Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:17:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lời thú nhận muộn mằn  (Đọc 43700 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #60 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 12:51:25 pm »


XVII
CHIẾM LẠI ELIANE 1


Ngày 10 tháng tư. Bất chấp các tổn thất và nỗi mệt mỏi của chúng tôi, cần phải đánh lừa quân Việt, không để cho họ có cảm tưởng là chúng tôi bị nốc-ao về kỹ thuật. Nếu như phải chịu thua thì tốt hơn là có sáng kiến hành động gì chứ không ngồi im thúc thủ như thế này. Thời kỳ đó, tôi vẫn còn tin tưởng vào một chiến thắng... Nếu như chúng tôi cố gắng cầm cự được, bộ chỉ huy hẳn không bỏ mặc chúng ta gục ngã. Họ có thể, tập trung mọi sức mạnh, thực hành một cuộc tấn công xuất phát từ vùng đồng bằng, cuộc tấn công giãn đòn cho chúng tôi. Người Mỹ hẳn phải phản ứng. Tôi tự huyễn hoặc mình bằng một lý tưởng. Ý thức rằng chiến đấu để bảo vệ thế giới tự do... Phải, cần phải giữ vững, tấn công nếu có thể, không chịu buông xuôi... Thật là thằng điên rồ đáng thương!

Từ Eliane 4, tôi chuẩn bị việc đánh chiếm lại Eliane 1, mỏm đồi cao hơn vị trí của chúng tôi. Súng phóng lựu, đạn cối 60 được mang tới các chiến hào của chúng tôi. Người nào đó nhô đầu lên là dễ chết như chơi. Chúng tôi cũng làm giống như quân Việt, nhưng hình như họ thì không phải tiết kiệm quân số và thường xuyên tổ chức thay quân.

Tôi trình bày kế hoạch với Langlais. Ông ấy đồng ý, cũng như Castries. Từ ngày 6 tháng tư, nhằm chuẩn bị cho trận tấn công đó, ban đêm tôi cho đào một chiến hào nối liền Eliane 4 tới chân đồi Ehane 1, lợi dụng khoảng chân đồi phía tây. Các nòng súng cối 81 của chúng tôi được hiệu chỉnh bắn vào các chiến hào quân Việt chạy từ hướng đông tới và ở phía bắc đồi Eliane 1. Từ nơi đây quân đối phương thực hiện thay quân, tăng viện, tiếp tế.

Các mệnh lệnh sau đây được đề ra:

Nhiệm vụ: Chiếm lại Eliane 1, bằng các phân đội tinh binh nhưng luôn luôn thay thế để tránh tập trung quân số dưới màn hoả lực. Bằng mọi giá, sử dụng tối đa hỏa lực yểm trợ để bám được vào đó.

Phương tiện: Hành động: tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 của tôi (bốn đại đội hiện giờ chỉ còn tám mươi người). Dự bị: sẵn sàng ở Eliane 10 (ở phía dưới): Bréchignac và tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 của anh ấy. Yểm trợ: toàn bộ hoả lực bộ binh của tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 và tiểu đoàn xung kích số 8, từ các vị trí của họ có thể bắn vào Eliane 1. Pháo binh: mười hai khẩu pháo 105 của Điện Biên Phủ, tám khẩu 105 của cứ điểm Isabelle, mười hai súng cối 120 của Điện Biên Phủ. Xe tăng: ba xe tăng còn hoạt động được.

Kế hoạch cụ thể: 5 giờ 30: tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 vào vị trí, đại đội đi đầu đánh vào đoạn chiến hào ở dưới chân Eliane 1. 6 giờ đến 6 giờ 10: Tập trung toàn bộ pháo hỏa (một nghìn tám trăm phát đạn pháo, vào đỉnh và sườn bắc và đông của Eliane 1). Ba xe tăng sẽ ngắm bắn trực tiếp vào đỉnh đồi Eliane 1. 6 giờ 10: Theo lệnh của tôi, ngay sau khi hoả lực dừng, một đội xung kích của tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 sẽ xông lên đỉnh đồi Eliane 1. Bắt đầu từ 6 giờ 10: Bộ binh thì phát huy toàn bộ hoả lực được dự kiến cho việc yểm trợ; pháo binh thì bắn đạn khói vào các điểm cao phía bắc theo yêu cầu của tôi, sẵn sàng hành động nhằm để ngụy trang các hành động của chúng tôi. Súng cối, bốn khẩu 81 của Điện Biên Phủ theo yêu cầu của tôi nhằm vào các hoả điểm phát hiện được.

Sở chỉ huy của tôi: “Ghế ngồi của nhạc trưởng”, đoạn phía bắc Eliane 4. Gần bên tôi, một đài thông tin với pháo binh, một đài khác với các tiểu đoàn yểm trợ, đài thứ ba với các đơn vị của tôi chịu trách nhiệm đánh chiếm các điểm tựa, đài thứ tư liên lạc với xe tăng, đài thứ năm trực tiếp nối với súng cối và cuối cùng một sóng liên lạc thường trực với máy bay.

Còn có những mệnh lệnh khác rất toàn diện mà thông qua đó tôi đầu tư mạng sống của những con người thân thiết đối với tôi. Thật là cái nghề nghiệt ngã, tuy nhiên chúng tôi không thể nào chấp nhận ngồi im để mà chịu thua, không có hành động gì.

Mọi việc được tính toán hết sức tỉ mỉ. Hoả lực yểm trợ được tính toán vào tuyến gần nhất, hoả lực súng cối 81 gần tới tám mươi mét, rồi bốn mươi mét. Pháo 105, một trăm rồi sáu mươi mét. Quân Việt ở trên đồi Eliane 1 tương đương một tiểu đoàn. Tuy bị tổn hại do hoả lực của chúng tôi (một phần ba quân số của họ bị tiêu diệt), họ nhận được lệnh phải giữ vững.

Quả thật, các trận đánh kéo dài mãi đến 15 giờ. Tám giờ giáp lá cà, dưới ánh nắng gay gắt, trong dòng máu chảy, những thương binh người ta tìm cách chuyển đi, dưới một trận bão tố của đạn pháo. Nhưng mọi việc của chúng tôi tuân thủ một cách chặt chẽ kế hoạch đã dự kiến. Cần phải xoá sổ quân Việt, không để một ai chạy thoát. Những con người do tướng Giáp đào luyện thật là những chiến binh tuyệt vời! Những cuộc phản kích của quân Việt chặn đứng pháo binh của chúng tôi, các khẩu súng cối của chúng tôi không thể nhả đạn.

Lại một bản tổng kết nữa. Quân Việt tổn thất nặng nề, chúng tôi thu được một trăm đầu vũ khí các loại! Tiếc thay về phía chúng tôi, một trăm đồng ngũ bị loại khỏi vòng chiến đấu! Cái tiểu đoàn dù 6 khốn khổ của tôi đã sắp đến ngày hồi hương. Vậy mà ngày này qua ngày khác, lại teo dần đi. Quân Việt đã bị bất ngờ. Viên đại tá chỉ huy Eliane 1 sẽ bị cách chức. Trong thời gian tôi bị bắt làm tù binh, tôi biết được rằng họ thật sự bất ngờ khi biết được tôi có thể đánh chiếm lại vị trí này với một số quân ít ỏi đến như vậy.

Lại mượn những dòng viết của Bernard Fall kể về trận đánh này.

“Bình minh ngày 10 tháng tư chứng kiến trận xung phong của quân Pháp trên đồi Eliane 1 diễn ra đúng như “bản nhạc” của Bigeard, theo cách nói của anh ấy. Để điều hành trận đánh, viên thiếu tá đã cho anh em đào một cái hầm trên sườn đồi dẫn đến mục tiêu, một cái hầm trong đó anh ấy cho bố trí nửa tá đài thông tin, tất cả nằm trong tầm tay của anh ấy. Chính là ở đó, anh ấy ngồi xổm, trải qua mười tiếng đồng hồ liền dưới một trận mưa đất đá do những mảnh vụn của các quả đạn pháo nổ xung quanh cầy xới tung lên, để điều phối các phương tiện của mình giống như một nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc. Qua các đài thông tin, anh ấy lắng nghe những mệnh lệnh của các đại đội trưởng ra lệnh cho các trung đội trưởng trong đơn vị và anh ấy gọi để chỉ huy pháo binh, không quân, cho các đơn vị súng cối, xe tăng...”.

Lại một thắng lợi nhờ vào tinh thần táo bạo, nhờ vào năng lực của các đơn vị tham dự chiến đấu, nhờ vào sự linh hoạt của các lực lượng yểm trợ. Trong suốt ngày hôm đó, ngồi trong chiếc hầm làm sở chỉ huy của mình, cách các chiến binh có một trăm mét, tuy nhiên tôi có cảm tưởng mình là một người đi ẩn náu và tôi thực lòng khâm phục anh em trong đơn vị lao lên xung phong, hành động như trong buổi diễn tập. Một đội quân thật là ưu tú! Đã trải qua biết bao chặng đường kể từ ngày ở Saint Brieuc!

Tôi bị mất ở đây những người anh em mà tôi đã chung sống từ bao lâu nay. Trung sĩ Baliste sống với tôi từ năm năm nay, bị chết. Prigent được thả dù xuống trận địa quân Đức ở nước Pháp năm 1943 cũng biến mất và nhiều người khác nữa. Langlais cho thay thế các phân đội của tôi bằng một đại đội của tiểu đoàn 2, trung đoàn dù thuộc địa số 1, đơn vị này sẽ phải gánh vác một vai trò tệ hại hơn rất nhiều: tổ chức lại trận địa trong những điều kiện không sao hình dung nổi, ở giữa đám xác chết đang thối rữa. Đào xuống, nhưng mà là đào chỗ nào? Họ sẽ sống và giữ được như vậy cho tới tận ngày 2 tháng năm. Hai mươi mốt ngày trong những điều kiện như vậy. Phải có cái nhãn hiệu Brèche để đào luyện được những con người như vậy... Brèche thân yêu! Giá như anh biết được tất cả niềm mến phục to lớn mà tôi dành cho anh!

Ngày 11 tháng tư, tướng Giáp muốn chiếm lại Eliane 1. Vào cuối buổi chiều, sau khi tập trung hoả lực pháo binh rất mạnh, quân Việt tổ chức xung phong. Lại một lần nữa, từ Eliane 4, một đại đội của tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 lên đường tăng viện, tiếp sau là một đại đội của trung đoàn dù ngoại quốc số 1 do Langlais phái tới.

Tôi liên lạc vô tuyến với đại đội của tôi. Đơn vị đang đẩy lùi quân Việt. Qua đài thông tin, một trong số các trung úy gọi tôi: Fromont gọi Bruno: Mọi việc ok, Bruno. Đã chấm hết. Quân Việt rút bỏ. Đội lê dương tới. Bruno gọi Fromont: Hoan hô. Nhưng đừng có tập trung một chỗ. Về ngay Eliane 4. Fromont gọi Bruno: Nghe rõ, Bruno. Nhưng tôi ở lại một lát cùng với đại úy Loulou Martin của đội lê dương để nắm lại tình hình... Tiếng động trong máy nhỏ đi... Loulou Martin gọi Bruno. Fromont vừa chết vì một viên đạn trúng vào đầu. Cũng như Le Vigouroux, cũng như biết bao người khác, Fromont ngã gục giữa tuổi thanh xuân đầy sức sống. Fromont, một sĩ quan tuyệt vời, có đôi mắt xanh quá, có nụ cười trong sáng quá, mãi mãi nằm lại trên ngọn đồi đáng nguyền rủa này!

Qua nhiều đêm, tiểu đoàn dù ngoại quốc số 2 của thiếu tá Liesenfeldt đã đến với chúng tôi... Vẫn là món hàng lấy từ trong kho ra. Rõ ràng là Hà Nội chẳng hiểu gì cả. Cái tiểu đoàn này nếu như được thả xuống ngày 31 tháng ba thì đã có thể cho phép chúng tôi đánh chiếm lại được Dominique 2, điểm tựa chủ yếu của toàn khu căn cứ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #61 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 12:52:09 pm »


XVIII
CẤP PHÓ CỦA LANGLAIS


Ngày 12 tháng tư, Castries triệu tập tới buồng - văn phòng của ông:

- Bruno cậu đã làm được rất nhiều, tôi chính thức giao cho cậu, kể từ ngày hôm nay, quyền chỉ huy tất cả các lực lượng ứng chiến. Cậu sẽ tới ở đây, để làm việc cho thoải mái hơn!

- Thưa đại tá, tôi thích được ở vị trí làm việc hiện nay. Tôi sẽ là cấp phó cho Langlais, sẽ tới ở chỗ anh ấy. Giữa hai chúng tôi không có vấn đề gì cả.

- Đồng ý, Bruno, nếu cậu muốn như vậy.

Tôi cho là Castries, một con người khôn khéo, có ý định san sẻ các trách nhiệm... Không hoàn toàn phụ thuộc vào Langlais. Ấy vậy mà, lúc này chính Langlais là “sếp” của chúng tôi... Người mà ta trông thấy, người quát tháo, ôm hôn, chỉ trích, chửi rủa Hà Nội. Tôi để lại tiểu đoàn của tôi, nói cho đúng là phần còn lại của đơn vị ấy cho cấp phó của tôi, đại úy Thomas và rời khỏi Eliane 4, nơi tôi đã sống ba chục ngày đêm mãi mãi in dấu trong cuộc đời tôi. Tôi có cảm tưởng là mình đào ngũ, bỏ mặc anh em... Ở chỗ Langlais, tiện nghi, an toàn, so sánh với chiếc hầm của tôi ở Eliane 4.

Thế là tôi ở cùng với Langlais, cậu cậu tớ tớ với nhau, vội vã ăn cho xong hộp khẩu phần, thay phiên nhau nằm ngủ nếu có thể. Chúng tôi bình tĩnh điểm lại tình hình: cần phải giữ vững, giữ vững, hy vọng nhưng cũng cả việc tổ chức lại tổng thể.

Căn cứ vào tình thế bi thảm hiện nay, về năng lực của những sĩ quan chỉ huy có khả năng phản ứng và quyết chí chiến đấu đến cùng, chúng tôi quyết định là sẽ không còn vấn đề cấp bậc hoặc thâm niên nữa. Trách nhiệm được phân bổ như sau: thiếu tá Bréchignac, con người cứng rắn, trấn giữ các điểm cao hướng đông. Thiếu tá Chenel, lê dương, điềm tĩnh, sáng suốt, sẽ chịu trách nhiệm các vị trí ở bên dưới, phía đông dòng sông. Thiếu tá Guiraud bảo đảm việc phòng thủ khu vực phía bắc Điện Biên Phủ. Thiếu tá Tourret, cũng có trách nhiệm như vậy ở cứ điểm Epervier. Thiếu tá Vadot, lê dương, rắn rỏi như một tảng đá, làm chủ khu vực phía nam của Điện Biên Phủ.

Hằng ngày, vào lúc 9 giờ, có cuộc họp ngắn ở sở chỉ huy quân dù của chúng tôi. Tham dự có Langlais và bản thân tôi, năm vị thiếu tá mới được chỉ định, đại tá chỉ huy pháo binh, văn phòng thứ tư của binh đoàn Gono, viên sĩ quan yểm trợ của không quân. thiếu tá De Pazzis thay mặt De Castries.

Trong cuộc họp này với một êkíp như vậy, chúng tôi không thất vọng. Cùng với nhau, chúng tôi bảo vệ mạng sống của mình. Tướng Giáp ơi, các ông còn chưa thắng được đâu. Mọi việc giờ đây tùy thuộc vào cuộc họp này. Chúng tôi thông báo với Castries các quyết định của chúng tôi, xử lý các trận đánh, trao đổi về tình hình đối phương, về khoa học biện chứng. chúng tôi yêu cầu Hà Nội nếu phải lựa chọn, hãy hạn chế việc tiếp tế lương thực, thực phẩm (gạo và các hộp thịt bò). Chúng tôi thích nhiều đạn pháo hơn là thức ăn.

Hằng ngày, tôi tới gặp Castries, người mà tôi vẫn dành cho một tình cảm quý mến không suy suyển. Một kỵ sĩ có quá khứ vẻ vang. Trận chiến đấu này không phải là của ông ấy, và rồi ông ấy đang ở đây với chúng tôi, trong khi vị trí này là vị trí của một vị tướng ba sao. Người tôi oán trách không phải là ông ấy mà là bộ chỉ huy tối cao. Ngày tháng trôi đi. Chúng tôi vẫn còn giữ vững... Tướng Giáp đã phải chịu những tổn thất to lớn, các đơn vị của ông cũng đã bị giáng một đòn nặng. Ông ấy cũng vậy, chắc cũng đang bắt buộc phải sắp  xếp lại trật tự. Chúng tôi ngủ được đôi chút. 

Một buổi chiều yên tĩnh, tôi đọc một tờ tuần báo đã cũ tới hai hoặc ba tháng, trên trang nhất có tấm ảnh của một nữ diễn viên xinh đẹp, tôi thấy cô ta rất đẹp... Buồn thay, tình yêu giờ đây chỉ còn là ảo ảnh. Tôi nghĩ tới Gaby, đến Marie France chỉ trong giây lát thôi, nhưng không nên... Liệu có ích gì? Nếu như tôi mềm lòng tôi sẽ đi tong. Các đồng ngũ gửi cho gia đình họ những bức điện tín: “Tinh thần vững. Nghĩ tới cả nhà”. Ngày hôm sau, họ không còn nữa. Cũng chính vì vậy tôi tránh động viên gia đình tôi an tâm, cứ để cho số mệnh định đoạt.

Thiếu tá - bác sĩ Grauwin, nhân một thời điểm tôi chỉ có một mình, đến thăm tôi.

- Bruno này, anh có sức nặng cần thiết để làm chấm dứt những trận đánh nhau vô ích này. Tôi ngập đầu với tất cả số thương binh đó. Phải chấm dút cuộc tàn sát này!

Hoan hô Grauwin! Chắc chắn là anh ấy có lý. Tôi chỉ có thể trả lời anh ấy rằng:

- Bác sĩ này, anh cứ tiếp tục công việc của anh, và chúng tôi tiếp tục công việc của chúng tôi. Có thể chúng ta sẽ ra khỏi chuyện đó. 

15 tháng tư. Castries được thăng quân hàm cấp tướng. Langlais, Lalande thăng cấp đại tá. De Pazzis và tôi, cấp trung tá. Tôi đã ba mươi tám tuổi, còn sống, trong bao lâu nữa đây? Đợt thăng cấp đặc biệt vốn không quá tốn kém cho quốc gia, ít nhất là nếu như Thượng đế còn phù hộ chúng tôi một lần nữa.

18 tháng tư. Chủ nhật ngày lễ Pâques. Điểm tựa Huguette 6 ở điểm cực bắc mà chúng tôi vừa giữ vững được sau một trận phản kích thắng lợi ngày 5 tháng tư lại bị bao vây. Nhiều đoạn chiến hào của quân Việt siết chặt cứ điểm trên mọi hướng. Castries quyết định rút bỏ cứ điểm đó về trung tâm phòng ngự chủ yếu, do việc chúng tôi bị bắt buộc chấp nhận những tổn thất lớn để đảm bảo tiếp tế cho vị trí đó. Đại uý Bizard hai mươi chín tuổi, chỉ huy cứ điểm. Anh vừa tốt nghiệp khoá đào tạo quân dù mới đây, sinh ra là để dẫn dắt con người, đẹp trai, tinh thần cực kỳ tốt, một sĩ quan đặc biệt đã gây ấn tượng đối với mọi người, kể từ khi anh tới đây cùng với Botella ngày 14 tháng ba.

Tôi phải giúp đỡ Bizard một tay, nếu không những, tổn thất có nguy cơ rất to lớn. Tôi bắt tay vào việc. Bruno gọi Bizard. Tôi phải chấp nhận thiệt hại lớn để tới được chỗ anh. Bizard gọi Bruno: Không cần đâu, Bruno, tôi sắp đi cả cụm về phía anh chỉ bằng những phương tiện của chúng tôi. Và cái con người ghê gớm này băng qua hàng trăm mét bằng cách xoá sổ các chiến hào quân Việt. Để tự bảo vệ mình khỏi những mảnh lựu đạn của chính mình, phần lớn anh em trong đơn vị ấy đeo trên ngực hay trên vai những chiếc bao đựng cát gần đầy. Xuất phát với hai trăm người, về đến nơi chỉ còn chưa đầy một nửa. Trong số mười sáu sĩ quan, lúc này lúc khác đã từng phục vụ ở Huguette 6, chỉ còn sống có năm người. Bizard là một trong số những người có thể làm mọi việc và bao giờ cũng trở về, một sĩ quan đáng khâm phục một cái tên cần nhớ mãi.

Ngày 20 tháng tư, trong cuộc họp hàng ngày chúng tôi điểm lại số đơn vị còn có khả năng chiến đấu. Trong số mười ba nghìn con người tung vào khu lòng chảo kể từ ngày mở đầu chiến dịch, chúng tôi chỉ còn dựa được vào khoảng hai nghìn bốn trăm chiến binh (không kể cứ điểm Isabelle), được phân bổ như sau: tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 của tôi, một trăm năm mươi người lành lặn; tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 của Bréchignac, hai trăm; tiểu đoàn 8 xung kích của Tourret, hai trăm năm mươi; tiểu đoàn dù người Việt Nam số 5 của Botella, hai trăm; các tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 và số 2 hợp nhất lại, năm trăm rưởi; đơn vị lê dương bốn trăm; pháo thủ, lính người Marốc, một số người Thái, sáu trăm rưởi.

Như vậy, trong vòng một tháng tổn thất là hết sức nặng nề ở các tiểu đoàn xung kích mỗi tiểu đoàn lúc nhẩy dù xuống có khoảng bẩy trăm người. Phải, trong thời điểm này, chỉ có bộ phận ưu tú mới chiến đấu. Số người khác đều đã suy sụp. Họ chui xuống lòng đất như lũ chuột, gần như ở mọi chỗ. Ban đêm, họ đi cướp phá đồ tiếp tế được thả dù xuống. Langlais đã nghĩ tới đến một lúc nào đó phải có một chuyến phát vãng trừng phạt số đào ngũ đó. Nhưng mà giờ đây đã có biết bao tử sĩ, thương binh rồi... Làm như vậy liệu có ích gì? Chúng ta sẽ xác định vấn đề này sau, nếu như chúng ta thoát ra khỏi nơi đây.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #62 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 12:54:07 pm »


XIX
23 THÁNG TƯ - HUGUETTE 1 THẤT THỦ


Ngày 23 tháng tư. 5 giờ sáng Huguette 1 thất thủ. 7 giờ. Castries triệu Langlais và tôi tới.

- Cần phải chiếm lại Huguette 1, sống còn đối với các cuộc thả dù của chúng ta.

Ông giao cho tôi lên kế hoạch trận đánh. Chúng tôi mệt mỏi, không còn ngủ được nữa.

- Tất cả các tiểu đoàn đều sứt mẻ, mệt mỏi hết sức, quân số thu hẹp chỉ còn một phần tư. Duy nhất tiểu đoàn dù ngoại quốc số 2, vừa mới tăng viện là còn bốn trăm người nhưng lại đang trấn giữ các cứ điểm Eliane. Căn cứ vào tình trạng mệt mỏi toàn diện, chúng ta có nguy cơ thất bại trong tấn công. Dù cho có thành công, chúng ta cũng không đứng chân được ở Huguette 1.

Tôi nhận được lệnh thực hiện cái bất khả thi và phải chiếm lại Huguette 1 trước 16 giờ.

Tôi chuẩn bị trận đánh một cách chi tiết, yêu cầu về mặt hành động, trận đánh được giao phó cho tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn dù ngoại quốc số 2, bởi lẽ duy nhất có tiểu đoàn đó còn sức hành động. Các mệnh lệnh được ban bố xong, tôi đi nằm ngủ, hoàn toàn tin tưởng ở thiếu tá Liesenfeldt, chỉ huy tiểu đoàn. 15 giờ, Castries cho đánh thức tôi dậy.

- Bruno này, tôi có cảm tưởng là trận tấn công không đủ mạnh. Cậu xuống xem đi.

Tôi len lỏi xuống Huguette 2. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn dù ngoại quốc số 2 cho tôi biết là mọi việc sẽ phải diễn ra theo đúng dự kiến.

Trung úy Allaire đi theo tôi. Cậu ấy nhận ra là đài thông  tin bị trục trặc. Tôi gọi các chỉ huy trưởng đơn vị. Thật là thảm họa. Hai đại đội bị chặn đứng lại cách Huguette 1 năm mươi mét. Tổn thất quá nửa. Hỏng to. Tôi cho bốn chiếc máy bay B.26 còn đang lượn trên không hoạt động, cộng với toàn bộ hoả lực pháo binh và cho thả màn khói trên khu vực bắc và đông cứ điểm rồi hạ lệnh rút lui nhanh chóng.

Bản tổng kết đáng buồn: một trăm năm mươi chết và bị thương ở tiểu đoàn dù ngoại quốc số 2. Quân Việt bị tổn hại to lớn. Cả một đại đội bị tiêu diệt ở Huguette 1, hàng trăm người bị loại khỏi vòng chiến đấu bởi hoả lực yểm trợ của chúng tôi trong quá trình diễn ra cuộc phản kích. Những thông tin này tôi được biết trong thời gian tôi bị bắt làm tù binh. Họ đã không hiểu được là chúng tôi đã dậm chân tại chỗ ở trước mặt Huguette 1 trong lúc bên trong cứ điểm, họ cũng chỉ còn một nhúm người.

Bernard Fall, lại vẫn nhà báo ấy viết:

“Vào khoảng 9 giờ sáng, bỏ qua các lời góp ý của Langlais và Bigeard, Castries kiên trì mệnh lệnh của mình: phải làm điều bất khả thi để chiếm lại Huguette 1 ngay trong ngày, trước 16 giờ. Với tư cách chỉ huy trưởng hệ thống phòng thủ, theo đúng ý kiến đã thống nhất trước đây, Langlais để cho Bigeard, chỉ huy trưởng các lực lượng phản kích nhiệm vụ lên kế hoạch trận tấn công. Bigeard bắt tay vào việc với tác phong khẩn trương và điềm tĩnh quen thuộc. Đầu tiên, anh hạ lệnh rút tiểu đoàn dù ngoại quốc số 2 ra khỏi Eliane, thay thế vào đó bằng các phân đội dự bị của các tiểu đoàn 2, trung đoàn dù thuộc địa số 1, của tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 và tiểu đoàn 1, trung đoàn bộ binh ngoại quốc số 2. Sau đó, thông qua thiếu tá Guérin ở sở chỉ huy G.A.T.A.C1 vùng bắc Hà Nội, Bigeard yêu cầu cho mười hai máy bay khu trục, oanh tạc và bốn chiếc B.26, giã gạo vào mạng chiến hào nằm ở phía trước cứ điểm Huguette 1 bắt đầu từ 13 giờ 45, cùng với bốn chiếc B.26 ném bom bắt đầu từ 14 giờ các mục tiêu có thể xuất hiện.

Sau khi không quân yểm trợ hoàn thành nhiệm vụ, pháo binh và súng cối bắn một nghìn hai trăm phát đạn vào Huguette 1, tiếp theo là một loạt đạn khói vào các đài quan sát của pháo binh đối phương ở Dominique và Anne Marie. Các súng cối của Huguette 3, Huguette 5 và Epervier sau đó tiếp sức bằng một hoả lực yểm trợ sát gần nhất. Ba xe tăng còn hoạt động được, dưới sự chỉ huy của trung úy Mengelle, yểm hộ trận tấn công trên cánh phía nam.

Tiếp đó là cuộc họp chỉ huy trưởng các đại đội tham gia tấn công. Ở đây, Bigeard phạm phải sai lầm là đã không tự mình nắm quyền chỉ huy trận đánh mà giao việc đó cho thiếu tá Liesenfeldt và đơn vị, quả thực như vậy, gánh vác phần lớn trách nhiệm tấn công. Sau này có nhiều lý do được nêu ra để bảo vệ cho quyết định này. Đặc biệt, người ta nói rằng nếu như Bigeard, trước đây, nắm quyền chỉ huy tất cả các hành động thì đó là vì các trận đánh đó tung vào nhiều tiểu đoàn và cần có sự phối hợp hành động của các đơn vị, trong lúc ở trường hợp trận phản kích vào Huguette 1, chỉ có một đơn vị duy nhất được tung vào trận đánh.

Người ta cũng đã nói rằng, đơn giản chỉ là Bigeard muốn không phải gánh chịu một trách nhiệm nào trong một trận đánh mà anh không tán thành và tin chắc là sẽ thất bại. Còn về bản thân Bigeard, anh giữ ý kiến rằng trận đánh, mặc dầu khó khăn, cũng thuộc loại những trận đánh mà tiểu đoàn dù ngoại quốc số 2 đã có kinh nghiệm và người ta có thể tin tưởng đơn vị đó có thể thực hiện trận đánh có kết quả. Ngoài ra anh tự nhủ là Liesenfeldt hẳn sẽ khó chịu với anh vì thấy anh ngồi trên lưng mình.

Về chuyện này cần phải nói thêm là Bigeald đã đứng suốt đêm hôm trước theo dõi cơn hấp hối của Huguette 1 và sau nhiều tuần lễ ăn uống thất thường, thiếu ngủ, anh đã mệt mỏi đến mức xỉu đi. Anh ấy có những chỉ dẫn của cá nhân cho Liesenfeldt, cho Mengelle, và cho bốn chỉ huy trưởng các đại đội quân dù, các trung úy De Bire, Bourlinguez, Pètre và Le Cour Grand maison...


Câu chuyện là đơn giản hơn thế: đơn giản chỉ là lẽ ra, mặc dầu mỏi mệt, tôi phải trực tiếp nắm lấy quyền chỉ huy trận đánh. Các sĩ quan tuyệt vời của tiểu đoàn dù ngoại quốc số 2 cũng chẳng thua kém gì các sĩ quan trong đơn vị tôi, các sĩ quan của Bréchignac hay của Tourret, nhưng mà cái ngày hôm đó đã thiếu mất một nhạc trưởng để động viên, sát cánh giúp đỡ những chiến binh đặc biệt đó. Vì vậy tôi tự cho là mình phải chịu trách nhiệm về thất bại đó.
______________________________________
1. G.A.T.A.C viết tắt tên binh đoàn không quân chiến thuật - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #63 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 12:54:57 pm »


XX
KẾT THÚC


Bắt đầu từ thời điểm này, những trận chiến đấu không còn ngơi nghỉ nữa cho đến tận ngày 7 tháng năm, lúc 10 giờ. Đêm ngày 1 rạng ngày 2 tháng năm, mất các vị trí Hugette 5, Dominique 3 và cái con điếm Eliane 1 bị quân Bắc Phi rút bỏ ngày 31 tháng ba, được chiếm lại và giữ vững bởi quân dù với những tổn thất quá ư nặng nề. Đêm ngày 3 rạng ngày 4 tháng năm, cuộc nhẩy dù của một đại đội rưỡi thuộc tiểu đoàn dù thuộc địa số 1... Những tăng viện cuối cùng thả xuống khu Thành Cổ.

Đại uý Bazin chỉ huy tiểu đoàn này. Trong một đêm tối đen như mực, thi thoảng màn đêm bị xé rách bởi ánh lửa của những quả đạn pháo, được soi sáng bởi những viên đạn lửa vạch đường, anh ấy hiện ra trong sở chỉ huy của chúng tôi. Tôi hình dung ra tinh thần quả cảm cần phải có của những con người này để trong giây lát thích nghi với cái địa ngục này, trong khi mấy tiếng đồng hồ trước đây họ vẫn còn ở Hà Nội. Bi quan, anh ta bảo chúng tôi:

- Người ta cử chúng tôi tới đây làm cái quái gì vậy? Mọi việc đã hỏng và người của tôi đều mệt mỏi!

Tôi quát vào mặt anh ta:

- Im ngay!

Langlais chồm lên, mắng:

- Người ta không hỏi ý kiến các anh, mà là để chúng tôi đập vỡ mõm các anh.

Ngay buổi sáng hôm đó, Bazin bị gẫy đùi vì đạn pháo… Lạc quan thì tốt hơn đấy!

Đại úy Pouget chỉ huy một đại đội của tiểu đoàn này. Nguyên trợ lý tác chiến của Navarre, anh ấy đã tình nguyện đến với chúng tôi, mặc dầu biết rất rõ là mọi việc sắp sụp đổ. Một sĩ quan tuyệt vời! Hành vi ứng xử của anh ấy không có chút tì vết trong mấy ngày anh ấy phải chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Lúc bị bắt, anh ấy gây được ấn tượng với các đồng ngũ về tinh thần quả cảm và vì ý thức của mình. Cuốn sách của anh ấy “Chúng tôi đã sống ở Điện Biên Phủ”, được viết ra một cách rất xúc động, đáng được dẫn ra mấy dòng liên quan đến bản thân tôi. Anh đặc biệt nói rõ:

“Vào thời kỳ đó, Bruno Bigeard vẫn còn chưa phải là Bruno Bigeard sau này. Anh chưa ăn bữa điểm tâm cùng với các vị bộ trưởng, anh chưa có ảnh làm bìa cho tờ báo Match, anh chưa tốt nghiệp Học viện Chiến tranh và anh không nghĩ đến các ngôi sao. Anh không biết mình là một thiên tài. Anh là thiên tài vì anh quyết định chỉ trong chớp mắt, chỉ huy chỉ bằng một khẩu lệnh, dắt dẫn những con người chỉ bằng một cử chỉ”.

Không, Pouget này, mình không phải là thiên tài mà chỉ đơn giản là đã tích luỹ được kinh nghiệm bằng mồ hôi đổ ra qua nhiều năm dài chiến trận.

Anh ấy cũng thuật lại lần anh ấy đến khu lòng chảo.

“Tôi dễ dàng tìm thấy sở chỉ huy của binh đoàn không vận. Đã quá nửa đêm. Đại tá Langlais ngồi ở tận trong cùng căn hầm, sau một chiếc bàn gỗ, trên mặt bàn ngổn ngang chồng chất như một quầy hàng ở chợ giời: những chiếc ca đủ kiểu khác nhau, một bình cà phê, hai chiếc vỏ chai, những tờ giấy vò nhầu, những hộp khẩu phần đã mở nắp, một tấm sôcôla và một khẩu súng lục. Trông ông gầy yếu, rất gầy, khuôn mặt hằn rõ những đường nét xương xẩu. Cử chỉ, giọng nói, cái nhìn của ông đứt quãng, ông đã tới giới hạn của cơn suy nhược thần kinh.

Tôi nhận ra bóng dáng cao to của Bigeard. Đứng tựa lưng vào vách hầm, anh ấy cầm ống nói và đang nói. Anh ấy không thay đổi, chỉ gầy đi chút ít. Anh đội chiếc mũ nồi đỏ lệch nghiêng hẳn xuống bên tay phải. Chính anh là người chỉ huy ở đây”.


Pouget này, anh đã lầm. Tôi thấy cần phải nói rõ ở đây chính Langlais là người chỉ huy và rằng, cho đến ngày cuối cùng, tinh thần của ông ấy vẫn cực kỳ. Nhưng điều chắc chắn là chúng tôi bổ sung cho nhau một cách đáng khen ngợi. Và các trận đánh tiếp diễn như trong cơn mộng du. Hành động, điều động các đơn vị, phản kích bằng những gì còn lại và tiêu hao đi giờ này qua giờ khác.

Đêm ngày 6 rạng ngày 7 tháng năm... Tướng Giáp thấy là đã đến lúc ông ta có thể kết thúc mọi chuyện. Vẫn cùng một kịch bản, đòn ác liệt của pháo hoả tiếp theo là con lăn áp lực: Eliane 4, Eliane 2, Eliane 10 liên tiếp thất thủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #64 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 12:55:29 pm »


7 tháng năm... Ngày cuối cùng... Ảo giác... Sau năm mươi sáu ngày chiến đấu không ngưng nghỉ và sau những mệt mỏi tích luỹ lại từ nhiều tháng trời, thậm chí từ nhiều năm, ngườita không ngủ nữa, hầu như không ăn nữa, người ta đứng vững được bằng thuốc lá và cà phê. Gày gò, bùn đất, những căn hầm đổ sập, xác chết ở khắp nơi, các thương binh rên rỉ dưới các chiến hào, van xin người ta chuyển họ về trạm xá lưu động.

Chúng tôi ở trong một trạng thái mơ mơ màng màng. Tôi có cảm giác mình đang quay một cuộn phim, tham dự vào tất cả những gì diễn ra nhưng từ góc nhìn khách quan... Không, không thể nào như vậy được. Người ta làm gì trong cái bể khổ không lối thoát này vậy? Tuy nhiên ban đêm là đáng sợ... Người ta vẫn còn cầm cự được... Người ta hy vọng, không phải là tất cả, tất nhiên... Người ta bước đi loạng choạng nhưng không chịu bị gục ngã.

8 giờ sáng. Phản kích trên đồi Eliane 2, những người còn sống sót thuộc tiểu đoàn của tôi chiếm lại được một nửa Eliane 10. Số còn lại của tiểu đoàn 2, trung đoàn dù thuộc địa số 1, có lẽ sáu chục người, do Bréchignac dẫn đầu, chiếm được một nửa Eliane 4... Bréchignac vô song, lần này tôi thấy xấu hổ là đã nằm dài trong căn hầm của mình, không được ở bên cạnh anh... Và cuối cùng anh đã hơn tôi một điểm, bởi lẽ anh sắp biến mất giữa trận chiến, vũ khí nắm trong tay. Than ôi, lúc 10 giờ, tướng Giáp tung ra hai trung đoàn nguyên vẹn, được toàn bộ pháo binh của ông ta yểm trợ.

Brèche gọi Bruno: Chúng đến đông lắm. Tôi phá huỷ các đài thông tin. Vĩnh biệt Bruno. Botella gọi Bruno: Lần này, thế là hỏng. Vĩnh biệt, Bruno. Nói với Langlais, tôi rất quý mến ông ấy... Bruno gọi Botella. Tạm biệt, Dédé... Mặt tái đi, tôi đưa tay chùi hai dòng nước mắt chảy trên mặt... Không, không thể nào như vậy được.

Chúng tôi vẫn còn giữ được khu phòng ngự chủ yếu. Liên lạc vô tuyến được duy trì với những ai còn lại. 12 giờ, cùng với Langlais chúng tôi họp với các chỉ huy trưởng có mặt: Vadot, Guiraud, Tourret, Chanel, và một vài người khác. Từ mười ngày nay tôi đã dự kiến một trận đánh rút chạy; tôi trình bày kế hoạch. Đêm nay chúng tôi thử tìm cách rút ra thành hai bộ phận: một là quân dù, hai là đội lê dương và chạy sang nước Lào, nhưng phải tính đến chuyện sứt mẻ tám mươi phần trăm.

Castries đồng ý và bảo tôi:

- Chính mình sẽ ở lại, cậu Bruno này, cậu đừng lo. Ta sẽ bắn suốt đêm để vui đùa với chúng và lúc trời sáng mình sẽ cho ngừng chi phí.

- Cám ơn, thưa thiếu tướng.

13 giờ... Các chỉ huy trưởng chịu trách nhiệm báo cáo với chúng tôi là không thể thực hiện được, đã từ lâu, anh em trong đơn vị đã vượt quá giới hạn của sự đề kháng và không thể nào thực hiện một chuyến đi dài như vậy. Langlais và tôi báo cáo với thiếu tướng, ông ấy chuyển ý kiến đó về Hà Nội.

Lát sau, Castries báo với chúng tôi là Hà Nội đã quyết định ngừng súng vào lúc 17 giờ, phá huỷ toàn bộ nhưng không đầu hàng, không có cờ trắng... Ý đồ tế nhị của các ông chủ lớn của chúng tôi... Người ta không đầu hàng nhưng người ta không chiến đấu nữa... cần phải hai tay buông xuôi chờ quân Việt đến.

Ở khắp nơi, ngự trị một không khí không thể nào tả nổi: những cỗ máy thông tin nổ lốp bốp, những chiếc máy chữ gãy nát, vũ khí bị đập gãy, tiền bạc, tài liệu bị thiêu hủy, những khẩu pháo, những xe tăng còn lại nổ tung, mười quả đạn pháo 120 và ba trăm viên đạn 105 nổ tung. Castries mặt mày cạo nhẵn, quân phục chỉnh tề, bình tĩnh, thoải mái vẫn còn muốn gặp tôi:

- Cậu Bruno này, quân Việt sẽ bắt cậu phải trả giá đắt đấy! Hãy thử tìm cách trốn thoát cùng với một vài anh em.

- Không, thưa thiếu tướng. Lúc này tôi không thể bỏ mặc khu Thành Cổ. Sau này sẽ xem sao.

Trong căn hầm của chúng tôi, Langlais đã đốt chiếc mũ nồi đỏ của mình. Ông ấy đội chiếc mũ đi rừng làm nổi rõ khuôn mặt gầy gò của ông ấy. Geneviève de Galard có ở đây, nằm dài dưới một gầm bàn. Lepage vừa mới vượt qua nhiều đoạn chiến hào quân Việt để đến với chúng tôi. Cậu ấy kiệt sức, ngã vật ra, gần như bất tỉnh. Martial Chevalier cố đoán xem tôi đang nghĩ gì và rồi một vài sĩ quan của cơ quan tham mưu vốn dĩ tin vào các ông thần may mắn Langlais và Bigeard cũng vừa mới đổ ngã.

Một khung cảnh yên bình rộng lớn giả tạo, một sự im lặng chết chóc lượn lờ trên khu Thành Cổ và bên trên ngự trị một bầu trời tươi đẹp xanh ngắt... Như vậy là kết thúc! Sao lại có thể như vậy được? Và chúng tôi còn ở đây, sống sót, tay không có vũ khí, để chờ đợi quân Việt tới. Tôi đã dấu vào trong chiếc ủng nhẩy dù một tấm bản đồ xứ Bắc Kỳ in trên lụa với tỷ lệ một phần bốn trăm nghìn... Tôi đã nghĩ đến cuộc trốn chạy.

Tại sao tôi vẫn còn đứng đây nếu như tiểu đoàn tươi đẹp của tôi đã không còn nữa. Rút cục, nếu như tôi còn sống sót thì đó không phải là do lỗi của tôi. Tôi đã không làm điều gì để được như vậy, tôi chơi ván bài, và rồi, suỵt, tôi không phải là người chịu trách nhiệm về Điện Biên Phủ. Nếu như tôi có thấy mình đứng ở đỉnh cao như thế này thì đó là vì rất nhiều người đã ngã gục. Nhưng càng tự an ủi mình bao nhiêu thì tôi lại càng thấy hổ thẹn là đã sống sót, là đã không một mình mở một trận xung phong cuối cùng, đã không trút hết băng đạn cuối cùng.

Chuyện gì sẽ xẩy đến với chúng tôi? Quân Việt rồi sẽ làm gì? Langlais đốt các tấm ảnh của cô vợ chưa cưới, bản thân tôi thì không có thứ gì để đốt. Tôi xoa trán cho Geneviève de Galard: “Genevìève này, cô không sao đâu. Họ sẽ không đụng đến một phụ nữ đâu mà...” Martial Chevalier khóc. Cậu ta không còn chiếc máy chữ xách tay mà cậu ta luôn lôi đi theo từ hai mươi tháng trời nay.

Hãy kết thúc đi, họ hãy tới đi! Không thể nào chịu được cảnh này nữa! 18 giờ, mọi việc chấm dút. Họ kéo tới, một vài Việt Minh vào trong căn hầm: “Đi ra, mao lên, mao lên”. Nhiệm kỳ thứ ba của tôi kết thúc trong cảnh thảm bại như vậy. Một trang đời mới sắp bắt đầu.

Cái êkíp mà tôi xây dựng nên ở Saint Brieuc đã như thế nào rồi? Phần thưởng dành cho nó sau hai mươi hai tháng trời chiến trận không dứt là cái gì đây? Trapp vừa mới bị gãy nát một cẳng chân. Cùng với số người sống sót trong đơn vị, cậu ấy đã không chịu thực hiện một cuộc rút lui mới và quyết định ở lại chết tại chỗ. Bourgois đã chết trong vòng tay của tôi, nét mặt thanh thản, cạo nhẵn, không biết là mình chết. Le Boudec bị thương bốn, năm lần. De Wilde, bị thương nặng đã chuyển về trạm xá từ lâu rồi. Lepage, không hiểu do chuyện thần kỳ nào, vẫn còn vô sự. Leroy, người đã chia tay với chúng tôi từ một năm nay để về với cô vợ xinh đẹp, hẳn phải thấy cay đắng trong tình yêu. Những trung úy trẻ tuổi của tôi, những hạ sĩ quan ưu tú của tôi, đã biến mất trong trận bão lửa. Những con người của tôi... ngày 7 tháng năm, còn lại bốn chục người, kiệt sức nhưng vẫn còn có thể chiến đấu được. Những người khác đều đã chết, đã biến mất hoặc đã bị bắt làm tù binh.

Trung sĩ Sautereau, bạn thân của Martellino, người đã chết trong trận đánh chiếm Điện Biên Phủ tháng mười một, lúc này vẫn vô sự. Cậu ta chiến đấu khá, trở thành trung đội trưởng, cậu ta cũng là người mà tôi đã phạt “nốc-ao” ở Saint Brieuc. Cậu ấy bỏ trốn, bước đi một bước... một bước nữa, đã ghi chép lại trên một cuốn sổ tay, sau này được tìm thấy, bản trường ca cuộc chạy trốn của mình, trong đó cậu ta viết: “Hôm nay, tôi không thế đi được nữa... Ngày mai, tôi sẽ chết…” Phải, cậu ấy sẽ chết như một con chó, đơn độc trên con đường mòn vô tận này, ở giữa một khung cảnh hoang dại.

Rất nhiều người đã không còn ở trên đời này nữa. Họ đã biến mất trong cơn bão lửa giữa một trận xung phong cuối cùng. Sentenac còn sống. Anh ta sẽ là một trong số người trốn chạy thành công... Để rồi kết thúc ở Algérie giữa những bãi cát của Timimoun.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #65 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 12:58:08 pm »


XXI
ĐỐI VỚI ALLAIRE: “NGỪNG BẮN LÚC 17 GIỜ 30”


Và viên trung úy Allaire nhỏ nhắn, chiến binh cuối cùng của tôi. Chúng ta hãy nghe anh ấy kể về những phản ứng cuối cùng của anh ta vào thời điểm Điện Biên Phủ thất thủ:

“Ngày 7 tháng năm. 16 giờ 30. Các ngọn đồi ở hướng đông thất thủ. Đêm qua, những gì còn lại của tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 ở vị trí Eliane 10 đã biến mất dưới con sóng thần của Việt Minh. Tôi trở thành người sĩ quan còn lành lặn duy nhất của cái tiểu đoàn sáng chói ấy mà Bigeard, theo ý tôi đã chia tay quá sớm để đi chỉ huy chung các phân đội phản kích ở bên cạnh Langlais. Xung quanh tôi - ngoài những người thoát nạn của trung đội tôi - còn có mấy người sống sót của các đại đội. Từ bẩy trăm người, giờ đây chúng tôi còn lại chưa đầy bốn chục! Những người khác ư? Họ bị chết, bị bắt làm tù binh hoặc bị thương ở chỗ của bác sĩ Grauwin.

Những tiếng động ầm ĩ của trận đánh nhường chỗ cho một cảnh im ắng, thỉnh thoảng mới bị khuấy động bởi vài tiếng súng rời rạc. Tất cả các ngọn đồi ở hướng đông đều đã nằm trong tay quân Việt. Vĩnh biệt Bréchignac, Botella... Tôi đang ở vị trí Eliane 12, quay lưng ra dòng sông. Quân Việt không có vẻ nắm được tình hình. Họ dò dẫm từng bước trên cánh đồng nằm giữa sở chỉ huy của Castries và dãy đồi Eliane. Tôi không còn ai là “sếp” nữa. Đây là trận đánh của những người còn lại. Tôi cũng không còn đạn dược nữa, chỉ còn vừa đủ, những thứ để làm nổ căn hầm và phá huỷ các phương tiện của mình.

Tôi dò tìm Bruno trên kênh sóng thông tin của binh đoàn “Gono”. Anh ấy không còn là chỉ huy trưỏng tiểu đoàn 6 nữa. Nhưng vẫn là thủ trưởng của tôi, người thủ trưởng duy nhất mà tôi gặp được trong mười năm phục vụ và trong ba nhiệm kỳ ở Đông Dương.
Allaire tìm Bruno: - Anh nhận được sóng của tôi chứ? - Allaire, Bruno đây. Cậu lúc này ra sao? - Bruno, tôi quay lưng ra con sông, lội xuống nước và rút về chứ? - Không, đừng nhắc đến chuyện đó – Thế nào? - Đừng nhắc đến chuyện đó. Hỏng rồi - Nghe rõ, Bruno. Qua việc bảo anh ấy đường lội xuống sông, tôi đã nghĩ, tôi vượt qua con sông với những gì có trong tay để chọc thủng theo hướng đi sang Lào. Nhưng bộ chỉ huy hình như đã thay đổi ý kiến.

Lần này, điều không thể có đã xảy ra. Kể từ năm 1945, tôi đã nghĩ ra nhiều cách để ra khỏi quân đội. Vết thương, vết thương tốt lành cùng với những vinh dự và sự coi trọng, vết thương xấu với chiếc xe lăn hoặc chiếc gậy chống màu trắng, vết thương cuối cùng.

Tôi rất khó chấp nhận chuyện bất ngờ này. Tôi cảm thấy là không có điều gì có thể bào chữa cho một vụ đầu hàng. Cần phải có một mệnh lệnh bằng văn bản. Một sĩ quan Nhật Bản hẳn sẽ tự đâm lưỡi kiếm vào bụng. Một sĩ quan trong tiểu thuyết hẳn sẽ tự bắn một phát đạn vào đầu hoặc là bất chấp các mệnh lệnh, hẳn sẽ mở một trận phá vây cuối cùng. Tôi chỉ là một sĩ quan nhỏ bé của ngạch dự bị, không có nghĩa lý gì trong nỗi khổ cực này, phải, tôi cần phải có một mệnh lệnh bằng văn bản.

Hiển nhiên, cái thái độ này cũng không có gì là cao thượng. Đã năm mươi hai ngày người ta đánh nhau trong khu lòng chảo này. Nhưng mà chúng tôi có bao nhiêu người để chiến đấu? Và ai cùng chia sẻ với chúng tôi trận đánh? Ai hiểu được nó, đánh giá là nó đúng và cần thiết? Chúng tôi, những con người lạc lõng của Điện Biên Phủ. Bruno đã nói là hỏng hết rồi. Anh ấy vốn thành thạo. Không còn việc gì để làm nữa. Một chàng trai tình nguyện đi tìm kiếm cái mệnh lệnh cần có. Anh ta nhẩy xuống, bơi qua sông dưới làn đạn của một khẩu súng tự động nhằm vào anh ta nhả cả băng đạn.

17 giờ anh ta quay về cùng với mệnh lệnh - Một tờ giấy bình thường. Mấy dòng chữ của Bruno, viết bằng bút bi với kiểu chữ xoắn ốc: “Lệnh cho Allaire: Ngừng bắn lúc 17 giờ 30. Không bắn nữa. Không có cờ trắng. Tiểu đoàn 6 khốn khổ! Quân dù khốn khổ! Hẹn gặp lại. Bruno”.
(Mệnh lệnh này, Allaire đã tìm cách giữ lại được trong suốt một thời kỳ bị bắt làm tù binh và trao lại cho tôi mười lăm năm sau ở Dakar).

“Vở kịch đã diễn xong. Tôi đọc bản mệnh lệnh của Bruno cho các chàng trai của tôi nghe. Họ kinh hoàng. Họ không thể nào tin được rằng một quãng ngày tràn đầy những chiến thắng, những trận đánh tuyệt đẹp, những đòn ra tay vẻ vang lại sắp kết thúc trong vòng ba mươi phút nữa, ba mươi phút nhỏ nhoi, giống như năm 19401. Thế là hết cái tổ hợp cao cấp những chàng trai của Bigeard. Đảo lộn, thật sự đảo lộn. Cái đơn vị mà người ta tưởng là để dành cho những cú hích lớn, đổ mồ hôi và đổ máu chẳng khác gì những miếng bọt biển. Cũng như mọi người, tiểu đoàn 6 quỳ gối. Và chính chúng tôi là những người có được cái đặc quyền đáng buồn là vác về lá cờ của cái tiểu đoàn ưu tú ấy

“Những người Việt Nam, nguyên là lính muốn đi với chúng tôi. Ra khỏi nơi đây. Còn hơn là để bị bắt làm tù binh. Họ là những người Việt Nam vùng đồng bằng chứ không phải là người Thái. Họ chẳng thông thạo địa hình vùng này cũng chẳng biết tiếng nói ở đây. Đi đâu ở nước Lào? Xuống vùng đồng bằng chăng? Xung quanh chúng tôi, có ai vì ai chăng? Những người Thái và người Mèo đã rời bỏ chúng tôi. Người ta không thể quở trách họ, quân Việt là những người mạnh nhất. Không, thoát khỏi cái tình thế rối rắm này là không thể được. Chúng tôi đã mệt nhoài, bụng rỗng. Từ mười lăm ngày nay, người ta hầu như không ăn, hầu như không ngủ. Một đòn chọc thủng vòng vây được coi là không có khả năng trong trạng thái mệt mỏi hết mức của những người còn sống sót quyết tâm chiến đấu, tôi thấy mình không đủ tầm cỡ để theo đuổi cuộc phiêu lưu.

Những người Việt Nam tốt bụng này tỏ vẻ kinh hoàng, chẳng bao lâu nữa họ sẽ bị các cơ quan an ninh của quân Việt xác định như những tên phản quốc và họ biết rằng kể từ thời điểm đó, mạng sống của họ chẳng có nghĩa lý gì. Ấy thế mà họ đang ở đây, đó là do lỗi của tôi, phải, do lỗi của tôi. Tháng giêng họ đã kết thúc bản hợp đồng của họ, muốn hạ khẩu súng để quay về cuộc sống bình thường của người dân quê. Tôi đã thuyết phục được họ tái đăng thêm sáu tháng để kết thúc nhiệm kỳ cùngvới tiểu đoàn. Vì tôi, để ở lại với tôi, họ đã tái đăng thêm sáu tháng. Tháng hai, chúng tôi đã cùng nhau ăn cái tết đón năm mới. Họ nói: “Ông trung úy, ông thấy đấy, đây là cái tết cuối cùng. Tháng bảy tới, chúng tôi là về nhà, và ông là gặp lại bà đầm và con cái”. Đây là lỗi hổ thẹn đầu tiên của tôi, nỗi hổ thẹn cuối cùng tôi gặp phải ở Algérie với những người Harkis
2 và những người Ảrập khác bị chúng ta lôi cuốn.

17 giờ 25. Khu lòng chảo mỗi lúc một thêm tĩnh lặng. Một vài tiếng nổ, việc phá hủy các vũ khí nặng phá tan cảnh im ắng. Allaire gọi Bruno: - Bruno nghe đây, họ tới nhưng không bắn. Tạm biệt Bruno. Tôi cho nổ đài thông tin. Vĩnh biệt, hẹn sớm gặp nhau. Quân Việt đã tới bờ sông. Họ đi dọc theo các chiến hào, nơi chúng tôi đang ẩn nấp. - Đi về! Ai! Mao lên! Mao lên! Những binh sĩ, những đứa trẻ, mười bẩy hay mười tám tuổi? Chúng tôi bước ra khỏi các chiến hào và đi về hướng bắc. - Đi về! Đi về! Im lặng.

7 tháng năm. 18 giò. Chúng tôi đã rời khỏi trận địa chiến hào. Những đoàn người cùng hướng về cứ điểm Béatrice và tiến ra con đường thuộc địa số 41. Một cái nhìn lại sau lưng, cánh đồng đen đặc những người thoát chết! Chúng tôi có bao nhiêu người đây? Chắc chắn là nhiều nghìn người. Mới ngày hôm qua, người ta còn đi tìm những trung đội phản kích, đếm được trên đầu ngón tay. Tất cả khối người này... những chiến binh ư? Chắc chắn là một vài người, số còn lại... những quân số để tính khẩu phần ăn. Những cái tầu há mồm phải nuôi sống và không phải là ít đâu!

Dòng người chiến bại kéo dài trên con đường thuộc địa số 41, hướng lên phía bắc, được áp tải bởi những bộ đội vui sướng đến say sưa. Họ có quyền được vui sướng và thậm chí được tự hào, họ đã chiến đấu tốt. Họ là những người chiến thắng”

_____________________________________
1. 1940: Ý nói đến năm mà nước Pháp đầu hàng quân phát xít Đức - N.D
2. Harki: người Algérie tham gia quân đội Pháp thời chiến tranh ở Algérie - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #66 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 12:58:52 pm »


XXII
BỊ BẮT LÀM TÙ BINH


Một cách tự nguyện, tôi đã nêu chút ít tên tuổi, đã không nói đến những trận đánh ở cứ điểm Isabelle vốn liên quan đến Lalande, cũng là chỉ lướt qua trận đánh của tôi, ở cấp độ của tôi và ở những nét chính. Tuy nhiên, tôi những muốn được mở rộng thêm nữa về hành vi ứng xử của các pháo thủ chúng ta bị bắn phá ở trên các trận địa của họ với một vai trò mai danh ẩn tích; nêu lên một vài hành động chiến đấu của anh em trên các chiến xa dưới quyền chỉ huy của đại uý Hervouët đáng ca ngợi, người đã chết trong trại tù binh. Nhấn mạnh đến cái gọi là cuộc chiến này của các sĩ quan cấp dưới, các hạ sĩ quan là những người đã hứng chịu gánh nặng của tất cả những trận đánh này và rồi, bị thương hai hay ba lần vẫn nắm lại quyền chỉ huy của họ, biết rằng trong trận phản kích sắp tới, sẽ đến lượt họ biến mất. Kể lại hành động chiến đấu của những người lính trơn, sẵn sàng đến tận cùng và khi đã bị thọt chân, cụt tay, chột mắt lại muốn tiếp tục chiến đấu để cùng bại trận với chúng tôi.

Tôi đã ba mươi tám tuổi, cái tuổi thành đạt, là trung tá, hai mươi mốt lần được tặng thưởng huân chương chữ thập chiến tranh, có danh hiệu người chỉ huy của đội lê dương danh dự, nổi tiếng ở nước Pháp, thậm chí cả ở trên thế giới, kể từ năm 1939... Thế là đã mười lăm năm! Tôi đã cống hiến phần tốt nhất của bản thân, đã chịu đựng gian khổ, đã sống một cuộc sống của thày tu... A! Nếu như chúng ta là những người chiến thắng!... Nhưng mà chúng ta bị đánh bại, bị tủi nhục, bị suy yếu và tôi là một nhân vật đáng thương giữa biết bao những nhân vật khác.

Đây, tôi đã là tù binh của những người Việt Nam nhỏ nhắn này, những người mà ở trong quân đội Pháp của chúng ta, xưa kia chúng ta cho là chỉ có thể làm tốt công việc của những y tá và lái xe. Trong khi đó, những con người này có tinh thần chiến đấu cực kỳ ngoan cường, bắt đầu từ con số không vào năm 1945 với một lý tưởng, một trang bị vũ khí chắp vá, một mục tiêu: đánh đuổi người Pháp đi. Trong vòng chín năm, tướng Giáp đã đánh bại đạo quân viễn chinh của chúng ta, điều đó không có gì phải bàn cãi.

Liệu có ai có thể tin được rằng những người Bắc Kỳ nhỏ nhắn ấy, những con người của đồng ruộng, thanh đạm, tích cực lao động, được huấn luyện chút ít về chính trị và quân sự lại đã có thể biến thành một phương tiện chiến đấu ghê gớm, linh hoạt, cơ động, bền bỉ, biết cách hành động, có năng lực không chỉ ở cấp độ người chiến binh mà cả ở cấp độ bộ chỉ huy. Những đại tá, những trung đoàn trưởng tuổi cũng trẻ trung như các chiến sĩ của họ, đánh giá một cách nhanh chóng và chắc chắn một tình thế, những sư đoàn trưởng có mặt ở những tuyến chiến đấu mũi nhọn nhất... Trong lúc chúng ta thì đã không làm sao có thể chỉ định được một hoặc hai, thậm chí ba viên tướng để chỉ huy chung các đơn vị của chúng ta ở Điện Biên Phủ.

Có biết bao bài học được rút ra từ tất cả những điều đó... Tôi cần phải sống. Gặp lại nước Pháp, đấu tranh, làm cho người ta hiểu ra rằng đã đến lúc phải phản ứng, rằng tất cả những hy sinh đó sẽ không phải là vô ích... Phải, tôi sẽ hét to, gào lên, thổ lộ tất cả nỗi lòng của mình. Đầu óc tôi sôi lên giữa lúc tôi bước đi trên con đường mòn này, ở bên cạnh Langlais, hòa nhập vào hàng ngũ các chiến binh của chúng ta. Chúng tôi đã không mang theo bất cứ một thứ gì. Một số người, ngược lại, đã chuẩn bị cho việc bị bắt và mang theo những chiếc túi chứa đầy thức ăn, thuốc lá.

Langlais không nói gì. Anh ấy đột nhiên già đi. Căng thẳng từ nhiều tháng trời nay, một chiếc lò so đã đứt tung. Tôi nghĩ tới những người thân, tới Gaby. Thật là tệ hại. Cái kết thúc sao mà buồn thảm! Và rồi, tiểu đoàn tốt đẹp của tôi, sức mạnh của tôi, lẽ sống của tôi. Thật là đơn độc với những ý nghĩ của mình. Mọi chuyện đổ sụp một cái... Nào, Bruno, hãy phản ứng, anh đã từng trải qua nhiều hoàn cảnh, anh sẽ thoát ra được... đầu óc tôi muốn nổ tung. Cần phải lấy lại thăng bằng, một tinh thần vững, chịu đựng được mọi thử thách và một đôi chân biết nghe lời, bởi lẽ tạm thời lúc này, chúng tôi mệt mỏi, rất mệt, bụng rỗng, tinh thần suy sụp.

Sao mà yên tĩnh trên con đường mòn này, tắm mình giữa không gian tự do, thoát khỏi những loạt đạn súng tự động, những quả đạn pháo nổ tung tình cờ làm bị thương hay giết chết những người mà số phận chỉ định. Tuy nhiên, một cái chết chậm rãi hơn, tệ hại hơn vẫn còn chờ đợi nhiều nghìn người trong số chúng tôi, họ không hề biết đến điều đó, họ sẽ biến mất vĩnh viễn, bị bỏ mặc, bị kiệt sức vì sốt rét và kiết lị, trên cái con đường mòn vô tận này mang theo những ý nghĩ cuối cùng mà chỉ riêng họ biết được. Đêm xuống. Dừng chân. Những người lính gác ra lệnh cho chúng tôi thu xếp chỗ để ngủ. Cậu liên lạc người Việt Nam nhỏ nhắn tìm đến gặp tôi mang theo chiếc túi để nằm mà tôi cho Langlais mượn vì nó có vẻ đã hỏng... Đêm dài, bụng rỗng, người run lên.

Sau tất cả những gì mà chúng tôi đã sống, sẽ là tốt nếu được cưng chiều một chút, một chiếc giường bệnh viện, một cô y tá dịu hiền. Nhưng đây là chuyện bước đi hay là ngã gục. Và ngày hôm sau, ngày hôm sau nữa, chúng tôi tiếp tục bước đi, vẫn còn bước đi như những người máy.

Cuối cùng, bị quây giữ ở một nơi nào đó trong rừng sâu, chúng tôi vui mừng gặp lại Botella, Bréchignac, Tourret, Chenel, Guiraud, Lalande, De Pazzis và những người khác... Tất cả những người chỉ huy ở Điện Biên Phủ có mặt ở đây. Một chung cục buồn thảm! Đội quân bại trận đáng thương! Không thể nào như thế được, tất cả những tiểu đoàn trưởng tuyệt vời, bộ phận ưu tú của quân đội ta, bị giam giữ ở cái xó rừng này... Nhưng mà rất cần phải sống, phải trụ vững, chịu đựng, hy vọng, nhưng mà cái gì nhỉ? Trốn trại ư? Bréchignac, giống như tôi, chỉ có một mong muốn: thử xem sao.

Các chính trị viên của quân Việt có vẻ thích thú. Họ giam giữ chúng tôi và hình như là sẽ chăm lo đến việc đào luyện chúng tôi... Chúng tôi bị coi là những sĩ quan tư sản, những người ích kỷ, không chia sẻ nỗi vất vả, cuộc sống của anh em binh sĩ. Từ nay, chúng tôi phải tự phục vụ cho mình, tiến hành tự phê bình, thú nhận các tội ác của bản thân! Tất cả những trò này thật là trẻ con. Những ý định thuyết giảng giáo lý đầu tiên vụng về, tiếp sau là những ý đồ khác cũng không có hiệu quả... Cần phải có thời gian mới nhào nặn được một tâm hồn đã được tôi luyện kỹ.

Tất cả các sĩ quan cao cấp được tập trung lại, kể cả tướng Castries mà người ta dẫn đến chỗ chúng tôi. Sung sướng được gặp lại thiếu tướng... Quân Việt cho chúng tôi biết họ có ý định diễn lại cảnh đánh chiếm các sở chỉ huy. Như vậy là chúng tôi phải quay lại Điện Biên Phủ, đi qua trước các ống kính quay phim của họ... Tôi trả lời họ: “Không có chuyện đó, chẳng thà chết còn hơn”... Họ không nài ép.

Martial Chevalier vẫn luôn luôn ở bên tôi. Trước khi rời khỏi khu Thành Cổ, cậu ta đã thủ túi cho tôi một tút thuốc lá trong sở chỉ huy của thiếu tướng. Lúc nào cũng tận tụy, cậu ta không biết làm gì để cho tôi thấy dễ chịu... Cậu ta muốn bỏ trốn cùng với tôi. Chúng tôi không ngừng nhắc đến chuyện ấy, nhưng trước tiên cần phải tìm cách thu thập những thứ cần thiết.

Thu thập, thật là chuyện khó khăn với tám lạng gạo mỗi ngày của chúng tôi, chúng tôi phải dùng lượng gạo đó để nấu cơm trong những chiếc thùng nhỏ đầy mùi dầu mỡ. Chúng tôi đói, quân Việt biết rất rõ trạng thái suy nhược của chúng tôi và tặng cho chúng tôi một con trâu già cải thiện bữa ăn hàng ngày được bốn mươi tám tiếng đồng hồ... Phải, cần phải ăn, bất kể là chất lượng ra sao. Tôi đã sống dè sẻn trong thời gian dài đến như thế cho nên tôi không hề thấy khó chịu.

Chúng tôi tắm rửa ở một con suối nhỏ nhưng tôi đã không mang theo được một thứ gì: Không có dao cạo, không có xà phòng. Langlais cũng ở trong tình thế như vậy. May thay, một vài đồng ngũ còn giữ được và cho chúng tôi mượn số đồ ít ỏi mà họ có... Chúng tôi thực sự như những con vật. Bộ quân phục lính dù đeo trên lưng và không có gì khác ngoài một chiếc áo may-ô ba lỗ mà tôi mặc được lúc bị bắt và cho phép tôi suốt ngày cởi trần, thân hình tiếp xúc thường xuyên với không khí.

Một tuần lễ ở trong khu trại này. Những ngày thật là dài. Tôi có cảm tưởng mình bị bắt có dễ đã nhiều tháng trời. Quân Việt cho chúng tôi biết là chúng tôi sắp chuyển về khu trại cố định, nhưng mà ở đâu nhỉ? Các hạ sĩ quan, sĩ quan cấp dưới đi bộ, các sĩ quan cao cấp, do tuổi tác, sẽ di chuyển bằng xe tải. Tôi đề nghị với quân Việt cho tôi đi với khối thứ nhất hy vọng như vậy sẽ có nhiều cơ may để trốn thoát... Không được, họ từ chối.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #67 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 01:00:45 pm »


XXIII
CÁC ĐỒNG NGŨ


Các sĩ quan, các hạ sĩ quan chia tay với chúng tôi, Martial khóc. Cậu ta để lại cho tôi mấy bao thuốc lá mà cậu ta còn giữ được. Tôi ôm hôn cậu ấy: “Tạm biệt, Martial, bám trụ cho chắc. Chúng ta sẽ gặp lại nhau”. Họ đi rồi và thế là chúng tôi bị buộc phải sống giữa đám sĩ quan cao cấp với nhau. Tôi phải xác định với các bạn những ông đại tá này mà tôi sắp cùng chia sẻ cuộc sống trong bốn tháng trời. Langlais, Lalande, De Pazzis, các bạn đã biết rồi. Họ được nhắc đến trong tất cả những cuốn sách viết về trận đánh này.

Đại tá Vaillant, chỉ huy trưởng pháo binh đã thay thế Piroth sau khi ông này tự sát. Vóc người nhỏ nhắn, nước da ngăm ngăm, ông bố của một gia đình đông người, đó là một con người của nghĩa vụ, một lương tâm. Chúng tôi đánh giá cao ông ấy.

Trung tá Voineau, đã phục vụ trong các đơn vị người Marốc, hỏng một mắt trong trận đánh ở Vĩnh Yên dưới thời De Lattre. Thân hình cao to, khỏe mạnh, râu rậm, chân tay lông lá, một sức mạnh của tự nhiên, đến Điện Biên Phủ lúc mở đầu trận đánh, không có chức trách thật rõ ràng nếu không phải là công việc thu gom các chuyến nhẩy dù. Anh ấy đã có cuộc cãi lộn với Langlais, ông này đã quẳng cốc rượu úytski vào mặt anh ấy.

Trung tá Ducruix , một kỵ binh, người mảnh khảnh, hay cãi cọ lẽ ra phải là tham mưu trưởng của De Castries, thay thế cho Keller bị trả về Hà Nội nhưng thiếu tướng thích Pazzis hơn... Như vậy là Ducruix đã theo dõi trận đánh mà không tham dự hoặc là tham dự rất ít.

Trung tá Trancart, vốn là người chăn lạc đà, rắn rỏi, cân bằng đã không làm cho mình nổi bật lên được trong quá trình chiến đấu. Chịu trách nhiệm về cứ điểm Gabrielle và cứ điểm Anne Marie, ngôi sao của anh ấy tắt ngấm ngay sau khi hai vị trí này thất thủ.

Trung tá Lemeunier, sĩ quan lê dương có truyền thống. Cao to, nặng nề, ít hoạt động nhưng là một con người tốt. Tình nguyện thay thế Gaucher, chỉ huy đội lê dương, bị giết chết lúc khởi đầu trận đánh. Và một vài người khác mà tôi quên mất tên.

Tất cả số sĩ quan này là những người anh thâm niên hơn tôi về tuổi tác và cấp hàm. Thông thường, lẽ ra họ phải chỉ huy, đề xuất ý kiến, lên kế hoạch các trận đánh. Việc sử dụng họ nhiều hơn nữa là công việc của thiếu tướng De Castries. Tôi nghĩ là sở dĩ thiếu tướng lựa chọn tôi vì ông nắm được là tôi có kinh nghiệm, khối kinh nghiệm có được qua mồ hôi đổ và máu chảy, sau ba nhiệm kỳ dài ngày. Mặt khác, trong tay tôi có một công cụ đặc biệt1 và Guiraud, Botella, Tourret, Bréchignac có thói quen làm việc với tôi.

Tôi hoàn toàn ý thức được, vào thời kỳ đó, về những gì tôi đã làm, về những gì tôi có thể làm. Tôi tự cảm thấy khỏe mạnh bất chấp thử thách mà chúng tôi phải chịu đựng. Ít hơn các đồng ngũ của tôi mấy tuổi, cuộc sống trong trại giam đối với tôi dễ dàng hơn.

Chúng tôi thực hiện chuyến đi dài, chen chúc nhau trên chiếc xe tải Molotova của Nga duy nhất, chiếc xe lăn bánh nhiều đêm trên cái con đường thuộc địa số 41 mà tôi đã biết bao lần đi bộ. Ban ngày, chúng tôi bị quây giữ trong một xó rừng, ở đó chúng tôi phải đi kiếm củi, nấu cơm, tìm cách tắm rửa đôi chút, lúc nào cũng bị canh gác cẩn mật bốn xung quanh bởi những người lính sẵn sàng nổ súng nếu có trường hợp định trốn chạy.

Thật là một cảnh khổ dai dẳng! Những đêm dài vô tận ngồi trong chiếc xe chật hẹp này, chen vai thích cánh, không biết duỗi cánh tay duỗi cẳng chân vào đâu. Thân hình bị lắc lư, xô đẩy, bụng rỗng không hoặc chỉ có chút ít thức ăn, với ba người lính canh, tiểu liên sẵn sàng khạc đạn. Một số bị kiết lị, một số khác lên cơn sốt rét... Lalande có một giọng tốt và cất tiếng hát mấy bài hát, “Trên những ngọn núi”, và những bài khác... Chúng tôi đồng thanh hát theo... những ai có đủ sức để hát.

Đôi khi, trong đêm mỗi người chúng tôi được phân phát một quả chuối mà chúng tôi nhâm nhi từ từ... thật chậm để kéo dài cảm giác thích thú... Thơm quá! Một bữa tiệc thực sự… Sẵn sàng đổi mọi thứ để nhận được quả chuối thứ hai... Chúng tôi quả thật là những kẻ đáng thương, thật đáng thương!

Tuần Giáo rồi Thuận Châu. Sắp tới Sơn La, trời sáng, chúng tôi bị oanh tạc bởi một máy bay B.26 của chúng ta. May thay, loạt đạn đi qua bên cạnh... bị những người Pháp hạ gục... dứt khoát chúng tôi đang nằm ở vực sâu của con sóng.

Sơn La. Tôi muốn khóc. Cái nơi khỉ ho cò gáy mà tôi đã đánh chiếm, tái chiếm. Ở đó tôi đã sống biết bao tháng ngày hạnh phúc cùng với Gaby, cái xứ Thái này ở đó tôi đã từng là quốc vương. Quân Việt biết chuyện đó và cả ngày, giam riêng một mình tôi trong ngôi biệt thự cũ của tôi lúc này đã tốc hết mái. Đây là căn buồng của chúng tôi, Gaby tiếp khách trong phòng khách nhỏ này, tướng Alessandri đã ngủ trong căn buồng kia... Cái kết cục dành cho cuộc chiến tranh dài ngày ở Đông Dương của tôi sao mà buồn thảm! Cần phải thoát ra khỏi đây, cuốn xéo đi, nhưng mà tôi bị canh chừng một cách ghê gớm. Quân Việt đọc được ý nghĩ của tôi... Ở đây tôi có thể chuồn, tôi biết quá rõ khu vực này.

Tôi đã quyết định, nếu cơ hội xuất hiện, nếu việc canh gác nơi lỏng một chút, sẽ nhảy từ xe tải xuống ở quãng Tạ Khoa và trượt xuống dòng nước sông Đà... Thiếu may mắn, Schoenderffer và Perraud, trên một chiếc xe tải khác, cũng có cùng một ý nghĩ… Những loạt đạn ngắn trong đêm. Schoenderffer nhanh chóng bị tóm lại. Perraud, không một ai biết được anh ta ra sao? Mặc kệ, sau này chúng ta sẽ rõ.

Chiếc xe tải Molotova này, với khối hàng toàn những vị anh hùng thất trận, vẫn chưa chịu tới nơi dừng lại. Chân tay rã rời, thân hình gầy giơ xương, chúng tôi mơ tới một bữa ăn ngon, một hộp dao cạo râu, một lần tắm rửa đàng hoàng... một người đàn bà xinh đẹp... Tất cả chỉ là ảo ảnh! Nỗi khổ cực dai dẳng, chặng đường vác thánh giá chịu tội của chúng tôi, bao giờ và sẽ kết thúc ở đâu đây?

Yên Bái, con sông Hồng. Tiếp tục đi về hướng bắc. Tuyên Quang. Có một lúc chúng tôi bỏ xe tải để đi bộ tiếp. Càng hay, chúng tôi có thể đứng thẳng dậy, hít thở, đi bộ và ban đêm nằm dài ra ngủ. Trancart đã rời bỏ chúng tôi. Đã từng chỉ huy đội dân binh người Thái ở Lai Châu, anh ấy bị coi là tội phạm chiến tranh? Vaillant, đã suy nhược, anh ấy bước đi rất khó khăn. Anh ấy ngã gục xuống đường. Một người bộ đội xốc anh ấy lên, tát anh ấy một cái. Tôi nắm lấy cổ áo tay bộ đội nhỏ bé. Anh ta sợ, anh ta bình tĩnh lại. Chúng tôi giúp Vaillant đi tiếp.
_______________________________________
1. Ý nói tiểu đoàn dù số 6 cho Bigeard chỉ huy - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #68 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 01:01:27 pm »


XXIV
CUỘC TRỐN CHẠY THẤT BẠI


Khu trại vĩnh viễn là khu nào đây? Sắp tới rồi, cứ kiên nhẫn. Một chặng nghỉ trong số các chặng nghỉ. Khoảng giữa trưa. Bréchignac và tôi nấu cơm cho anh em. Chúng tôi có một con dao to để chẻ củi. Brèche, cậu sẵn sàng chứ? Ta chuồn. O.K. Bruno. Và chúng tôi nhảy vào rừng... Voineau, Tourret nắm được việc làm của chúng tôi. Họ lao theo sau chúng tôi.

Tôi cố chạy càng nhanh càng tốt, Brèche theo sau, Voineau cũng vậy. Sau hai hoặc ba trăm mét Tourret bị đứt hơi, gục ngã... Những loạt đạn nổ trên đầu chúng tôi, vẫn cứ chạy nhanh hơn, xa hơn đã đến được khu rừng. Chúng tôi ẩn nấp vào sau những tảng đá. Họ có quá ít người để tìm thấy chúng tôi. Chúng tôi sẽ đợi cho đêm xuống, sẽ thử tìm đường ra tới bờ sông Hồng, ở đó chúng tôi sẽ đóng những chiếc bè và ban đêm sẽ thả xuống nước.

Chúng tôi chẳng có thứ gì để ăn, để uống. Voineau bị hỏng một mắt, ban đêm anh ấy bám vào tôi để bước đi. Tôi ở đây cùng với Bréchignac, hai tay “anh chị” của cuộc chạy chốn, tụ tập lại vì cái tốt nhất hay vì cái xấu nhất? Tôi tự hào là đã sát cánh bên nhau.

- Brèche này, ta gặp vận đỏ, ta sẽ thoát khỏi đây, chẳng bao lâu chúng ta sẽ tới Hà Nội.

- OK, Bruno!

Brèche lo lắng cho Voineau. Anh ấy không trải qua quá trình rèn luyện như chúng tôi, Brèche coi anh ấy như một gánh nặng. Rút cục, anh ấy đáng khen là đã biết thử cơ may, chúng ta sẽ giúp đỡ anh ấy. Cần phải thừa nhận là cái anh chàng Voineau ghê gớm này có một tinh thần cực kỳ tốt, vui sướng như một đứa trẻ vì đã lừa được quân Việt mà anh ta luôn mồm chửi rủa.

Ngày hôm sau nữa, lúc bình minh, chúng tôi đang ngồi nhai những bắp ngô sống trong một thửa ruộng nằm ven đường. Đột nhiên, một trận núi lở ập xuống đầu chúng tôi.

Đó là khoảng hai chục bộ đội địa phương quân Việt, hò hét, nhảy vào, tặng cho chúng tôi một trận mưa những cú đá, những báng súng. Chỉ một chút nữa thôi là chúng tôi nằm hẳn. Và người ta cứ từng chặng một, dẫn chúng tôi về chỗ trại giam tù binh của chúng tôi, vừa đi vừa mang vác nặng nề. Ở những chỗ tạm dừng, người ta trói chúng tôi vào đoạn cầu thang bước lên các mái nhà sàn, ở đó chúng tôi phải đứng thẳng. Tinh thần vẫn rất cao. Brèche và tôi, vẫn cần tiếp tục tán chuyện một chút. Ai trong hai người sẽ chịu đựng tốt hơn đây? Hoạt động thể thao của chúng tôi tiếp tục và việc đó giúp chúng tôi... Thật là một sức mạnh, một tính cách, cái anh Brèche ghê gớm này!

Cuộc tiếp đón ít nồng nhiệt của các đồng ngũ. Do cuộc trốn chạy của chúng tôi, họ đã phải gánh chịu hậu quả. De Pazzis, thu mình dưới vẻ cao đạo của anh ta, không nói gì với chúng tôi. Đã thống nhất là chúng tôi sẽ cùng nhau đi trốn và anh ấy cảm thấy thất vọng vì không có mặt trong số người cùng chúng tôi bỏ trốn. Sẽ phải trả giá, ra trước toà án nhân dân, tiến hành tự phê phán.

Voineau có vinh dự được mở màn phiên toà. Anh ấy phải kể lại các trận đánh của mình chống lại quân Việt và cho biết lý do đã bỏ trốn. Anh ấy nói rõ đã bị hỏng một mắt ở Vĩnh Yên và đặt con mắt giả của mình lên mặt bàn của viên chính uỷ. Tại sao anh đã bỏ trốn? Để tiếp tục cuộc chiến đấu. Tiếng hét to. Anh ấy nhận được hai cái tát trời giáng, nhưng vẫn không động đậy. Voineau, thật ấn tượng, cử chỉ vừa rồi của anh ấy, cần phải làm như vậy. Đáng tiếc là lòng quả cảm của anh ấy đã không được sử dụng trong quá trình chiến đấu... Toà án kết luận “Voineau, anh sẽ bị xử bắn”.

Đến lượt Brèche. Anh ta thoát ra được một cách thông minh, đóng vai trò những người mất thăng bằng, một người đã mất trí trong khi thật ra đầu óc anh ta tỉnh táo hơn bất kỳ ai. Đến lượt tôi đóng trò... “Bigeeard, một lần nữa, anh đã không hiểu được lòng khoan hồng của Bác Hồ. Chính anh đã lôi kéo các bạn của anh, ngày mai anh sẽ bị xử bắn”. Nói câu gì đây? Được, rất đơn giản thế thôi. Nhưng tôi không tin vào chuyện đó. Tôi đánh giá cao họ, chẳng lẽ họ lại cũng không có cùng những tình cảm như vậy đối với tôi hay sao?

Schoenderffer, người bỏ trốn không thoát, sẽ sống một thời gian ngắn với chúng tôi. Trong nhiều ngày, tôi với anh ấy bị trói vào nhau, lưng tựa lưng, bốn cổ tay trói vào với nhau, việc này đặt ra những vấn đề mà các bạn có thể hình dung ra: ngủ, đi vệ sinh Tốt hơn là phản ứng cùng với nụ cười. “Schoen” thật nổi trội. Một con người quả cảm, mặc dù tuổi còn trẻ!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #69 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2009, 01:02:37 pm »


XXV
KHU TRẠI GIAM VĨNH VIỄN


Cuối cùng, dải đất hứa. Khu trại giam vĩnh viễn. Đã đến lúc Langlais, Vaillant, Ducruix đứng vững một cách kỳ lạ, Lemeunier chỉ còn là cái bóng của chính mình. Lalande bám vững được. Voineau, Pazzis và tôi, chúng tôi hồi phục gần như hoàn toàn. Toàn bộ khu trại ở đâu đó trong rừng, phía bắc tỉnh Tuyên Quang. Khu trại thu gọn đơn giản: hai dẫy nhà lớn lợp mái tranh, một con suối nước trong và chảy xiết. Chúng tôi ở trong một dẫy nhà. Trong dẫy nhà kia, tất cả các tiểu đoàn trưởng vừa mới kéo tới, trong đó có Brèche, Tourret, Vadot, Botella, Guiraud, Nicolas, Chenet và những người khác.

Không có một tập thể nào vô chính phủ hơn là một nhóm sĩ quan người Pháp bị bắt làm tù binh. Tuy nhiên, sẽ buộc phải cố gắng, chịu đựng lẫn nhau trong nhiều tháng, có thể là nhiều năm. Chúng tôi phải cử ra trưởng nhóm theo yêu cầu của những người lính Việt. Lẽ tự nhiên, chúng tôi biểu quyết cho Langlais, người giữ cấp hàm cao nhất, lâu năm nhất... Quân Việt không tán thành và dựa vào uy quyền họ chỉ định tôi. Như vậy là tôi có nhiệm vụ cùng với viên chính uỷ trại “vị sếp tối cao” ở đây xử lý các vấn đề của chúng tôi.

Tất cả các buổi sáng, lúc 6 giờ, mặc áo may-ô ba lỗ, tôi thực hành cuộc đi bộ và bài tập thể dục trong ranh giới khu trại, những buổi tập rất nặng, kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Voineau và Pazzis đi theo tôi cho đến ngày cuối cùng. Quân Việt, có phần nào ngạc nhiên, có phần nào cảm phục khi nhìn thấy chúng tôi tập luyện nhiều như vậy trong lúc bụng thì rỗng. Giữa trưa, tắm kéo dài dưới suối, buổi phơi nắng... Cuộc sống này đối với tôi là dễ dàng. Tôi đã nếm trải điều xấu nhất và giờ đây cơ thể phục hồi. Các cơ bắp đáp lời tốt. Tôi chỉ bị mất năm hay sáu kilô. Chúng tôi lại nhắc đến chuyện trốn chạy, lần này là cùng với Pazzis, người có mặc cảm vì đã chưa thử nghiệm việc bỏ trốn. Anh ấy, một sĩ quan theo truyền thống, anh ta phải thử nghiệm việc ấy ít nhất là vì danh dự.

Cuộc học tập chính trị tiếp tục không có kết quả. Các buổi chiều, chúng tôi phải sinh hoạt nhóm và trả lời một số câu hỏi do viên chính uỷ đề ra. Hôm ấy, phải cho biết chúng tôi nghĩ thế nào về sự giúp đỡ của chủ nghĩa tư bản Mỹ đối với nước Pháp. Tất nhiên chúng tôi nói về mọi chuyện, ngoại trừ vấn đề đó, chúng tôi nhắc tới những nhà hàng ăn tốt của người Pháp, việc chúng tôi sẽ làm sau khi trở về... nếu như chúng tôi trở về được... Cuối buổi chiều, tôi phải báo cáo nội dung sinh hoạt với viên chính uỷ.

Một buổi sáng nào đó, tập họp. Viên chính ủy chỉ trích chúng tôi bằng giọng gay gắt:

- Các anh là những kẻ phản bội lại chính sách nhân đạo của Bác Hồ. Chúng tôi đối xử với các anh theo đúng bản công ước Genève. Các anh được nuôi dưỡng cũng như anh em chiến sĩ của chúng tôi. Ấy vậy mà các anh nói dối, các anh nghĩ đến việc trốn trại. Vì vậy chúng tôi sẽ phải thu hồi của các anh tất cả đồng hồ, nhẫn đeo tay, nhẫn cưới. Chúng tôi biết là các anh có thể bán tất cả những thứ đó để trốn trại.

Lần lượt từng người, chúng tôi đi qua trước một bàn giấy giống như bàn giấy của hải quan. Mọi thứ chui vào trong chiếc túi to của một người thư ký, anh này ghi chép cẩn thận dấu vết, hình thù đồ vật, số hiệu của các đồng hồ, tất cả sẽ được hoàn lại cho chúng tôi khi chúng ta được ra trại.

Nhẫn cưới ư! Chúng tôi sắp mất hết cả. Chiếc nhẫn vàng này người ta nhìn ngắm, người ta vuốt ve, người ta hôn trộm lúc vắng người thân, ở nước Pháp người ta cùng chết với nó. Đối với một người sùng đạo như tôi, mà tôi không ý thức được thật rõ, chiếc nhẫn ấy chỉ phục vụ có một lần cho cuộc sống, cho cái chết. Chiếc nhẫn vàng này mua ở Nice vào năm 1942, gắn bó rất mật thiết giữa tôi với Gaby, với những thử thách đã cùng nhau trải qua... Không, mọi thứ đều có thể nhưng không có chiếc nhẫn cưới này. Sau rất nhiều cuộc tranh cãi dài dòng, chúng tôi sẽ giữ lại cái vật nhỏ bé không đáng kể vốn vẫn còn là sự gắn kết chúng tôi với người phụ nữ mà mình yêu.

Với tư cách là các đại tá, chúng tôi nhận được một kilô gạo mỗi ngày, các thiếu tá ở trong khu lán bên cạnh chỉ được nhận có tám lạng. Như vậy là quân Việt tìm cách chia rẽ chúng tôi, gây ra chuyện mâu thuẫn giữa chúng tôi với nhau. Tôi đề nghị với các đồng ngũ là sẽ can thiệp với viên chính uỷ để đồng nhất khẩu phần ăn... Tôi khá vất vả mới có được sự nhất trí, một số muốn duy trì đặc quyền này. Đây là cuộc đấu tranh để tồn tại, gạo là trước tiên, sau đó mới đến đồng ngũ. Thật đáng buồn cho một nhóm các đại tá bị giam giữ.

Chúng tôi không rõ số phận của De Castries ra sao, khi mà quân Việt báo cho chúng tôi biết là ông ấy sẽ đến ăn cơm với chúng tôi vào một ngày chủ nhật nào đó. Các đồng ngũ của tôi nói chung phản đối cuộc viếng thăm này, quyết định không để ý đến nó... Castries, dáng vẻ thư giãn, mặt mày cạo nhẵn, xuất hiện vào khoảng giữa trưa. Tôi thay mặt mọi người hô to: “Nghiêm!”. Và toàn bộ các sĩ quan đồng loạt đứng bật dậy... Castries mỉm cười: “Nghỉ - Xin cảm ơn - Xin chào các ông hoàng của tôi” Sau đó tôi được tham dự một cuộc chỉnh đốn của viên chính uỷ, ông ấy mắng mỏ hành vi ứng xử của tôi. Lại một lần nữa, trước con mắt của họ, chúng tôi vẫn thống nhất với nhau. Họ tức điên lên, họ vốn hy vọng điều ngược lại.

Chúng tôi phải đi lấy gạo ở một ngôi làng cách xa khoảng mười kilômét, vị chi là hai mươi kilômét cả đi và về, lúc về vác trên vai những bao gạo nặng. Tôi tình nguyện đi lấy gạo mỗi lần có việc đó, bởi lẽ chúng tôi sẽ được phân phát thêm một vài quả chuối. Sức khoẻ của tôi rất tốt, tôi thực hiện hành trình một cách thoải mái. Pazzis và Voineau cũng như vậy. Chúng tôi lại nhắc đến chuyện trốn trại, chúng tôi giấu giếm gạo và muối tích trữ được. Lần này, Pazzis sẽ tham dự. Phải, chúng tôi phải trốn khỏi nơi đây.

Vaillant ốm nặng. Anh ấy hẳn là chỉ còn nặng ba mươi tám hay bốn mươi kilô. Tôi yêu cầu có một thầy thuốc... Một bác sĩ xoàng, thực tế là một y tá quân Việt, vài hôm sau tìm tới và làm ra vẻ quan trọng, anh ta thăm khám cho vị đại tá khốn khổ của chúng tôi, người phải một mình vật lộn với thần chết.

Langlais, suốt ngày nằm dài, lưng bị đau dữ dội. Anh ấy không ăn được nữa, hoặc là ăn rất ít, từ chối cả cái thứ thuốc lá sợi mà chúng tôi thái nhỏ và cuộn bằng tờ giấy lấy trộm được trong thứ món ăn tinh thần, một vài tờ nhật báo “Nhân đạo” cũ từ nhiều tháng nay. Lemeunier, Lalande, cũng thế, đi lại khó khăn và nằm dài trên tấm phản nhiều giờ liền. Miễn sao thời gian bị giam giữ này không kéo dài quá lâu, nếu không đội ngũ của chúng tôi sẽ thưa dần.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM