Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:23:28 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lời thú nhận muộn mằn  (Đọc 43765 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:20:34 pm »


Từ 9 giờ đến 17 giờ, chúng tôi sục sạo, chiến đấu với số quân Việt chịu trách nhiệm bảo vệ các kho vũ khí… Nhưng đơn vị còn gặp những chuyện khác nữa. Chạm trán địch ở cửa chiếc hang mang số hiệu 13. Lepage được giao nhiệm vụ xung phong, được Hervé, Francis và các khẩu súng cối 81 của tôi yểm trợ, vụ này được tiến hành suôn sẻ. Phía chúng tôi chỉ có một người chết và hai người bị thương.

Cuối ngày, bản tổng kết thật hùng hồn: Chúng tôi tịch thu được 250 hòm, trong mỗi hòm bốn khẩu F.M.Skoda, tức là tổng cộng một nghìn khẩu liên thanh. Bản tổng kết chưa từng có trong đạo quân viễn chinh 6 xe tải Molotova của Nga năm trăm mét khối các trang bị khác nhau, hai trăm lốp xe ô tô, hai mươi nghìn đôi giầy và năm trăm tút thuốc lá.

Không có chuyện mang về khối trang bị vũ khí ấy trên lưng người và như đã dự kiến, trung đội công binh chuẩn bị việc phá huỷ với nhiều tấn thuốc nổ. 17 giờ 30, một tiếng nổ long trời ở bên trong các hang động, một vụ động đất thực sự… Thật gọn gàng, không chê vào đâu được, quân Việc sẽ không thể thu lại được một tí gì.

18 giờ. Xuất phát về hướng Lộc Bình. Tám giờ đi bộ trước khi bắt liên lạc được với đội lê dương được thả xuống lúc 13 giờ và có khoảng mười lăm người bị tai nạn lúc nhẩy xuống. Tôi hành tiến đi đầu, tiếp sau là sở chỉ huy của Ducournau và của Tourret… Không gian nặng nề, người ta thấy khó thở trên con đường nằm lọt giữa hai vách núi dựng đứng, lưỡi khô, các bình đựng nước cạn kiệt. Chúng tôi thấy mệt mỏi quá. Nhẩy dù buổi sáng, những trận đánh dưới cái nắng gay gắt và bây giờ lại phải chịu đựng tám tiếng đồng hồ đi bộ… miễn sao quân Việt không bố trí phục kích ở dọc đường.

Ngày 18 tháng bẩy, bắt liên lạc được với đội lê dương. Nhưng chúng tôi phải vượt qua sông Kì Cùng nước xiết rộng chừng năm chục mét, trên hai chiếc xuồng máy được thả dù xuống cùng với đội lê dương… Việc vượt sông sẽ mất nhiều thời gian, chúng tôi chiếm lĩnh các điểm cao chờ cho tất cả quân số đã tới được bờ sông phía nam.

12 giờ. Thế là xong. Đội lê dương thiêu huỷ số dù của họ, phá huỷ các xuồng máy. Rồi đến một đợt thả dù nước uống, nước đá, những hộp khẩu phần ăn và lời chúc mừng. Mấy chai rượu uýtski dành cho Ducournau và các thủ hạ thân tín. Trời quá nóng nực để có thể đi ngay lập tức. Chúng tôi đợi trời râm mát lúc 17 giờ, cốt để tránh những tổn thất vì say nắng.

17 giờ. Xuất phát về Đình Lập, tám giờ đi bộ. Ở đó các phân đội đầu tiên của tôi, tiếp xúc được với binh đoàn cơ động số 5 lúc 22 giờ 30, những phân đội cuối cùng sẽ tới vào khoảng 2 giờ sáng. Ba người chết vì kiệt sức, một lời cầu nguyện ngắn ngủi của cha tuyên úy và chúng tôi phải đẩy họ xuống vực sâu… “Bước đi hay là chết”, số phận của chúng tôi là như vậy.

Trở về Tiên Yên bằng xe tải, ở đó Cogny và Gilles chờ đợi chúng tôi. Đây là một thắng lợi lớn, Navarre mừng vui hớn hở, bước khởi đầu tốt đẹp của công việc chỉ huy. Rút cục đây là một viên tướng tấn công!!! Tiếc thay là không lâu! Tôi nghĩ tới anh bạn đồng nghiệp Bréchignac của tôi, được bỏ lại ở dưới cánh các máy bay tại Hà Nội… Hẳn là anh ta phải tức điên lên.

Đối với chúng tôi, nhiệm vụ chọn lọc, mục tiêu có lợi, theo cách nói của tờ báo France Soir, những đầu đề chữ lớn trên các số nhật báo, trong đó người ta thấy ảnh chụp tôi và Ducournau ấy vậy mà, lúc xuất phát, chúng tôi cũng không kiêu hãnh đến thế, điều này chúng tôi hoàn toàn có thể thú nhận. Tổng kết, thắng lợi hoàn toàn của một trận nhẩy dù thích hợp, những danh hiệu vẻ vang, dòng thác đổ của những lời tuyên dương, tất cả những chuyện ấy xem ra sao mà dễ dàng… Tất nhiên là sau khi trận đánh đã kết thúc.

Navarre thân chinh tự mình trao thêm cho tôi một huy hiệu hình lá cọ. Tôi cho là ông lạnh lùng, xa cách, không dễ tiếp cận, trái ngược với Ducournau, ông không thuộc trong số các thủ trưởng mà với họ người ta tự nguyện sẵn sàng hi sinh thân mình… Vả lại, ở thang bậc của ông, đó không phải là vị trí của ông. Một năm trời tốt đẹp vừa trôi qua. Tiểu đoàn là một công cụ tuyệt vời đã được rà trơn bởi nhiều cuộc chạm trán với đối phương.

Thời kỳ này, người ta phân công về chỗ tôi trung úy nhỏ nhắn tên là Allaire, vốn thuộc ngạch sĩ quan dự bị, hai mươi chín tuổi, tính tình cay độc, hay châm chọc, một bên chân bị teo đi tới một nửa do bị viêm tuỷ. Anh ta trình diện:

- Thưa thiếu tá, tôi được phân công về tiểu đoàn của thiếu tá, trái với ý muốn của tôi, bởi lẽ tôi không thấy mình có thể làm được gì giữa những người anh hùng của thiếu tá.

- Allaire này, tôi không đòi hỏi ở anh nhiều đến như vậy. Tạm thời, anh sẽ chỉ huy đơn vị vũ khí hạng nặng của tôi.

Cái con người ghê gớm, anh ta không ngừng làm tôi phải ngạc nhiên về nhiệt tình, ý chí, tính gan dạ thích chiến đấu của anh. Anh ta sẽ còn đi sang Algérie và tôi gặp lại anh ta sau này ở Dakar.

Thời gian thư giãn ở Hà Nội ngắn ngủi, bởi lẽ, trên vùng đồng bằng, các khu vực Nam Định và Phủ Lý, đầy dẫy quân Việt khiến cho tướng Cogny có phần lo ngại.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:23:28 pm »


IX
ĐÁNH CHIẾM ĐIỆN BIÊN PHỦ
THÁNG MỘT-THÁNG CHẠP 1953


Cogny yêu cầu tôi giải toả các thành phố, thị xã đó và hạ gục quân Việt tới mức tối đa. Nhiệm vụ phức tạp, tệ hại, kéo dài ba tháng dằng dặc vào giữa mùa nóng nực nhất. Truy kích đám quân người địa phương phải là một công việc thường nhật cả ngày lẫn đêm và ở cấp độ xung kích. Việc phục kích, xạ kích theo cảm giác được nghiên cứu tỉ mỉ. Việc huấn luyện tối ưu cũng mang lại kết quả, tịch thu được nhiều loại vũ khí, kiểm soát nhiều tiểu khu, nhiều du kích bị hạ gục. Tất cả kết quả đó chúng tôi đạt được mà hầu như không có tổn thất gì đáng kể bởi chúng tôi hành động chủ yếu vào ban đêm... Cần tới vài chục trang viết để nêu lên được toàn cảnh bức tranh tám mươi ngày hoạt động trên vùng đồng bằng đã thối ruỗng này.

Chính là ở Nam Định mà tôi làm quen với đại tá De Castries, chỉ huy trưởng tiểu khu, năm mươi mốt tuổi, một ông hoàng lớn, một trong những “thống chế của De Lattre”, một huân chương chữ thập chiến tranh cộng với khoảng hai chục bản tuyên dương. “Thế nào, Bruno, đêm hôm ấy công việc trôi chẩy chứ, anh đã cho tôi bản tổng kết chưa?”

Rất hấp dẫn, ông biết nói với tôi cái từ phải nói và tôi hoàn toàn mến phục chàng kỵ sĩ đẹp trai ấy, cựu vô địch thế giới về môn nhẩy cao... Lúc này, tôi vẫn còn chưa biết rằng vài tháng sau, tôi sẽ gặp lại ông trong hoàn cảnh khác, mà tôi sẽ không thể nào quên được thái độ trung thực của ông đối với tôi.

Trở về Hà Nội đã từ mấy ngày nay. Hi vọng dễ thở một chút cốt để sắp xếp trật tự trong cái “Cửa hàng tạp hóa”, sau ba tháng tác chiến không ngưng nghỉ trên vùng đồng bằng. Không có vấn đề gì. Ngày 19 tháng mười một 1953, lúc 18 giờ, Bréchignac, chỉ huy tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 và bản thân tôi, được thiếu tướng không quân Bodet, cấp phó của Navarre triệu tập đến sở chỉ huy các đơn vị lục quân ở Bắc Việt Nam. Gilles có mặt, Ducournau sắp sửa được hồi hương cũng tham dự cuộc hội ý.

Tướng Bodet, người nhỏ nhắn, hoạt bát, dễ có thiện cảm, cho chúng tôi biết công việc chủ yếu như sau:

- Bigeard, Bréchignac, sáng ngày mai các anh sẽ nhẩy xuống Điện Biên Phủ trong đợt đầu tiên. Thứ nhất, việc này hẳn phải làm được, nhưng nếu như quả thật ở phía dưới quá gay go, các anh được phép cân nhắc và các anh sẽ rút lui sang Lào. Tiếp theo trình tự, một tiểu đoàn thứ ba sẽ được thả xuống vào buổi chiều. Ngoài ra. nếu thời tiết xấu trận đánh có nguy cơ thất bại thì sẽ không diễn ra nữa... - Miễn là hôm đó trời không mưa. Thiếu tá Fourcade cấp phó của tướng Gilles, chỉ huy chung hai tiểu đoàn và sẽ nhẩy cùng với Bréchignac. Không có câu hỏi gì chứ?

- Không, thưa thiếu tướng.

Quá sung sướng được lựa chọn cho một nhiệm vụ như vậy miễn sao ngày mai trời đẹp. Đó là trạng thái trái tinh thần của chúng tôi, luôn luôn sẵn sàng cho những nhiệm vụ nguy hiểm nhất... Và như tình cờ tôi lại đứng ở mũi nhọn cùng với Bréchignac. Hai tiểu đoàn chúng tôi được những ông chủ lớn tin tưởng, người ta sẽ không đổi hai đơn vị chúng tôi để lấy cả một đế chế.

Gilles báo với tôi là ông tăng cường cho tiểu đoàn của tôi một trung đội công binh nhẩy dù và chừng ba chục pháo thủ. Tôi đề nghị với ông nên thận trọng không cho số đó nhẩy dù trong đợt đầu tiên... Mệnh lệnh:

- Họ sẽ đi với anh!

- Vâng, thưa thiếu tướng.

Tiểu đoàn chúng tôi sẽ nhảy xuống khu phòng ngự (D.Z) Natacha, nằm song song với sân bay, cách ngôi làng vài trăm mét. Bréchignac, với tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 của anh và sở chỉ huy nhẹ của Fourcade sẽ được thả xuống D.Z.Simone, ba hay bốn kilômét phía đông nam Điện Biên Phủ, ở bên bờ phía đông dòng sông Nậm Rốm.

Trái ngược với thói quen của chúng tôi, tối hôm đó chúng tôi không ở trong trạng thái báo động... Mỗi người đều biết rằng, với những người lính dù lúc nào cũng là báo động... Người ta chuyển từ trạng thái báo động trên không sang báo động mặt đất với một sự khôn khéo đáng ngạc nhiên đôi khi cùng trong một ngày để rồi buổi tối lại gặp nhau trong rạp chiếu phim.

Lại một đêm thức trắng để chuẩn bị công việc, thu gom quân số... Sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ thấy tự hào và sung sướng. Lại có nhiệm vụ vẻ vang. Đối với tôi đó là gặp lại cái ngôi làng xinh đẹp thanh bình và niềm nở biết bao, nơi tôi đã hạ cánh bằng chiếc Dakota, cách đây đã bẩy năm. Liệu chúng tôi sẽ gặp uỷ ban tiếp đón nào đây? Tin tức tình báo mơ hồ... Trung đoàn 148 quân Việt ở cách năm mươi kilômét phía đông bắc về hướng Tuần Giáo.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:24:22 pm »


Sáu giờ. Sân bay Bạch Mai. Như thường lệ, phải chuẩn bị cho mình lòng kiên nhẫn. Những chiếc Dakota sắp hàng thẳng tắp chờ đợi thời tiết thuận lợi để cho những động cơ của chúng nổ ròn. 7 giờ... Trời xấu. Êkíp của tôi ở bên cạnh, mối nguy hiểm, chuyện bất ngờ đưa chúng tôi xích lại gần nhau... Có thể là cùng ở bên nhau lần cuối cùng.

Cùng với Lepage, Trapp, Magnillat, Wilde, Bourgois, Allaire, chúng tôi tán róc. Liệu chúng ta có nhẩy không? Có chứ, tốt hơn là nhẩy càng sớm càng tốt bởi vì chiến đấu sẽ gay go hơn dưới sức nóng của mặt trời bắt đầu từ giữa trưa. Chúng tôi tin tưởng ở ngôi sao may mắn của chúng tôi, ở những chàng trai tự tin đến cao độ, họ sẽ thất vọng nếu như trận đánh bị huỷ bỏ...

8 giờ 30. Thời tiết khá hơn... Lên máy bay... 9 giờ, cất cánh... Ba trăm kilômét để tới được trục thẳng đứng của Điện Biên Phủ. Chúng tôi bay trên vùng đồng bằng, đây xứ Thái quen thuộc với chúng tôi. Nhìn từ trên cao, đẹp xiết bao với tất cả những ngọn núi xanh ngắt ấy. Nếu như có thể ở lại trên cao thì cuộc đời những người lính dù chúng tôi đơn giản hơn rất nhiều!

Cơ trưởng máy bay báo cho biết là chúng tôi đang bay qua địa phận phía nam tỉnh Sơn La. Tôi hồi tưởng lại tất cả thời kỳ sống trên cái vùng thượng du “sỏi đá” này, cái vùng cứ bám chặt lấy tôi mà quấy nhiễu... Bị mệt nhoài trong những chiếc Dakota bay theo đội hình ba chiếc một, cánh bay cách nhau chừng ba chục mét, vài người mặt tái xanh, một số khác nôn oẹ... Cầu mong nhanh chóng thoát khỏi “lũ điếm” này!

10 giờ. Đứng dậy! Bám chắc... 10 giờ 30. Chuông reo... Nhẩy! Ít nhất cũng đau như một cú đá vào đít, như câu nói của tay trung úy nhỏ nhắn của tôi, Allaire... Lại một lần nữa lơ lửng giữa trời và đất. Qua nhiều lần chơi cái trò này, cuối cùng tôi đã thạo mặc dầu tấm mề-đay bằng vàng vẫn quấn vòng quanh cổ tôi.

Tôi nghe thấy tiếng đạn réo, như vậy là quân Việt ở phía dưới đang chờ đón chúng tôi chăng? Tất cả các cơ bắp căng cứng, mọi suy nghĩ gạt khỏi tâm trí, việc cần làm là nhanh chóng tiếp đất. Trước hết cứu lấy mạng sống của mình, tháo móc cài dù trước khi chạm đất, lăn tròn người kinh điển. Đài thông tin và cậu vệ sĩ của tôi, trung sĩ Chevalier, còn gọi là Martial nhanh chóng có mặt bên cạnh tôi.

Tôi tạm dừng trận đánh của chúng tôi trong giây lát để kể với các bạn về cậu trung sĩ Chevalier, còn gọi là Martial, một hình mẫu của sự tận tụy, của lòng trung thành vô hạn. Đối với tôi từ nhiều năm nay, đây là người bạn tâm giao, chỉ có cậu ta hiểu được những suy nghĩ, những lo lắng phiền muộn của tôi. Là một chiến binh ưu tú, thư ký đánh máy xuất sắc, hết sức thông minh. Cậu ta có, tôi biết điều đó, một lòng tin mù quáng đối với các quyết định của tôi, cậu ta nói: “Dù cho có xẩy ra chuyện gì, thưa thiếu tá, tôi sẽ đi theo thiếu tá đến tận cùng thế giới”. Và cậu ấy đã giữ lời hứa sáu năm ở Algérie bên cạnh tôi. Sau này khi tôi bị đầy ải vào vùng trung tâm châu Phi, cậu ấy tìm tới tôi trong nỗi bất hạnh. Khi quay trở lại quân dù, cậu ấy lại có mặt và bây giờ nữa, đã trở thành sĩ quan, sự gắn bó của cậu ấy vẫn luôn luôn trong sáng và vô tư như trước... Phải nói rằng cậu ấy đã sống mười lăm năm cho tôi chứ không phải là cho cậu ấy... Martial, xin cám ơn về điều đó, đối với tôi, cậu còn thân thiết hơn là một đứa em trai.

Bị rơi tọt vào giữa một bụi rậm rất cao, thật khó mà nhìn rõ xung quanh để xác định tình hình. Tôi thử móc nối với các đơn vị của tôi qua máy thông tin. Bruno gọi Lepage, Hervé, Bernard, Francis, trả lời đi. Cho tôi biết tình hình. Lo lắng về công việc chỉ huy, phối hợp cái “cửa hàng” của tôi, tôi tiến về phía ngôi làng, người cúi gập xuống cỗ máy thông tin.

Chevalier vẫn không ngừng nổ súng, ném lựu đạn.

- Martial, đừng có tự kích động như thế. Hãy coi chừng. Cậu bắn vào cái gì vậy?

- Nhưng mà, thưa thiếu tá, chúng ta đang ở giữa đám quân Việt. Thiếu tá nằm xuống đi và dừng lại một chút, nếu không ta sắp tự lột da mình mất...

Khoảng mười lăm quân dù, rồi hai mươi tụ tập lại xung quanh hai chúng tôi. Chúng tôi đã vững chắc hơn rồi.

Thật nhộn nhạo! Francis bị thả xuống quá xa về hướng bắc, Hervé quá xa về hướng tây bắc, cả hai vất vả không xác định được tình hình các đại đội của họ và tạm thời không thể tham dự vào kế hoạch hành động như dự kiến lúc xuất phát. Lepage và Bernard đã cố gắng tập hợp được đại bộ phận các trung đội của họ. Thời gian trôi đi, khắp nơi nổ súng, người ta báo với tôi số người chết và bị thương. Trong số tám trăm con người được thả xuống, tôi xác định được gần một nửa. Những người khác ra sao rồi?

11 giờ 30. Bộ phận chủ yếu trong sở chỉ huy của tôi nằm dán mình sau một bờ đê nhỏ, cách ngôi làng một trăm rưởi mét. Các dàn ăngten vô tuyến hẳn phải giúp cho quân Việt xác định sở chỉ huy của tôi. Thật vậy có một đài vô tuyến ở chỗ các đơn vị của tôi, một đài ở trên máy bay, đài thứ ba tìm cách móc nối với Fourcade và Bréchignac, đài thứ tư liên lạc với Hà Nội... Đạn réo trên đầu chúng tôi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:25:17 pm »


Lepage, Bernard ở ngang tầm với tôi cùng với ba phần tư quân số của họ và chuẩn bị tấn công vào ngôi làng. Xa hơn về phía bắc, Hervé và Francis bảo vệ phía sau chúng tôi. Anh em phân tán thành từng nhóm có sáu hoặc mười người, hình thành những điểm tựa nhỏ đối mặt với quân Việt... Ngày hôm ấy, họ có hai đại đội đang huấn luyện ở ngay khu vực phòng ngự của chúng tôi.

May thay, các chàng trai của chúng tôi đã quen với những trận đánh ác liệt. Họ rất vững vàng, có trình độ cao về nhiều mặt và biết hạn chế các tổn thất.

Gilles bay trên đầu chúng tôi trên chiếc máy bay chỉ huy của ông... Mẹ kiếp, ông già Gilles! Thế là ông ấy vẫn còn lặn ngụp trong cảnh khổ cực này, trong lúc ngày hồi hương của ông ấy đã tới gần. Quả thật là ở trên độ cao đó, ông ấy ít mạo hiểm. Tôi phải thông qua sự trung gian của ông ấy để yêu cầu máy bay yểm hộ, nhưng sóng liên lạc yếu. Do cần kíp, tôi làm việc trực tiếp với các máy bay khu trục, yêu cầu họ oanh tạc ngôi làng trước khi tấn công.

Các khẩu cối 81 của tôi sẽ rất có ích. Allaire đúng là ở đó, nhưng anh ta chỉ có một khẩu với ba quả đạn. “Xoay xở đi, Allaire. Tập hợp các khẩu súng và đạn dược của cậu lại”. Tôi không biết làm thế nào mà cái con người ghê gớm này đã có thể nhanh chóng tìm lại được khối phương tiện của anh ta ở giữa tất cả đám người đang nổ súng về mọi phía này. Về sau tôi còn biết được là khi đi sục sạo trên khu vực phòng ngự cùng với hai người nữa, anh ta đã hạ gục vài du kích quân.

Cuộc tấn công ngôi làng mở đầu sau màn hoả lực. Dễ đã đến 13 giờ 30. Hervé, Francis gần như đã thu gom được toàn bộ quân số của họ... Lepage, Bernard phát triển khó khăn trong ngôi làng được tổ chức thành trận địa hầm hào. Các cuộc xung phong nối tiếp nhau, được yểm trợ bởi các khẩu súng cối của tôi và của máy bay, lúc này oanh tạc xa hơn xuống phía nam.

Không thể nào liên lạc qua vô tuyến với Fourcade và Bréchignac để yêu cầu họ vượt qua con sông, ngược lên phía bắc, cốt để cắt đứt trục đường rút lui của đối phương và đánh vu hồi chiếm lấy ngôi làng... Có thể họ cũng gặp những phiền phức nghiêm trọng trong khu vực phòng ngự của họ chăng?

Rất nhiều thương binh, các tử sĩ được đưa về sở chỉ huy của tôi. Thương binh được chăm sóc bởi ông thầy thuốc nằm sấp dưới đất, phía sau bờ đê nhỏ. Trong mấy tiếng đồng hồ ấy, tôi đã bồn chồn lo lắng ghê gớm, nhiều lúc tự hỏi mình phải chăng đã đánh mất một nửa tiểu đoàn. Tiếng súng giảm bớt cường độ. Ngôi làng, bị đánh chiếm. Số quân Việt sống sót bỏ chạy xuống phía nam. Trận đánh vừa mới chấm dứt thì thiếu tá Fourcade hiện ra trong sở chỉ huy của tôi, có vài người đi hộ tống.

Cuộc hội kiến của chúng tôi đầy sóng gió. Tôi bảo:

- Thưa thiếu tá, vị trí của thiếu tá là ở bên các đài thông tin để làm sao cho Bréchignac tham dự chiến đấu, tóm cổ được quân đối phương, chứ không phải là để thiếu tá đi lại với vai trò đội trưởng đội xung kích.

Hoan hô Fourcade, người luôn luôn nghe theo tiếng gọi của lòng dũng cảm. Khốn khổ Bréchignac, lại một đòn vô bổ đối với tiểu đoàn tuyệt diệu của anh ấy.

Giờ đây khi mà mọi việc đã kết thúc, người ta thả xuống tiếp viện cho chúng tôi tiểu đoàn dù thuộc địa số 1, đơn vị không phải nổ một phát súng nào. Chúng tôi phải làm bản tổng kết, xác nhận kết quả mọi trận đánh: hàng trăm quân Việt bị giết, thu hai mươi ngàn viên đạn, một trăm lựu đạn, một trăm kilô thuốc nổ và còn nhiều vũ khí, tài liệu. Về phía chúng tôi, tiếc thay, hai mươi mốt lính bị thương nhẹ, mười bị thương nặng, mười bị chết. Trong số bị chết khi xung phong vào ngôi làng có trung sĩ Martellino, là người mà tôi đã phạt nốc-ao ở (Saint Brieuc, cách đây năm năm) có cả trung sĩ Gaillard yểu điệu, mềm mại, đẹp trai, giống như một sĩ quan.

Chúng tôi cũng có mười một người gặp tai nạn khi nhẩy dù và một bị chết (dù không mở). Tôi những muốn kể thêm nhiều tên người nữa, nhiều hành động anh hùng nữa. Tiếc thay! Những năm tháng đã làm phai mờ một số kỷ niệm, nhất là những gì liên quan đến tôi, hãy còn rất nhiều những thử thách khác nữa phải hứng chịu. Thật sự quả quyết rằng một trận đánh như vậy không thể nào thắng lợi nếu chỉ nhờ vào tài năng cá nhân của một ai đó.

Một bản báo cáo đã ố vàng mà tôi còn giữ được cho phép tôi kể ra một vài gương chiến đấu:

- Một lính dù người Việt Nam của chúng tôi phụ trách máy vô tuyến, đã nấp dưới hào và một mình bảo vệ chiếc máy còn nguyên bao ấy suốt ba tiếng đồng hồ cho mãi đến lúc quân Việt bỏ đi. Sau đó anh ta lại mang cỗ máy quay về sở chỉ huy của tôi.

- Một trung đội trưởng thấy rằng việc tiến lên của binh sĩ trong trung đội quá chậm chạp đã kẹp khẩu trung liên vào sườn xông lên xung phong, và anh ta bị thương vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến khi chiếm hẳn được mục tiêu.

- Một trung úy khác, trong một đợt xung phong bị thương nặng vào đầu, vẫn tiếp tục chiến đấu khiến mọi người trong đơn vị được kích động bởi tấm gương ấy, đã tỏ rõ ý chí tiến công tuyệt vời, sẵn sàng tham gia trận đánh giáp lá cà vào bất cứ lúc nào.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:25:53 pm »


Thắng lợi đạt được là kết quả của mười tám tháng chiến đấu liên tục, của công tác huấn luyện với cường độ căng thẳng và nhất là của sức mạnh tinh thần của “Cửa hàng”: một người vì tất cả, tất cả vì một người. Trước khi trời tối, ba tiểu đoàn đã nấp trong hầm hào vững chắc, trấn giữ Điện Biên Phủ.

Nếu như chúng tôi thất bại trong ngày hôm đó, Điện Biên Phủ lẽ ra đã không bao giờ xẩy ra, và lúc đó chúng tôi phải thực hiện một cuộc rút lui khó khăn sang bên Lào... điều này có khi lại dễ chịu hơn, nếu như người ta nghĩ tới bước tiếp sau của các biến cố.

Ngày hôm sau, chúng tôi chôn cất các tử sĩ trong một nghĩa trang nhỏ bé được bố trí chu đáo. Tôi muốn được nhìn thấy lần cuối cùng những khuôn mặt của Martellino và Gaillard, họ được khâm liệm bằng những chiếc dù của họ. Khu nghĩa trang nhỏ bé khốn khổ sau này vĩnh viễn biến mất, bị đào xới bởi những quả đạn pháo trong trận đánh lớn bốn tháng về sau.

Tướng Gilles cùng với mấy sĩ quan trong cơ quan tham mưu của ông và trung tá Langlais, ngày hôm sau sẽ nhẩy dù xuống, trong khi lẽ ra họ có thể hạ cánh bằng trực thăng... Langlais lẽ ra sẽ chỉ huy chung các đơn vị quân dù, nhưng bị gẫy chân, ông được chuyển về Hà Nội... Hẳn là ông ấy phải rên la dữ dội... Nhưng rồi ông sẽ quay trở lại để có mặt trong sử sách.

Gilles, vài tuần lễ nữa sẽ hồi hương, đã làm được nhiều việc trong thời gian còn ở lại. Kiệt sức, con tim héo mòn, ông bàn giao công việc cho đại tá De Castrie. Quả thật, một cách nói của ông hoàng! Bằng giọng nói đớt, mày tao chi tớ với các cấp dưới, bình tĩnh, tự tin, ông làm cho người ta tin cậy. Tôi yêu quí con người này.

Trong mấy ngày giời, từ trên trời sẽ rơi xuống những người lính dù, dây thép gai, xe xích san ủi đất, đạn dược, lương thực thực phẩm. Đường băng của sân bay sẽ được phục hồi. Hệ thống phòng ngự được tổ chức. Chúng tôi giải toả Điện Biên Phủ qua những trận tấn công cỡ tiểu đoàn, nhưng ngày lại ngày quân Việt được tăng cường mạnh hơn, bám đánh quyết liệt hơn.

Chúng tôi tiếp đón cuộc viếng thăm của một nhà báo Mỹ, người mà mười sáu năm về sau, vào năm 1970, đã cho đăng bài báo sau đây trên tạp chí “Quân đội” của Mỹ. Đầu tiên bài báo kể lại cuộc tiếp đón ông ấy ở đội lê dương ngoại quốc, bữa ăn trưa tuyệt vời, món gà mái tơ, rượu vang v.v. Và ông ta kể tiếp:

“Chuyện không giống như vậy ở chỗ chỉ huy trưởng của tiểu đoàn thuộc địa số 6. Tôi đã đưọc chứng kiến thấy có một sự trái ngược to lớn trong thói quen ăn uống của tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 ở Điện Biên Phủ vào tháng Chạp năm 1953. Tiểu đoàn số 6 là một đơn vị ưu tú, do một sĩ quan huyền thoại chỉ huy, thiếu tá Marcel Bigeard. Bigeard và đơn vị của ông ấy, được kẻ địch kính nể và nổi danh trong quân đội về những hành động nhanh chóng, bất ngờ và những chiến thắng giành được một cách đắt giá. Để giữ cho mọi người trong đơn vị có cuộc sống thích hợp với chiến trận, thiếu tá Bigeard nhấn mạnh đến công tác rèn luyện thể lực thường xuyên và một thói quen sống bằng những khẩu phần ăn ít ỏi.

Thời tiết lạnh của xứ Thái ở miền Bắc Việt Nam, và bầu không khí vùng núi làm cho ta khỏe lại, đã giúp tôi rất ngon miệng khi tôi tới cùng ăn một bữa trưa với thiếu tá Bigeard và cơ quan tham mưu của ông. Họ ngồi trên một ngôi nhà sàn nhỏ mái gianh, và công việc nghiêm túc của họ tiếp diễn ngay trong bữa ăn. Các đài vô tuyến gào lên, nổ lép bép, những giọng nói từ xa lí nhí khó nghe cho biết bước hành tiến của các đội tuần tra. Chúng tôi ngồi trên những chiếc ghế đẩu vây quanh chiếc bàn. Vũ khí, bản đồ, kính lúp hai tròng được gạt sang một bên và chúng tôi ăn uống trong những chiếc cà-mèn. Quả thực Bigeard coi ăn uống là một nhu cầu đáng bực mình. Một nhân viên phục vụ mang ra cho mỗi người chúng tôi một củ khoai tây luộc, có vẻ là củ khoai độc nhất, nó lăn tròn trong chiếc cà-mèn của chúng tôi. Một khoanh dăm-bông nhỏ và mỏng, bổ sung thêm vào củ khoai. Một tách cà phê nóng bỏng được đặt vào từng vị trí trước mặt mỗi người. Thiếu tá mở con dao con của mình và bắt đầu tỉ mẩn gọt vỏ củ khoai. Ăn xong củ khoai tây và khoanh dăm-bông, món tráng miệng được mang tới: những quả táo nhăn nheo của vườn quả xứ Normandie. Chúng tôi ăn ngấu nghiến những quả táo và thiếu tá lại quay về với những tấm bản đồ và các đài thông tin của ông. Tôi bước xuống, ra khỏi túp lếu, còn đói bụng nhưng trong lòng đầy niềm kính trọng đối với năng lực chuyên nghiệp của tiểu đoàn số 6 cùng người chỉ huy của nó”.


Kể từ bằng ấy năm trời, đã có thói quen “rít chặt thắt lưng”, ăn bất cứ thứ gì, bất kỳ ở đâu, tôi buộc phải thừa nhận là cái khoảng thời gian dành cho bữa ăn đối với tôi là một công việc lao dịch cần phải nhanh chóng làm cho xong.

Hai mươi ngày sau khi chiếm được ngôi làng, ngày 11 tháng Chạp năm 1953 Bréchignac cùng tiểu đoàn của anh, và tôi cùng với tiểu đoàn dù số 6, chúng tôi phải quay về Hà Nội. Ở đó Cogny chờ đợi chúng tôi với những nhiệm vụ khác.

Chia tay với đại tá De Castries: “Thế nào, Bruno, cậu bỏ mặc tôi ở đây rồi. Tôi những muốn được giữ cậu ở lại”. Tôi đi ra chào các tử sĩ của tôi trong khu nghĩa trang nhỏ bé và thấy vui sướng được rời khỏi cái lòng chảo này. Ở đó, qua kinh nghiệm tôi biết rằng nhiệm vụ được Cogny xác định chẳng mang lại điều gì cả. Nhưng tôi sẽ nói lại chuyện đó trong lần thứ hai tới đến Điện Biên Phủ.

Lại vẫn tiểu đoàn dù số 6, nổi lên như một ngôi sao! Ấy thế mà người ta chẳng đòi hỏi gì cả. Ở đây cũng vậy, mọi việc diễn ra tốt đẹp... như là trên một chiếc sa bàn và trung đoàn 148 quân Việt hẳn chỉ còn có mặt đây trong hồi ức. Chắc chắn, chúng tôi đã gặp may: nhiệm vụ nhẩy dù kinh điển, ngắn gọn, mạnh mẽ, gây ấn tượng, nhưng chẳng dùng làm gì.... “Cửa hàng” của tôi giờ đây nổi tiếng trong toàn bộ đạo quân viễn chinh và nếu như tướng De Linarès còn ở đây, tôi có thể nói với ông rằng: “Thưa tướng quân, tôi nghĩ là tôi đã biết cách chỉ huy một tiểu đoàn”.

Hà Nội. Toà chủng viện của tôi, được sắp xếp lại. Bổ sung các tổn thất, thăm hỏi các thương binh, soạn thảo các bản tuyên dương cho những ai xứng đáng nhất, và có những người như vậy. Được thư giãn một chút là hay. Mấy lá thư gửi về vùng Lorraine. Gaby, qua báo chí, có thể theo dõi các chiến tích của chúng tôi. Mẹ tôi hẳn phải thấy tự hào.

Magnillat, mật danh là Bernard, vốn được phân công về với tôi, lúc tôi đến Hà Nội, nay được hồi hương. Anh luyến tiếc chia tay với cái đại đội tươi đẹp được xây dựng theo mẫu hình của anh. Bernard thân yêu! Tôi giữ mãi trong tâm trí mình hình ảnh của anh trên con đường mòn ở Tú Lệ, ở đó, với vẻ bình thản và dứt khoát anh đã bố trí đại đội của anh vào vị trí mai phục. Le Boudec, cấp phó của Trapp, sẽ thay thế anh ấy. Bernard sẽ ra khỏi quân đội. Mười hai năm sau anh ấy đến thăm tôi ở Pau, ở đó tất nhiên chúng tôi nhắc lại những kỷ niệm thân thiết của chúng tôi.

Câu chuyện về tất cả những trận đánh này, các bạn hẳn phải thấy là tẻ ngắt. Trái ngược với những cuốn Ceinturions, Prétoriens và những cuốn sách khác của anh bạn Lartéguy của tôi trong câu chuyện của tôi có rất ít tình yêu, chuyện bê tha trụy lạc, những nhân vật phức tạp... Mọi chuyện đều rõ ràng, không có râu ria. Chúng tôi được nâng đỡ bởi một lý tưởng trong sáng, không có tì vết giờ đây chắc chắn được nhân đôi bởi một niềm tự hào nào đó, về những gì liên quan đến bản thân tôi... Tôi phải làm con người tốt nhất, người số một. Đây là một sự thiếu khiêm tốn... Một ngày nào đó, Thượng đế sẽ cho tôi biết điều đó.

Có tín ngưỡng nhưng không thực hành tín ngưỡng, tôi ít hiểu biết về tôn giáo. Tuy nhiên, theo một cách mơ hồ, tôi luôn luôn cảm thấy rằng muốn tồn tại lâu dài, cần phải đi theo một tuyến đường rất thẳng và các cha tuyên úy quân sự tốt bụng, tham dự vào các nỗi khổ cực của chúng tôi, đôi khi, trong những giờ phút gay cấn nhất, sẽ bấu víu vào cái anh Bruno này, vốn cũng như họ, không làm tình, biết dè sẻn tính mạng của anh em trong đơn vị, sống cùng với họ và vì họ. Nếu như tôi trở nên đa cảm, thì các thủ trưởng lớn của chúng ta, trong văn phòng của họ, có việc khác để làm và cuộc chiến tranh tiếp diễn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:26:50 pm »


X
CUỘC HÀNH QUÂN SÉNO Ở TRUNG LÀO


Ngày 29 tháng chạp, cùng với tiểu đoàn, tôi phải khẩn cấp tới Trung Lào, tới căn cứ không - lục quân Séno, ở phía đông Savannakhẹt vài kilômét... Vùng đồng bằng, vùng thượng du Bắc Kỳ, Lào... Các vùng đất tảo thanh rộng lớn nhưng ở trong tầm cỡ của tiểu đoàn dù số 6, tự tin đến hết mức. Lại một lần nữa, trèo lên những chiếc Dakota chung thuỷ của chúng tôi.

Tướng Franqui, trong tình thế này, nhận quyền chỉ huy binh đoàn tác chiến vùng Trung Lào. Ở bên ông ấy, lại là tướng quân Gilles của tôi, con mắt của Navarre. Gilles gặp riêng tôi trong văn phòng.

- Vui sướng được gặp anh, Bruno!

- Có chuyện gì vậy, thưa tướng quân?

Và ông giải thích cho tôi rõ tình hình.

Bẩy tiểu đoàn quân Việt thuộc các sư đoàn 304 và 325 vừa mới đẩy lùi binh đoàn cơ động số 2 của chúng ta trên con đường số 12 và chiếm được thành Thà-khẹt. Trước mối đe dọa bị tiêu diệt, các lực lượng của chúng ta đã phải rút lui. Tướng Navarre, trước thực tế đó đã quyết định: 1) Tăng cường cho căn cứ Séno bằng một binh đoàn không vận (đã vào vị trí). 2) Kiểm soát con đường thuộc địa số 13 trên con sông Sê-băng-phay bằng cách cắm ở đó một tiểu đoàn Bắc Phi ở giữa đoạn đường từ Savannakhẹt đến Thà-khẹt, con đường này nằm trong tay quân Việt (tiểu đoàn này cũng đã vào vị trí). 3) Tung ra về hướng đông bắc, khởi phát từ Séno, binh đoàn dù số 4 để tiếp cận với phiến quân, nắm được quân số và ý định của chúng.

- Về phần việc của anh, Bruno, chắc anh đoán được là thuộc nhiệm vụ thứ ba.

- Tôi hiểu thưa tướng quân. Nhiệm vụ dễ dàng trên giấy tờ!!!

- Chính vì vậy mà người ta đã chọn anh. Anh sẽ chỉ huy tiểu đoàn của anh và cả trung đoàn dù thuộc địa số 1 của Bréchignac đã tới đây từ hôm qua. Hai đơn vị của các anh sẽ họp thành binh đoàn không vận số 4.

- Rõ, thưa tướng quân, nhưng liệu Bréchignac (mật danh Brèche) có đồng ý tuân thủ quyền chỉ huy của tôi hay không? Tôi cũng không có thâm niên hơn anh ấy bao nhiêu.

- Bruno này, Brèche ở bên cạnh đây tôi cho gọi cậu ấy vào.

Brèche đứng trước mặt tôi. Chúng tôi vốn vẫn quí trọng nhau, nhưng anh ấy cũng thế, chỉ chấp nhận đứng ở vị trí số một.

- Thế nào, Brèche, đồng ý chứ?

- Không có vấn đề gì, Bruno, tôi sẽ ở dưới quyền chỉ huy của anh.

Hoan hô Brèche! Đúng đắn, trung thực thẳng thắn như một lưỡi dao găm sắc nhọn.

Cùng nhau, chúng tôi chuẩn bị cho nhiệm vụ phức tạp này. Martial Chevalier đánh máy các bản mệnh lệnh. Chúng tôi không có mảy may tin tức tình báo về đối phương. Đây sẽ là một cuộc xuất phát mò mẫm, duy nhất chỉ có cái mũi và sự nay mắn tham dự trò chơi. Tôi miễn cho các bạn phải nghe kể chi tiết. Trên những nét lớn, Brèche sẽ vận động theo hướng chính bắc cho tận tới con sông Sé Noi, cách xa tám mươi kilômét. Cá nhân tôi, tôi sẽ hành động ở phía đông của Brèche, giữa rừng núi, ruộng đồng. Có hệ thống liên lạc tốt, tôi sẽ có thể chỉ huy cả hai tiểu đoàn.

Ngày hôm sau, 13 giờ. Tôi triệu tập những thành phần chủ yếu: cơ quan tham mưu của tiểu đoàn. Brèche và các đại đội trưởng của anh, đại uý Giraud, cấp phó và các đại đội trưởng của tôi, các chỉ huy trưởng phi đội khu trục và máy bay B.26, quan sát viên trên không. Tôi nói rõ ý tưởng của tôi: hoạt động của tiểu đoàn theo kiểu du kích chiến, tổ chức trinh sát ở mọi nơi, mọi lúc, hành động thận trọng, mỗi chặng dừng đều phải đào hầm hào, tránh các tổn thất, tìm ra quân Việt, tìm cách xác định quân số, ý định của chúng bằng việc bắt sống tù binh, lấy được tài liệu và rút lui càng nhanh càng tốt v.v...

« Sửa lần cuối: 19 Tháng Sáu, 2009, 12:19:55 am gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:28:04 pm »


Đòn đánh đã khởi động. Lúc xuất phát tôi cảm thất rằng không có chuyện gì sẽ dễ dàng. Nhiệm vụ đẹp và khó khăn… Nhưng mà tôi sẽ thành công. Dưới quyền chỉ huy của tôi hai tiểu đoàn được chăm sóc: nuông chiều bởi các vị tướng lớn. Ngày 31 tháng chạp... Ngày thánh Sylvestre... Đối với chúng tôi có thể là cái chết ở một góc đường mòn. Một ngày 31 tháng chạp trong sos biết bao ngày 31 tháng chạp khác, trôi qua trên cái nẻo đường mòn này mà người ta căm ghét nhưng không thể nào bỏ qua.

Brèche, ngồi trên đoàn xe tải, hành quân về bản Nakhekan, ở phía nam con sông Sé Noi, sau khi đã bắt liên lạc với tiểu đoàn Bắc Phi, bố trí ở trên con đường thuộc địa số 13, cách Savannakhẹt bốn mươi kilômét về phía bắc.

Cùng với tiểu đoàn của tôi, chúng tôi hành quân bằng cơ giới ba mươi kilômét về hướng đông bắc. Sau đó tiếp tục đi bộ. Sau chặng hành quân bộ ba mươi kilômét nữa chúng tôi nghỉ qua đêm dưới một khu rừng cọ rộng mênh mông, ở cách ngôi làng Phakkada chừng vài trăm mét. Mệt nhoài, bơ phờ, cần phải đào công sự của mình, kiểm tra các kế hoạch hoả lực, thực tập báo động... Tôi tin chắc là ở phía bắc, Brèche cũng hành động một cách thận trọng tối đa.

Ngày 1 tháng giêng. Năm mới đến! Giờ đây Brèche và đơn vị ấy hành tiến đi bộ về hướng nam và dừng lại ở bản Nakhemay. Một đại đội của anh ấy chạm trán với quân Việt và đối phương có ba người chết. Đây là các phân đội của sư đoàn 304. Đêm đến, không có gì đáng chú ý.

Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 của tôi, vận động tới bản Pho Xay, cách bản Phakkada mười kilômét về phía đông. Điểm tựa mới. Chúng tôi bắt liên lạc với viên đại úy người Lào chỉ huy đồn bản Hin Siu, xa hơn mấy kilômét về phía đông. Tin tức trinh sát được tận dụng tới mức tối đa. Tôi cử nhiều đội phục kích đi ra tất cả các đường mòn. Một trong số các đơn vị của tôi chạm địch, hai tên bị giết, thu được một khẩu súng. Một trung đội khác: một lính chết, thu được một súng.

Ngày 2 tháng giêng. Brèche linh cảm thấy có quân Việt... Qua máy vô tuyến, anh ấy cho tôi biết sẽ bố trí một điểm phòng ngự trên điểm cao 261, từ đó có thể bao quát được vùng xung quanh, và có thể tỏa ra hoạt động. Về phía tôi, tôi duy trì căn cứ cũ, cử các đội phục kích ngày càng đi xa hơn. Một cuộc bám đánh không có kết quả... Một bốt nhỏ của vài người Lào bị tấn công ở phía bắc bản Hin Siu đã rút lui. Tôi báo cáo về sở chỉ huy: “Quân Việt có vẻ quan tâm đến khu lòng chảo của bản Hin Siu”

Ngày 3 và 4 tháng giêng. Brèche, từ điểm tựa của mình, tiếp tục có những trận đánh trinh sát một cách thận trọng, tránh rơi vào các ổ phục kích. Trong khu vực của tôi, yên ắng hoàn toàn. Toàn bộ “Cửa hàng” lại hành tiến, đi qua đồn bản Hin Siu do khoảng năm chục người Lào chiếm giữ. Chúng tôi ngược quá lên phía bắc mười kilômét và bố trí ở bản Som Hông... Ngôi làng nằm lọt thỏm giữa khu rừng già; như thói quen đã có, chúng tôi nhanh chóng tổ chức một điểm tựa vững chắc, xung quanh có lưới thép gai bao bọc.

Tin tức trinh sát lộ rõ. Viên đại úy người Lào của đồn Hin Siu, giờ đây được chúng tôi bảo vệ vòng ngoài, báo tin là hai ngàn rưởi quân Việt đã vượt qua sông trên đoạn phía bắc của chúng tôi và đang tiến xuống phía nam, về hướng chúng tôi... Chúng tôi tăng cường củng cố hầm hào. Tôi có chiếc công sự làm chỉ huy, nóc phía trên là những thận cây cọ, các ăngten vô tuyến của tôi thò ra qua các kẽ hở.

Ngày 5 tháng giêng. 7 giờ 15. Tôi cử Trapp đi trinh sát theo hướng bắc và Le Boudec theo hướng tây. 7 giờ 45. Le Boudec chạm trán với quân đối phương một cách dữ dội ở cách vị trí của chúng tôi một kilômét. Phân đội có năm người chết, khoảng mười lăm người bị thương. Hervé phải khẩn cấp tăng cường cho Le Boudec. Hai đại đội được các súng cối của trung úy Allaire chi viện cầm chân được quân đối phương nhưng không thể đánh bật được số đó, mặc dầu có máy bay yểm trợ... Chúng tôi thu được hai khẩu trung liên F.M, khoảng năm chục lính bị hạ gục. Các thương binh của tôi được một chiếc trực thăng hạ cánh dưới màn hoả lực chuyển về phía sau. Lepage, De Wilde trấn giữ ngôi làng, chỉ có Hervé và Le Boudec có thể rút lui trong trường hợp trận địa của họ bị thọc vào.

10 giờ. Bréchignac gặp địch ở trong khu vực kiểm soát của anh ấy. Anh ấy có hai mươi người bị loại khỏi vòng chiến đấu, nhiều quân Việt bị giết. Tôi cử máy bay đến chỗ anh ấy, mặc dầu ở chỗ tôi cũng cần đến... Anh ấy ở dưới quyền chỉ huy của tôi và đang gặp khó khăn, vì vậy tôi phải ưu tiên giúp đỡ anh ấy. Tôi hạ lệnh cho anh ấy, nếu có thể thì rút lui về Séno. Bréchignac đã làm tốt công việc, xác định được quân Việt, đã hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ. Trong ngày hôm đó, anh ấy đã rút lui đi được và thôi không ở dưới quyền chỉ huy của tôi nữa.

10 giờ 30. Đồn bản Hin Siu, ở phía nam chúng tôi, rơi vào tay quân đối phương. Một bộ phận quân đồn trú đã có thể tản mát vào trong rừng. Thật đáng buồn là một sự thật quá rõ ràng: quân Việt đã bao vây chúng tôi. Họ có mặt ở phía bắc, phía tây, phía đông và bây giờ là ở phía nam trên trục đường rút lui của chúng tôi.

Trong buổi chiều chúng tôi phản kích ở phía tây và thu gom được chừng hơn một chục tử sĩ của chúng tôi nằm lẫn lộn với các xác chết của quân Việt. Chúng tôi khẩn trương chôn cất số tử sĩ trong ngôi làng. Các đồn ngũ đáng thương vĩnh viễn nằm lại nơi đây vĩnh viễn nằm lại giữa khu rừng hẻo lánh này.

Đêm xuống... Đêm không ngủ... Có lẽ là một Tú Lệ mới chăng? – Bruno gọi Hervé, Le Boudec, Lepage, Francis, Allaire, trả lời theo trật tự. Êkíp của tôi vẫn ngồi trước máy vô tuyến. Chắc chắn chúng sắp xung phong. Giữ thật chặt các chàng trai của các anh. Phải giữ vững bằng bất cứ giá nào. Không thể nào rút lui trong đêm. Thời gian trôi qua dài vô tận. 5 giờ sáng, 7 giờ. Vẫn không có chuyện gì. Hôm nay là ngày 6 tháng giêng 1954... Ngày 6 tháng giêng 1942, tôi cưới vợ ở Nice. Gaby, Marie France, liệu tôi có gặp lại em và con hay không?

Mọi cố gắng của chúng tôi thọc ra để phá vây đều chạm phải đối phương. Quân Việt chuẩn bị công việc của mình một cách tỉ mỉ. Hẳn là họ đã tập hợp quân số ở mức tối đa, sẽ tấn công chúng tôi trong ngày hôm nay hoặc trong đêm sắp tới. Cứ mỗi tiếng đồng hồ trôi qua, tôi lại báo cáo một lần với tướng Franqui: Bị bao vây hoàn toàn, nhưng tinh thần chúng tôi vẫn giữ vững. Liệu ngài có gửi quân tăng viện cho chúng tôi và cho pháo binh yểm hộ chúng tôi hay không? Trả lời: Hãy đợi. Cứ giữ vững.

Nhiều tiếng đồng hồ trôi qua. Hai trinh sát viên của chúng tôi đã tìm ra được một con đường mòn nhỏ xíu xuyên qua rừng rậm đi về phía đông, hiện còn chưa bị quân Việt kiểm soát. Tôi xin phép tướng Franqui cho rút. Được chấp thuận. Lại một lần nữa!!! Và chúng tôi sắp thoát khỏi nơi đây. Quân Việt mở cuộc xung phong vào ngôi làng đúng lúc người lính cuối cùng của tôi rời khỏi bản Hin Siu và máy bay tới, bay trên đỉnh đầu chúng để giáng xuống một đòn nặng.

Tốt hơn hết là chúng ta hãy đọc vài dòng ghi chép vào thời kỳ đó của trung úy Bourgois tuyệt vời của tôi, người mà bốn tháng sau bị chết ở Điện Biên Phủ, giữa lúc chúng tôi đang vai kề vai, nhô đầu lên khỏi chiến hào quan sát quân Việt ở mỏm đồi phía trước mặt.


Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 12:01:09 am »


XI
BẢN SOM HONG
GHI CHÉP CỦA TRUNG ÚY BOURGOIS


“Bản Som Hong. Tên một ngôi làng cũng như biết bao ngôi làng khác, lọt thỏm trên một tấm bản đồ, cái tên chẳng nói lên điều gì và chắc chắn sẽ chẳng nói lên điều gì đáng kể đối với những ai không thuộc về tiểu đoàn dù số 6. Ấy vậy mà, ở đó, tiểu đoàn 6 đã viết lên một trong những trang sử đẹp nhất của nó”.

Kể từ ngày 1 tháng giêng, tiểu đoàn chúng tôi nhận nhiệm vụ trinh sát và tiếp cận đối phương. Nhiệm vụ này đã đưa chúng tôi tới bản Som Hong buồi chiều ngày 4. Quân Việt tập trung ở đây, ngay sát bên con sông Sé Noi. Nơi đây, chỉ cách mười kilômét là một khu rừng rất rậm rạp, duy chỉ có vài con đường mòn lượn ngoằn ngoèo xuyên qua. Quân Việt chưa bị phát hiện một cách rõ rệt. Tuy nhiên một hoạt động mạnh mẽ của bộ đội địa phương có vẻ khá có ý nghĩa và khiến cho chúng tôi phải giở mọi con chủ bài của chúng tôi ra để đối phó: một điểm tựa nhanh chóng được xây dựng, xung quanh có chuông báo động thường trực trên những đoạn đường mòn tiếp cận. Những cuộc xuất kích thường xuyên được thực hiện. Một mạng lưới trinh sát viên được phái đi tới chỗ xa nhất có thể.

Ngày 5 tháng giêng, cuộc chạm trán tàn bạo giữa quân Việt và một trong số các đại đội của chúng tôi ở bản Na Song Khôn. Hỏa lực của tất cả các loại vũ khí đã buộc đối phương phải dừng chân, sau một trận giáp lá cà dữ dội trong hơn một tiếng đồng hồ. Đại đội của Trapp đến chi viện cho đại đội của Le Boudec. Trung đoàn 66 quân Việt không quan tâm đến tổn thất của mình, đã tung ra hết đợt tấn công này đến đợt xung phong khác, nhưng bị đè bẹp dưới hoả lực súng cối và bom napan, đã không thể chiếm thêm được một tấc đất nào nữa. Việc can thiệp của các máy bay B.26, dội bom xuống các căn cứ xuất phát của quân Việt cho phép chúng tôi, đến cuối ngày, mở được một trận phản kích để thu gom các tử sĩ của chúng tôi và gần hai chục xác chết của đối phương cùng với tất cả số vũ khí.

Tình hình căng thẳng cùng với màn đêm buông xuống. Những cuộc di chuyển ở phía nam được phát hiện: cuộc bao vây bằng sức mạnh lớn đã lộ rõ. Mệnh lệnh là đơn giản, cũng gay go vì là đơn giản: “Giữ vững!”. Mệnh lệnh không chút rùm beng, cũng không chút “Camerone”
1 nhưng cái lôgíc lạnh lùng của nó bắt nguồn từ một niềm tin vững chắc: việc vận dụng một quá trình huấn luyện lặp đi lặp lại không ngưng nghỉ, mệnh lệnh đó là khả thi.

Một đêm trôi qua, một đêm trắng đối với những người canh gác, căng thẳng đối với mọi người. Và trời sáng dần trong một khung cảnh yên bình không lừa dối được một ai... Một đội tuần tra về phía đông phát hiện quân Việt chỉ cách có vài mét. Ở phía bắc, có chạm địch. Ở phía nam, có chạm địch. Đã là giữa trưa... “Này, chúng tôi tới chỗ các anh”. Nhưng quân đối phương, họ không chờ đợi và bóp chết một cách có phương pháp ngôi làng nhỏ nằm lọt thỏm giữa khu rừng. Đúng là không có sự chi viện nào để mà hi vọng, nếu không phải là của máy bay. Đề nghị: “Xin cho rút” được nêu ra và được chấp nhận. Lẽ tất nhiên bao giờ cũng dễ dàng như vậy. Điều kém dễ dàng hơn, trong lúc này, có lẽ là việc thoát ra khỏi nơi đây.

Các mệnh lệnh của Bruno quát to, dứt khoát, cụ thể. – Morane lúc 15 giờ 30 - Khu trục 16 giờ, trên đỉnh đầu chúng tôi. Chúng tôi đi theo đường mòn chính đông, sẽ đi suốt đêm. Lepage, Hervé, Francis, Le Boudec, các anh có giải pháp nào khác hay không?

Đó là vấn đề phải cứu lấy cái “cửa hàng” - cái từ không đến nỗi quá đáng. Bruno hỏi ý kiến các sĩ quan của mình. Tính kỷ luật được bổ sung thêm tinh thần đồng đội được rèn dũa bởi nhiều tháng trời huấn luyện và cũng cả trong chiến trận. Quyết định, anh ấy là người duy nhất lựa chọn nhưng cũng cần thiết là quyết định ấy được mọi người nắm vững và thực hiện.

Việc còn lại là đảm bảo tính bất ngờ của hành động, và mỗi người đều biết rằng quân Việt không để mình bị đánh lừa một cách dễ dàng. Một quả đấm về hướng tây để rồi chuồn sang hướng đông. Hervé bước vào con đường mòn ở phía đông, theo sau Francis. Các khẩu cối dồn dập phóng đi bốn trăm quả đạn cỡ 81 li, rừng già vọng lại chỗ chúng tôi những tiếng cành cây gẫy răng rắc một cách điên cuồng dưới một cơn bão lửa. Và đoàn quân một ngàn người kéo dài trên con đường mòn, từng người một rời khỏi hầm chiến đấu tính theo từng giây, mỗi mộl trung đội rút đi tính theo từng phút. Những chiếc dù cùng số vũ khí thu được đã được chôn vùi dưới đất, người ta không thể mang chúng đi theo.

Mọi việc được tổ chức, bám sát nhau hết khối này đến khối khác, tốt hơn lúc tập luyện, không một tiếng động. Cho đến lúc này chúng tôi biết rằng quân Việt không mảy may phát hiện ra điều gì, lúc này là 16 giờ. Duy nhất chỉ có tiếng ro ro của các đài thông tin và tiếng bước chân khẩn trương và rất nhỏ làm khuấy động cảnh yên lặng bão táp.

______________________________________
1. Camerone: địa danh xẩy ra một trận đánh trong cuộc chiến tranh Mexique, 30/4/1863. Ngày này được lấy làm ngày hội truyền thống của đội lê dương ngoại quốc trong quân đội Pháp. Ý nói: Mệnh lệnh không to tát. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 12:02:46 am »


Trung đội cuối cùng của Lepage vừa bước vào con đường mòn thì quân Việt chuyển sang xung phong. Như từng đợt sóng cuộn, họ tràn vào bản Som Hong và truy tìm chúng tôi. Máy bay Criquet và máy bay khu trục cũng săn tìm họ… Ở Đông Dương, cũng không có nhiều các phi công từ trên buồng lái lắp kính của họ đã nhìn thấy nhiều đoàn bộ binh đối phương… Đối với chúng tôi, đó là “nhanh hơn nữa về hướng đông”. Đối với các phi công, đó là xạ kích trúng đích cách hai trăm mét. Bom napan,bom phá, đạn 20 và 12,7 li tiến hành một vũ điệu săm-ba cuồng nhiệt. Máy bay Criquet phấn khởi reo lên: “Tôi thấy chúng văng lên không trung!” Đối với chúng tôi, vẫn chỉ là chuyện nhanh hơn nữa về hướng đông và trên vầng trán của Bruno, cái ý nghĩ chung của mọi người hiện rõ ra như trong một trang sách để mở: liệu con đường mòn có thực sự thông thoáng? Liệu đây là thành công hay sai lầm, vốn bao giờ cũng phải trả bằng máu?

Năm đại đội, giờ đây tiến về hướng đông, giữa rừng rậm. Theo hàng một, mọi người hành tiến khẩn trương và im lặng dưới tán lá rừng dầy dặc, chẳng khác gì đi trong một con đường hầm. Cây rừng sẽ gẫy rắc rắc... Nhưng mà là ở đâu? Ở đoạn đầu? Ở đoạn cuối? Giây phút trôi đi dài tưởng như vô tận; bước chân càng gấp rút hơn. Những khẩu đại liên của một máy bay B.26 vẫn nổ ròn phía xa, trên bản Som Hong.

Đột nhiên, những khẩu súng MAT 49 nổ khô khốc ở phía cuối đoàn quân. Quân Việt sau giây lát bị chưng hửng đã quyết định truy kích, bất chấp những tổn thất của họ. Quả thật là họ đã nhận được nhiệm vụ tiêu diệt bằng mọi giá tiểu đoàn dù thuộc địa số 6. Thật là một vinh dự lớn! Nhưng đòn phản kích của chúng tôi cũng khô khốc và tàn nhẫn như quyết tâm của đối phương. Một trnng đội Việt Minh bị chặn lại ngay sát nút. Tiếp cận một ngôi làng, các nẻo đường tiến vào làng được đại đội của Trapp chiếm giữ bằng sức mạnh, trong lúc toàn tiểu đoàn chạy gấp và lại chui sâu vào khu rừng, theo hướng chính nam. Ở phía sau, cách những tay súng cuối cùng vài mét, những chiếc máy bay Bearcas bám vào được đội hình của đối phương, xả đạn liên thanh vào con đường mòn từng quãng, từng quãng bốc lên những cuộn khói. Bom napan nổ tung thành những cuộn khói lớn đen kịt. Đại đội cuối cùng đã rút khỏi: tiểu đoàn đã qua hết.

Bước chân không hề chậm lại. Thời gian đi tìm người dẫn đường từ làng này sang làng khác hầu như không giúp cho mọi người kịp thở lấy lại hơi sức đôi chút. Cái “Cửa hàng” tiếp tục không để một giây phút nào mất đi mối liên kết chặt chẽ. Các đại đội, các trung đội hành tiến theo kiểu “con vẹt”
1, không đồng loạt một lúc. Đêm xuống, màn đêm tối như mực bổ sung vào những vật chướng ngại của địa hình và cản trở bước tiến: những chiếc “cầu khỉ”, những vòm lá cây cao vút, ở đó người ta tìm nhau qua tiếng bước chân, những bụi rậm lớn tại đó con đường mòn biến mất, lại tìm thấy, và lại biến mất lần nữa. Mỗi sự cố nhỏ nhất, mỗi dấu vết nhỏ nhất được báo cho nhau từ cửa miệng người này ghé sát bên tai người kia bằng giọng nói lí nhí, qua máy thông tin và mọi vấn đề đều vượt qua được. Tuy nhiên mỗi người đều cảm thấy là ván bài vẫn chưa bắt đầu chơi. Và cuộc hành tiến tiếp tục.

Lúc nửa đêm, chiếc máy bay Luciole (máy bay Dakota thả bom chiếu sáng) liên lạc bằng vô tuyến nói thì thầm. Người ta cảm thấy mối lo ngại của viên phi công đang tìm kiếm chúng tôi. Hai từ làm cho anh ta yên tâm: “Tiến triển”. Vả lại đó là theo đúng nghĩa của từ này! Và chúng tôi yêu cầu anh ta ngay lập tức vòng rộng lên phía bắc để thả xuống đó vài quả pháo sáng để đánh lừa quân Việt. Tới bốn giờ, là chút thư giãn, tóm lại là quãng nghỉ dài của một chặng đường kinh điển.

Tất cả câu chuyện này không phải là dễ dàng để mà mô tả, nhưng chắc chắn lại còn khó khăn hơn khi phải trải qua. Vài dòng chữ này, tôi không có ý định vẽ nên một bức tranh của vinh quang: chúng chỉ đơn giản muốn chứng minh rằng cái “cơ may cuối cùng” ấy – trong khi chờ đợi cơ may tiếp sau – chẳng phải là kết quả của một lần gieo con súc sắc, cũng chẳng phải có “một vận may” bám vào ngang lưng chúng tôi kể từ hai mươi tháng trời nay.

Bản Som Hong, đó là sức chịu đựng về thể xác của một nghìn con người được rèn luyện trong một nỗ lực thường nhật, lặp đi lặp lại không mệt mỏi. Đó là nhiều nghìn viên đạn bắn ra để có được tính chính xác và tính kỷ luật của hỏa lực. Đó là cái bộ máy mềm dẻo và cường tráng của năm đại đội, đầu tiên đã học cách để hiểu, sau đó là học để sống theo một mệnh lệnh. Đó là một ý thức kỷ luật đầy đủ của cả thể xác và tinh thần được đào luyện không ngơi nghỉ kể từ ba năm nay. Đó là quyết tâm của mọi người từ người binh nhì đến viên sĩ quan, quyết tâm chơi “ván bài” số phận cho đến tận cùng.

Bản Som Hong lưu giữ cho chúng tôi sức mạnh và màu sắc tươi thắm của một trong những chiến tích mà người ta thích nhìn ngắm như nuốt chửng lấy bẵng những đôi mắt trẻ thơ của chúng tôi trước một cuốn sách ảnh đẹp. Có sao đâu nếu như cái tên ấy thậm chí cũng đã rơi vào quên lãng. Mọi người của tiểu đoàn dù 6 mãi mãi tự hào đã hoàn thành ở đó một trong những nhiệm vụ vẻ vang của họ”


Sở dĩ tôi kể dài dòng về trận đánh này vì đây là một trong những trận đánh chính xác nhất, linh hoạt nhất mà tôi đã trải qua. Nhiệm vụ đã được hoàn thành với mức tổn thất thấp nhất, hàng trăm quân Việt bị giết. Trong suốt thời gian tôi bị bắt làm tù binh, sở chỉ huy quân Việt vẫn muốn nhắc lại trận đánh này, họ tỏ ý khâm phục tôi về trận rút lui đặc biệt này... Họ là những người có nhiệm vụ tiêu diệt cái tiểu đoàn dù số 6 ấy! Quân Việt huỷ bỏ cuộc tấn công của họ ở Trung Lào. Tướng Franqui hét to “Chiến thắng!” trong một bản nhật lệnh. Ông ta kể rằng đã giáng đòn nốc-ao cho quân Việt... Ông ta chẳng mảy may ngờ vực điều gì.

Tướng Giáp, suốt từ hai mươi nhăm năm nay, chắc chắn cũng đã đôi lần bị thua điểm. tức là bị nốc-ao, nhưng ông ấy luôn luôn biết rút ra từ những thất bại ấy những bài học kinh nghiệm và thực hành đòn phản công của ông ấy để rồi cuối cùng trở thành một vị tướng vô song, sau khi đã đổi mới, đã chỉ huy trong suốt một phần tư thế kỷ đối mặt với quân Pháp và quân Mỹ... Xin ngả mũ kính chào tướng Giáp!

Một kỷ niệm khác xúc động về trận đánh này: đại uý Giraud, cấp phó của tôi lúc đó, người thứ ba mà tôi kèm cặp kể từ khi tôi tới Đông Dương, qua bức điện nhận được ngay giữa trận đánh, được chỉ định nắm quyền chỉ huy một tiểu đoàn... Anh ấy được lệnh lên chiếc trực thăng duy nhất tới được để thu gom các thương binh...

- Không có chuyện đó, thưa thiếu tá. Chúng ta đã cùng nhau khởi phát nỗi khổ cực này và tôi nhất quyết kết thúc nó ở bên cạnh thiếu tá.

- OK, Giraud, xin cám ơn. Tôi chờ đợi ở anh câu trả lời đúng như vậy.

Trở về Séno. Tiểu đoàn lại trở thành một ngôi sao với nhiều phần thưởng. Danh sách những người được tặng huân chương thập tự chiến tranh kéo dài ra, danh hiệu đội lê dương danh dự và những tấm huy hiệu quân nhân nở rộ trên ngực các chiến binh của tôi. Cá nhân tôi, được nhận chiếc huân chương thập tự chiến tranh thứ hai mươi... Lần tuyên dương nhỏ nhoi đầu tiên nhận được ở Alsace, nhoà đi cùng với quãng đời non trẻ của tôi.

Chúng tôi ở lại cái căn cứ Séno này tới tận ngày 20 tháng hai: thể thao, xạ kích, hành quân xung kích, việc huấn luyện không bao giờ ngừng. Quân Việt, chúng tôi biết như vậy, giờ đây đã dứt khoát rút lui. Trong một trận bóng chuyền, tôi bị rách một đoạn cơ bắp nhỏ ở bên chân phải. Đau đớn cả về thể xác và tâm lý... Trong những đại đội dã chiến này, phải làm chủ hoàn toàn các bộ phận phương tiện của mình. Tuy vậy tôi vẫn tiếp tục hoạt động thể dục thể thao hằng ngày, với kết quả là một cẳng chân phải sưng vù lên vào lúc chiều tối.

Đã từ lâu, tôi quyết định tiến lên một bước... Một bước nữa... Vượt quá cái khả thi, vượt quá cái tối đa. Cái trạng thái tinh thần ấy đã cho phép tôi đến tận lúc này đứng vững được bất chấp sốt rét, kiết lỵ và những tai nạn khác. Đứng ở mũi nhọn từ nhiều năm nay, tôi đã không có một ngày nào dừng lại, ngoại trừ kỳ nghỉ phép bắt buộc ở vịnh Hạ Long, lúc mà tôi bị cách chức chỉ huy trưởng tiểu đoàn Thái số 3.

14 tháng hai 1954. Tôi đã ba mươi tám tuổi. 5 giờ sáng, tôi thức giấc vì những tiếng động kinh khủng: tiếng nổ của đạn súng cối, nhiều loạt đạn của hàng chục loại vũ khí tự động, những quả lựu đạn nổ ùng oàng. Tôi nhẩy vội ra hét lo: “Báo động!”. Vừa lúc toàn bộ êkíp của tôi, các sĩ quan và đại biểu của các hạ sĩ quan, tươi cười bước vào trong lều:

- Bruno, xin chúc mừng sinh nhật. Do vì không có hoa, chúng tôi tặng anh những gì mà chúng tôi có thể!

- Lũ khốn kiếp, các cậu làm cho mình hoảng hồn.

Êkíp tuyệt vời, gia đình thứ hai của tôi. Đây chính là cuộc sống của tôi, lẽ sống của đời tôi.
________________________________________
1. Ý nói theo kiểu cuốn chiếu, giống như con vẹt trèo cây, dùng mỏ bám vào rồi đu người lên từng đoạn - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 12:05:32 am »


XII
LẠI MỘT LẦN NỮA XỨ BẮC KỲ, CÁT BI


Lại là tòa chủng viện của chúng tôi. Tình hình ở Bắc Kỳ tụt dốc: bộ đội địa phương quân Việt băm nát các đồn bốt của chúng ta ở vùng đồng bằng. Họ cố gắng và đã xâm nhập vào các sân bay của chúng ta nhằm mục đích phá huỷ các máy bay khu trục và vận tải đang đảm bảo cung cấp hậu cần và chi viện cho Điện Biên Phủ, ở đó ý đồ bao vây của quân Việt đã ngày càng lộ rõ rệt. Nghỉ ngơi để hồi tưởng lại… Một vài trận đánh trên vùng đồng bằng... Báo động thường trực hoặc là báo động dưới đất hoặc báo động nhẩy dù.

Đầu tháng ba, tôi được tướng Cogny triệu tập:

- Bruno, anh lập tức xuống sân bay Cát Bi ở Hải Phòng cùng với tiểu đoàn của mình. Anh sẽ bắt liên lạc với trung tá Brunet, chỉ huy sân bay. Nhiệm vụ của anh sẽ là kiểm tra và tăng cường phòng thủ căn cứ, tôi có dự cảm là sân bay sắp bị tấn công.

Sân bay Cát Bi, ở đó có khá nhiều máy bay đủ các loại đứng xếp hàng. Tôi đến trình diện với trung tá Brunet, mật danh là Félix, ngôi sao trong đội ngũ phi công, nhiều nghìn giờ bay, một huân chương chữ thập chiến tranh cùng với nhiều bản tuyên dương, đều là nhận được trên trận địa. Một tấm gương đã lâu năm. Được người khác mến phục, kính nể, ghen tị, giống như tất cả những người có tài năng. Một tính cách khó chịu, rất cáu bẳn, tôi biết là cách đây vài ngày ông ấy đã kỷ luật viên thiếu tá chịu trách nhiệm việc phòng thủ căn cứ.

- Xin kính chào, thưa trung tá. Tôi được tướng Cogny cử tới, tôi được giao quyền chỉ huy hệ thống phòng thủ của căn cứ trong ít ngày...

- Không có chuyện đó, tôi chẳng cần gì ở Cogny, lại càng chẳng cần gì ở quân dù. Mời anh xéo đi cho...

- Thưa trung tá, tôi không chỉ huy một nhà thổ, cao một mét tám mươi nặng bẩy mươi nhăm kilô, và nếu như trung tá muốn vật lộn thì tôi xin sẵn sàng phục vụ.

Ông ấy có bình tĩnh lại một chút, nhưng không làm gì được.

- Không có lính dù ở trong căn cứ!...

Tôi tức sôi lên chỉ muốn làm sao bắt ông ấy có thái dộ cho đúng mức. Tôi triệu tập các sĩ quan trong đơn vị, giải thích cho họ rõ cuộc hội kiến. Tôi vừa đụng phải một kẻ thô lỗ, cứng đầu và sẽ báo cáo với tướng Cogny. Trong lúc chờ đợi, đêm nay chúng ta sẽ cho anh em đóng quân ngoài trời, hình thành điểm tựa ở gần sân bay. Trong trường hợp sân bay bị tấn công, tôi nói rõ nhiệm vụ cho từng người... Thường trực nghe máy vô tuyến.

Nửa đêm về sáng, tiếng súng, tiếng nổ trong sân bay. Như kế hoạch đã định. chúng tôi lao vội vào trong sân bay để kịp nhìn thấy hai hay ba chiếc máy bay nổ tung. Dù sao, chúng tôi cũng đã có mặt kịp thời để hạ gục vài tên lính và tháo gỡ những khối thuốc nổ được đặt phía dưới tất cả các máy bay... Mối thảm hoạ vừa mới tránh được hết sức đúng lúc.

Félix Brunet, nét mặt rầu rĩ nhưng niềm nở, thân ái, nhanh nhẹn tới xin lỗi và cảm ơn tôi. Hoan hô Félix! Rút cục đây là một con người cục mịch nhưng dịu dàng có trái tim vàng. Đó là khúc dạo đầu cho tình bạn lớn của chúng tôi sau này kết thúc cùng với cái chết của ông ấy ở Algérie. Chúng tôi sẽ còn có dịp chung sống trong những giờ phút độc nhất vô nhị, và Brunet mãi mãi là một trong số những người hiếm hoi đã gây ấn tượng đối với tôi... Tôi sẽ còn nhắc đến ông ấy với niềm tôn kính và mến phục.

14 tháng ba 1954. Tiểu đoàn dù số 6 của tôi phải cấp tốc trở về Hà Nội và tôi phải trình diện với tướng Cogny vào 8 giờ ngày 15 tháng ba. Félix tổ chức bữa tiệc rượu chia tay trước khi chúng tôi xuất phát, có bài diễn văn ngắn để cám ơn chúng tôi, tặng cho tôi mấy món quà... Chúng tôi nói về Điện Biên Phủ bị tấn công đêm hôm qua, ở đó chúng ta bị tổn thất nặng. Cứ điểm Béatrice1 đã bị quân Việt đánh chiếm.

Hà Nội. Văn phòng của tướng Cgny:

- Bruno, anh sẽ nhẩy dù xuống Điện Biên Phủ ngày mai, 16 tháng ba!

Ông giải thích cho tôi rõ tình hình: - Mọi việc đều xấu, quân Việt đã khiến chúng ta bị bất ngờ về trận tấn công của họ, các điểm tựa Béatrice, Gabrielle2 đều đã thất thủ. Chúng ta đã mất hai tiểu đoàn, pháo binh của chúng ta vô hiệu, nhìn từ Hà Nội thì vụ việc có vẻ được chỉ huy tồi. Đến lúc này chúng ta chưa có một thắng lợi nào. Các trận phản kích của chúng ta chưa đủ mức.

- Rõ, thưa tướng quân. Riêng cá nhân tôi, vui sướng được đi gặp lại các đồng đội ở trong cái vùng khổ ải ấy. Nhưng còn tiểu đoàn của tôi, trong hai mươi tháng trời đến Đông Dương chưa có lấy một ngày dừng chân, đã tham dự vào mọi trận đánh và tôi những muốn để cho đơn vị được thở đôi chút.

- Không, Bruno. Tiểu đoàn tuyệt vời của anh cần thiết cho Điện Biên Phủ. Hãy đi tới đó, đừng có lao mình vào những công việc thiếu chuẩn bị. Bruno, chúc anh may mắn...

- Xin tuân lệnh, thưa tướng quân.

Tôi thấy nôn nóng khi lại được nhẩy dù, được ở cùng với những người đang chơi ván bài quyết định. Vị trì duy nhất đích thực của tôi. Thật đáng tiếc! Cái con tườu chân phải mỗi lúc một làm tôi đau đớn thêm. Tôi không nói chuyện đó với bất kỳ ai... Bigeard, đó là người đàn ông đúng phép, con người sẵn sàng bất cứ lúc nào, con người bền vững, con người của vận may, trong lúc đó nói cho cùng, thân hình của tôi cũng giống như những người khác... Lòng kiêu hãnh cộng thêm vào ý chí, không hẳn là một khuyết điểm trong lối sống của chúng ta. Và rồi nữa, bước khởi đầu huyền thoại của tôi buộc phải trả giá. Đó là chuyện bình thường.
_______________________________________
1. Béatrice: Tức là cứ điểm Him Lam - N.D
2. Gabrielle: Cứ điểm Độc Lập - N.D

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM