Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:16:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 11  (Đọc 139769 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #60 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2009, 11:07:31 pm »

Nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) mà đại hội đề ra nhằm hiện thực hoá đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc trong thời kỳ quá độ. Trong 5 năm đó, phải ra sức phấn đấu thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, đồng thời hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc. “Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất là một bước rất quan trọng của nhân dân ta trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nó có tác động rất lớn đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà” 1 .

Theo phương hướng đó, từ năm 1960 đến năm 1965, miền Bắc dồn sức thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.  Tháng 7-1961, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) bàn về phát triển sản xuất nông nghiệp, chỉ rõ phương hướng, nhiệm vụ trên lĩnh vực quan trọng này trong 5 năm là: “Tích cực củng cố, phát triển hợp tác xã nông nghiệp và nông trường quốc doanh làm cơ sở vững chắc để phát triển nông nghiệp.

Kết hợp việc hoàn thiện quan hệ sản xuất mới với phát triển sức sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật cho nông nghiệp; kết hợp chặt chẽ việc phát triển hợp tác hoá với thuỷ lợi hoá dần dần và cải tiến công cụ, cải tiến kỹ thuật, tiến tới một bước cơ bơi ới hoá, nhằm hướng mở rộng diện tích bằng tăng vụ và khai hoang, đồng thời ra sức thực hiện thâm canh tăng năng suất theo phương châm toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc, giải quyết tốt vấn đề lương thực là trọng tâm, đồng thời hết sức coi trọng cây công.nghiệp, đẩy mạnh chăn nuôi, mở mang thêm nghề rừng, nghề cá và các ngành, nghề phụ; sử dụng tốt sức lao động tập thể là chính, đồng thời tận dụng sức lao động trong gia đình xã viên” 2 . 

Tiếp theo Hội nghị lần thứ năm, tháng 4- 1962, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ bảy bàn về phát triển công nghiệp. Quán triệt chủ trương công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa do Đại hội lần thứ III của Đảng đề ra là: “Xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại” 3. Hội nghị đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ và chỉ tiêu phấn đấu của sự nghiệp xây dựng và phát triển công nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất; xác định những biện pháp thực hiện cụ thể.

Phát biểu tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cái thìa khoá của việc phát triển nông nghiệp là chỉnh đốn tốt ban quản lý hợp tác xã Cái thìa khoá của việc phát triển công nghiệp là cơ sở thì đẩy mạnh quản lý xí nghiệp và cán bộ, công nhân phải thạo kỹ thuật; các cơ quan lãnh đạo thì phải đi sâu đi sát, phục vụ sản xuất” 4. Người mong các đại biểu dự hội nghị “nghiên cứu thật kỹ, phổ biến thật khắp và chấp hành thật đúng hai nghị quyết thứ năm và thứ bảy của Trung ương, biến quyết tâm của Đảng thành quyết tâm của quần chúng” 5. 

Thực hiện các nghị quyết trên đây của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và tuân theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khắp nơi trên miền Bắc, phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa dấy lên mạnh mẽ và sôi nổi trong mọi ngành, mọi cấp, mọi giới 6. Nhiều cuộc vận động lớn cũng được phát động trong nông nghiệp, công nghiệp, giáo dục, lực lượng vũ trang...

Mặc dù những tháng cuối năm 1964, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân chống miền Bắc, buộc ta phải gấp rút tăng cường lực lượng quốc phòng, không thể tập trung sức người, sức của cho việc hoàn thành kế hoạch đề ra, nhưng đến cuối năm 1965, các mục tiêu cơ bản trên các lĩnh vực của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất cũng được thực hiện.

Trên 90% hộ nông dân đã vào hợp tác xã trong đó có 50% là hợp tác xã bậc cao. Năm 1960, toàn miền Bắc có 4.300 hợp tác xã bậc cao thì đến năm 1965, con số đó tăng lên 18.600. Gần 700 hợp tác xã đạt năng suất 5 tấn thóc trên một héc ta mỗi năm. Về công nghiệp toàn miền Bắc có 1.132 xí nghiệp, trong đó 205 xí nghiệp trung ương. Tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm công - nông nghiệp từ 42,4% năm 1960 lên 53% năm 1965. 90% hàng tiêu dùng thiết yếu và một phần tư liệu sản xuất do các ngành công nghiệp trung ương và địa phương đảm bảo. Ngoài ra, hệ thống giao thông vận tải, bưu điện cũng được mở rộng và nâng cấp, được trang bị thêm phương tiện, máy móc, thiết bị mới...


_____________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 21, tr.595.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 22, tr. 421-422. .
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.926.
4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 23, tr. 391, 392.
6. Điển hình của các phong trào thi đua thời kỳ này là hợp tác xã Đại Phong trong nông nghiệp, Nhà máy cơ khí Duyên Hải trong công nghiệp, Trường phổ thông cấp II Bắc Lý trong giáo dục, phong trào “Ba nhất” trong lực lượng vũ trang.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #61 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2009, 11:08:18 pm »


Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, các ngành kinh tế chủ lực đạt được bước tiến khá vững chắc. Được như vậy, một phần do sự hỗ trợ tích cực của các ngành tài chính, ngân hàng, ngoại thương. . . Hoạt động của các ngành này hoàn toàn do Nhà nước quản lý, điều hành nhằm mục tiêu bao quát là phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá và củng cố quốc phòng, an ninh miền Bắc, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân.

Trên lĩnh vực văn hoá - xã hội, tiếp tục xoá bỏ tàn tích của chế độ cũ, nhiệm vụ chủ yếu thời kỳ này của sự nghiệp văn hoá, giáo dục là xây dựng nền văn hoá mới và con người mới Việt Nam.

Theo định hướng đó, giáo dục phổ thông và đại học tiếp tục nỗ lực gắn việc học tập với thực tiễn, với điều kiện Việt Nam. Việc học tập của con em nhân dân lao động, của các dân tộc ít người được chú trọng. Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách khuyến khích giáo viên miền xuôi lên dạy học ở miền núi, ở vùng sâu, vùng xa; nhiều người trong số đó suốt đời gắn bó với sự nghiệp giáo dục vùng cao, xem đấy là quê hương thứ hai của mình. Chính quyền các cấp tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học ở địa phương. Con em những gia đình thuộc diện chính sách như thương binh, liệt sĩ, gia đình nghèo, gia đình có 3 con trở lên, con em các dân tộc ít người, vùng cao, vùng sâu đi học được miễn, giảm học phí, nhận học bổng của Nhà nước...

Nhờ đó, sự nghiệp giáo dục có bước phát triển. So với những năm từ 1954 - 1955, đến năm 1964, số học sinh phổ thông tăng gấp 3,5 lần. Tiếp đó, trong năm học 1965 - 1966, dù chiến tranh phá hoại trở nên ác liệt nhưng trên miền Bắc, số học sinh đến trường 4.969.000, đạt tỷ lệ cứ 4 người dân miền Bắc có 1 người đi học.

Sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp cũng đạt kết quả đáng tự hào. So với những năm đầu sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, số học sinh đại học và trung học chuyên nghiệp năm 1964 tăng hai lần. 21.332 cán bộ đại học và trên 55.000 cán bộ trung học được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Họ có mặt khắp mọi miền đất nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng miền Bắc, củng cố quốc phòng, an ninh.

Con số trên đây tuy chưa nhiều, nhưng so với gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp thì đó là một thành tựu lớn. Dưới thời bị thực dân Pháp thống trị, tổng số người Việt Nam có trình độ đại học chưa quá 200 người, 95% dân số Việt Nam mù chữ. Trước ngày giải phóng, toàn miền Bắc còn 3,5 triệu người ở độ tuổi từ 12 - 50 chưa biết đọc, biết viết. Sau gần 10 năm nỗ lực phấn đấu, đến năm 1965, hầu hết dân số trên miền Bắc đã được xoá mù.

Cùng với sự nghiệp giáo dục, nền văn hoá mới đa dạng và phong phú, truyền thống và hiện đại đã hình thành và phát huy tác dụng trong công cuộc xây dựng đời sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc. Hầu hết các văn nghệ sĩ từng trải qua một thời chiến tranh nay tiếp tục gắn bó chặt chẽ với quần chúng lao động, ra sức khám phá và sáng tạo để xây dựng các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, phản ánh sâu sắc hiện thực cuộc sống lao động và chiến đấu của toàn dân, toàn quân ta trên cả hai miền Bắc, Nam.

Nền văn học, nghệ thuật nói riêng, sự nghiệp văn hoá, giáo dục nói chung trên miền Bắc thời kỳ này, bằng những hoạt động và cống hiến cụ thể của mình, đã góp phần quan trọng hun đúc ý chí, tình cảm và đạo đức cách mạng trong sáng, bồi đắp tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng chí, đồng bào và tình cảm quốc tế cao cả cho mọi tầng lớp nhân dân, xứng đáng là vũ khí sắc bén của Đảng trên mặt trận tư tưởng.

Mạng lưới y tế, vệ sinh phòng bệnh phát triển rộng khắp các địa phương trên miền Bắc, từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng tới miền núi. Đến năm 19665, 70% số huyện có bệnh viện, 90% số xã đồng bằng và 78% số xã miền núi có trạm y tế với đội ngũ những người thầy thuốc tận tuỵ. Đội ngũ này ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng.  So với năm 1960, đến năm 1965, đội ngũ y, bác sĩ và dược sĩ được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa tăng gấp năm lần.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #62 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2009, 11:08:50 pm »

Do mạng lưới y tế phát triển nên các loại dịch bệnh được phát hiện kịp thời và được phòng trừ tích cực. Bên cạnh đó, phong trào rèn luyện sức khoẻ, thể dục thể thao, trong đó có những môn thể thao quốc phòng, phát triển rộng rãi trong nhân dân, trong trường học, xí nghiệp, công trường và trong các đơn vị quân đội . . .

Mười năm sau ngày giải phóng và gần 5 năm triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, toàn Đảng, toàn dân miền Bắc bền bỉ và sáng tạo trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới với chế độ xã hội ưu việt, với nền kinh tế có bước tiến tương đối vững chắc về cơ cấu, về thành phần, về năng suất. Nền kinh tế - xã hội đó đang dần đi vào thế tương đối ổn định với hai ngành sản xuất chính - công nghiệp và nông nghiệp; với hai hình thức sở hữu bao trùm - quốc doanh và tập thể. Trên nền tảng đó, sức mạnh quân sự - quốc phòng của miền Bắc được tăng cường.

Tháng 2-1961, Bộ Chính trị họp nhận định về kết quả 5 năm xây dựng quân đội tiến lên chính quy, tương đối hiện đại và thông qua nhiệm vụ quân sự 5 năm lần thứ hai (1961 - 1965) nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố nền quốc phòng toàn dân, đáp ứng đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới.

Sau hội nghị, các đơn vị tập kết từ miền Nam ra được tổ chức thành các lữ đoàn bộ binh gọn nhẹ, sẵn sàng cơ động vào miền Nam; các sư đoàn trực thuộc Bộ được biên chế đủ quân số, trang bị mạnh, trong đó, một số được biên chế theo khung thời bình - nghĩa là có khung cán bộ và quân số rút gọn, đảm bảo khi cần có thể nhanh chóng bổ sung đủ quân số và trang bị. Các quân chủng, binh chủng cũng kiện toàn về biên chế và tổ chức, tăng cường về lực lượng và trang bị. 

Nhằm đáp ứng đòi hỏi của tình hình, tháng 10-1962, bộ đội phòng không và không quân hợp nhất thành Quân chủng Phòng không - Không quân gồm 12 trung đoàn và 17 tiểu đoàn. Hệ thống ra đa triển khai thành mạng trinh sát cảnh giới phòng không quốc gia. Một số sân bay được tu bổ, phục hồi, xây dựng mới.

Lực lượng hải quân xây dựng 4 tiểu đoàn ven biển làm nhiệm vụ tuần tiễu, vận tải, săn ngầm. Các đơn vị phòng thủ biển tổ chức thành lực lượng tác chiến binh chủng hợp thành, bố trí ở các trọng điểm.

Đến năm 1965, bộ đội chủ lực miền Bắc từ 16 vạn (năm 1960) tăng tới 27 vạn. Mặc dù giải thể trong các năm từ 1960 đến 1964 nhưng từ năm 1965, bộ đội địa phương được xây dựng lại và trong vòng một năm, đã từ 18.000 (1959) lên tới 46.000 (1965). Bên cạnh lực lượng thường trực, lực lượng hậu bị cũng được chú trọng xây dựng. Năm 1962, gần 1 triệu người ở độ tuổi từ 18 đến 45 đăng ký ngạch dự bị.  Lực lượng này được quản lý chặt chẽ, hằng năm có tổ chức tập dượt việc động viên. Dân quân tự vệ từ 1 triệu (1960) tăng tới 1.670.000 (năm 1965).

Nền quốc phòng miền Bắc là nền quốc phòng toàn dân. Nền quốc phòng đó dựa vào sức mạnh của đông đảo quần chúng nhân dân có giác ngộ cao về chính trị, được tổ chức chặt chẽ. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp thường xuyên chăm lo việc giáo dục, nâng cao trình độ nhận thức chính trị và ý thức quốc phòng trong mọi tầng lớp nhân dân; phát động nhiều cuộc vận động lớn, nhiều phong trào thi đua yêu nước; tổ chức cho các tầng lớp nhân dân học tập nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách. . .

Thông qua các hoạt động này, sự nhất trí về chính trị, tinh thần trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ngày càng được củng cố. Dựa trên cơ sở đó, Nhà nước đã huy động nhân dân tham gia đóng góp vào việc xây dựng các công trình quân sự, các hệ thống phòng thủ ven biển, các tuyến giao thông chiến lược. . . 

Một nội dung lớn của sự nghiệp củng cố nền quốc phòng là giải quyết mồi quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Thể hiện sự kết hợp giữa hai linh vực này, các nông trường, lâm trường của quốc doanh và của quân đội cũng như các tập đoàn sản xuất của cán bộ miền Nam tập kết được chăm lo xây dựng. Các cơ sở kinh tế đó được bố trí ở những địa bàn có ý nghĩa chiến lược về chính trị, kinh tế, quân sự.

Trên thực tế, từ năm 1965, nhiều nông trường, lâm trường trở thành địa bàn đóng quân, đảm bảo hành quân cho các đơn vị quân đội vào Nam chiến đấu, đồng thời, mạng đường liên xã, liên huyện và liên tỉnh cũng được tu bổ, nâng cấp hoặc xây dựng mới, vừa phục vụ cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, vừa đảm bảo cho việc vận chuyển chi viện chiến trường những năm chống chiến tranh phá hoại. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #63 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2009, 11:10:06 pm »


Nhìn chung, 10 năm sau ngày hoà bình lập lại và gần 5 năm triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, với sự nỗ lực lớn lao của toàn dân, toàn quân ta, miền Bắc tiếp tục có sự chuyển biến sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xác lập vững chắc, đưa người lao động lên địa vị làm chủ xã hội thật sự. Do đó, niềm tin vào chế độ mới của nhân dân miền Bắc càng cao, công cuộc .xây dựng miền Bắc càng tiến triển.

Tháng 6- 1964, nhận thấy tình hình Mỹ leo thang mở rộng phạm vi đánh phá miền Bắc bằng không quân, hải quân, Bộ Chính trị ra Chỉ thị về tăng cường công tác phòng không nhân dân, sẵn sàng chiến đấu cao.  Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trì, lực lượng vũ trang gấp rút chấn chỉnh biên chế, tăng cường về số lượng. Các đơn vị được lệnh nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu.

Quân chủng Phòng không - Không quân hoàn chỉnh phương án chiến đấu, triển khai lực lượng theo hướng tập trung hoả lực bảo vệ các khu vực mục tiêu chủ yếu, đồng thời hình thành lực lượng chiến đấu tại chỗ, rộng khắp.

Quân chủng Hải quân, từ tháng 7-1964, chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu, tăng cường tuần tiễu dọc bờ biển, tổ chức Bộ Tư lệnh tiền phương ở vùng biển Quân khu 4.

Các quân, binh chủng khác cũng gấp rút vạch phương án chiến đấu, đảm bảo giao thông trong điều kiện địch đánh rộng ra miền Bắc. Các địa phương tập dượt chiến đấu và phục vụ chiến đấu, sơ tán, phân tán tài sản và nhân dân. . .

Với nỗ lực chuẩn bị và sẵn sàng chiến đấu cao, quân, dân miền Bắc kiên quyết trừng trị các hoạt động phá hoại, khiêu khích của địch.

Trong các ngày 1 và 2-8-1964, các máy bay T.28 của lực lượng phái hữu Lào được Mỹ sử dụng đánh phá các đồn biên phòng Nậm Cắn và Noọng De của ta ở Nghệ An.

Trong khi đó, ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, tàu khu trục Ma đốc (Maddox) được lệnh tiến sâu vào hải phận nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Một phân đội tàu phóng lôi của hải quân ta đã đuổi đánh, buộc tàu Ma đốc phải rút ra vùng biển quốc tế. Ngày hôm sau, mồng 3-8- 1964, Mỹ tiếp tục điều thêm tàu khu trục Tớcnơ Gioi (C. Turner Joy) cùng tàu Mađốc trở lại vịnh Bắc Bộ.

Theo kế hoạch đã được sắp đặt, nên mặc dù tàu hải quân ta đã vào neo đậu tại căn cứ, đêm 4-8, tàu chiến Mỹ vẫn phát tín hiệu bị đối phương tấn công (!). Ngay lập tức, Giônxơn lệnh cho không quân Mỹ mở các cuộc tiến công gọi là “trả đũa” nhằm vào các mục tiêu trên miền Bắc, đồng thời yêu cầu Quốc hội thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, trao quyền cho Tổng thống Mỹ “Tiến hành mọi biện pháp cần thiết kể cả việc sử dụng lực lượng vũ trang để giúp đỡ bất kỳ quốc gia nào là thành viên hoặc nước bảo trợ của Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á yêu cầu giúp đỡ” 1 .

Ngày 5-8-1964, không quân Mỹ mở cuộc tiến công mang mật danh Mũi tên xuyên, sử dụng 64 lần chiếc máy bay bất ngờ đánh phá miền Bắc Việt Nam. Mạng ra đa cảnh giới của ta kịp thời phát hiện các tốp máy bay địch trên từng hướng bay vào miền Bắc, thông báo cho các lực lượng phòng không ta giáng trả kịp thời và mãnh liệt bắn rơi 8 máy bay phản lực và bắn bị thương 2 chiếc khác, diệt và bắt giặc lái Mỹ.

Đó là chiến công đánh thắng trận đầu của quân, dân miền Bắc trong cuộc đọ sức với lực lượng không quân, hải quân hùng hậu của nước Mỹ. Chiến công đó làm cho đế quốc Mỹ sửng sốt, bàng hoàng, vì trong lịch sử sử dụng không quân của Mỹ chưa có trận nào lần đầu bất ngờ ném bom đối phương lại bị bắn rơi nhiều máy bay như trận ngày 5-8-1964. Điều đó chứng tỏ tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao và kỹ thuật xạ kích điêu luyện của lực lượng vũ trang nhân dân miền Bắc. Trận thắng này càng củng cố niềm tin và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ở cả hai miền Nam, Bắc.


_________________________
1. Giô dép A. Am tư: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 95-96.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #64 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2009, 11:10:55 pm »


Sau ngày 5-8-1964, lực lượng không quân Mỹ tăng cường ở Thái Bình Dương, lục quân và lính thuỷ đánh bộ Mỹ được chọn lựa đã đặt trong tình trạng chiến đấu và sẵn sàng hành động. Không quân Mỹ tăng nhanh các phi vụ đánh phá miền Bắc, đặc biệt trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. 

Trong khi đó, tình hình ở Lào cũng diễn biến phức tạp, do âm mưu và hành động của Mỹ nhằm củng cố vị trí của Mỹ và phái hữu ở Lào, cô lập cách mạng miền Nam. Từ tháng 6-1965 Mỹ bắt đầu ném bom vùng giải phóng Lào với nhịp độ ngày càng gia tăng. Sang tháng 8, không quân Mỹ ném bom và rải chất độc xuống vùng Trung và Hạ Lào. Tiếp đó, dưới sức ép của Mỹ, Hoàng thân Phuma đồng ý để Thái Lan đưa quân can thiệp vào Lào (19-12-1964), cho Mỹ oanh tạc hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam dọc theo biên giới Lào - Việt.

Theo dõi sát toàn bộ diễn biến của tình hình liên quan, tháng 1-1965, Hội đồng Quốc phòng họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ và phương hướng công tác trước mắt của miền Bắc là tăng cường công tác phòng thủ, trị an, sẵn sàng chiến đấu; ra sức xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, tích cực xây dựng và củng cố miền Bắc về mọi mặt.

Từ đầu năm 1965, thực hiện chuyển hướng về tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với thời chiến, các cơ quan đảng, nhà nước gấp rút chấn chỉnh, sắp xếp, kiện toàn về tổ chức và lề lối làm việc; thực hiện đúng chức năng, giản tiện hoá các thủ tục hành chính, kịp thời giải quyết những vấn đề cấp thiết của cuộc sống lao động và chiến đấu đầy khẩn trương đặt ra. 

Mùa Hè năm 1965, Ban Bí thư Trung ương Đảng triệu tập hội nghị cán bộ bàn về nhiệm vụ chỉ đạo hai nhiệm vụ chiến lược đã quyết định: Trong tình hình mới, các cấp uỷ đảng phải thực hiện sự chuyển biến mạnh mẽ cách suy nghĩ, lề lối làm việc, phong cách lãnh đạo; huyện uỷ phải lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp ở cơ sở; tỉnh uỷ phải nắm chắc tình hình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp địa phương và đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh mình.

Cũng những tháng năm này, Ban Bí thư đề ra các chỉ thị thúc đẩy cuộc vận động xây dựng chi bộ “bốn tốt” tăng cường sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức và đội ngũ cản bộ, đảng viên thực sự sâu sát quần chúng, gắn bó máu thịt với nhân dân, phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh từ hiện thực cuộc sống lao động và chiến đấu một cách kịp thời, hiệu quả.

Trong các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền, các ngành sản xuất, cơ cấu cán bộ và công nhân viên được tổ chức, sắp xếp lại cho phù hợp với tình hình. Các vùng trung du, miền núi được tăng cường thêm cán bộ. Một số cán bộ, đảng viên trong các cơ quan dân sự được động viên vào lực lượng vũ trang hoặc chuyển sang công tác trên mặt trận giao thông vận tải.

Nhằm đặt cơ sở cho việc huy động sức người, sức của phục vụ nhu cầu thời chiến trên cả hai miền, Chính phủ ban hành một số văn bản pháp quy điều chỉnh việc phân bố lại lao động như Điều lệ tạm thời huy động và sử dụng dân công thời chiến; Điều lệ về việc tăng cường lực lượng lao động trong các cơ quan, xí nghiệp; Điều lệ về nghĩa vụ lao động trong chiến tranh. Bên cạnh đó, một số văn bản pháp luật quy định cụ thể việc bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tính ‘ mạng và tài sản nhân dân; việc giữ vững trật tự, an ninh; việc quản lý giá cả, thị trường; việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội cũng lần lượt được ban hành. 

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - tổ chức tập hợp ý chí và nguyện vọng của mọi người Việt Nam yêu nước tiếp tục được củng cố, mở rộng dựa trên nền tảng vững chắc là khối liên minh công - nông. Các tổ chức quần chúng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Hoạt động của các tổ chức này - mà tiêu biểu là Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Phụ lão, Hội Mẹ chiến sĩ, Đội Thiếu niên tiền phong. . . đã phát huy vai trò, tác dụng trong việc tập hợp, động viên người dân hậu phương đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống lao động sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Đó thực sự là một trong những nhân tố đảm bảo sự vững vàng, ổn định của hậu phương miền Bắc thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. 

Chuyển hướng nền kinh tế từ thời bình sang thời chiến, miền Bắc tập trung vào việc xây dựng và phát triển kinh tế vùng, kinh tế địa phương nhằm đảm bảo cho mỗi vùng, miền, mỗi địa phương chủ động hơn trong việc duy trì và đẩy mạnh sản xuất, tự cung, tự cấp những mặt hàng thiết yếu trong điều kiện chiến tranh ác liệt.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #65 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2009, 11:12:17 pm »


Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 14-6-1965 chỉ rõ: Trong khi chuyển hướng các ngành kinh tế phải quán triệt sâu sắc các nguyên tắc và phương hướng sau: tập trung cao độ, tự cung tự cấp cao độ 1.  Báo cáo của Hội đồng Chính phủ tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khoá III, tháng 4-1966, khẳng định: “phát triển kinh tế địa phương với tốc độ nhanh hơn bình thường, đó là phương hướng cơ bản để làm cho bất cứ nơi nào cũng có thể phát huy được lực lượng của mình để đánh địch theo đường lối chiến tranh nhân dân” 2.

Theo phương hướng trên, trong công tác quản lý kinh tế, trung ương chỉ nắm những khâu cơ bản và những vật tư chủ yếu; các địa phương được trao quyền rộng rãi hơn, đặc biệt là quyền lập kế hoạch và dự toán ngân sách cấp tỉnh. Nhà nước không đề ra những kế hoạch kinh tế dài hạn mà chỉ thực hiện kế hoạch hằng năm và hai năm để cho việc chỉ đạo, điều hành sản xuất thích ứng hơn với sự biến động của tình hình thời chiến, phù hợp với những thời gian ngắn khôi phục kinh tế sau mỗi lần địch ngừng đánh phá . . .

Trên mặt trận nông nghiệp, miền Bắc tập trung đẩy mạnh hai ngành sản xuất chính là trồng trọt và chăn nuôi, đặc biệt là ở các vùng trung du, miền núi. Đồng thời, để tiếp tục củng cố quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp, Nhà nước luôn chăm lo chỉ đạo việc cải tiến công tác quản lý hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp; chỉ đạo các địa phương thực hiện kế hoạch phân bố lại lực lượng lao động trong các ngành nghề; chỉ đạo việc áp dụng các biện pháp khoa học và kỹ thuật mới cũng như tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thuỷ lợi, cải tiến công cụ, phát triển các hình thức chăn nuôi tập thể với quy mô phù hợp với hoàn cảnh thực tế từng địa phương.

Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp những năm chiến tranh được chuyển hướng theo phương châm “tích cực bảo vệ, duy trì và phát triển sản xuất”. Các cơ sở sản xuất - công nghiệp, trước hết là những ngành then chất, được khẩn trương sơ tán, phân tán, che chắn hoặc tăng cường lực lượng phòng không bảo vệ.

Nhà nước chủ trương đầu tư phát triển công nghiệp địa phương chú trọng xây dựng các xí nghiệp vừa và nhỏ. Tổng số vốn đầu tư vào khu vực này trong 3 năm từ năm 1965 đến năm 1967 tăng gấp 33 lần so với tổng số vốn đầu tư ba năm trước đó. Nhờ vậy, bên cạnh các xí nghiệp sản xuất trung ương một mạng lưới công nghiệp địa phương với hàng nghìn xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ đã hình thành trong điều kiện chiến tranh ngày càng gia tăng. 

Gắn với công tác chuyển hướng tư tưởng, tổ chức và chuyển toàn bộ hoạt động kinh tế miền Bắc sang thời chiến, Đảng, Nhà nước còn ban hành các chính sách nhằm động viên mạnh mẽ khí thế lao động, chiến đấu và phục vụ chiến đấu của người hậu phương; nhiều phong trào thi đua sôi nổi, nhiều cuộn vận động lớn được phát động.

Tại những vùng trọng điểm máy bay, tàu chiến Mỹ đánh phá, mọi sinh hoạt của nhân dân, kể cả việc học hành, đều chuyển sâu xuống lòng đất. Các hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp, ngư nghiệp ở mọi địa phương và ở nhiều nhà máy, xí nghiệp . . .  đều thành lập các tổ xung kích bám ruộng đồng, bám biển, bám cơ sở, tiếp tục giữ vững sản xuất.

Khắp miền Bắc, trên bờ bãi, ruộng đồng, đường làng, ngõ xóm và quanh sân kho hợp tác hoặc ở ngã ba, ngã tư, hệ thống hầm, hào trú ẩn được đào đắp Xã viên ra đồng đều khoác áo rơm chống mảnh bom, mảnh đạn. Ngư dân khi ra khơi, vào lộng đều mang theo phao bơi, dây dòng phòng khi thuyền bị địch đánh đắm. Một số địa phương ven biển, người già và trẻ em được dời sâu vào phía trong, lập làng xóm mới quanh các gò, đồi để tránh sự đánh phá của hải quân địch; nam giới trụ lại làng cũ, duy trì sản xuất và sẵn sàng đánh địch. Một bộ phận dân cư thành  thị cũng sơ tán về nông thôn làm ruộng hoặc tham gia vào mạng lưới lưu thông, phân phối . . . Trên các đường phố của Thủ đô Hà Nội cũng như các thành phố, thị xã trên miền Bắc, một hệ thống hầm trú ẩn bằng bêtông có nắp đậy được xây dựng, đảm bảo cho mọi người đi đường khi có máy bay oanh tạc đều có nơi trú ẩn.

Duy trì và phát triển sản xuất, ổn định đời sống và bảo đảm an toàn cho nhân dân trong sinh hoạt, lao động, chiến đấu những năm chống chiến tranh phá hoại thực sự là kỳ tính của hậu phương miền Bắc. Mặc dù ruộng đồng, làng mạc liên tục bị dội bom, thiên tai thường xuyên uy hiếp, đại bộ phận lực lượng lao động trẻ khoẻ phải ra mặt trận và con số này ngày càng tăng theo nhịp độ chiến tranh trên cả hai miền nhưng nền nông nghiệp hợp tác hoá miền Bắc, về cơ bản, vẫn được giữ vững và phát huy hiệu quả.


________________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 26, tr.205-206.
2. Viện Luật học: Sơ thảo lịch sử Nhà nước và pháp luật, Nxb.  loa học xã hội, Hà Nội, 1983, tr.142.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #66 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2009, 11:13:59 pm »


Nhận thức rõ vai trò, vị trí của quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp nông thôn, Đảng và Nhà nước thường xuyên quan tâm tới sự nghiệp củng cố các hợp tác xã nông nghiệp. Giữa những ngày đạn bom, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian tới thăm các địa phương trên miền Bắc.

Đầu tháng 1-1967, về thăm Thái Bình - tỉnh đầu tiên đạt 5 tấn thóc trên một héc ta đất gieo trồng, Người căn dặn bà con nông dân: “Các hợp tác xã nông nghiệp là đội quân hậu cần của quân đội chiến đấu ngoài mặt trận. Các xã viên hợp tác là chiến sĩ sản xuất, cần phải cố gắng như chiến sĩ ngoài mặt trận” 1 . 

Sự quan tâm của Đảng Nhà nước và của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên, cổ vũ giai cấp nông dân tập thể miền Bắc vượt qua thử thách khó khăn, tăng cường đoàn kết, ra sức củng cố hợp tác xã, duy trì sản xuất, tăng chi viện chiến trường. Nhờ đó, mặc dù chiến tranh diễn ra ngày càng ác liệt, một bộ phận quan trọng lực lượng trẻ, khoẻ phải rời ruộng đồng, làng mạc tham gia lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến nhưng nền nông nghiệp hợp tác hoá ở mọi địa phương trên miền Bắc vẫn được củng cố, một số mặt còn có bước phát triển.

Năm 1965, toàn miền Bắc có 31.651 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, bao gồm 19.035 hợp tác xã bậc cao, 12.616 hợp tác xã bậc thấp, thu hút 2.810.800 hộ gia đình vào hợp tác xã thì con số đó, đến năm 1968, là 22.162 hợp tác xã, trong đó, 17.839 hợp tác xã bậc cao, 4.223 hợp tác xã bậc thấp, thu hút tới 3.049.800 hộ gia đình nông dân 2. Trong hơn 4 năm, kể từ năm 1964 tới năm 1968, số hộ nông dân miền Bắc vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp từ 84% lên tới 94,9 %. Điều đó chứng tỏ rằng, trong khói lửa chiến tranh, quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa ở nông thôn miền Bắc vẫn được củng cố và tăng cường, các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có bước phát triển mới cả về quy mô, trình độ quản lý. . .

Những năm chiến tranh công việc ở hậu phương, trên ruộng đồng chủ yếu dồn xuống đôi vai người phụ nữ. Trong điền kiện đó, việc các hợp tác xã nông nghiệp với quan hệ sản xuất mới được củng cố, tăng cường là một trong những thành tựu đáng tự hào của nông nghiệp và nông thôn miền Bắc. Đó cũng là một nhân tố căn bản tạo nên sức mạnh, tính bền vững của hậu phương miền Bắc trong bao thử thách ngặt nghèo và khốc liệt của chiến tranh.

Vì rằng, hợp tác xã và chính bằng hình thức tổ chức sản xuất đó, là sự đảm bảo cho nông thôn, nông dân, nông nghiệp miền Bắc - nguồn cung cấp sức người, sức của cho sự nghiệp kháng chiến diễn ra trên cả hai miền, có điều kiện để khắc phục sự thiếu hụt về nhân lực, mới có thể bền bỉ vượt qua bao thử thách do chiến tranh và thiên tai đặt ra, duy trì và giữ vững sản xuất cả về diện tích, năng suất; ổn định mọi mặt của đời sống thường ngày, động viên và ìàm yên lòng lớp lớp thanh mền nam, nữ rời ruộng đồng làng mạc lên đường ra trận.

Cho dù năng suất lúa thời kỳ này tăng chưa đều, chưa vững chắc nhưng khắp nơi trên miền Bắc, đã xuất hiện hàng nghìn hợp tác xã đạt và vượt 5 tấn thóc trên 1 héc ta đất gieo trồng hai vụ lúa, điều mà trước đó chỉ là ước mơ của người nông dân, là chỉ số mà nền nông nghiệp miền Bắc chưa bao giờ đạt tới.

Nếu năm 1965, toàn miền Bắc chỉ mới có 640 hợp tác xã thuộc 7 huyện đạt chỉ tiêu trên thì đến năm 1968, con số đó tăng lên tới 1.121 hợp tác xã thuộc 8 huyện. Tỉnh Thái Bình, huyện Thanh Trì (Hà Nội), huyện Đan Phượng (Hà Tây) . . . là những đơn vị đầu tiên đạt 5 tấn thóc trên 1 héc ta trên toàn bộ diện tích trồng lúa của tỉnh, huyện. Các tỉnh khác như Hải Hưng, Nam Hà... đạt hơn 4 tấn thóc trên 1 héc ta. Riêng Hải Dương, hằng năm, mức đóng góp của tỉnh cho nhà nước đạt từ 17 đến 19 vạn tấn lương thực.

Bên cạnh phần đóng góp nghĩa vụ, do năng suất tăng, nên bình quân lương thực trên mỗi đầu người những năm này vẫn được bảo đảm ở mức trên dưới 270 kg. Được như thế là nhờ sự nỗ lực của giai cấp nông dân, sự quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp trên mặt trận nông nghiệp.


____________________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.193.
2. Thế Đạt: Nền nông nghiệp Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8-1945, Nxb. Nông nghiệp. Hà Nội, 1981, tr.141.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #67 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2009, 11:14:34 pm »


Thời kỳ này, các phong trào cải tạo ruộng đồng, làm thuỷ lợi, đắp bờ vùng, bờ thửa, làm bèo hoa dâu, đưa các giống mới vào gieo trồng và các biện pháp kỹ thuật mới . . .  được người nông dân hưởng ứng mạnh mẽ. Nhà nước đào tạo hàng chục nghìn cán bộ, nhân viên kỹ thuật cho sự nghiệp xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn. 

Sản xuất công nghiệp những năm chiến tranh, về căn bản, vẫn được giữ vững. Các cơ sở sản xuất công nghiệp sau khi di chuyển, sơ tán, phân tán về những vùng an toàn đã nhanh chóng đi vào sản xuất. Một điểm nổi bật trong sản xuất công nghiệp thời kỳ này là sự phát triển của ngành công nghiệp địa phương. Do chủ trương ưu tiên phát triển công nghiệp địa phương - một chủ trương đúng đắn trong điều kiện chiến tranh lan rộng, nên thời kỳ này, số xí nghiệp công nghiệp địa phương tăng nhanh so với công nghiệp trung ương.

Toàn miền Bắc năm 1965 có 1.323 xí nghiệp, trong đó 205 xí nghiệp trung ương và 927 xí nghiệp địa phương. Đến cuối năm 1968, con số đó lên tới 1.352 xí nghiệp, bao gồm 277 xí nghiệp trung ương và 1.075 xí nghiệp địa phương. Tương ứng với sự phát triển đó, tốc độ bình quân về giá trị sản lượng hàng năm của công nghiệp địa phương tăng trong khi của công nghiệp trung ương giảm. Trong các ngành công nghiệp nặng và các ngành công nghiệp nhẹ, tình hình cũng diễn ra tương tự.

Thời kỳ từ năm 1966 đến năm 1970, bình quân hàng năm, công nghiệp nặng chỉ tăng 0,5%, thì công nghiệp địa phương tăng 1,4%. Công nghiệp nhẹ, công nghiệp địa phương hướng nỗ lực vào việc phục vụ sản xuất nông nghiệp, đáp ứng các nhu cầu của đời sống nhân dân và của quốc phòng. Trên thực tế, những năm chiến tranh, đã hình thành một mạng lưới cơ khí nông nghiệp. Nhiều tỉnh, công nghiệp địa phương vươn lên đảm bảo một số máy móc phục vụ nông nghiệp như máy công cụ, máy bơm, xà lan...

Công nghiệp các tỉnh trung du, miền núi cũng có bước phát triển mới, bao gồm cả công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. . . Nhìn chung, mỗi tỉnh trên miền Bắc bấy giờ trở thành một đơn vị kinh tế tương đối hoàn chỉnh với hai ngành sản xuất chính là nông nghiệp và công nghiệp, có thể tự cung, tự cấp đến mức cao, bảo đảm ổn định đời sống và hậu cần cho cuộc chiến đấu tại chỗ.

Các ngành tài chính, ngân hàng, nội thương, ngoại thương cũng hướng vào việc phục vụ những nhu cầu bức thiết mà hiện thực cuộc sống sản xuất và chiến đấu đặt ra lúc bấy giờ. Trong chiến tranh, dù ngân sách bội chi, sản xuất lưu thông, phân phối gặp nhiều trở ngại... nhưng nhờ động viên được nguồn thu trong nước và sử dụng có hiệu quả viện trợ của các nước anh em; nhờ cải tiến, tăng cường các mặt quản lý kinh tế, tài chính, giữ vững chế độ hạch toán, củng cố hệ thống thương nghiệp quốc doanh và thương nghiệp hợp tác xã . . . nên nhìn chung, giá cả thị trường tương dối ổn định, ít đột biến, thị trường có tổ chức vẫn được giữ vững, giá các mặt hàng thiết yếu không tăng.

Mạng lưới thương nghiệp, được hình thành trước chiến tranh và củng cố, phát triển trong chiến tranh, đã đóng góp quan trọng vào việc ổn định đời sống hậu phương và trở thành một bộ phận lực lượng hậu cần tại chỗ của chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ. 

Sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế thời kỳ này phải đối mặt với những thách thức lớn lao. Những loạt bom đầu tiên dội xuống miền Bắc nhằm cả vào những công trình văn hoá, những cơ sở giáo dục. Trong 4 năm từ năm 1965 đến năm 1968, 1.558 trường học trên miền Bắc - trong đó có 7 trường  đại học, bị bom đạn Mỹ phá huỷ, nhiều thầy, cô giáo và nhiều học sinh bị giết hại . . .

Duy trì và đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, hàng vạn lớp học với hàng chục vạn thầy, cô giáo và học sinh các cấp học phổ thông cũng như nhiều trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, đại học được sơ tán khỏi thành phố, thị xã, thị trấn tới các vùng nông thôn đồng bằng, trung du và miền núi.

Trong khi đó, ở mọi làng quê, trường lớp được phân tán vào trong dân, nhiều nơi, nhà dân thành lớp học. Xung quanh trường lớp đều có luỹ đất, hệ thống hầm, hào phòng tránh bom đạn và phi pháo địch. Tại nhiều địa phương, nhất là các tỉnh thuộc Khu IV, lớp học được đào sâu vào lòng đất, giờ học chuyển vào ban đêm. Chương trình giảng dạy, học tập được cải tiến cho phù hợp với điều kiện mới.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #68 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2009, 11:28:45 pm »


Dù cơ sở trường, lớp, đồ dùng giảng dạy, giấy, bút. sách, vở và những điều kiện thiết yếu liên quan tới sự nghiệp giáo dục rất thiếu thốn, nhưng khắp mọi địa phương, phong trào thi đua Dạy tốt học tốt vẫn dấy lên mạnh mẽ. Dưới bom đạn đánh phá của máy bay Mỹ, học sinh đầu đội mũ rơm vẫn ngày ngày cắp sách đến trường.

Nếu năm đầu chống chiến tranh phá hoại, toàn miền Bắc có 3,5 triệu học sinh phổ thông thì đến năm 1968, con số đó lên tới 4,7 triệu em. Hầu hết các huyện đều có trường phổ thông cấp III, các xã đều có trường phổ thông cấp I và nhiều xã có trường phổ thông cấp II. Chương trình giáo dục phổ thông vẫn như thời kỳ trước, gồm 10 năm, ba cấp học.

Công tác bổ túc văn hoá tiếp tục được duy trì với hệ thống trường, lớp ngày càng mở rộng. Ngoài hệ thống trường, lớp bổ túc văn hoá cấp I, cấp II, cấp III, các tỉnh, thành miền Bắc trong những năm này còn tổ chức trường “ba đảm đang” dành riêng cho phụ nữ, trường phổ thông lao động, trường thanh niên dân tộc... Hệ thống trường lớp này hằng năm thu hút hàng vạn học viên. Năm học 1967 - 1968, có hơn một triệu học viên theo học các lớp bổ túc văn hoá. 

Giáo dục đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp thời kỳ này vẫn tuôn giữ vững mục tiêu và chỉ tiêu đào tạo, số lượng trường và hệ đào tạo ngày càng tăng lên. Từ con số 16 trường năm đầu chiến tranh, đến năm học 1967-1968, miền Bắc có 35 trường đại học với đội ngũ giáo viên từ 2.750 (năm 1965) tăng lên 6.727 (năm 1968); sinh viên từ 29.800 (năm 1965) tăng lên ~8.200 (năm 1968). Ngoài số học viên đào tạo trong nước, Chính phủ còn chọn cử một số gửi sang đào tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa. Số trường và số lượng học sinh các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp cũng mỗi năm một tăng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: Mặc dù giặc Mỹ điên cuồng đánh phá miền Bắc ác liệt, chúng không những đã thất bại thảm hại trên mặt trận chính trị, quân sự, mà ta đã thắng chúng cả trên mặt trận giáo dục và đào tạo cán bộ. Mái trường xã hội chủ nghĩa chẳng những là nơi truyền thụ kiến thức mà còn trang bị cho học sinh những phẩm chất cao đẹp của con người mới Việt Nam. Các thế hệ thanh niên lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa đã lần lượt lên đường chiến đấu, công tác với vốn kiến thức vững và niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

Gắn bó chặt chẽ với cuộc sống chiến đấu, sản xuất của quân dân ta thời kỳ này, các ngành văn hoá - nghệ thuật đã phục vụ đắc lực cho sự nghiệp chống Mỹ trên mặt trận tư tưởng. Nhiều nhà văn, nhà thư, nhà báo, nhà nhiếp ảnh, - quay phim, hoạ sĩ. . . khoác ba lô vào chiến trường miền Nam, vào tuyến lửa Khu IV, lăn lộn với thực tiễn chiến đấu và lao động đầy hy sinh gian khổ ở khắp mọi miền, sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị, phản ánh sâu sắc chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

Công tác xuất bản, mạng lưới phát hành, hệ thống thư viện, công tác bảo vệ, sưu tầm, khai thác, phát huy các giá trị của văn hoá truyền thống. . . cũng được Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp chú trọng thúc đẩy và mở rộng. Một số cuộc hội nghị khoa học về dân cư, về thời kỳ Hùng Vương được tổ chức. Tháng 11-1965, giữa lúc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, nhân dân ta vẫn tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 200 năm ngày sinh đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Đó là một trong những biểu hiện trình độ dân trí của một dân tộc văn minh đang phải đối mặt với sức mạnh bạo tàn của kẻ xâm lược.

Trước đòi hỏi cấp bách của tình hình, công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân trên hậu phương miền Bắc nhanh chóng được tăng cường. Ngành y tế chỉ đạo các địa phương chủ động phổ cập kinh nghiệm sơ cứu, cấp cứu cho nhân dân; mở các lớp tập huấn, các khoá đào tạo ngắn ngày cho đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế cơ sở. Mạng lưới y tế cơ sở phát triển thành hệ thống sâu rộng. Từ 5.289 trạm xá, 475 bệnh viện, 7 cơ sở điều dưỡng năm 1964, đến năm 1968, toàn miền Bắc có 6.043 trạm xá, 981 bệnh viện, 50 cơ sở điều dưỡng.

Tương ứng với sự gia tăng về số lượng các cơ sở y tế trên đây, đội ngũ cán bộ, công nhân viên ngành y - dược cũng có bước phát triển mới cả về số lượng và chất lượng. Trong lửa đạn chiến tranh, miền Bắc không hề xảy ra dịch bệnh; sức khoẻ của nhân dân vẫn bảo đảm là sự nỗ lực, là sự tận tuỵ và phấn đấu không mệt mỏi của những người “chiến sĩ áo trắng” trên mặt trận thầm lặng nhưng không kém phần gian khổ, khó khăn này.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #69 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2009, 11:29:22 pm »


Đồng thời với quá trình chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức và xây dựng kinh tế, nền quốc phòng miền Bắc cũng gấp rút được tăng cường, lực lượng vũ trang ba thứ quân nhanh chóng được mở rộng. Trên lĩnh vực nóng bỏng này, Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền thường xuyên chăm lo công tác giáo dục, động viên chính trị trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; giáo dục sâu rộng tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, làm cho mọi người thấu suốt và nhận thức sâu sắc vai trò, nhiệm vụ của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam, với cách mạng hai nước Lào và Campuchia... 

Ngày 20-4-1965, Quốc hội khoá III kỳ họp thứ hai đã thông qua Luật sửa đổi và bổ sung Luật nghĩa vụ quân sự, kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân. Ngày 21-4-1965, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định Lệnh động viên cục bộ và ngày 5-5-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký công bố lệnh này. Theo đó, một bộ phận sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị và một bộ phận công dân thuộc ngành dự bị quân đội nhưng chưa phục vụ tại ngũ sẽ được động viên vào lực lượng vũ trang.

Sau ngày ban hành Lệnh động viên cục bộ và kể từ đó trở đi miền Bắc dấy lên các phong trào “cử người đi đánh Mỹ”, thanh niên “ba sẵn sàng”, phụ nữ “ba đảm đang”, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”... Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng chục nghìn thanh niên nam, nữ được gọi vào quân đội, vào lực lượng thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, chiến đấu và công tác khắp các nẻo đường của đất nước có chiến tranh. So với đầu năm, đến cuối năm 1965, khối chủ lực miền Bắc tăng từ 195.000 quân lên tới 400.000, các binh chủng tăng gấp ba lần. Riêng Quân .  chủng Phòng không - Không quân phát triển vượt bậc, không chỉ pháo phòng không mà còn có binh chủng tên lửa đất đối không, ra đa cảnh giới, không quân tiêm kích. Lực lượng này được bố trí thành thế trận liên hoàn, rộng khắp, nhiều tầng hoả lực. . .

Gắn liền với sự phát triển của khối chủ lực, ngành hậu cần quân đội cũng nhanh chóng được tăng cường. Nhiều cán bộ hậu cần đã khuyển ra công tác ở các cơ quan dân, chính, đảng được điều động trở lại quân đội. Cơ quan Tổng cục Hậu cần được tổ chức, biên chế lại cho phù hợp với thời chiến. 

Bên cạnh khối chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ tăng nhanh về số lượng. Năm 1964, dân quân tự vệ chiếm tỉ lệ 8% so với dân số miền Bắc thì đến cuối năm 1965, tỉ lệ đó lên tới 10%. Những năm 1966 - 1967, lực lượng phòng không của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ tổ chức thành nhiều tiểu đoàn, đại đội, được trang bị từ súng máy cao xạ 12,7 mm, 14,5 mm đến cao xạ 37 mm, 100 mm.

Lực lượng phòng thủ bờ biển cũng có sự phát triển mạnh, bao gồm các đơn vị pháo binh bờ đối biển của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ. Các thôn xã vùng ven biển tổ chức thêm nhiều đội tuần tra và tăng cường hoạt động nhằm nhanh chóng phát hiện, đập tan sự đột nhập, phá hoại của lực lượng biệt kích, thám báo thâm nhập từ biển vào bờ.

Các lực lượng vận tải và đảm bảo giao thông như công binh, vận tải quân sự, vận tải nhà nước, vận tải nhân dân...  theo nhịp độ gia tăng của chiến tranh cũng ngày càng lớn mạnh. So với năm 1965, đến năm 1968, số trung đoàn công binh trên miền Bắc tăng gấp 1,2 lần, số tiểu đoàn công binh tăng gấp 2 lần, số đại đội công binh tăng gấp 26 lần. Lực lượng vận tải quân sự của Bộ Quốc phòng và của các quân khu tăng gấp 4 lần. Lực lượng vận tải nhà nước cũng tăng mạnh, trong đó, một bộ phận được huy động làm nhiệm vụ vận tải quân sự. Ngoài ra, lực lượng vận tải nhân dân, với phương tiện và phương thức vận tải thô sơ nhưng rất hiệu quả, cũng nhanh chóng được tăng cường, đặc biệt ở những vùng trọng điểm giao thông.

Toàn bộ lực lượng phòng không, phòng thủ biển và lực lượng vận tải, bảo đảm giao thông trên miền Bắc được bố trí thành thế trận chiến tranh nhân dân vừa tập trung, vừa rộng khắp. Thế trận đó đảm bảo cho quân, dân hậu phương thực hành phương châm chủ động tiến công địch ở mọi nơi mọi lúc và sáng tạo nhiều cách đánh máy bay, tàu chiến địch; nhiều phương thức vận chuyển và đảm bảo mạch máu giao thông mưu trí, táo bạo, hiệu quả, vô hiệu hoá các thủ đoạn đánh phá cũng như nhiều loại vũ khí, khí tài hiện đại của đối phương.

Với quyết tâm cao, lực lượng được tăng cường, cơ cấu tổ chức và bố trí thế trận hợp lý, vũ khí và phương tiện không ngừng được cải tiến, lực lượng phòng không, phòng thủ biển và lực lượng đảm bảo giao thông ba thứ quân thực sự là lực lượng nòng cốt phát động toàn dân tham gia chống chiến tranh phá hoại, bảo vệ hậu phương miền Bắc. Vì vậy ngay từ những ngày đầu và trải suốt bốn năm sau đó, khi lực lượng không quân, hải quân hùng mạnh của Mỹ liên tục “leo thang” đánh phá với quy mô ngày càng mở rộng, với cường độ ngày càng khốc hệt, với những thủ đoạn thường xuyên cải tiến và bằng những bộ vũ khí, khí tài rất hiện đại. . . , lực lượng phòng không, phòng thủ biển và lực lượng vận chuyển, đảm bảo giao thông miền Bắc chẳng những giáng trả đích đáng không quân, hải quân Mỹ, mà còn chi viện kịp thời cho tiền tuyến miền Nam và Lào.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM