Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:16:44 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lời thú nhận muộn mằn  (Đọc 43792 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:21:04 pm »


Mệnh lệnh đã ban ra, các trung úy trẻ tuổi của tôi, tổng cộng hai mươi nhăm người tỏ ra xuất sắc, cùng với quân số của mình, họ tản ra khắp núi rừng, thôn bản, xây dựng các đồn bốt thực hành huấn luyện, đi tìm kiếm quân Việt. Họ đơn độc đối mặt với trách nhiệm của họ ở nơi cách rất xa sở chỉ huy của tôi ở Sơn La. Tôi cho họ chơi cùng một trò chơi như tôi trong nhiệm kỳ lần trước: sống vì quân sĩ của họ, mọi việc đều phải có chủ định, luôn luôn hoạt động. Chắc chắn, họ biết là tôi theo sát họ hàng ngày qua máy vô tuyến, sẵn sàng ghé vai cùng họ với lực lượng tăng viện cần thiết.

Trung úy Caullery, một người con của nước Pháp, khuôn mặt niềm nở, bình thản chỉ huy đồn Phú Yên ở phía bắc Văn Yên, những bước khởi đầu khó khăn đối với chàng sĩ quan trẻ ở vị trí tiền tiêu của tiểu đoàn. Trong một lần đến kiểm tra, tôi đã nhắc nhở cậu ấy phải chấn chỉnh lại đồn bốt, yêu cầu đơn vị tăng cường kỷ luật và đảm bảo với cậu ấy là trong trường hợp quân Việt có cuộc tấn công quyết liệt, tôi sẽ đến tăng viện trong thời hạn ba mươi tiếng đồng hồ cùng với khoảng bốn trăm người.

Ở Mộc Châu, trung úy Faure cao lớn, gầy gò, được đào tạo ở đơn vị biệt kích, đã thành công hoàn hảo. Hệ thống phòng thủ của cậu ấy được bố trí tốt. Cậu ấy diễn tập nhiều lần xuất quân và có một tổ chức tình báo khá tốt. Tôi cũng báo cho cậu ấy biết là tôi có thể tăng viện cho cậu ấy trong trường hợp xẩy ra tấn công. Chỉ huy khu đồn Chiềng Đông - Yên Châu là trung úy Guilleminot, người quen cũ từ nhiệm kỳ trước của tôi, người đã từng bị quân Việt bắt giữ trong mấy phút, vừa tình nguyện tái ngũ sang Đông Dương một lần nữa. Chúng tôi vui mừng gặp nhau, với cậu ấy không có vấn đề gì, một cỗ máy đã được rà quá trơn tru. Godard, một sĩ quan dù cao to, xương xẩu, khôn khéo, chỉ huy ở Nà Sản. Là sĩ quan có kiến thức rộng, cậu ấy nhanh chóng thích nghi và duy trì được mối quan hệ rất tốt với người Thái. Với cậu ấy không có gì đáng lo ngại, cậu ta sẽ làm điều gì cần phải làm.

Trên con sông Mã, ở phía nam tại Mường Hung, tôi có may mắn tiếp nhận trung úy Valette d’Osia, con trai một vị tướng, vững chắc như một tảng đá, lúc nào cũng sẵn sàng đánh nhau... Cần hãm bớt hơn là khuyến khích.

Ở sở chỉ huy của tôi tại Sơn La:

Cấp phó của tôi, trung úy Porcher, sĩ quan dù cũ của tiểu đoàn Ayrolles được xây dựng ở Saint Brieuc mập mạp, dễ đến chín chục cân nhưng bề mặt tri thức, lại rất tinh tế, nhẹ nhàng... Trong tương lai tôi lại có cậu ấy ở dưới quyền một lần nữa, vào nhiệm kỳ thứ ba của tôi trong những hoàn cảnh bi kịch. Bôle du Chaumont, sĩ quan con nhà nòi, tài năng, bản chất thích tìm tòi, sẽ trở thành chủ nhiệm trinh sát của tôi.

Tất cả các buổi tối, qua máy vô tuyến, tôi móc nối liên lạc với những đồng sự tuyệt vời ấy để nắm tình hình trong ngày, xác định cụ thể những hoạt động của ngày hôm sau. Tất cả vì một người, một người vì tất cả! Chúng tôi không ngừng làm náo động khu vực mười nghìn kilômét vuông ấy. Những trận phục kích, đột kích và tác chiến mở rộng tiếp nối nhau. Quân Việt bị đẩy lùi, mất chỗ đứng chân, xứ Thái đen trong vòng vài tháng đã thoát khỏi sự khống chế của quân Việt.

Bất chấp nắm xôi nhỏ, miếng thịt trâu phơi khô, đàn muỗi, bầy vắt, những chuyến di chuyển thương binh dài ngày và nhọc nhằn, đội quân có một tinh thần chiến đấu cực kỳ cao. Các sĩ quan trẻ, các hạ sĩ quan, binh sĩ tự hào về những thành quả thu được. Tổn thất của chúng tôi tương đối nhẹ: 43 chết và bị thương trong số người Âu và đám dân binh. Đường liên lạc giữa Sơn La và Yên Châu không có vấn đề gì, hàng ngày xe cộ đi lại trên trục đường đó. Quân Việt, do vì các hoạt động không ngưng nghỉ của chúng tôi, do vì công tác tình báo có tổ chức và có hiệu quả, đã có vẻ mất sức và lúc này hình như hoạt động chủ yếu ở bên Lào.

Tôi đôi lần có dịp về bộ tham mưu ở Hà Nội để báo cáo tình hình và xin bổ sung phương tiện vũ khí và quân trang. Tôi trở lại Sơn La trên một chiếc Dakota và nhẩy dù ngay trên đầu sở chỉ huy của tôi, với Gaby - được coi như uỷ ban đón tiếp.

Tôi sẽ không nói nhiều đến những đêm hành quân, những thiếu thốn, chi tiết của các trận đánh. Đã từng trải qua nhiệm kỳ đầu tiên, có vốn hiểu biết đầy đủ về xứ sở này và về kẻ địch, cuộc chiến đấu hoàn toàn nằm trong tay tôi và tôi đã trở thành một ông hoàng, một thủ lĩnh kiểu như thủ lĩnh trong cuốn phim “Vĩnh biệt nhà vua” của Schoendoerffer.

Các nhà chức trách dân sự người Pháp, đứng chân một cách đàng hoàng trên cái vùng thượng du này đã lợi dụng sự che chở đó. Vả lại tôi không hề có một cố gắng nào để phải chịu ơn của họ. Thậm chí tôi còn làm một báo cáo về hành vi của một số người tổ chức đường dây buôn lậu thuốc phiện và đồng bạc trắng Đông Dương. Việc trừng phạt chống lại họ sẽ do Paris quyết định nhưng Ramadier, lúc đó là thủ tướng chính phủ, đã yêu cầu cách chức cái tay đại úy điên rồ tự cho phép mình có quyền lộng hành như vậy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:21:41 pm »


Tôi đón tiếp cuộc viếng thăm của tướng Alessandri, chỉ huy trưởng xứ Bắc Kỳ, một con người giản dị, tinh tế, quan tâm đến người khác, chuyên gia về Đông Dương, và đặc biệt là xứ Bắc Kỳ và vùng thượng du. Ông ngạc nhiên trước công tác tổ chức của chúng tôi, các kết quả hoạt động, nhịp điệu sôi nổi của đơn vị. Ông dự bữa ăn trưa ở nhà ăn cùng với cơ quan tham mưu của tôi. Chúng tôi có một buổi tối thú vị. Ngày hôm sau, trước khi lên máy bay ở Nà Sản, ông triệu tôi đến để nói rằng:

- Tôi rất buồn, nhưng tôi buộc phải nói với anh là anh bị cách chức. Tối hôm qua, tôi không đủ can đảm để thông báo với anh việc đó.

Thật là thảm họa! Tôi nằm gục trong buồng, khóc. Không! Không thể nào như thế được. Mọi việc trôi chẩy một cách hoàn hảo, vương quốc của tôi, lý do tồn tại của tôi thế là sụp đổ. Tôi đau đớn xé gan xé ruột và không thể đưa tiễn tướng quân ra máy bay. Tất cả các sĩ quan hiện diện đều tới động viên tôi, số anh em khác ở các đồn bốt độc lập gửi điện cho tôi. Đồng lòng họ viết lá thư tập thể sau đây gửi vị tướng quân.

Sơn La, ngày 18 tháng ba 1950.

Thưa tướng quân.

Hết sức xúc động bởi việc cách chức vô lý chỉ huy trưởng của chúng tôi, đại úy Bigeard, chúng tôi tự thấy có trách nhiệm phải nêu lên với tướng quân trạng thái tinh thần hiện nay của các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ người Âu và người Đông Dương thuộc tiểu đoàn Thái số 3.

Cái đơn vị tốt đẹp mà chúng tôi tự hào là những thành viên, là tác phẩm của duy nhất đại úy Bigeard. Đại úy đào luyện đơn vị bằng tình yêu và trí thông minh. Chỉ cần nghe thấy tên đại úy Bigeard là Việt Minh đã cảm thấy tình hình trong phân khu Sơn La - Mộc Chân sắp thay đổi. Dân chúng, đứng sau lưng các thân hào của họ, đã lấy lại niềm hi vọng, đám “dân quê” đã kéo tới Sơn La đăng ký tòng quân nhiều đến nỗi chúng tôi buộc phải từ chối. Tay Triệu Bàn Khâm của người Thái đen, vốn quen biết đại úy Bigeard từ nhiều năm nay, đã nhân danh cá nhân gửi gắm nhiều thành viên trong gia đình mình cho đại úy che chở.

Trước tất cả những niềm hi vọng được gửi gắm cho mình, đại úy Bigeard đã không phụ lòng mọi người. Dưới sự bảo trợ tích cực từ các đồn bốt của chúng tôi, khung cảnh bình yên lại ngự trị trong phân khu Sơn La - Mộc Châu.

Việc ra đi của đại úy, trên mọi cấp độ, gây ra một khủng hoảng tinh thần nghiêm trọng và tiểu đoàn sẽ rất khó khăn mới có thể chế ngự được. Đám phiến quân, với những cái mũi vô cùng thính vây quanh chúng tôi chắc chắn sẽ lợi dụng tình thế này và chúng ta cần phải chuẩn bị đối phó với làn sóng mới gia tăng mạnh mẽ các hoạt động khủng bố trên toàn vùng, nhất là nếu như các phân đội của chúng tôi được gọi ra khỏi các đường ranh giới của tỉnh, chúng tôi bắt buộc phải rút bỏ một phân khu trong tiểu khu.

Dân chúng trong tỉnh Sơn La nhất trí với tất cả các đơn vị thành viên của tiểu đoàn Thái số 3 để đề nghị với tướng quân giữ lại đại úy Bigeard, người duy nhất mà chúng tôi tin tưởng ở cương vị chỉ huy trưởng tiểu khu Sơn La - Mộc Châu.

Ý thức được lỗi lầm mà chúng tôi phạm phải khi chống lại kỷ luật quân sự nghiêm ngặt, chúng tôi xin sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả của việc làm đó, nhưng chúng tôi không thể nào im lặng trước nỗi nhục nhã công khai và bất công áp đặt cho tiểu đoàn trưởng của chúng tôi.

Ký tên.

Trung úy Porcher, tiểu đoàn phó.
Trung úy Du Chaumont, chủ nhiệm trinh sát.
Trung úy Burignat, chỉ huy đại đội dự bị của tiểu đoàn.
Trung úy Faure, chỉ huy đại đội số 9.
Trung úy Godard, chỉ huy đại đội số 10.
Trung úy Valette d’Osia, chỉ huy đại đội số 11.
Trung úy Guilleminot, chỉ huy đại đội số 12 (đang tác chiến).
Trung úy - Bác sĩ Tomari, thầy thuốc của tiểu đoàn Thái số 3.


Người kế nhiệm tôi sẽ tới trong vài ngày nữa. Đây là một đại úy tốt, vừa mới đổ bộ. Anh ấy tên là Dupont, tại sao không là Durand nhỉ? Vậy là anh ta sắp thừa kế cái công cụ mà tôi tưởng là tài sản của riêng tôi này. Các sĩ quan trong đơn vị đã đi hơi quá trong việc biểu lộ tình cảm của họ bằng việc cho treo cờ rủ ở tất cả các đồn bốt. Thật đáng thương cho Dupont! Về sau, tôi được biết là anh ấy không bao giờ lội được ngược dòng và chỉ ở lại vùng thượng du trong thời gian ngắn.

Tôi soạn thảo bản mệnh lệnh số 3 của tiểu khu:

… Không bao giờ chỉ có hai mà không phải là ba...

Thứ nhất, tôi yêu cầu các bạn, dù cho là xuất thân từ đâu: lính thuỷ đánh bộ, lính dù, người của chính quốc phải họp thành một êkíp chiến thắng và áp đặt ý chí của mình ở mọi nơi.

Thứ hai, tôi khen ngợi các bạn về công việc rất tốt đã được hoàn thành một cách vô tư. Mệnh lệnh này không còn là gửi cho các cấp dưới của tôi nữa, mà là cho các cộng sự của tôi. Trong một hiệp đấu không cân sức lúc khởi đầu, các bạn đã dám chấp nhận và các bạn đã thắng.

Bị đo ván bị một đòn đánh bất ngờ, tôi bị đặt vào tình thế phải chia tay với êkíp đông đảo của tôi là tiểu đoàn Thái số 3. Ở bên các bạn, tôi đã sống những giờ phút đẹp đẽ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình... Tôi đã có quá nhiều may mắn...

Tôi sẽ thường xuyên nghĩ tới những tử sĩ của chúng ta nằm rải rác trên con đường thuộc địa số 41, giữa Mộc Châu và Thuận Châu. Xin gửi tới tất cả, những người Pháp, những chiến sĩ biệt kích, những dân binh của cái vùng thượng du khắc nghiệt này, những lời chúc mừng mắn... Lính thủy đánh bộ cũng thế và không được nao núng!

Ký tên: Bigeard


Nà Sản, cuộc chia tay xúc động lòng người. Trung úy Godard chỉ huy trưởng khu đồn ở đây đã làm tốt mọi việc. Bữa ăn thịnh soạn, có mặt tất cả số cán bộ của tôi, các nhà chức trách dân sự người Thái, kíp lái máy bay Dakota sẽ đưa chúng tôi về Hà Nội. Bài phát biểu của người lâu năm nhất, nói rằng họ nhọc lòng biết bao khi thấy tôi ra đi, quà tặng, bó hoa mua từ Hà Nội lên tặng cho Gaby, lúc này cảm động đến phát khóc... Tôi sắp phải rời khỏi cái thị tứ Nà Sản mà tôi đã giành lại từ tay quân Việt, cách đây mấy năm. Quả là bất công, tôi có cảm tưởng đang tham dự một đám tang.

Lúc này, tôi không biết rằng về sau tôi còn trở lại nơi đây, tìm cách bám chân một lần nữa vào cái xứ sở này và được biết rằng những ai trước đó đã yêu cầu chuyển tôi đi, khi mà quân Việt tấn công đã phải thốt lên “A! Giá như Bigeard có mặt ở đây!”

Trên máy bay, Gaby vốn hiểu rõ nỗi thất vọng của tôi nên giữ im lặng. Chúng tôi sẽ ra sao đây? Viên phi công lái chiếc Dakota, một anh bạn cũ, cho máy bay lượn sát trên đầu các đồn bốt của đơn vị tôi. Tôi nhìn thấy thấp thoáng các binh sĩ, sĩ quan của tôi, lọt thỏm trên các mỏm núi giữa khu rừng già này giơ tay lên vẫy và vẫy mùi soa tạm biệt tôi... Tôi thấy đau lòng... Con tim tôi thắt lại. Tôi đã quá say mê cái xứ sở tuyệt đẹp này cùng với đám cư dân của nó... Gaby ngồi đây, đó là tất cả những gì còn lại cho tôi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:23:33 pm »


X
BỊ CÁCH CHỨC KHỎI TIỂU ĐOÀN THÁI SỐ 3,
TÔI NHẬN NHIỆM VỤ CHỈ HUY TIỂU ĐOÀN CƠ ĐỘNG NGƯỜI ĐÔNG DƯƠNG


Hà Nội, từ vùng rừng núi trở về, tôi có cảm tưởng như về tới Quảng trường Elysés ở thủ đô Paris. Thành phố đông đúc, sống với các quán rượu, các vũ trường, những người Tầu, gái nhẩy, các quân nhân nghỉ phép. Chúng tôi trú trong một phòng nhỏ của khách sạn. Tôi đã chán ngấy, đã quyết định rứt khoát rời khỏi quân đội và khẩn trương quay về nước Pháp. Tôi trình diện với người kế nhiệm đại tá Lajoix vừa mới hồi hương và đưa cho ông ta lá đơn xin giải ngũ, nói rõ rằng điều gì tạo cho tôi sức mạnh và lí tưởng mà mới đây vừa bị phá vỡ một cách bất công. Ông ta đọc lá đơn, xé vụn và vứt vào bồ giấy.

- Bigeard này, anh còn rất trẻ. Không nên có hành động như vậy. Mọi người đều thừa nhận công việc xuất sắc mà anh vừa hoàn thành và trong suối cuộc đời binh nghiệp của anh, chắc chắn anh sẽ còn gặp nhiều thất vọng nghiêm trọng hơn - ông không nghĩ rằng ông nói hay đến thế. - Trước hết, anh sẽ đi nghỉ phép mười lăm ngày bên bờ biển vịnh Hà Long và rồi mọi chuyện sẽ ổn. Khi người ta bị cách chức trong những điều kiện như vậy, người ta chẳng đánh mất cái gì cả và tôi tin chắc là tướng Alessandri sẽ chăm lo đến hoàn cảnh của anh.

Nghỉ ngơi mười lăm ngày giữa lúc chiến tranh sôi sục như thế này! Điều đó chưa bao giờ xẩy ra với tôi và sẽ không bao giờ còn xẩy ra một lần khác nữa. Hai tuần lễ tuyệt vời! Gaby sung sướng. Chúng tôi không rời nhau lấy một phút, đi bộ thể dục, tắm biển, đi du ngoạn trên biển, thăm thú cái vịnh nổi tiếng này, một trong những kì quan thế giới. Ngày 5 tháng tư 1950... Còn tám tháng nữa thì nhiệm kỳ của tôi kết thúc. Tôi phải tới Hải Dương, nằm ở khoảng giữa trên con đường nối liền Hà Nội và Hải Phòng, tức là cách xa cả hai thành phố năm mươi kilômét và ở đó có tiểu đoàn cơ động người bản xứ mà tôi sẽ nắm quyền chỉ huy.

Tiểu đoàn có cơ sở từ những lính biệt kích cũ người Bắc Kỳ trung thành với nước Pháp. Đây là một đơn vị chuyên nghiệp, đã rất thành thạo, khoảng ba chục sĩ quan Pháp có chất lượng và khá nhiều hạ sĩ quan hoàn chỉnh bộ khung, trong đó có vài sĩ quan nổi bật và hạ sĩ quan có tài năng. Hai trong số những người tiền nhiệm của tôi đã bị chết khi chỉ huy đơn vị này, cũng là những sĩ quan trẻ, trong đó có con trai của tướng Leclerc. Có đôi chút nhộn nhạo, tiểu đoàn nổi danh cho đến một thời điểm nào đó, đã không còn giữ được tính năng động cần thiết, tinh thần tư tưởng đang xuống thấp... Không có vấn đề gì, tôi đã quen thạo và nhanh chóng lấy lại sức mạnh cho đơn vị. Bao giờ cũng thế, nắm quyền chỉ huy một đơn vị có khó khăn lúc ban đầu vẫn thích hơn, như vậy người ta có thể đánh giá được bước tiến triển, các kết quả.

Tiểu đoàn có khả năng tác chiến với khoảng một nghìn người, và chủ yếu hoạt động trong vùng đồng bằng. Tiếp sau các lính dù, những người Thái, tôi phải làm quen với những người Bắc Kỳ nhỏ nhắn này, những chiến binh giản dị biết chịu đựng, khéo léo can đảm, thường áp dụng những phương thức của đối phương là những người anh em của họ.

Sau khi nắm lại tình hình ở mức độ nào đó, ra một bản nhật lệnh, có một sở chỉ huy được sửa sang lại cho mới, tôi thấy lo ngại về việc bố trí chỗ ở cho các gia đình, bởi lẽ những người Bắc Kỳ này, binh sĩ tái ngũ, đều có vợ. Thậm chí họ nhận làm con nuôi những đứa trẻ bị bỏ rơi trong các trận đánh. Tổng cộng, kể cả các gia đình, chúng tôi có hơn ba nghìn người... Cái ký túc xá mới to lớn làm sao!

Gaby được bố trí ở trong một biệt thự nhỏ ở trung tâm thành phố. Để tránh một cuộc đột nhập, một nhóm tác chiến chịu trách nhiệm canh gác ngôi nhà... Nhịp điệu các hoạt động tác chiến được duy trì chặt chẽ. Những thời kỳ nghỉ ngơi ở Hải Dương ngắn ngủi. Sau một chuyến tuần tra quan sát, sau những hoạt động tác chiến thành công mỹ mãn, với những bản tổng kết sáng sủa, tôi nhanh chóng trở thành một tay “anh chị” ở giữa cái đơn vị đó, nơi mà những người Bắc Kỳ của tôi thích thú được nhìn thấy tôi hiên ngang, đi bộ dẫn đầu đội ngũ hàng đêm liền và làm cái việc phải làm khi trận đánh nổ ra. Trong gần ba tháng, tôi được giao nhiệm vụ bình định một khu vực rất rộng trong tỉnh Thái Bình ở phía đông nam Hà Nội tám mươi kilômét. Công việc là trinh sát, hành quân cơ động trong đêm, đội kích, phục kích. Nhờ có những vị trí chiến thuật đúng đắn và một hoạt động không nghỉ, đơn vị của tôi đã giành được nhiều thắng lợi trong việc bình định khu vực này.

Ngày 18 tháng sáu 1950, cái ngày 18 nhắc nhở chúng tôi nhớ đến một ngày 18 khác... Bằng một hành động linh hoạt, khẩn trương chúng tôi đã xoá sổ một đại đội quân đối phương ở phía đông bắc Hải Dương chừng ba mươi kilômét. Trong vòng tám tháng chúng tôi ngang dọc không mệt mỏi vùng đồng bằng, lặn ngụp trong các ruộng lúa, nằm lăn ra ngủ bất cứ chỗ nào có thể. Chắc chắn vất vả nhọc nhằn nhưng so sánh thì tương đối dễ dàng hơn các hoạt động của tôi ở vùng thượng du và đặc biệt những hoạt động trong nhiệm kỳ thứ nhất.

Giữa hai trận đánh, tôi có may mắn gặp lại vợ tôi... Đối với phần đông các chiến binh của tôi cũng như vậy. Những cuộc trở về như vậy, tiếc thay ngắn ngủi và do vậy mang đậm dấu ấn. Một vài kỷ niệm hãy còn hiển hiện trong trí nhớ tôi. Trở về sau một trận đánh, như thường lệ, chúng tôi hi vọng được nghỉ ngơi ba hoặc bốn ngày... Quả thực niềm vui được gặp lại nhau và tình yêu bao giờ cũng mới sau những khoảng thời gian sống xa nhau. Sung sướng, thoải mái, Gaby và tôi, chúng tôi cuối cùng đi ngủ lúc hai mươi hai giờ. Hai mươi ba giờ, báo động. Tiểu đoàn phải cơ động khẩn cấp bằng cơ giới và sau đó thực hành một cuộc hành tiến đi bộ ba mươi kilômét trước khi trời sáng... Các mệnh lệnh ban bố, xuất phát. Cái đêm mới kinh khủng làm sao, đôi chân rã rời, ngực thở dốc. Phải, quả là khó khăn để hòa trộn thường xuyên chiến tranh và tình yêu. Cuối cùng, ngày mai, tôi sẽ lấy lại được sức lực. Một lần khác, trở về sau một trận đánh kéo dài ba tuần lễ, tôi gặp lại Gaby đầu quấn một chiếc khăn quàng cổ. Tôi lo lắng về cách trang phục bất thường ấy. Có chuyện gì xây ra đây? “Tóc em bị rụng nhiều, em cho cạo đi hết...” Dũng cảm làm sao. Cần phải làm như vậy. Tôi có cảm giác làm tình với một cậu con trai. Tất nhiên, mái tóc hoàn toàn mới mọc lại rất nhanh.

Trở về sau một vụ việc khác kéo dài suốt mười lăm ngày, chúng tôi được tập trung ở Hà Nội vào lúc 20 giờ. Ban đêm, đoạn đường đi Hải Dương bị phong tỏa. Con đường chỉ được khai thông vào lúc 8 giờ sáng hôm sau, khi mà các đồn bốt rải rác trên trục đường đã làm cái việc mà người ta gọi là mở đường bằng các đội tuần tra gặp được nhau sau khi đã tháo gỡ những trái mìn do quân Việt bố trí trong đêm. Vậy là tiểu đoàn phải ngủ qua đêm ở Hà Nội.

Nóng ruột muốn gặp lại Gaby, được xông pha thử thách, được làm người hùng đối với anh em trong đơn vị, tôi quyết định ra đi lúc 22 giờ bằng xe Jeep, cùng đi chỉ có mỗi cậu lái xe nhỏ nhắn người Bắc Kỳ của tôi, đặc biệt rất tự tin. Hai khẩu tiểu liên và chừng một chục quả lựu đạn coi như đội hộ tống cho chúng tôi. Mọi chuyện bình thường cho đến cách Hải Dương khoảng hai chục kilômét. Tôi vừa ấn hết mức chân ga tăng tốc thì bỗng đột nhiên, qua ánh đèn pha ôtô, trông thấy chừng ba chục quân Việt đang cưa đổ các cột dây điện thoại.

Không có chuyện mềm yếu. Kịch bản của chúng tôi đã tới đỉnh cao. Cậu lái xe bắn hết các băng đạn của hai khẩu tiểu liên, trong lúc đó, vừa lái xe tôi vừa mở chốt an toàn và ném mấy quả lựu đạn. Chỉ hai đứa chúng tôi mà gây cảnh huyên náo ầm ĩ. Quân Việt hẳn phải cho chúng tôi là hai con ác quỷ. Trong thời gian họ kịp tỉnh ngộ thì chúng tôi đã vọt qua và những viên đạn rít lên ở tầm quá cao, không trúng được chúng tôi.

Không có nỗi hoảng sợ nào cả. Lúc ra đi, tôi đã biết là sẽ có chuyện xẩy ra nhưng mọi chuyện rồi sẽ ổn... Cái giác quan thứ sáu vốn thường giúp cho tôi dự cảm được các biến cố. Cậu lái xe nhỏ nhắn của tôi khoái chí, mỉm cười. Tôi còn gặp lại cậu ấy cùng với thái độ y như vậy trong nhiệm kỳ thứ ba của tôi. Trong thời kỳ đó cậu ta chiến đấu ở Điện Biên Phủ bên cạnh tôi. Chúng tôi gặp nhau khi tôi nhẩy dù xuống và cậu ta tới gặp tôi trên đường băng để mang tới cho tôi chiếc túi đệm ngủ bỏ quên. Và vì lý do như vậy đấy, trong cái lòng chảo nổi tiếng chúng tôi gặp lại nhau.

Những chuyến trở về của các chiến binh rất khác thường và tôi làm cho Gaby bị bất ngờ khi nửa đêm, tôi chui vào giường nằm. Cô ấy kinh hãi, tôi thì thầm bảo cô ấy: “Đừng sợ, anh đây. Và để gặp lại em, anh muốn làm cho cuộc gặp nồng ấm thêm”. Trong những giây phút ấy, đó là tình yêu với chữ Y viết hoa. Tuổi còn trẻ và hơi điên khùng là tốt. Bây giờ nhìn lại, với một bước lùi, khoảng hai chục năm, tôi thấy luyến tiếc những mảnh lon đại úy ấy và tôi buồn bã mỉm cười nhớ lại những kỷ niệm như vậy của con thú hoang dã còn non trẻ được sở hữu hoàn toàn các phương tiện của mình với một sức mạnh vượt trội. Có lẽ đây là khoảng thời gian đẹp nhất của chúng tôi.

Lại cần thêm nhiều trang giấy để thuật lại những cuộc chạm trán gần như hàng ngày với quân Việt, được kết thúc bằng những thắng lợi. Tiếc thay, cũng nhiều tổn thất, tổn thất nhẹ so với kết quả giành được. Danh tiếng của tiểu đoàn đạt tới đỉnh cao. Những người Bắc Kỳ của tôi buồn phiền khi thấy hạn hồi hương của tôi đang tới. Bất chấp cuộc sống hoạt động, say mê ấy, tôi vẫn thấy nhớ tiếc cái vùng thượng du mà tôi sẽ gặp lại trong nhiệm kỳ thứ ba của tôi... để bước vào một hành trình tệ hại nhất.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 09:24:21 pm »


XI
LẠI TRỞ VỀ NƯỚC PHÁP


Trước khi lên đường, tôi có được những nhận xét tốt nhất:

Đại úy Bigeard đã khẳng định những lời nhận xét, biểu dương từng được nêu lên cho bản thân mình. Sau khi nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn cơ động người bản xứ ngày 5 tháng tư 1950, đã ngay lập tức tỏ ra là một vị chỉ huy hết sức xứng đáng. Khôi phục lại tình hình đáng tiếc, đã lấy lại được niềm tin cho sĩ quan và binh lính toàn đơn vị, trong những thời gian ngắn đã thu được những kết quả suất sắt nhất: những trận đánh thắng lợi, bắt dược tù binh, tịch thu được một khối phương tiện chiến tranh quan trọng, bình định nhanh chóng một vùng đất rộng lớn.

Đại úy Bigeand đã dứt khoát giành được những danh hiệu vẻ vang nhất để được bổ nhiệm giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng.


Những cuộc diễu binh, chuyển giao quyền chỉ huy. Những cuộc chia tay tạm biệt, khởi hành đi Sài Gòn, ở đó chúng tôi đợi vài ngày trước khi xuống con tàu Marseillaise, một con tầu rất đẹp, ở đó tôi gặp lại trung úy Ayrolles em trai của người tiểu đoàn trưởng nhỏ nhắn của tôi. Anh ta kể lại với tôi tất cả chặng đường của tiểu đường dù số 3.

Đại úy Cazeaux tốt bụng, người đồng ngũ trong nhiệm kỳ thứ nhất của tôi ở vùng thượng du, trở thành lính dù một phần do lỗi của tôi, cuối cùng đã lên chỉ huy tiểu đoàn thay thế thiếu tá Ayrolles bị cách chức... Cazeaux tốt bụng sau này sẽ chết, như tôi đã nói, trong trạm tù binh nổi tiếng số 1. Tôi vẫn còn hình dung ra anh ấy ở Saint Brieuc thường hay đến ăn trưa trong căn hộ hai buồng của chúng tôi, bao giờ cũng có bó hoa tặng cho Gaby.

Ba tuần lễ trên biển. Thực tế đây là chuyến du hành tuần trăng mật thực sự của chúng tôi, chậm mất chừng tám năm... Chuyến đi tuyệt diệu, bị ảnh hưởng xấu vài ngày vì các lý do: sốt rét, kiết lị, và những phiền phức khác... Người ta không dám tận hưởng những thực đơn rất ngon: cơ thể của chúng tôi không chịu nổi những cốc rượu vang ngon và các món nước sốt khác nhau.

Marseille. Gaby bị một cơn sốt rét ác tính. Thân nhiệt của cô ấy dao động giữa 41 và 42 độ. Về phần tôi, tôi bị đau bụng dữ dội. Paris, nơi chúng tôi tới với một cơ thể rất yếu. Bà chị của Gaby, tay dắt Marie France đứng ở bậc lên xuống của toa tầu hoả. Tôi thấy Marie France rắn rỏi, đúng là một cô bé nông thôn vùng Lorraine lắm mồm. Tôi đã không nhìn thấy nó lúc nó sinh ra, đã rất ít thời gian sống với nó, nhưng hai bố con lập tức nhận ra nhau, và quả thật là ích kỷ, tôi nhận thấy là nó thích tôi hơn là mẹ nó.

Khách sạn Terminus, nhà ga xe lửa Saint Nazarre, điểm nhẩy dù vĩnh viễn của tôi ở Paris. Chúng tôi ở lại mấy ngày để đổi mới một cách khiêm tốn tủ quần áo của chúng tôi, mua sắm tất cả những gì mà Marie France thích... Và nó đã biết thứ gì mà nó muốn. Tháng mười hai 1950… Mẹ tôi đơn chiếc đứng trên cái sân ga ma quái ở Toul, cái sân ga ghi dấu những chặng đời của tôi.

Bố tôi, chị tôi không còn nữa. Họ an nghỉ trong khu nghĩa địa nhỏ ở gần cái trạm bẻ ghi của bố tôi nơi tôi bước tới khi xuống tầu ở phía đối diện vào năm 1936. Ông bố chết vì ung thư, đã nói nhỏ trước khi nhắm mắt. “Tôi những mong được gặp lại thằng bé”. Bà chị, nước da nâu, bình tĩnh, chậm chạp, thận trọng, đã chết khi sinh đứa con so. Tôi đau lòng biết bao vì đã không thể ôm hôn cả hai người một lần nữa.

Kỳ nghỉ phép bốn tháng ở cái vùng Lorraine này về mùa đông có phần không mến khách, trú ngụ cùng trong cái gian phòng nhỏ không có vòi tắm hoa sen ở nhà bà mẹ vợ... chúng tôi, những kẻ bị coi là lợi dụng! Làm thế nào đây? Đơn giản chỉ là để cho mình sống một chút, lại tắm mình trong bầu không khí quê hương, nhắc nhớ lại những kỷ niệm, giúp đỡ bà mẹ già của tôi sửa sang lại vườn cây ăn quả, đi ra thăm mộ những người đã khuất. Và nữa, kể cả việc tìm cách mua lấy một căn nhà nhỏ, không quá đắt, để cho Gaby ở một cách đàng hoàng nếu như tôi lại phải ra đi một lần nữa. Chúng tôi tìm được một ngôi biệt thự nhỏ trong khu ngoại ô với giá một triệu bảy trăm ngàn đồng Franc cũ. Toàn bộ số tiền tiết kiệm của chúng tôi chui vào khoản đó.

Tôi vẫn còn chiếc xe của tôi, chiếc Mercédès M.G 6142 nổi tiếng nay cũng đã xộc xệch nhưng được tân trang lại bởi cửa hàng sửa xe vùng ngoại ô, nó vẫn còn chạy được. Và tại trạm xe Domaines tôi đã chỉnh trang lại chiếc xe trung thành này vốn nhắc lại cho tôi những kỷ niệm vẻ vang của mình. Theo nguyên tắc, tôi phải mua nó với giá mười nghìn Franc lúc đó.

Lùi lại thời gian một chút, tôi thử điểm lại tình hình của cái nhiệm kỳ thứ hai, chắc chắn là ác liệt, tích cực, những kết quả nổi bật thu lượm được. Dẫn đầu một đại đội, tôi đã xây dựng một tiểu đoàn trong những điều kiện khó khăn. Nắm quyền chỉ huy một tiểu đoàn cơ động người bản xứ bị suy giảm sức cơ động, tôi đã tích lũy được một khối kiến thức thu được từ trên trường đua. Lại là những đêm dài hành quân, những trận đánh không bao giờ giống nhau, ở trên những vùng đất rất khác nhau.

1936... 1951... Mười lăm năm vừa mới trôi qua, tôi phải cố định một cách tổng hợp trong trí nhớ những kỷ niệm nổi bật nhất, những gian khổ phải chịu đựng, những kilômét đường đã đi qua, những giờ phút hạnh phúc hiếm hoi tôi có được. Vào thời kỳ đó tôi mới chỉ là một đại úy hài lòng với số phận, bị hấp dẫn bởi cuộc sống được tạo thành từ những chuyện bất ngờ, những mối nguy hiểm, nhưng ý thức được phải cống hiến hết mình và tin chắc là phục vụ tổ quốc một cách hoàn toàn vô tư.

Tôi không biết rằng một năm sau, năm 1952 tên họ của tôi lại bùng nổ trên các bản tin thời sự và còn có mặt ở đó hai mươi năm về sau vì những điều tốt nhất và cả vì những điều xấu nhất. Người ta không sao thoát khỏi số mệnh của mình.

Tuy nhiên, tôi nghĩ là tôi có thể làm tốt hơn. Có phần nào quá tự tin, quá tự mãn, tin vào vận may của mình, hơi bị phân tán bởi sự có mặt của Gaby, ở đó, trong cuộc chiến tranh này, liệu tôi đã thực sự chơi ván bài đích thực chưa? Chắc chắn là sung sướng đến điên rồ từng thời gian được gặp lại vợ mình, được thư giãn, sống có phần nào như tất cả mọi người, nhưng luôn luôn có chút hối hận bởi lẽ cuộc chiến tranh tệ hại, khó khăn này không chấp nhận có sự phân tán. Chịu trách nhiệm về những sinh mạng được giao phó cho mình, lẽ ra tôi cần phải dành hết tâm hồn và thể xác cho nhiệm vụ của mình.

Phải, nếu như tôi phải tiếp tục, thì tôi cần phải trở thành một thầy tu khổ hạnh thực thụ, sống vì anh em trong đơn vị, chỉ có nghĩ đến họ, dẹp hẳn những bản năng của mình... Đó đúng là những gì mà tôi sẽ thực hiện trong những năm sắp tới. Gaby đáng thương! Em đã không biết được ý nghĩ đang diễn ra trong óc tôi, khi em đặt ra cho tôi câu hỏi: “Anh đang nghĩ đến điều gì vậy?”.

Tôi vội vã lại ra đi. Tôi thấy ngạt thở trong cuộc sống chật hẹp này. Tướng De Lattre vừa mới tới Đông Dương. Tôi thảo một lá đơn xin tới ở bên ông ấy, trước khi kết thúc kỳ nghỉ phép. Tôi những muốn được phục vụ dưới quyền chỉ huy của một ông chủ như vậy! Gaby không sao hiểu nổi nữa. Cô ấy hi vọng tôi tỏ ra khôn ngoan hơn một chút. Nhưng tôi không thể bỏ mặc các đồng ngũ chiến đấu mà mình không có mặt. Bộ chỉ huy hẳn là cho rằng tôi cần được nghỉ ngơi chút ít và việc bổ nhiệm tôi sẽ là về bán lữ đoàn quân dù ở Vannes, nơi tôi đã ra đi cách đây ba năm và là nơi tôi phải đến trong tháng tư năm 1951.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 10:16:42 pm »


Phần thứ hai
THOÁT KHỎI CẢNH VÔ DANH
Tháng tư 1951 đến tháng mười 1955
_________________________________________________________________________________


- Tháng tư 1951 đến tháng sáu 1952: xây dựng tiểu đoàn dù số 6. Được bổ nhiệm tiểu đoàn trưởng.

- Tháng bẩy 1952 đến tháng chín 1954: nhiệm kỳ thứ 3 ở Đông Dương và bị bắt: Vĩnh Yên và Phúc Yên - Tú Lệ. Vùng đồng bằng Bắc Kỳ. Vùng thượng du Bắc Kỳ - Lào - Lạng Sơn. Đánh chiếm Điện Biên Phủ. Lào. Vùng đồng bằng Bắc Kỳ. Lại nhẩy dù Điện Biên Phủ. Được thăng cấp trung tá. Bị bắt, cuộc bỏ trốn - được giải phóng. Nghỉ phép ở nước Pháp.

- Tháng hai 1955 đến tháng mười 1955: Học viện Tham mưu ở Paris.






I
THÀNH LẬP TIỂU ĐOÀN DÙ SỐ 6


Ở cấp đại úy từ sáu năm nay, tuy nhiên tôi đã chỉ huy hai tiểu đoàn trong lửa đạn và tôi không biết, vào thời kỳ đó, liệu có một bản niên giám nào về các sĩ quan, trên đó tôi có thể đọc được rằng một vài người được bổ nhiệm làm tiểu đoàn trưởng sau bốn hay năm năm giữ cấp bậc đó. Nhưng, hài lòng với số phận của mình, với cái cuộc sống căng thẳng, kéo dài từ năm 1939, tôi không hề nghĩ đến chuyện được thăng cấp.

Đơn độc, tự tin, tôi tìm tới cái vùng Bretagne thân thiện ấy và sở chỉ huy của bán lữ đoàn, đơn vị đã liên tục xây dựng các tiểu đoàn tình nguyện, và ở đó có một cuộc sống náo nhiệt hết sức khác thường. Massu, lúc đó là đại tá, đã được thuyên chuyển sang đâu đó bên xứ châu Phi đen, ở đó theo như chỗ tôi biết, ông ta hẳn là phải bực tức vì đã không thể tiếp tục cuộc vật lộn với những người mà móng vuốt của ông ta đã để lại dấu ấn đến trọn đời.

Đại tá Gilles, vừa mới tốt nghiệp khóa học của lính dù, thay thế ông ấy. Con người trái ngược hẳn: cao to, hỏng một mắt, tốt nghiệp Học viện Chiến tranh, đã tham gia chiến đấu ở đảo Elbe, ở nước Đức, một nhiệm kỳ ở Đông Dương. Do vì quá khứ của ông, vì thái độ bình tĩnh, độ lượng của ông. Ông biết cách thuyết phục bằng một cung cách mềm mỏng hơn Massu, và có đôi chút làm ra vẻ một lính dù lâu năm, thường xuyên có mặt ở các khu vực nhẩy dù để xem “bọn nhỏ của ông” nhẩy ra sao, như cách ông nói.

- Kính chào ngài, thưa đại tá.

- Xin chào, Bigeard... Kể từ ngày chúng ta gặp nhau ở Đức, thế là cậu đã có bước tiến dài đấy nhỉ. Bọn mình sẽ sắp xếp cho cậu ra sao đây?

- Thưa đại tá, tôi muốn lại được sang vùng Viễn Đông càng sớm càng hay.

- Hoan hô. Thật là vinh dự sau tất cả những gì cậu đã làm. Tôi dành cho cậu hai khả năng: chỉ huy một tiểu đoàn đang trong quá trình xây dựng nhưng không thể ngắn hơn sáu tháng, hoặc là lấy cậu về bộ tham mưu của tôi bởi lẽ trong vài tháng tới, tôi phải sang xứ Bắc Kỳ.

- Thưa đại tá, tôi thích tiểu đoàn hơn.

Trong khi chờ đợi, tôi thừa kế tiểu đoàn tạm trú, là tiểu đoàn chịu trách nhiệm công tác quản lý các đơn vị lên đường đi chiến đấu. Không có vấn đề gì, tôi gánh vác được: sáu năm làm nhân viên nhà băng, kế toán trưởng trong quân đội.

Sáu tháng buồn tẻ, chốt chặt ở bàn giấy tám tiếng đồng hồ mỗi ngày, nhìn các đồng ngũ của tôi lên đường đi chiến đấu. Đây quả là cái giới hạn dài dằng dặc mặc dầu hàng ngày tôi thường xuyên tập đi bộ lúc 6 giờ sáng, hàng chục lần nhẩy dù trên cái bình nguyên Meucon này. Ở đây gió thổi mạnh, với đôi lần những cuộc tiếp đất khô cứng trên những đường băng bê-tông của sân bay cũ khiến cho tôi vài lần bị bong gân, bị phồng rộp mỏm xương cụi và những tai nạn khác. Sau mỗi lần nhẩy dù quay về, Gaby cũng đã đến đây cùng với Marie France, chuẩn bị cho tôi một bồn tắm nước nóng có pha muối để làm dịu các chỗ đau.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 10:17:41 pm »


Thời kỳ khổ cực kết thúc. Gilles ghi cho tôi những nhận xét sau đây:

“ Đại úy Bigeard từ sáu tháng nay đã nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn tạm trú, đơn vị quản lý xây dựng các đơn vị, một nhiệm vụ nặng nề và phức tạp. Đại úy đã mang tới cho nhiệm vụ chỉ huy này những phẩm chất vốn có của mình về tính năng động và lòng nhiệt tình. Nhiệm vụ này đã thành công mỹ mãn và giúp ích rất lớn cho các đơn vị đang trong quá trình tổ chức và huấn luyện. Cá nhân đại úy đã giành được một điểm ưu để trở thành một cán bộ chỉ huy xuất sắc. Ngay từ lúc này đại úy Bigeard đã là một tiểu đoàn trưởng ưu tú”.
 
Tôi đã chấm dứt với công việc quản lý.

Tôi đến ở khu trại Charner ở Saint Brieuc để thành lập tiểu đoàn dù thuộc địa số 6. Và tôi có chín tháng để, từ con số không, đổ bộ sang Đông Dương cùng với một ngàn người, chỉ huy họ chiến đấu trong hai năm trời trong những điều kiện ngày càng bi thảm hơn, ở đó chúng tôi biết rằng ngài De Lattre vĩ đại, xuất sắc của chúng tôi bị sa lầy, bất chấp tính hung hăng của ông.

Êkíp của tôi tuần tự được hình thành. Sĩ quan, hạ sĩ quan binh sĩ tái ngũ nhập ngũ, đến với tôi ngày lại ngày. Tuỳ theo khả năng sở trường của từng người tôi sắp xếp họ vào nơi thích đáng để thành lập cơ quan tham mưu và các đại đội chiến đấu. Qua kinh nghiệm thực tiễn, tôi biết mình phải làm gì để hình thành một tiểu đoàn cơ động, gọn nhẹ, như một con báo biết cách hành động, có một niềm tin không gì lay chuyển nổi. Cách làm của tôi sẽ rất khác cách làm đã được áp dụng cách đây ba năm cũng trong cùng khu trại lính này. Việc huấn luyện được tiến hành khẩn trương, tất cả các cán bộ đều phải gương mẫu. Chúng ta cùng chịu đựng, cùng nhọc nhằn. Khẩu hiệu này là bắt buộc: một người vì mọi người, mọi người vì một người.

Các sĩ quan trẻ của tôi, tất cả là trung úy hoặc thiếu uý, đều nổi bật. Tôi kể tên một vài người vốn đã từng có một nhiệm kỳ hoạt động và để xác định chất lượng của cái bộ phận ưu tú này, hành động theo lòng yêu nước và tính vô tư, không vụ lợi của họ. Chúng tôi khác xa hình ảnh người lính dù đã bị mất giá rất nhiều.

Leroy, còn gọi là Polo, có giọng nói trầm ấm và quyến rũ, đẹp trai, trông có tư thế, anh em lính mới rất thích, đã lấy một cô giáo người vùng Bretagne, xinh xắn tuyệt vời. Trapp cao, gầy, ít nói, rắn rỏi như một tảng đá, nghiêm khắc với bản thân và với mọi người trong đơn vị của mình, được anh em nể sợ và cảm phục. Rồi ra, cậu ta sẽ rất khác thường cho mà xem. Lepage người vùng Bretagne nhỏ nhắn, gân guốc, nghiêm nghị, kiên trì. Sẽ lấy vợ trước khi chúng tôi lên đường. De Wilde và vợ, rất sùng đạo, những vị thánh đối với họ: Thượng đế, Gia đình, Lao động. Le Boudec một tai bị điếc, độc thân, con nhà nòi, ưa thích chuyện vụn vặt, nhút nhát trước mặt phụ nữ, mặc dù có ngoại hình của một nam diễn viên thường đóng vai tình nhân. Porcher đã phục vụ dưới quyền chỉ huy của tôi ở Sơn La. Nặng chín mươi kilô, nhẩy dù vất vả, không ưa chuyện va chạm nhưng biết chiến thắng nỗi sợ hãi của mình, viết lách tốt, có nhiều ý tưởng, sắp sửa cưới vợ, sẽ là cấp phó của tôi. Bourgeois đã có vợ, có văn hóa, tinh tế, cận thị. Đây là nhà tri thức của bầy đàn, người có tiềm năng đạt tới những đỉnh cao. Và cả một loạt sĩ quan tài năng mới toanh vừa tốt nghiệp ra trường.

Các hạ sĩ quan bộ phận then chốt của tiểu đoàn, mà một nửa là những con người thích đánh nhau rõ rệt. Số còn lại, do phong trào lôi cuốn, tôi tin chắc như vậy, cũng sẽ chiến đấu tốt như những bậc đàn anh của họ. Trong số này có hai “cậu bé” người Paris nay đã là trung sĩ: Martellino và Sautereau, hai người từng bị kỷ luật “nốc-ao” ở ngay trong khu trại này cách đây ba năm. Sung sướng vì lại được ở dưới quyền chỉ huy của tôi, họ nói với tôi khi gặp lại nhau: “Nào, anh Marcel, không có thù oán nhé”.

Rồi đến trung sĩ nhất Prigent, từng nhẩy dù năm 1943 xuống trận địa của quân Đức, toàn diện, giầu kinh nghiệm, không thua gì một sĩ quan. Trung sĩ Baliste, một cựu du kích quân, đã từng phục vụ dưới quyền chỉ huy của tôi trong nhiệm kỳ thứ hai; được thưởng huân chương chữ thập chiến tranh một cách xứng đáng, rất khôn khéo, được đám trẻ trong đơn vị tôn sùng. Sentenac, trung sĩ trẻ, một tay hăng hái dũng cảm đáng khen, nhanh nhẹn, vững vàng. Đã trốn thoát khỏi trại tù binh sau thất bại của Điện Biên Phủ để rồi kết thúc cuộc đời ở Algérie, trúng đạn giữa sa mạc trong những trận đánh ở Timimoun. Và còn nhiều người khác mà tôi rất muốn được nêu tên.

Đám thanh niên ưu tú này sẽ tạo thành sức mạnh của chúng tôi. Ngày nay, trong thời bình, đối với cùng một tiểu đoàn như vậy, người ta dễ dàng thấy có một đại tá, bốn thiếu tá, mười đại úy. Nhưng, huyên thuyên như vậy mà làm gì, cần phải sắp xếp các cán bộ của tôi.

Lớp trẻ tiếp tục kéo đến chui vào cái khuôn mẫu này. Được cuộc sống sôi nổi lôi cuốn, họ không hề nhăn nhó... Trước hàng trăm kilômét hành quân bộ, những bài xạ kích, tập luyện, làm việc ban đêm, việc huấn luyện biệt kích. Đây thực sự là một nhà máy mà ở đó trí óc, con tim chế ngự. Tiểu đoàn có trước chúng tôi đã để lại một tiếng xấu khi người chỉ huy của đơn vị đó đã rút khẩu colt ra trong một vũ trường của những người dân thành phố Saint Brieuc. Cũng vì vậy tôi yêu cầu phải giữ một tư thế mẫu mực, mọi lỗi lầm nghiêm trọng sẽ bị phạt bằng việc huỷ bỏ hợp đồng và trả về ngạch dân sự.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 10:18:18 pm »


Chúng tôi lấy lại được uy tín. Các cánh cửa mở ra. Việc tiếp xúc với dân chúng được nối lại. Chúng tôi có thể lại bố trí “nhà ăn tập thể” của chúng tôi ở khách sạn Anh quốc, cùng với các bà vợ ăn uống trong một không khí náo nhiệt, sống động, ở đó người chỉ huy chỉ có thể nổi bật bằng giá trị của mình chứ không phải là bằng những mảnh lon. Đây là một kíp bạn bè tranh luận cởi mở, cùng nhau trao đổi các ý tưởng.

Để tỏ ra lịch sự, tôi quyết định tổ chức một buổi vũ hội với quy mô lớn trong cái khách sạn xinh đẹp ấy. Khắp nơi đều là quân dù, ánh đèn rực rỡ chói chang, những giấy mời trong đó tôi ghi rõ: trang phục dạ hội, áo váy dài. Chúng tôi đã có được lời đồng ý tham dự, tất nhiên là phải trả tiền, của Annie Flore, ca sĩ nổi tiếng vào thời kỳ đó. Pléven, Bộ trưởng Chiến tranh, chủ toạ buổi tối hôm ấy. Đó là một con người bình tĩnh, điềm đạm, chúng tôi quý mến ông. Trong những cuộc đi kiểm tra, bao giờ ông cũng có những lời nhận xét dễ chịu.

Thất bại hoàn toàn. Rất ít khách dân sự có mặt... Vào thời kỳ đó, bộ váy áo dài là một món hàng khan hiếm. Pléven hiểu rõ tình hình và tự nguyện gánh vác một phần chi phí! Không có vấn đề đó. “Thưa Bộ trưởng, chúng tôi sẽ xoay xở được”. Rõ ràng, chuyện giao lưu với xã hội thượng lưu không phải là điểm mạnh của tôi.

Đại tá Gilles lại vừa lên đường sang Bắc Kỳ nên trung tá Langlais kế nhiệm. Vì ông ấy tốt nghiệp trường đào tạo quân dù chưa bao lâu cho nên tôi chưa từng có dịp gặp mặt. Trung tá Langlais mảnh khảnh, gầy gò như một cây gậy, đôi mắt xanh lơ, cằm nhọn, ít nói, vốn xưa kia là người chăn lạc đà, luôn luôn tình nguyện được tham chiến, bốn mươi ba tuổi, độc thân. Lần gặp nhau đầu tiên không nhiệt tình, nhận xét lạnh lùng, đầu óc để đi nơi khác. Phải đợi đến Điện Biên Phủ và một cuộc cãi vã nghiêm trọng... Khúc dạo đầu cho tình bạn của chúng tôi.

Sau một tai nạn trong đó hai lính dù tử nạn khi tiếp đất, ông ấy họp chúng tôi lại và định củng cố tinh thần cho chúng tôi khi ông nói: “Không có chuyện mềm yếu, ngày mai tất cả chúng ta sẽ nhẩy”. Tôi mỉm cười và cho rằng ông ấy chỉ là một lính dù non trẻ khi có cách nói như vậy với các chiến binh vốn không cần thiết phải dùng “đôping” để kích thích.

Ngày 1 tháng giêng 1952. Tôi được bổ nhiệm chức tiểu đoàn trưởng... Bốn vạch lon. Tôi đã ba mươi sáu tuổi. Đối với một sĩ quan từ binh nhì đi lên, thế là tốt và tôi đứng ngang hàng với các sĩ quan tốt nghiệp trường Sait Cyr và kỹ sư Bách khoa. Gaby và nhất là mẹ tôi lấy thế làm tự hào. Những nhận xét về tôi rất tốt.

“Chiến binh ưu tú, chỉ huy chiến đấu hăng hái, thực sự biết dẫn dắt, đào tạo con người, tự tin và lạc quan. Thông minh, rất nhanh nhậy, thích nghi hoàn hảo với mọi hoàn cảnh. Vốn tri thức khá”... Và đó là lý do tôi được bổ nhiệm.

Gaby và Marie France tới Saint Brieuc cũng ở trong căn hộ hai buồng mà chúng tôi đã ở năm 1948... Cuộc sống thật ghê gớm. Các tuần lễ trôi qua quá nhanh. Những buổi huấn luyện, tập trận, nhẩy dù, tiếp nối nhau với nhịp điệu ngày càng khẩn trương. Tiểu đoàn đã có tiếng nói đáng sợ.

Sống giữa một êkíp nổi trội, không khí sôi nổi thật ấn tượng. Đó là tính hiệu quả trong sự thanh thản: Mọi người, rất có kỷ luật, tự hào được ở tiểu đoàn dù số 6 cho nên không đặt ra bất cứ vấn đề gì. Dân chúng giờ đây đã chấp nhận chúng tôi.

Chịu trách nhiệm một trăm phần trăm về việc tổ chức, rèn luyện các đơn vị của mình, tôi hành động theo suy nghĩ và sáng kiến của tôi. Trung tá Langlais, đến từ Vannes, kiểm tra chúng tôi một hay hai lần, không biểu lộ một thái độ nào... Dứt khoát là va chạm với ông ấy thật khó chịu!

Hai mươi tháng sáu. Thời tiết tuyệt đẹp.... Một buổi cuối chiều ấm nóng, tiểu đoàn hành quân bộ, dứt khoát rời khỏi khu trại Charner của chúng tôi và hướng về phía nhà ga xe lửa... Vĩnh biệt Saint Brieuc! Vĩnh biệt vùng Bretagne! Tôi sẽ không trở lại nữa, nhưng tôi sẽ giữ mãi kỷ niệm không bao giờ phai nhạt về các bạn.

Đoàn tàu đang đứng trên sân ga. Tiểu đoàn lên tầu một cách trật tự. Những người vợ, những họ hàng thân thích có mặt. Tôi đau lòng nghĩ rằng lại một lần nữa Gaby và Marie France lại sống đơn lẻ với nhau. Mọi cái sụp đổ, thật là quá đẹp, quá toàn diện. Chúng tôi đã chung sống thật là đầm ấm và lần này Gaby không thể nào đến được xứ Bắc Kỳ, ở đó mọi chuyện đang xấu đi.

Phải chăng tôi là một kẻ ích kỷ đã hy sinh những người thân của tôi từ bao nhiêu năm dài nay? Nhưng người chỉ huy phải tỏ ra cứng rắn và thoải mái. “Gaby, tạm biệt em, hãy can đảm lên. Em có Marie France, có quê hương Lorraine. Anh sẽ trở về, mọi chuyện sẽ tốt”.

Marseille. Con tầu Pasteur, con tầu tôi đã bước xuống cách đây ba năm và là con tầu không ngừng vượt sóng chở những chuyến hàng đi tới cái chết... Đổ bộ lên Sài Gòn. Lại xuống một con tầu cũ nát và lần thứ ba, tôi tới Hải Phòng, ngày hai mươi tám tháng bẩy 1952, trong lúc lẽ ra tốt biết bao nếu được đi nghỉ hè ở nước Pháp. Lại là cái xứ Bắc Kỳ buồn tẻ, giản dị, hấp dẫn, bất chấp những trận đánh điên cuồng, trong đó cái chết bay lơ lửng trên đầu những con người này. Tất cả vốn quý mến nhau rồi giết hại lẫn nhau, đến lúc này vẫn còn không biết rằng những hy sinh ấy chẳng phục vụ cho bất cứ điều gì.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:01:46 pm »


II
HÀ NỘI, TRONG TÒA CHỦNG VIỆN CŨ RỒI TÚ LỆ


Trung tá Ducounau phải ngay lập tức nắm quyền chỉ huy quân dù ở Bắc Kỳ. Ông đứng đợi chúng tôi trên sân ga. Một vị chỉ huy thật xứng đáng. Ông có đủ các điều kiện của một người lãnh đạo chuyên dắt dẫn rèn luyện con người, đã tham dự tất cả các chiến dịch, tốt nghiệp Học viện Chiến tranh. Nhỏ nhắn, cơ bắp nở nang, không biết mệt mỏi, đây quả là một khối thuốc nổ. Chúng tôi đã biết ngay là ông sẽ còn giữ những cương vị cao hơn nữa. Đáng tiếc, sự nghiệp của ông sẽ dừng lại mười lăm năm sau, tiếp theo một tai nạn ngớ ngẩn của máy bay trực thăng, lúc đó ông là tướng bốn sao, gần như đạt tới đỉnh điểm của binh nghiệp.

Chúng tôi yêu mến ông, khâm phục ông. Tôi tự hào được phục vụ dưới quyền chỉ huy của một ông chủ như vậy. Tiểu đoàn trú quân trong tòa chủng viện cũ của Hà Nội, một tòa nhà lớn hai tầng, cộng thêm một toà lầu nhỏ được dành cho cơ quan tham mưu của tôi. Tôi phải tới trình diện với tướng Linarès, chỉ huy trưởng xứ Bắc Kỳ. Gilles, người đã sang Đông Dương trước tôi, là chỉ huy phó về tác chiến của tướng Linarès và đã nói với ông rất tốt về đơn vị của tôi mà ông đã theo dõi một phần, thời kỳ được thành lập ở vùng Bretagne.

Linarès, người chỉ huy bẩm sinh, được sinh ra để sống dưới nền Đế chế, cao hơn tôi hẳn cái đầu, với chiếc áo khoác rộng mầu xanh của ông:

- Anh Bigeard, tôi hi vọng là anh biết chỉ huy một tiểu đoàn. Không ít các đồng nghiệp của anh tỏ ra dũng cảm, nhưng như vậy chưa đủ...

- Tôi nghĩ là tôi làm được, thưa tướng quân!

- Tốt, cứ đợi đấy xem sao.

Tôi nói lại với Gilles:

- Linarès không có vẻ dễ chịu lắm!

- Cậu yên tâm đi, Bigeard, đó là một con người tốt bụng dưới cái vẻ bề ngoài thô kệch.

Đại uý Tourret, tốt nghiệp trường Saint Cyr, gầy gò nhưng có một ý chí mãnh liệt vừa được cử làm cấp phó cho tôi cùng với trung úy Magnillat, một ngoại hình nổi bật với bộ ria Clark Gable1, người sẽ chỉ huy một đại đội của tôi, do có thâm niên giữ cấp bậc.

Trái ngược với nhiệm kỳ trước, lúc đó dưới sự chỉ huy của thiếu tá Ayrolles chúng tôi phòng giữ một đoạn ngã tư, tiểu đoàn của tôi được lập tức phái tới vùng đồng bằng, khu vực Vĩnh Yên và Phúc Yên. Chúng tôi được giao cho các chỉ huy trưởng tiểu khu khác nhau sử dụng. Trong vòng hai tháng, chúng tôi quay tròn không mệt mỏi để giải toả các đồn bốt, mở các trận phục kích.

Sáu mươi ngày để thích nghi một cách thận trọng và thực tế với một cuộc chiến vốn không còn là mới mẻ đối với phần đông chúng tôi, mà là mỗi người muốn quên đi một phần để nắm lại tốt hơn nhịp điệu và các phương thức tác chiến. Tôi chọn lấy những mạo hiểm có tính toán, không còn hung hăng ngây thơ như trong những nhiệm kỳ trước đây tôi dứt khoát biết kiên trì, tránh khỏi tổn thất ở mức tối đa, không để xẩy ra bất cứ chuyện gì bất ngờ. Có được những bản tổng kết đẹp với một vài tổn thất không tránh khỏi. Các chỉ huy trưởng tiểu khu sử dụng đơn vị tôi đã viết thư cho Ducournau để cảm ơn ông vì đã cử tới cho họ một tiểu đoàn vừa có kỷ luật vừa hoạt động có hiệu quả... Nào đi, mọi việc diễn ra tốt đẹp, giờ đây các bạn trẻ của chúng tôi đã sẵn sàng cho những nhiệm vụ khó khăn nhất vốn sẽ không thiếu gì trong thời gian sắp tới. Tôi có niềm tin tưởng hoàn toàn đối với êkíp của tôi.

Trở về toà chủng viện từ một tuần này, sung sướng lại có một chiếc giường ngủ, một bữa ăn nghiêm chỉnh. Nhưng, việc huấn luyện thì không bao giờ ngừng: hành quân xung kích mười lăm kilômét đối với tiểu đoàn tất cả các buổi sáng, những cuộc tập báo động, xạ kích.... Trong một lần nhẩy mới đây, trên một khu vực phòng thủ mặt đất là đá ong, tôi ngã nghiêng vào khẩu súng ngắn của mình và bên háng phải bị một vết bầm tím dài. Tôi bị đau vì vết bầm tím đó nhưng không để lộ ra ngoài.
___________________________________
1. Clark Gable: Nam diễn viên điện ảnh nổi tiếng thời đó đóng vai chính trong phim Cuốn theo chiều gió - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:03:12 pm »


Bốn mươi tám tiếng đồng hồ sau, ngày 15 tháng mười 1952 vào lúc 21 giờ, sau một ngày làm việc vất vả và vết bầm tím rộng đó làm cho tôi không ngủ được, Tourret vội vã bước vào phòng tôi: “Thưa thiếu tá, báo động. Hình như ngày mai chúng ta phải nhẩy xuống một điểm nào đó trên vùng thượng du”.

Chưa đến lượt chúng tôi phải báo động và mọi người, sau sáu mươi ngày chui trong rừng rú, được nghỉ phép đến nửa đêm. Náo động trong tòa chủng viện cũ. Những chiếc xe Jeep nổ máy cùng với các hạ sĩ quan để tới các rạp chiếu phim hò hét mong thu gom hết số người đi phép.

Nửa đêm, mọi người đã có mặt. Cần phải trang bị vũ khí phương tiện, chuẩn bị máy bay, bản đồ tác chiến, lương thực đạn dược. Mệnh lệnh ban bố xong, tôi lẻn vào sở chỉ huy của Ducournau:

- Có chuyện gì vậy, thưa đại tá?

- Quân Việt với lực lượng mạnh đến từ hướng đông, di chuyển về Nghĩa Lộ trên vùng thượng du với ý định làm nổ tung vị trí này. Vì có mối đe dọa đó cộng với việc anh hiểu rõ vùng đất này cho nên tiểu đoàn của anh sáng mai sẽ được thả xuống vị trí Tú Lệ cách Nghĩa Lộ bốn mươi kilômét về hướng Tây Bắc, nhiệm vụ của các anh sẽ là:

    + Giữ lấy Tú Lệ.

    + Liên lạc với đồn Gia Hội, cách Tú Lệ mười lăm kilômét về phía đông.

    + Sẵn sàng can thiệp một mình hoặc sau khi được tăng cường, hoặc theo hướng từ Gia Hội, hoặc hành động trên các tuyến giao thông của đối phương ở vùng giữa sông Hồng và Nghĩa Lộ.

    + Ngay sau khi nhẩy xuống Tú Lệ, các anh được chuyển giao nằm dưới quyền chỉ huy của đại tá Lajoix, chỉ huy trưởng khu tự trị Tây Bắc, sở chỉ huy ở Sơn La.

Trở về tòa chủng viện, tôi giải thích nhiệm vụ cho êkíp của tôi Thật là khổ cực! Tôi hình dung ra điều gì đón đợi chúng tôi trong cái xứ sở hỗn độn này. Rõ ràng là cái vùng thượng du “chó chết” này không buông tha tôi. Trong nhiệm kỳ thứ nhất, tôi đã tới gần được con sông Hồng. Nhiệm kỳ thứ hai, tôi đã phục vụ dưới quyền chỉ huy của đại tá Lajoix tốt bụng, người giờ đây lại trở lại trú chân ở Sơn La, nơi tôi đã từng sống biết bao sung sướng hoà trộn chiến tranh và tình yêu.

Ngày mười sáu tháng mười 1952. 5 giờ 30. Hội ý ngắn về trận nhẩy dù với các phi công. Mọi việc được xác định hoàn hảo. Bình minh, trên sân bay Bạch Mai, bẩy trăm quân dù của tôi chờ đợi để lên máy bay. Các chỉ huy đại đội kiểm tra xem mọi việc có tốt không. Tinh thần, tư tưởng rất tốt. Nhiệm vụ nhẩy dù đầu tiên của tiểu đoàn... Ngay lập tức là ở vùng thượng du. Chúng tôi cần ba mươi chiếc Dakota để chở hết số quân của đơn vị, nhưng chỉ có mười lăm chiếc còn rỗi rãi. Phải hai đợt để thả chúng tôi xuống Tú Lệ, cách đây hai trăm kilômét. 7 giờ, 8 giờ, 9 giờ. Thời tiết bắt đầu rất nóng nực. Thời tiết xấu trên vùng thượng du. Buồn ngủ bởi lẽ suốt đêm qua chúng tôi không chợp mắt lấy một phút.

Thời gian chờ đợi thật dài. Các chuyên gia vây quanh tôi. Tôi tin tưởng nhưng cái giác quan thứ sáu vẫn khiến tôi dự cảm về một trận đánh khó khăn.

10 giờ 15. Cuối cùng chúng tôi cũng lên đường. Chúng tôi trèo lên máy bay chen chúc đến ngạt thở, thu mình lại bên những chiếc dù và các phương tiện, vũ khí, mồ hôi đầm đìa khắp người. Hy vọng lên trên không sẽ dễ chịu hơn.

10 giờ 45. Cất cánh và thế là xuất phát. Hướng tới số phận nào đây? Đầu óc tôi ong ong, lại vẫn là cái vùng thượng du này. Tình hình sẽ ra sao đây? Tôi thử chợp mắt mặc dầu bên háng phải vẫn còn đau. Thật ngớ ngẩn khi bị đau như thế này lúc xuất phát!

12 giờ. Đứng bên khung cửa trong chiếc máy bay thứ nhất. Phía dưới tôi là cái xứ sở bi hùng này, những dãy núi được phủ kín một thảm thực vật rất dầy. Một vài thung lũng nằm giữa hai bên vách núi dựng đứng. Cái xứ sở ở đó tôi đã nhọc nhàn nhiều năm dài! Nhẩy!... Thân mình lắc lư trong khoảng không, ở đầu chiếc dù. Đồn Tú Lệ gần lại nhanh chóng và khoảng cách hai trăm mét giữa tôi và mặt đất hình như ngắn ngủi. Cẩn thận, cần phải tránh không để rơi xuống về bên háng phải. Tôi xoay dù quay tròn sang bên trái. Mọi việc diễn ra tốt đẹp. Tôi ngắm nhìn đội quân dù của tôi từ trên trời rơi xuống. Hai người rơi vùn vụt như hai tảng đá. Họ sắp nát vụn khi tiếp đất. Hấp! Cách ba mươi mét thì các cánh dù mở tung... Lạy trời! Đợt thứ hai sẽ được thả lúc 17 giờ cùng với toàn bộ khối lượng lương thực, thực phẩm, vũ khí và nhất là món hàng ribard (dây thép gai đan mắt cáo, cuộn thành từng cuốn hình trục, dễ dàng mở ra và rải thẳng một cách nhanh chóng dễ dàng).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:03:55 pm »


Trên một ngọn núi ở độ cao 718 mét so với mặt biển, đồn Tú Lệ khống chế ở trên cao một trăm năm mươi mét khu lòng chảo và ngôi làng bao gồm chừng ba chục nhà sàn mái lợp lá. Năm chục dân binh người Thái do vài hạ sĩ quan chỉ huy trấn giữ khu đồn này. Vị trí đồn Tú Lệ dễ bị đánh chiếm do bởi tổ chức sơ sài và nhất là do thực tế nó bị khống chế: về phía bắc bởi một đỉnh núi trọc ở cốt 876 mét, còn ở phía đông bởi cốt 820.

Kể từ năm 1949, thời kỳ tôi chỉ huy tiểu đoàn Thái số 3, mật danh trong máy vô tuyến của tôi là Bruno. Tôi thích cái mật danh này, qua máy vô tuyến nó dễ nghe, nó mang lại cho tôi may mắn... Tôi vẫn giữ mật danh ấy cho đến hết binh nghiệp. Trong quá trình chiến đấu, bao giờ tôi cũng đòi hỏi có việc kết nối liên lạc vô tuyến từ người chỉ huy này đến người chỉ huy khác và giữa tất cả các đơn vị trên cùng một bước sóng, điều đó cho phép chỉ huy bằng miệng nhưng được chuyển qua sóng vô tuyến.

Tôi đặt sở chỉ huy ở ngay khu đồn, được tăng cường các vũ khí hạng nặng của tôi cùng với đại đội của Wilde mật danh là Francis - Trapps, còn có tên là “tảng đá”, mật danh là Hervé, có nhiệm vụ tổ chức điểm chốt của trận địa, giữ vững cốt 876. Leroy mật danh Polo cũng có nhiệm vụ như vậy ở cốt 820. Magnillat, mật danh Bernard, là lực lượng dự bị trên sườn phía nam khu lòng chảo. Như vậy là tôi bố trí một trận địa hình tam giác, mỗi cạnh dài một kilômét, đảm bảo các khả năng liên kết phòng thủ.

Suốt cả đêm làm việc cật lực. Đất đá bay tung lên, các vị trí đào hầm hào, dây thép gai bắt đầu bao bọc xung quanh. Thà đổ mồ hôi còn hơn là đổ máu. Chúng tôi quên cả mệt mỏi. Đây là êkíp của công việc, không để có chuyện gì xẩy ra ngoài dự kiến. Tôi không thích bị bất ngờ và cảm thấy đã thoải mái hơn mặc dầu cái vết đau bên háng vẫn còn.

Ngày 17 chúng tôi tiếp tục công việc, cung cấp cho các loại vũ khí cơ số đạn dự trữ, phân phát lương thực, thực phẩm, chuyển về hậu cứ một vài người bị tai nạn lúc nhẩy dù bằng máy bay Morane, báo cáo qua vô tuyến với ông chủ trực tiếp của tôi, đại tá Lajoix ở Sơn La, bảy mươi kilômét đường chim bay, bắt liên lạc qua vô tuyến với Gia Hội. Hai ngày sau khi tới nơi, tôi đã sẵn sàng và có thể hành động theo kế hoạch đã xác định.

Đêm 17 rạng ngày 18. Cuối cùng chúng tôi cũng đã có thể được ngủ đôi chút. Tiếc thay, bầu trời rực sáng lên ở hướng đông, phía bên kia quả núi. Tiếng ì ầm của các khẩu đại bác chỉ vẳng đến rất nhỏ, nhưng ánh lửa lúc viên đạn ra khỏi nòng và tiếng nổ vỡ của các trái phá ném ra những tia sáng đột ngột. Đó là Nghĩa Lộ, cách xa hai mươi lăm kilômét, đang nổi lửa tất cả các loại vũ khí. Miễn sao họ giữ vững.

18 tháng mười. Mặt trời lên. Lại thêm một đêm thức trắng để tìm hiểu xem chuyện gì xẩy ra. Nghĩa Lộ, Sơn La và Hà Nội không đáp lời các cuộc gọi vô tuyến của chúng tôi. Tôi liên lạc vô tuyến với Gia Hội, ở đó không biết gì. Cuối cùng vào lúc 10 giờ, một thông báo từ Hà Nội: Nghĩa Lộ đã thất thủ, đồn quân bị tiêu diệt. Tourret, tiểu đoàn phó trung thành của tôi, cùng một ý nghĩ không lâu nữa bọn họ sẽ ngồi trên lưng chúng ta.

17 giờ. Gia Hội đã báo với chúng tôi là quân Việt vây hãm các điểm cao khống chế khu đồn của họ.

18 giờ. Lajoix gửi cho tôi một bức điện nói rõ là tôi nắm quyền chỉ huy tất cả các đồn bốt trong khu vực. Đây là mệnh lệnh cuối cùng của vị đại tá tốt bụng trên thực tế chỉ còn là người trung gian liên lạc giữa tôi và Hà Nội.

21 giờ. Hà Nội. “Sở chỉ huy Linarès” ra lệnh cho Gia Hội rút lui về chỗ tôi. Thật là lộn xộn! Cái nhiệm vụ đẹp đẽ được Ducournau xác định trước đây bốn mươi tám tiếng đồng hồ đâu rồi? Một đêm thứ ba tối như mực, nặng nề đổ xuống khu lòng chảo Tú Lệ... Chúng tôi sẽ ngủ sau này.

19 tháng mười. 7 giờ. Tôi cử Magnillat dẫn đại đội tiến về hướng Gia Hội chi viện cho đơn vị ở đó đang rút về phía chúng tôi và một đội xung kích của Wilde chiếm giữ đoạn đèo Khau Phạ ở sau lưng tôi, một cửa ngõ buộc phải đi qua trong trường hợp rút lui.

10 giờ Magillat ở cách khu đồn sáu kilômét. Bernard gọi Bruno: Nhìn thấy một đoàn quân. Bruno gọi Bernard: Chắc là bè bạn. Hết sức chú ý. Bernard gọi Bruno: Đó là quân Việt. Có đến mấy trăm tên. Bruno gọi Bernard: Cho đơn vị ẩn nấp! Dốc hết hoả lực. Rút về, cố gắng giữ liên lạc và tránh tổn thất ở mức tối đa bởi vì việc chuyển thương rất phức tạp. Bernard gọi Bruno: Rõ. Tôi điện gấp xin máy bay yểm trợ từ Hà Nội. Tiếc thay, thời tiết xấu.

15 giờ. Bernard tiến hành một trận đánh kiềm chế thông minh và linh hoạt cứ như là thao diễn. Bruno gọi Bernard: Đứng chân cho vững. Đào công sự ở cách đồn hai kilômét, tôi sẽ yểm trợ cho các anh bằng súng cối 81. Bernard gọi Bruno: Rõ.

Tất cả những cuộc trò chuyện này đều được Polo, Hervé và Fancis theo dõi bởi lẽ các đài vô tuyến đều cùng một bước sóng. Như vậy mỗi người đều nắm được diễn tiến của tình hình. 17 giờ. Quân Việt bất chấp hoả lực súng cối của chúng tôi, từ các điểm cao tràn qua trận địa của Bernard và tiến về hướng chúng tôi. Chúng tôi nhìn thấy họ di chuyển rất hợp lý. Đêm xuống. Một đêm chờ đợi. Liệu chúng tôi có ra được khỏi đây hay không?
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM