh tuyệt vời.

Đại đội của tôi hành quân đi bộ để thực tập chuyến nhảy dù ở Meucong, cách xa doanh trại một trăm kilômét. Khu trại dã chiến này nằm ở gần Vannes, ở giữa thiên nhiên trong khu rừng thông. Khu trại đã không được sửa sang cẩn thận. Chúng tôi trú quân trong những chiếc lán làm bằng ván gỗ với nhiều đoạn máng hứng nước mưa. Để sưởi ấm, có những chiếc bếp lò cũ toả đầy khói. Gaby và Marie France đến với tôi. Chúng tôi ở cách xa tòa biệt thự xinh đẹp của Annabella ở Pyla. Chẳng hề gì! Tuổi trẻ, tình yêu của chúng tôi không đòi hỏi gì nhiều.
____________________________________
1. Maginot: Phòng tuyến của quân Pháp trong chiến tranh Thế giới thứ hai. Đã bị quân Đức chọc thủng năm 1940 - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #14 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:13:37 pm »


Đại tá Massu chỉ huy bán lữ đoàn quân dù. Ông chịu trách nhiệm xây dựng các tiểu đoàn được gửi sang vùng Viễn Đông, đã được biết đến ở trong quân đội, là một trong những người giải phóng Paris, “một trong những người của tướng Leclerc”. Tôi yêu quí bóng dáng, những tiếng cười ròn rã của ông, cái cách thức không sao bắt chước nổi của ông khi đứng duyệt một đội quân diễu hành. Ông không để ý đến các chi tiết. Duy nhất, kết quả là đáng kể. Ở dưới sự chỉ huy của một “ông hoàng” như vậy, người ta không thích được nương nhẹ.

Chúng tôi thường xuyên nhẩy dù trong thời tiết có sức gió vượt quá thông số cho phép, điều đó dẫn tới việc chúng tôi tiếp đất trên những đoạn đường bê tông của sân bay cũ hoặc nữa, trên những mái lán nằm trong vùng lân cận. Những chiếc xe cứu thương của chúng tôi chuyển số người bị nạn về bệnh viện, nhưng chiến trận đang chờ đợi chúng tôi. Không thể lãng phí thời gian. Đại tá Massu, thân hình to cao quá khổ không có tầm vóc thích hợp của người lính dù và khi tiếp đất quả là vất vả, điều đó không hề ngăn cản ông nhẩy dù làm mẫu.

Nhịp sống tiếp diễn, những cuộc hành quân luyện tập thường xuyên kéo dài nhiều ngày. Trong những ngày đó, mọi người phải tự xoay xở giữa thiên nhiên với hành trang tối thiểu, những buổi tập làm quen với lửa đạn. Giờ đây đã được cấp giấy chứng nhận là lính dù, dáng vẻ của họ mang nét tự hào. Đại đội trông kiêu hãnh đáng sợ. Và chúng tôi trở về Saint Brieuc, tại đó tôi thuê được một căn hộ hai buồng có sẵn đồ đạc, không có vòi tắm hoa sen, để cho vợ con tôi ở.

Tháng mười 1948, chín tháng đã trôi qua và tiểu đoàn đã sẵn sàng. Được tập hợp lại trong khu trại ở Fréjus, chúng tôi đợi ngày xuống tầu. Cái quãng này bao giờ cũng nhọc lòng. Đoạn dạo đầu của một trang đời sẽ lật giở để mở sang những trang khác trong khoảng mờ mịt, vô tận. Và lại nữa, Gaby đứng trên bến cảng cùng với Marie France và còn biết bao những người vợ, người mẹ, người chị. Những người không hề ngờ rằng gần như toàn bộ lớp thanh niên tươi trẻ, tràn đầy sức sống này lại sẽ không trở về.

Trên con tầu Pasteur rộng lớn này, có tiểu đoàn số 3 của chúng tôi và tiểu đoàn dù người nước ngoài số 1. Những phương tiện chiến tranh đẹp đẽ này rồi sẽ bị nuốt chửng trong vụ Cao Bằng. Tôi nghĩ tới Gaby và đứa con gái nhỏ bé, họ quay về vùng Lorraine khắc khổ, trong khi, nếu như được tiếp tục yêu nhau trong khung cảnh hòa bình thì tốt đẹp biết bao nhiêu.

Thật vui vẻ náo nhiệt! Cuộc sống nào trên con tầu này vậy. Những bài hát của quân dù và quân lê dương cho đến tận một giờ đêm. Cùng với chúng tôi, khoảng năm chục người của S.P.F.A.T1, những cô gái tuyệt đẹp biết cách giải khuây chút ít cho tất cả đám đàn ông này và sẽ sống một cuộc sống cực kỳ gian khổ bằng cách giúp ích những công việc quý báu với tư cách là những y tá, cứu thương, những thư ký, những nhân viên gấp dù.... Tôi ngả mũ chào những cô gái cân đối và vô tư ấy. Nhưng, lần này, tôi sẽ không chơi bài Poker, sẽ không tham dự vào các trò thư giãn. Rất khôn ngoan, tôi thích nghĩ đến vợ con và hình dung ra điều gì đang chờ đón chúng tôi. Một chuyến đi dài, quá dài... Vùng biển Trung Hoa, đoạn đi ngược con sông Sài Gòn. Đối với tôi, đó là khung cảnh đã quen thuộc... Tháng mười một 1948. Lại là Sài Gòn. Cái thành phố lớn vừa xa lại vừa quá gần chiến tranh, tôi vốn chưa bao giờ thích thú với cái ồn ào náo nhiệt của thành phố ấy, nơi đó có các bộ tham mưu của chúng tôi với khá nhiều các sĩ quan sẽ trở về nước Pháp mà chưa từng có một đêm bước đi trong rừng rậm.

Thời kỳ gọi là thích nghi với hoàn cảnh mới. Toàn bộ tiểu đoàn trấn giữ một ngã tư cách Sài Gòn đâu đó ba mươi kilômét. Tám trăm quân dù để giữ một điểm tựa. Tôi không còn hiểu nổi một tí gì trong câu chuyện này nữa. Tiểu đoàn trưởng có lẽ cố ý gây áp lực trong việc chỉ huy để dạy cho chúng tôi biết sống trong điểm tựa khép kín, từ đó chúng tôi sẽ phải hoạt động ra xung quanh. Gieo rắc nỗi sợ hãi, ban đêm ông kiểm tra phản xạ của các lính gác, đòi hỏi chúng tôi mang theo vũ khí giữa ban ngày và giữa các binh sĩ của mình. Rút cục ông đã làm cho vấn đề phức tạp và chúng tôi gặp một vài sự cố. Trong một chuyến tuần tra, một hạ sĩ quan bị giết chết bởi một người đồng đội. Ban đêm, đạn nổ hàng loạt, đó là đám thanh niên của chúng tôi bị hốt hoảng. Một trung úy khỏe mạnh, hăng hái, bị đuổi khỏi tiểu đoàn vì anh ta không mang theo khẩu Colt vào giờ ăn. Bốn đại úy tỏ vẻ bất bình với tôi trước những cách làm như vậy. Chuyện làm ồn ào là đáng ghét. Thiếu tá đã duy trì thói quen của một tiểu đội trưởng chỉ huy mười lăm con người nhảy dù trong rừng rậm. Trong lúc đó, giờ đây ông có trong tay một công cụ chỉ có một đòi hỏi là được bốc lửa, những người chỉ huy đã vững vàng, những hạ sĩ quan chính ngạch và những binh sĩ được huấn luyện tốt.

Tôi thấy lại chính mình đơn độc cùng với đại đội của mình trong nhiệm kỳ đầu tiên, chiến đấu ngang sức với quân Việt, và hình dung ra điều gì tôi có khả năng thực hiện cùng với một công cụ như vậy... Rút cục với vinh dự và kỷ luật quân sự, là đại úy, tôi chỉ có thể chịu đựng và nắm chặt hai nắm tay lại. Vận may không rời bỏ tôi và duy nhất đơn vị tôi được chỉ định đi ra xứ Bắc Kỳ, ở đó người ta cần bổ sung thêm quân số. Tất nhiên, tôi là chuyên gia của vùng đất ấy và có lẽ là người “khó chịu” nhất trong số các đại úy, điều ấy trong trường hợp đặc biệt này lại rất tốt cho tôi.
_______________________________________
1. S P.F.A.T: Viết tắt tên của nhóm phụ nữ ủng hộ Lục quân - N.D.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #15 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:15:34 pm »


VII
LẠI LÀ XỨ BẮC KỲ, LẠI LÀ YÊN CHÂU


Hải Phòng, nơi ba năm về trước, tôi đã từng đổ bộ dưới sự chỉ huy của Leclerc, vị tướng huyền thoại ấy mà mỗi người đều tự hào khi được nói câu: “Tôi phục vụ trong đơn vị của Leclerc” và ông là người mỗi khi có vụ chạm trán nghiêm trọng, chúng tôi lại thấy ông tay chống chiếc “can” tới nơi. Cả một khoảng cách lớn giữa một con người như vậy với vị tiểu đoàn trưởng nhỏ nhoi của chúng tôi, là con người muốn đổi mới quân đội của chúng ta nhưng lại không cảm thấy thoải mái khi nắm trong tay tám trăm chiến binh của mình.

Thành phố không có gì thay đổi. Cảm thấy hơi buồn, chắc chắn như vậy, khi nghĩ tới những giờ phút đã sống trong cái thành phố này, nơi tôi từng tìm kiếm một trạng thái thăng bằng nào đó... Phòng cà phê của khách sạn Thương Mại với những cô gái hấp dẫn vẫn luôn luôn chật ních các quân nhân. May thay, quân Việt ở cách xa nơi đây. Cần phải chăm lo đến việc này, kiểm tra lại khả năng và tính vững vàng của đại đội của tôi. Thiếu tá Chateau Jobert, còn gọi là Conan, một sĩ quan dù đã nổi danh vào thời kỳ đó, theo dõi chung chung một vài đơn vị quân dù ở xứ Bắc Kỳ. Ông giới thiệu với chúng tôi tình hình lộn xộn lúc đó, thái độ ứng xử mà chúng tôi cần có.

Thân hình nhỏ nhắn, niềm nở, khôn khéo, ông khiến cho tôi cảm giác ông là con người rất láu lỉnh. Sau này tôi còn gặp lại ông ở Algérie, ở đó tôi và ông, mỗi người chỉ huy một trung đoàn quân dù, ông ấy sẽ coi tôi là một trong số những kẻ thù quyết liệt nhất, trong khi tôi đánh giá ông ấy như là một đồng ngũ ưu tú. Có thể là chuyện ghen tức, điều đó âu cũng là lẽ thường tình của con người bởi sau này người ta sẽ nhắc tới hơi quá về cái tay Bigeard này, con người trong lúc này không đòi hỏi gì nhiều đến thế và Conan không biết được là một ngày nào đó ông ta sẽ chuyển qua tổ chức O.A.S1. Cuộc đời tiến triển là như vậy đấy.

Trong vòng hai tháng, chúng tôi hoạt động trên vùng đồng bằng, làm nhiệm vụ tăng viện cho một vài binh đoàn, ở đó tôi chẳng có sáng kiến gì nhiều và phải chấp nhận một quan niệm về cuộc chiến tranh này mà tôi không tán thành... Cơ động và tấn công ban ngày, với sự chi viện lớn của pháo binh và không quân để bóp nát một con ruồi. Rút cục, chúng ta hãy kiên nhẫn, tôi rà trơn đơn vị của tôi với không nhiều kết quả nhưng hầu như không bị tổn thất.

Thiếu tá Romain Desjossés, cấp phó của Ayrolles, đã tìm cách thoát được khỏi Sài Gòn. Là con người hấp dẫn, có văn hóa, bình tĩnh, rất thích được đứng trên điểm cao nhất để chỉ huy, vì vậy có biệt danh trong quân dù là “Romain của những đỉnh núi”. Ông bảo với tôi rằng ông vô cùng sung sướng được rời khỏi cảnh nhộn nhạo của Sài Gòn và nhất là rời khỏi được vị thiếu tá Ayrolles của chúng tôi, rằng cũng như tôi vậy, ông không đánh giá cao quan niệm về chiến tranh của thiếu tá Ayrolles.

Romain Desjossés được giao nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy một vài trận đánh. Bộ chỉ huy dành cho ông một tiểu đoàn, trong đó có đơn vị của tôi, một đại đội lính dù của mẫu quốc, một hoặc hai đại đội bộ binh, vài máy bay và dăm khẩu pháo. Ngày hôm đó, việc phải làm là tiêu diệt một đại đội quân Việt được phát hiện là ở cách Hải Phòng khoảng bốn chục kilômét.

Thiếu tá đã quyết định chỉ huy từ trên một máy bay, lượn tròn trên đầu chúng tôi. Như thường lệ, chúng tôi ngụp lặn giữa ban ngày nóng nực. Tôi ca cẩm phàn nàn, việc liên lạc với máy bay rất tồi... Ông sếp làm gì ở trên cao ấy vậy? Trong lúc vị trí của ông ấy là phải ở dưới này, có một quan sát viên của không quân giúp sức.

Một thông báo giữa lúc đang căng thẳng. Thiếu tá vừa bị một viên đạn xuyên qua đùi. Máy bay phải hạ cánh khẩn cấp. Là đại úy lâu năm nhất, tôi phải nắm quyền chỉ huy và tiếp tục trận đánh. Người ta rồi sẽ nói “đó là phát súng của Bigeard” tất nhiên là để đùa vui. Trận đánh không thật quan trọng. Trước một đội quân nhiều binh chủng hợp thành như thế, có thể bị phát hiện từ cách xa nhiều kilômét, quân Việt đã có đủ thời gian để rút lui.

Ngày hôm sau, tôi đến thăm vị thiếu tá dũng cảm của tôi trên giường bệnh trong bệnh viện. Vết thương khá nghiêm trọng chắc thiếu tá phải mất hai hoặc ba tháng nghỉ dưỡng thương. Bà vợ của thiếu tá, đang có mặt ở Bắc Kỳ, đã tới đây. Xinh đẹp, nước da ngăm đen, chúng tôi cùng ăn bữa trưa tạiquán cà phê ở khách sạn Thương Mại. Bà ấy không hề biết rằng bà ấy đã mang tới cho tôi một tình cảm âu yếm mơ hồ mà tình cảm của người tôi yêu không thể ghen tị, bởi lẽ bà ấy dành cho tôi tình cảm ấy, ở một nơi cách rất xa quê nhà.

Hai tháng trời buồn tẻ vừa mới trôi qua, các biến cố gia tăng tốc độ, quân Việt quấy rối ngày một thêm nhiều... Ở vùng thượng du, vị trí Yên Châu do một vài sĩ quan người Âu và chừng một trăm dân binh Thái trấn giữ vừa mới bị tấn công. Đồn này chống giữ được nhưng bị bao vây hoàn toàn... Đã có những thương binh cần được chuyển đi. Cách đây hai năm tôi đã đánh chiếm ngôi làng này sau một trận đánh gay go suốt một ngày trời, ở đó chúng tôi đã phải xung phong đánh chiếm năm vị trí.
__________________________________
1. O.A.S: Tổ chức Quân đội bí mật, là một tổ chức chống đối ở trong Quân đội Pháp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #16 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:17:04 pm »


Do vốn hiểu biết của tôi về vùng đất này, đại đội của tôi được chỉ định nhẩy dù và giải vây cho đồn Yên Châu. Tôi sung sướng lại được tiếp cận với cái xứ sở trẻ trung, ác liệt này, được tiến hành cuộc chiến tranh “của tôi” theo như ý mình muốn, cùng với một đại đội giờ đây đã vững mạnh. Binh sĩ, sĩ quan của tôi nôn nóng được khám phá cái vùng đất mà tôi đã bao lần kể cho họ nghe.

18 tháng giêng 1949.... Sân bay Cát Bi ở gần Hải Phòng. Tám chiếc Dakota xếp hàng thẳng tắp chờ đợi chúng tôi lên máy bay. Đây là trận nhẩy dù đích thực đầu tiên đối với đơn vị của tôi. Chuyện gì sẽ diễn ra đây? Mỗi người huênh hoang phách lác đôi chút, cố làm ra vẻ thoải mái... Vallet de Peyraud giữ vẻ mặt bình thản của người dân thành Olympíc, Lhuillier thì đã từng trải như vậy trên chiến trường Italia, Chevret đọc những lá thư của các cô bạn gái nhỏ, Emptoz diễn trò hề như mọi khi, Rougier thì im lặng… Không có vấn đề gì đội quân vững vàng.

Hải Phòng biến mất. Hai trăm kilômét để tới được bầu trời của Yên Châu. Chúng tôi bay trên cái xứ sở tươi đẹp này với những rặng núi, những thung lũng khép kín, thỉnh thoảng xuất hiện một khoảng rừng thưa và ngôi làng nhỏ... Đây, Mộc Châu, giờ đang nằm trong tay quân Việt và con đường thuộc địa số 41 như một dải lụa mà tôi biết quá rõ và không ngờ rằng số phận sau này sẽ còn đưa tôi tới đó.

Tôi là người đầu tiên bước ra cửa chiếc Dakota. Đồn Yên Châu ở phía dưới chân tôi, cách bốn trăm mét, những ngọn núi ghê gớm ở đó tôi đã chiến đấu. Tôi nghĩ tới thượng sĩ Bruillot, “ông Bournazel” của tôi. Tôi những muốn vẫn có cậu ấy ở bên cạnh mình. Nhẩy! Lại bị thu hút bởi cái xứ sở này, thật dễ chịu khi cảm thấy thân hình của mình đung đưa ở đầu chiếc dù. Một cuộc tiếp đất gay go trên những bờ ruộng khô cằn đưa tôi trở lại với hiện thực... Không một tiếng súng. Tôi ngắm nhìn đại đội của tôi từ trên trời lần lượt rơi xuống. Quân Việt đã rút lui trước cuộc nhẩy dù này.

Thật tuyệt vời khi tới nơi đây với tư cách người cứu nạn. Người ta có cảm tưởng là mình thống trị thế giới. Cuộc tiếp đón thật cảm động và rất nhiệt tình. Những con người này đã gánh chịu cuộc tấn công của quân Việt, cuối cùng cũng đã thở được... Trời nóng nực, hẳn đã là 10 giờ. Chúng tôi nghỉ đôi chút để lấy lại sức và thu gom số dù của chúng tôi lại. Tiểu đoàn trưởng Paccioni, một người dân đảo Corse nhỏ nhắn, đen đủi, trung thực, nhân hậu, độ lượng là người chỉ huy phân khu nhưng ông ta bị điếc và phải hét to mới mong nói cho ông ta hiểu được mình. Ông thuật lại cho tôi nghe trận tấn công của quân Việt, nói cụ thể cho tôi biết số thương binh phải khẩn cấp chuyển đi.

Buổi chiều bằng các mũi sục sạo, chúng tôi đi giải toả khu vực xung quanh đồn và chuẩn bị việc chuyển thương vào lúc sẩm tối. Bệnh viện ở Sơn La, cách đây sáu mươi kilômét. Chúng tôi sẽ phải đi bộ cho tới tận Nà Sản, tức là bốn mươi kilômét, ở đó một đội hộ tống gồm nhiều xe cộ đến từ Sơn La, sẽ chờ đón chúng tôi. Như vậy là chúng tôi sẽ khởi hành bất ngờ lúc 20 giờ với chừng ba chục người hộ tống. Thiếu tá Paccioni quyết tâm tham gia cuộc hành quân này. Vallet de Peyraud, cấp phó của tôi, sẽ ở lại Yên Châu để chỉ huy đồn quân.

Trong đêm tối như mực, lại một lần nữa tôi đi trên con đường đá ong này, phỏng đoán về lúc đi qua Chiềng Đông, lúc trèo lên đèo Cò Nòi, ngôi làng Hát Lót nhỏ bé. Tôi rất mệt mỏi: cuộc nhẩy dù buổi sáng, những cuộc bàn cãi trong ngày, công việc chuẩn bị xuất phát. Tôi thử vừa đi vừa mơ mộng: cái nhà bằng gỗ nhỏ bé của tôi, những người thân của tôi ở Lorraine, những cuộc trốn chạy của tôi, nhiệm vụ của tôi ở Ariège và lại một lần nữa, cái con đường ngoằn ngoèo này, con đường trên đó tôi đã bao lần phải nhọc nhằn.

Tự giải thoát cho mình bằng mơ mộng là một cách làm rất hay, để khỏi phải nhìn đồng hồ đeo tay, tránh không nghĩ tới những kilômét còn phải đi nữa. Chiến đấu ở nước Pháp, trên dải đất tổ quốc của mình, thật dễ dàng biết bao nhiêu. Trong lúc ở đây, chúng tôi bị đơn độc trong một cuộc chiến tranh mà tôi có cảm giác là những người dân Pháp phản đối mạnh mẽ. Rút cục, cần phải kiên trì, phải đứng vững, phải hi vọng.

Nà Sản. Hẳn đã là 2 giờ sáng. Chúng tôi đã kết thúc chặng đường bốn mươi kilômét sau sáu tiếng đồng hồ, theo sau là hai mươi người dân Thái, thay nhau cáng thương binh... Các xe cứu thương, đội hộ tống chờ đợi chúng tôi. Thật dễ chịu được trèo lên một chiếc xe Jeep và ngủ gà ngủ gật một chút. Lúc tảng sáng, các thương binh đã vào bệnh viện. Một bác sĩ giải phẫu, đeo lon bốn vạch, nét mặt thô kệch, trước kia ở bệnh viện tại Cayenne1 chăm lo cho họ.

Tôi tiếp xúc với đại tá Lajoix, chỉ huy trưởng tiểu khu. Ông vốn là lính thuỷ đánh bộ, con người cuồng tín của đội quân thuộc địa. Bình tĩnh, dễ mến, ông tôn thờ cái xứ sở này. Ngay từ lúc đầu, tôi đã thấy thích ông. Về sau, ông tỏ ra là một thủ trưởng rất nhân hậu, hấp dẫn, để mặc cho tôi hành động, có ý định giữ tôi lại ở bên ông khi nhiệm vụ của tôi đã hoàn thành... Tôi gặp lại ông trong nhiệm kỳ tiếp sau của tôi trong những hoàn cảnh bi thảm, lúc đó chúng tôi chỉ có thể tiếp xúc với nhau qua máy bộ đàm.

Khu đồn Sơn La đã được sửa sang mới. Toà nhà của viên tỉnh trưởng đã được chỉnh trang và cái mỏm núi ấy bao quát các giải thung lũng chạy về phía đông và phía nam trông rất có dáng. Một bữa ăn ngon, một cuộc tiếp khách mặc dầu rất thân thiện vẫn làm tôi hơi mệt... Sẽ rất tốt nếu được nghỉ ngơi bốn mươi tám tiếng đồng hồ, được ra sông tắm rửa. Nhưng lại phải lên đường.

Nà Sản. 10 giờ sáng. Chúng tôi bỏ lại đám xe cộ để đi bộ về Yên Châu. Lại phải nuốt trọn bốn mươi kilômét. Tôi cho tách ra sáu người đi đầu, cách ba trăm mét làm nhiệm vụ trinh sát để không bị đánh úp trong một trận phục kích bất ngờ. Trên cái con đường chạy qua hẻm núi này, rất nóng nực, những mỏm núi vây quanh như đè bẹp con đường. Tôi hét rất to tranh luận với vị thiếu lá, ông rất hãnh diện được cùng hành quân với lính dù. Ông kể lại với tôi là cuộc nhẩy dù hẳn đã làm cho quân Việt hoảng hồn và chắc là họ đã buộc phải rút lui về phía nam.

Hát Lót, Cò Nòi, đoạn đèo đi xuống dẫn về Chiềng Đông. Chúng tôi tiến bước nhanh nhẹn... Tàn nhẫn một màn hoả lực dữ dội nổ thẳng trước tiên vào nhóm đi đầu. Sau đó vào đội hình của chúng tôi... Khoảng một trăm quân Việt, được ngụy trang kín đáo sau các mỏm đá điên cuồng xả đạn về phía chúng tôi bằng súng tự động và lựu đạn. Hoàn toàn bất ngờ. Chúng tôi là con mồi, họ là những thợ săn lành nghề. Tôi con người trong nhiệm kỳ trước, luôn luôn né tránh loại trò vớ vẩn này. Rơi vào một ổ phục kích không bao giờ tốt lành được. Những loạt đạn đầu tiên thật tệ hại, bốn người chết và hai bị thương ở đội hình đi đầu. Nhóm trinh sát của tôi bị xóa sổ. Chúng tôi nằm dán mình vào vệ đường đoạn bờ dốc, họ ở trên cao hơn chúng tôi. Nằm dài dưới một rãnh nước, những mảnh lựu đạn bay rào rào trên đầu chúng tôi. Chúng tôi bắn hú họa. Tôi bắn hết ba băng đạn của khẩu các bin, ném hai trái lựu đạn. Paccioni bình thản, có vẻ không hiểu hết chuyện xẩy ra, chắc chắn là bởi vì tai điếc. Tôi lấy các băng đạn và những trái lựu đạn của ông ta và tiếp tục bắn... Quân sĩ của tôi phản ứng tốt. Không hề có hoảng loạn. Tôi hét to: “Hỏa lực tối đa và nhẩy cóc để rút về mỏm núi bỏ không” ở phía bên kia con đường. Chúng tôi tới chỗ đó, có thêm hai hay ba thương binh nhẹ. Trận đánh kéo dài phải đến một tiếng đòng hồ. Đơn độc giữa núi rừng thiên nhiên, một chọi ba hay bốn, không hi vọng chi viện ở bất cứ ai... Martellino và Sautereau, hai “cậu bé” người Paris của tôi, chiến đấu không chê vào đâu được.

Lúc này, chúng tôi đã ẩn nấp kín đáo phía sau các mỏm đá. Quân Việt, cảm thấy nếu xung phong cũng không ăn thua gì, bắt đầu rút đi... Chúng tôi thu gom những người chết, chăm sóc số thương binh, làm mấy chiếc cáng bằng tre và thận trọng tiếp tục đi về Yên Châu, nơi chỉ mãi đến 20 giờ chúng tôi mới tới, người mệt nhoài. Lần gặp lại vùng thượng du thật ác liệt.

Tin tức tình báo không xác thực. Tôi tin tưởng ở vị thiếu tá dũng cảm vốn đã nghĩ là quân Việt đã tháo chạy. Rồi đây phải nắm lại tất cả những chuyện này. Tôi tự cảm thấy có trách nhiệm về trận thất bại tạm thời này. Lẽ ra tôi phải nắm tình hình đầy đủ hơn và thực hiện một cuộc hành quân trở về ban đêm, có đội trinh sát đi trước. Để lộ tâm tư của mình với quân sĩ liệu có ích gì? Buổi tập đi bộ sáng ngày hôm sau, tôi đi một mình trên con đường để cho họ lấy lại được niềm tin, để cho họ thấy là “ông già” không cho vụ việc vừa xẩy ra là nghiêm trọng.

Lại phải bắt đầu từ con số không, đây sẽ là một bài học rất tốt và trong tất cả những trận đánh không thiếu gì trong tám năm trời nữa, bao giờ tôi cũng nhón gót chân lên để lại ra đi, không nói rằng “Tôi đã làm xong” mà là “Còn có việc phải làm”. Những trận đánh phần nào giống như thời gian hay trạng thái của mặt biển. Chúng không bao giờ giống nhau. Kinh nghiệm, tất nhiên là có ích, nhưng giác quan thứ sáu là cái cần thiết để cảm nhận điều phải làm và điều không được làm.

Tôi lại phải tổ chức di chuyển thương binh. Một đường liên lạc về Nà Sản sẽ được thiết lập đến chi tiết cùng với toàn thể đại đội của tôi. Xuất phát và quay về trong đêm, những điểm có thể bị phục kích do chúng tôi chiếm giữ và mọi việc sẽ diễn ra tốt đẹp. Đại tá Lajoix giao cho tôi quyền chỉ huy phân khu. Tiểu đoàn trưởng Paccioni, không bao lâu nữa được hồi hương, đã đi về Sơn La với niềm luyến tiếc. Tôi đưa mắt trông theo dáng người sĩ quan đáng mến này, con người đã xử sự một cách hoàn hảo, bất chấp khuyết tật tai điếc nặng đến như vậy.
_____________________________________
1. Cayenne: Thủ đô xứ Guyanne thuộc Pháp, ở trên hòn đảo cùng tên - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #17 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:18:21 pm »


VIII
SỞ CHỈ HUY CHIỀNG ĐÔNG


Nhiệm vụ của tôi là lập lại trật tự trong cái xứ sở mà tôi biết rất rõ này qua việc tiêu diệt các đơn vị quân Việt đến từ phía sông Hồng và nhằm tấn công vào khu vực Sơn La. Tôi đứng đầu các đồn bốt hiện có, các đại đội dân binh người Thái, tổng cộng hơn một ngàn người. Nhưng tôi vẫn thuộc về đại đội độc lập của tiểu đoàn dù số 3, tiểu đoàn này cuối cùng đã đứng chân ở Hà Nội và tôi phải báo cáo các hoạt động của mình cho Ayrolles, người tiểu đoàn trưởng nhỏ nhắn, khỏe mạnh của tôi. Các trung úy của tôi là các trung đội trưởng được tăng viện một số dân binh. Họ trở thành các chỉ huy trưởng đại đội, có trong tay chừng một trăm rưởi quân số.

Tôi đặt sở chỉ huy của tôi ở Chiềng Đông, trên một ngọn núi chế ngự ngôi làng. Một vài mái nhà bằng tre nứa được nhanh chóng dựng lên và hệ thống phòng thủ của chúng tôi khẩn trương được xác định. Ở bên tôi có Đèo Văn Thức, một sĩ quan người Thái, rất lanh lợi và thông minh. Anh ta được giao nhiệm vụ tổ chức mạng lưới tình báo của tôi, và các nhóm người Thái dân cư của anh ta sẽ tỏa ra hoạt động quanh vùng. Chúng tôi trả công cho họ bằng tiền và bằng muối, món hàng hiếm hoi ở vùng thượng du. Phải, cần phải như con cá sống trong nước, được sự giúp đỡ của một khối dân cư, cung cấp cho chúng tôi các tin tức tình báo.

Các trung úy của tôi vui sướng. Họ có các sở chỉ huy đẹp. Tình hình được xác định khá nhanh chóng. Quân Việt hầu như có mặt ở mọi nơi, ở phía nam Yên Châu, ở khoảng giữa chúng tôi và Sơn La, và kể cả phía sông Đà là ở phía bắc và sông Mã là ở phía nam. Mỗi người được nhận khu vực hoạt động của mình. Ở sở chỉ huy của tôi, một đại đội dự bị sẵn sàng can thiệp. Toàn mạng được liên lạc với nhau qua vô tuyến. Các sĩ quan của tôi phải hành động dựa theo tin tức tình báo dù cho là ít hay nhiều và hành động ban đêm càng nhiều càng hay.

Cỗ máy khởi động. Phải có cả một cuốn sách mới có thể thuật lại chi tiết tất cả các hoạt động. Trong vòng hai tháng, hàng trăm quân Việt bị giết, nhiều vũ khí thu được, hàng chục trại quân bị phá huỷ... Lòng tin lại tái sinh, những người Thái vốn đã biết tôi trong nhiệm kỳ trước, cảm thấy rằng cán cân đang nghiêng ngả, rằng có lẽ những người Pháp là những người mạnh hơn.

Chắc chắn là chúng tôi phải chịu một thử thách gay go về thể xác bởi những cây số đường đi trong vùng này được tính bằng nhiều giờ đi bộ, trèo lên tới tận khu vực của người Mèo ở trên cao hơn một nghìn mét để rồi trèo xuống và cứ thế lặp lại… Đôi khi phải nuốt trọn một đêm để đi được từ mười lăm đến hai mươi kilômét.

Than ôi! Tất nhiên là những tổn thất lớn, nhiều người chết và rất nhiều người bị thương... Bao giờ cũng đi liền với bài toán về việc vận chuyển thương vong kéo dài nhiều ngày. Nhưng đây là một trận chiến ngang sức. Chúng tôi gánh chịu đau đớn, hành quân, sinh sống giống như quân Việt, vả lại điều này sẽ rất có ích cho tôi sau này.

Một thông báo từ đơn vị của tôi được tách ra, cách ba mươi kilômét về phía nam, trên lưu vực con sông Mã: “Trung úy Lhuillier bị giết, hai bị thương trong một cuộc trinh sát”. Tôi kinh hoàng, chỉ có một người chết và lại là người chỉ huy. Đã xây ra chuyện gì đây? Tôi trả lời: “Sẽ đến chỗ các anh cùng với một đại đội”. Đây là một cuộc hành tiến rất gay go, kéo dài suốt đêm và một buổi sáng trên con đường mòn nằm kẹp giữa hai vách núi, một đoạn đường hầm thật sự chui dưới đám cây rừng và lau lách đủ loại. Chúng tôi đập tan hai ổ phục kích trên dọc đường. Mười quân Việt bị giết, mười vũ khí thu được. Tôi có một lính bị thương nhẹ có thể đi được. Chúng tôi tới sở chỉ huy của đơn vị giờ đây do trung úy Rougier chỉ huy, người mệt lử. Tinh thần của đơn vị xuống rất thấp. Tất cả số thanh niên này bị ấn tượng bởi cái chết của chỉ huy, người mà họ vốn rất cảm phục. Anh ấy, một sĩ quan đã được tuyên dương nhiều lần, mang danh hiệu hiệp sĩ của đội lê dương danh dự, đã tham dự chiến trận ở Italia và ở nước Pháp. Anh ấy bị giết chết trong lúc đi đầu hàng quân. Đây là sĩ quan đầu tiên của tôi bị chết trong nhiệm kỳ lần này. Lúc này tôi vẫn còn chưa biết rằng tất cả những người khác cũng sẽ không trở về nước Pháp, ngoại trừ Rougier sẽ gặp lại tổ quốc sau năm năm bị bắt làm tù binh. Nhưng mà cuộc sống tiếp diễn, thắng lợi cũng vậy.

Lúc ở trên ngọn núi, một bức điện gửi cho tôi từ Sơn La: “Em đến Sài Gòn”. Ký tên. “Gaby”. Sài Gòn ở cách xa đây một ngàn năm trăm kilômét. Tôi gửi một bức điện cho đại úy Cazeaux, đang là tiểu đoàn phó, nhờ anh trông nom cho Gaby. Anh ấy đã quen biết vợ tôi ở Saint Brieuc và Cazeaux là một đồng đội tốt trong nhiệm kỳ lần trước của tôi, lúc đó anh chỉ huy một đại đội trên vùng thượng du, sau trận rút lui trước quân Nhật. Lúc bấy giờ, tôi đã khoe khoang về cuộc sống sôi nổi của quân dù.... Trở về nước Pháp, anh ấy đã theo học và tốt nghiệp khóa đào tạo quân dù, rồi tình nguyện trở lại xứ Đông Dương mà anh ấy yêu thích biết bao. Sau này anh bị bắt làm tù binh trong vụ Cao Bằng và anh ấy chết trong trại giam trước sự cảm phục của mọi người. Về sau, Jean Pouget đã đề tặng anh cuốn sách thống thiết của mình mang tiêu đề: “Tuyên ngôn của khu trại số 1”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #18 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:18:59 pm »


Ở Sài Gòn, các bạn đồng ngũ đã có gia đình của tôi chờ đợi người vợ của họ và tôi sẽ không có mặt ở đó... Gaby thật đáng thương? Em đã chung thủy với người chồng chinh chiến suốt đời. Vợ tôi sẽ ra Hà Nội mười ngày sau đó, giữa lúc tôi đang thực hiện phiên liên lạc vô tuyến với bộ tham mưu. Tôi gặp vợ tôi trong vài phút để nói với cô ấy rằng: “Bây giờ anh sẽ nhờ cậy một trung úy để chăm sóc em bởi vì chỉ mấy phút nữa anh phải cất cánh bay đi Nà Sản”. Cuộc đời thật chó má! Gaby ở Hà Nội, Marie France ở Lorraine với bà ngoại và tôi thì chon von trên ngọn núi này ở giữa đám quân Việt.

Nhưng Gaby không chịu lùi. Không gì có thể ngăn cô ấy lại. Cô ấy xoay xở và tìm cách đến được Sơn La, nơi mà theo nguyên tắc quân sự, những bà vợ không được phép có mặt. Cô ấy đến đó với tư cách khách mời của viên tỉnh trưởng Sơn La. Phu nhân tỉnh trưởng, bà Rinner, dành cho cô ấy dẫy nhà phụ trong toà nhà của họ. Vậy là cô ấy có mặt ở đó, ở giữa khu vực chiến sự, cách sở chỉ huy của tôi năm mươi kilômét. Tuy vậy tôi không thay đổi cuộc sống đã dự kiến. Quân sĩ của tôi không làm tình, vậy là tôi cũng chấp nhận cuộc chơi và chỉ một tháng rưỡi mới về Sơn La một lần.

Ngày 15 tháng ba năm 1949 lẽ ra phải là phiên liên lạc cuối cùng của tôi. Tôi đang ngồi trên chiếc xe Jeep chạy trên con đường thuộc địa số 41. Bên cạnh tôi là người lái xe, hàng ghế sau, Vallet de Peyraud và trung úy - bác sĩ Bernasse. Phía sau năm trăm mét, một trung đội của tôi, ba mươi người, ngồi trên hai chiếc xe tải. Lúc này phải là chín giờ sáng, trời còn mát mẻ, bầu trời xanh lơ tuyệt đẹp.

Đây là con đèo Cò Nòi, nơi chúng tôi sẽ bố trí trận địa phục kích, mọi việc bình thường và tôi nghĩ tới hai mươi bốn tiếng đồng hồ sẽ ở bên Gaby, sau khi giải quyết xong một vài vấn đề với đại tá Lajoix. Cuộc đời thật đẹp. Tôi đang ở trong trạng thái hưng phấn. Chúng tôi sắp tới Hát Lót, mười kilômét trước khi tới Nà Sản, vẫn là cái giác quan thứ sáu, tôi đánh hơi thấy một ổ phục kích và kẹp khẩu các bin vào sườn. Peyraud bảo tôi: “Mà không, giờ đây quân Việt sau những thất bại phải hứng chịu, sẽ không dám đâu”. Để đáp lời, cả loạt đạn nổ ròn một cách tàn ác... Quân Việt ở trên những điểm cao phía bên trái con đường.

Tôi nhẩy khỏi chiếc xe Jeep đang chạy và lăn tròn nhiều vòng xuống đoạn bờ vực nằm sâu ở phía bên phải. Tôi dừng lại ở mười lăm mét phía dưới, trong một búi tre. Khẩu các bin vẫn ở bên tôi. Nhưng tôi thấy đau dữ dội. Bên vai phải của tôi hoàn toàn bị trật khớp, đoạn ngang cổ và ngang lưng tôi cũng bị đau. Đơn độc đáng sợ, tôi nghe thấy trung đội của tôi tham chiến ở xa phía sau...

Quân Việt dùng hỏa lực chặn họ lại, rồi nhẩy xuống mặt đường kiểm tra kết quả trận phục kích đối với chiếc xe Jeep và chắc chắn là để truy tìm tôi, bởi lẽ họ đã trông thấy tôi nhẩy ra khỏi xe. Bốn hoặc năm người trượt xuống vệ đường. Họ tới cách búi tre của tôi năm hoặc sáu mét. Mặc bộ quân phục mầu xanh của Mỹ, tôi hòa cùng mầu với cây cỏ. Khẩu các bin kẹp giữa hai chân, nòng súng kề bên thái dương ngón tay trỏ đặt trên cò súng, sẵn sàng làm nổ tung khối óc của mình...

Những giây phút sao mà kinh khủng. Tôi hình dung ra khung cảnh Gaby chờ đón tôi ở Sơn La và tất cả những cố gắng của cô ấy trong nhiều năm dài để tới được nơi đó. Không, như vậy thật quá ngu ngốc? Lạy trời, xin đừng để tôi ngã gục. Không phải là bằng cách ấy! Ngã gục trong một trận đánh thì “Vâng”, nhưng duy nhất không phải là như một con chó mà người ta sắp đập chết.

Tiếng súng của trung đội gần lại. Quân Việt trên mặt đường lại trèo lên điểm cao. Tôi đoán là họ rút đi. Không thể để quân sĩ của tôi nhìn thấy tôi trong tư thế như vậy. Tôi trèo lên mười lăm mét một cách nhọc nhằn để nhìn thấy các chiến binh dù của tôi... Quang cảnh thật thê thảm! Chiếc xe Jeep bị cháy thành than Peyraud nằm gục giữa đường, bị giết chết. Người lái xe nhỏ nhắn cũng vậy.

Còn Bernasse thì sao? Cậu ta bước tới, nét mặt thất thần. Nhờ chuyện thần kỳ nào mà cậu ta lại ở đây nhỉ?...Trời phậtvốn vẫn thường phù hộ cho những người dân thường. Cậu ta đã chạy lên trên cao, vào giữa khu vực quân Việt, chui trong đám bụi rậm, nấp vào sau một mỏm đá. Bọn họ đã không trông thấy cậu ta. Nhưng cậu ta bị hoảng loạn và phải nhiều tháng trời mới phục hồi lại được, chúng tôi buộc phải cho cậu ấy chuyển về Hà Nội.

Tôi khiển trách nặng nề tay trung đội trưởng, bảo cậu ta rằng: “Các cậu làm ăn hỏng kiểu. Lẽ ra phải tổ chức vừa xung phong vừa la hét cho có khí thế!”. Thật khốn khổ cho cậu ta, cậu ta không đến nỗi phải chịu khiển trách như vậy. Cậu ta đã làm hoàn hảo những gì cậu ta cần phải làm. Peyraud thật dũng cảm! Chàng “tử tước” của chúng tôi, dũng cảm một cách bình thản, và chết vì đã không chịu coi trọng những quân Việt nhỏ nhắn ấy. Trong trung đội có vài người chết và hai bị thương. Chúng tôi đặt những người chết lên xe tải và tiếp tục đi về Nà Sản, Sơn La. Tôi lại bị đau quá và đề nghị cậu y tá của trung đội tiêm cho một ống thuốc moócphin.

Tới nơi trong cảnh buồn thảm. Gaby, đại tá, viên tỉnh trưởng có mặt ở đây... Anh em trong đơn vị kể lại sự việc. “Anh ấy thật đáng khâm phục, anh ấy còn đủ sức quát mắng chúng tôi khi chúng tôi tới nơi”. Tôi được cáng vào bệnh viện, được cho uống thuốc Pentothal và ngủ thiếp đi. Viên bác sĩ ngoại khoa có tay y tá giúp sức hình như đã phải kéo rất mạnh để cho khớp vai của tôi trở lại vị trí bởi lẽ các cơ tay đã cứng đơ. Nhiều năm trời, tôi còn bị đau bên vai ấy vốn đã bị bong dây chằng.

Nhưng nhiệm vụ vẫn còn. Chỉ ở lại Sơn La có hai mươi bốn tiếng đồng hồ, tôi không thể có thời gian riêng tư với Gaby được. Tôi phải quay về Chiềng Đông. Tôi lấy một chiếc xe Jeep và cũng áp dụng chiến thuật cũ, một mình đi đầu cùng với một tay lái xe mới... Phải, chỉ một lần, tôi thật sự hoảng sợ. Cần thiết là tôi phải phản ứng ngay lập tức, chiến thắng được nỗi sợ hãi đó và đi qua lại đúng nơi đó. Vị trí của người chỉ huy chẳng phải là dẫn đầu đội hình hay sao? Phải, với những người lính dù, chuyện thường là như vậy. Chính vì việc đó mà Lhuillier và khá nhiều những người khác đã bị giết chết. Trong đơn vị của tôi, một sĩ quan không nói “Tiến lên!” mà là “Theo tôi!”.

Chiềng Đông, sở chỉ huy của tôi, tôi thấy khó ngủ. Tôi không biết nằm nghiêng sang bên nào để đặt yên ổn được bên vai đau. Nhưng vẫn phải tiếp tục công việc. Những trận tấn công ban đêm, những đòn đột kích tái diễn và hai trận bị trúng ổ phục kích của quân Việt sẽ được chúng tôi trả thù. Hàng chục quân Việt bị giết, những khu trại bị phá hủy, những tù binh. Người ta bắt đầu cảm thấy như là ở trong ngôi nhà của mình. Nhưng mà, thế là đã sáu tháng trời tôi ở trên vùng thượng du này trong khi nhiệm vụ của chúng tôi khi nhẩy dù xuống là để giải vây cho đồn quân. Đại đội của tôi phải trở về với tiểu đoàn, ở đó, tôi biết, cuộc sống cũng không phải là tuyệt vời.

Đại tá Lajoix chấp nhận tất cả những đề nghị của tôi liên quan đến việc khen thưởng dành cho đơn vị: danh hiệu lê dương danh dự, huân chương chữ thập của chiến tranh... Ông đề nghị tuyên dương tôi trước toàn quân với một quyết định rất hùng hồn, trong đó nêu lên tất cả những hoạt động cùng với kết quả của tôi trong sáu tháng đã qua. Và ông đặc biệt nhấn mạnh:

“Đã giành kết quả tối ưu cho đơn vị nhờ vào việc nắm vững vùng đất, cùng với tính năng động nổi bật và ý thức chiến thuật rất cao của bản thân. Có trong tay một đơn vị lính dù được huấn luyện rất tốt, thích ứng được những điều kiện sống rất khó khăn để tác chiến trên cùng núi thượng du. Có lòng tin vào dân chúng, nhờ vào kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn của mình, đã dắt dẫn những hoạt động dũng cảm và quyết liệt làm thất bại cuộc tấn công của quân đối phương...”

Tuy nhiên, tôi không thấy mãn nguyện, tôi đã bị tổn thất chừng ba chục người trong đó có hai sĩ quan. Con số đó đã là quá nhiều. Có lẽ vì tôi muốn đi quá nhanh để thoát khỏi tình thế thảm hại mà tôi nhìn thấy khi mới tới nơi. Chắc chắn là tiểu khu đã được yên ổn hơn, không còn xẩy ra những ổ phục kích nữa, tôi có thể ngồi trên xe Jeep cùng với người lái xe, không có đội hộ tống để đi tới Sơn La. Quân Việt đội ngũ đã xộc xệch, bị dân chúng ngờ vực, cuộc tấn công của họ đã thất bại. Nhưng còn rất nhiều việc phải làm để thấy lại được cái vùng đất y như lúc tôi chia tay với nó khi kết thúc nhiệm kỳ đầu tiên của tôi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #19 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:20:06 pm »


IX
SỞ CHỈ HUY SƠN LA, TIỂU ĐOÀN THÁI SỐ 3


Tướng Alessandri, chỉ huy trưởng toàn xứ Bắc Kỳ, hình như cũng có cùng những suy nghĩ như vậy. Ông triệu tập đại tá Lajoix về Hà Nội bàn về việc tổ chức lại trên tổng thể. Khi trở về Sơn La, Lajoix cho tôi biết:

- Bigeard này, anh sẽ xây dựng tiểu đoàn Thái số 3, anh sẽ nhận được các cán bộ khung tình nguyện đến từ vùng đồng bằng. Sở chỉ huy của anh sẽ đặt ở Sơn La và hoạt động của anh sẽ mở rộng trên toàn bộ xứ Thái đen!

- Thế còn ông, thưa đại tá, ông sẽ ra sao?

- Tiếc thay, Bigeard này, tôi phải rời khỏi Sơn La trở về Hà Nội để chỉ huy từ xa binh đoàn Tây Bắc, có nghĩa là cả Lai Châu và Sơn La. Như vậy là anh vẫn ở dưới quyền chỉ huy của tôi...

- Tôi rất sung sướng vì việc đó, thưa đại tá.

Xét theo chuyên môn, việc xây dựng một tiểu đoàn từ con số không, đối mặt với kẻ địch không phải là việc tôi không thích thú và còn nữa, tôi yêu xứ sở này, nơi tôi cảm thấy như ở nhà mình giữa những người Thái dễ mến đến như vậy. Sau những buổi chia tay xúc động, đại đội yêu quý của tôi, đơn trị đã cống hiến hết mình trong sáu tháng trời, rời khỏi Nà Sản bằng máy bay để trở về Hà Nội, ở đó mọi người sẽ có thể nghỉ ngơi thư giãn trước khi gánh lấy những nỗi khổ cực khác dưới quyền chỉ huy của một đại úy mới.

Lúc đó, tôi không biết rằng việc bổ nhiệm bất ngờ này sẽ tránh cho tôi không phải nhẩy dù ở Thất Khê, trong cuộc rút lui khỏi Cao Bằng, mà nó đã được mô tả rất rõ trong cuốn sách của Paul Bonnecarrère nhan đề “Bằng dòng máu đổ”. Trong trận đó, đại úy Cazeaux, các trung úy Emptoz, Chevret cùng hầu như toàn bộ đại đội của tôi và tiểu đoàn sẽ biến mất.

Trong nhiệm kỳ thứ nhất, tôi sẵn sàng rời bỏ đại đội của mình, để nó ở lại trong khung cảnh hòa bình tạm thời của Hải Phòng. Lần này, tôi để cho những con người mà tôi đã đào tạo đi theo số mệnh của họ. Chắc chắn, tôi sẽ hành động theo lệnh của bộ chỉ huy nhưng chủ yếu là trong ý định lúc nào cũng bám chặt lấy tôi, tiếp tục một trận đánh dở dang trên cái vùng thượng du.

Tôi không có thời gian soát xét lại lương tâm của mình để xem liệu có nhất thiết phải chấp nhận cái nhiệm vụ chỉ huy mới này hay không, bởi lẽ các sĩ quan và hạ sĩ quan từ vùng đồng bằng đã tới. Sở chỉ huy của tôi giờ đây ở trong khu thành Sơn La. Gaby ở ngôi biệt thự nhỏ, thừa hưởng từ đại tá Lajoix. Cô ấy sung sướng. Cuối cùng được sum họp trong buổi tập đi bộ buổi sáng và trong các bữa ăn chung với bộ tham mưu nhỏ bé của tôi... Thật tuyệt vời, không thể tin nổi, chiến tranh và tình yêu, thật là quá đẹp!

Tiểu đoàn sắp được hình thành nhanh chóng. Tôi được hoàn toàn tự do hành động, tôi tổ chức công việc bằng cách nhìn đơn giản nhanh chóng, có hiệu quả. Vây quanh tôi là những cán bộ trẻ, không bận bịu, sẵn sàng tuân theo các chỉ lệnh của tôi.

Trong bản mệnh lệnh số 1, tôi tuyên bố:

“Tiểu đoàn Thái số 3 ra đời ngày 1 tháng mười năm 1949 trong hoàn cảnh đặc biệt”.

“Đối mặt với quân Việt, hăng hái và nguy hiểm, tiểu đoàn với số hạt nhân hạn hẹp người Âu, phải huấn luyện các tân binh, xây dựng các đồn bốt bình định và làm cho kẻ địch khiếp sợ”

“Vùng thượng du xứ Bắc Kỳ là vùng đất ác liệt, thường hay thay đổi, cần phải chế ngự nó, dùng cận chiến đối với nó. Chỉ có những con người thép, ưa thích mạo hiểm và có ý thức trách nhiệm cao mới có thể thành công. Dù cho nguồn gốc của chúng ta là gì, lính thuỷ đánh bộ lính dù, người của đại quốc, dân binh, chúng ta có mặt ở đây để cùng nhau đánh thắng và áp đặt ý chí của chúng ta”.


Nhiệm vụ của tiểu đoàn sẽ là giữ vững hai phân khu Sơn La và Mộc Châu, được xác định bởi các chỉ giới sau đây: ở phía bắc, dòng sông Đà; ở phía nam, con sông Mã; phía tây Thuận Châu; phía đông Mộc Châu, tức là một diện tích khoảng mười nghìn kilômét vuông. Quân số của tôi có năm đại đội chiến đấu được tăng cường bởi chín đại đội dân binh, tổng cộng hai ngàn năm trăm ba mươi người.... một khối lượng “tương đối” để chỉ huy, đối vối một đại úy trẻ. Anh ta cụ thể hóa như sau:

“Đối với một tiểu đoàn mới được xây dựng từ tháng mười, với những tân binh trẻ và các cán bộ phần lớn đến từ nước Pháp, đối mặt với quân Việt có tổ chức ghê gớm, một nhiệm vụ to lớn đang chờ đợi chúng ta”

“Chúng ta phải thấm nhuần nhiệm vụ ở mọi cấp độ, các chiến binh cũng như các cán bộ quản lí, chúng ta không có quyền để lãng phí một giây phút nào. Các chỉ huy trưởng đại đội phải đặc biệt chú ý đến vấn đề xạ kích, việc làm quen với hỏa lực, các bài tập đánh phục kích và phản phục kích. Rất nhanh chóng, chúng ta phải làm quen với việc đi tìm quân Việt ở tận hang ổ của họ”.

“Khối nhân viên phục vụ phải phản ứng chống lại “chủ nghĩa công chức”, ở đây không có các ngày chủ nhật và các ngày nghỉ lễ tết. Ở mọi cấp độ, mỗi người cần phải tin chắc rằng để mất một nửa ngày huấn luyện có thể kéo theo những hậu quả nghiêm trọng sau đó vài tuần lễ...”

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM