Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:51:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 11  (Đọc 139853 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #80 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2009, 12:33:31 am »


Những khu vực địch tập trung- đánh phá ác liệt như vùng ven Sài Gòn, Củ Chi, Bến Cát lực lượng vũ trang ta vẫn trụ bám kiên cường, tổ chức các cuộc tiến công vào quân địch hành quân hoặc trú đóng.  Bằng cách đánh táo bạo, dũng cảm và thiên biến vạn hoá trên đây, nhân dân và lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đã đánh thiệt hại Sư đoàn 1, Sư đoàn 25 bộ binh và Lữ đoàn dù 173 của Mỹ và quân đội Sài Gòn ở Củ Chi, Bến Cát, Nhà Đỏ - Bông Trang, Võ Xu, Bình Tuy, Dốc Bà Nghĩa, tỉnh lộ 16, Núi Lá... Chủ lực Quân khu 5 tiến công địch ở tây Sơn Tịnh bắc Quảng Ngãi), đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ ở Đông Giáp . . .

Như vậy là gọng kìm tìm diệt đã bị bẻ gãy. Còn mục tiêu bình định nông thôn do quân đội Sài Gòn đảm nhận trong cuộc phản công lần thứ nhất cũng không sáng sủa gì. Kết hợp chặt chẽ phương châm đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đánh địch bằng ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận), quân và dân ta đã phá vỡ kế hoạch bình định 900 ấp, củng cố 1.900 ấp trong năm 1966 do Tổng thống Mỹ Giônxơn và Nguyễn Văn Thiệu vạch ra tại Hội nghị Hônôlulu tháng 4-1965.

Đến tháng 6-1966, quân và dân ta ở Nam Bộ đã phá sạch 2.668 ấp chiến lược. Ở Khu VI, ta phá 238 ấp trong tổng số 360 ấp địch xây dựng, giải phóng 203.345 dân. Khu V, Tây Nguyên, Trị - Thiên vùng giải phóng mở rộng với 2. 125.000 dân giành quyền làm chủ và 233.000 dân đang trong vùng tranh chấp. 

Như vậy, đến giữa năm 1966, quân Mỹ và chư hầu không tìm diệt được các đơn vị chủ lực Quân giải phóng, không đạt chỉ tiêu bình định các vùng trọng điểm nông thôn miền Nam, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) buộc phải kết thúc cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất sớm hơn dự định. Trong khi đó, mục tiêu ổn dình chính quyền và quân đội Sài Gòn, khai thông các tuyến giao thông chiến lược, giải toả áp lực quanh các thành phố, thị xã, căn cứ quân sự Mỹ. . . cũng bị phá vỡ. Nhiều đô thị lớn của địch như Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng... nhiều tuyến giao thông như quốc lộ 1, đường 15 từ Vũng Tàu đi Biên Hoà... vẫn bị ta gây áp lực.

Thất bại trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất là thất bại có ý nghĩa chiến lược đầu tiên của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. .  Nó đã tác động sâu sắc đến nội bộ chính quyền và quân đội Sài Gòn. Từ tháng 3 đến tháng 6-1966, Hội đồng quân sự do Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ cầm đầu ra lệnh cách chức Nguyễn Chánh Thi - Tư lệnh Quân đoàn 1. Nhân việc này, 24 giờ sau khi Thi bị cách chức, sĩ quan và binh lính ủng hộ Thi tại Huế, Đà Nẵng tuyên bố li khai chính quyền Trung ương Sài Gòn .

Sinh viên, học sinh, tăng ni, phật tử. . . ở các thành phố miền Trung xuống đường biểu tình với khẩu hiệu chống Mỹ - Thiệu. Tại Đà Lạt, sinh viên, học sinh bãi khoá, tổ chức biểu tình, kêu gọi đồng bào bãi thị; đoàn biểu tình đã chiếm đài phát thanh, truyền đi các tin tức đấu tranh và phát bản tuyên bố “Việt Nam mười muốn, mười không” (muốn hoà bình, độc lập , tự quyết . . . , không muốn bị đàn áp, bị bóc lột, không muốn làm lính đánh thuê . . .) . Đài này phát liên tục những lời tố cáo Thiệu - Kỳ. Các khẩu hiệu chống Mỹ viết bằng tiếng Anh xuất hiện trên đường phố Huế, Đà Nẵng.  Sư đoàn 1 quân cộng hoà mặc quân phục diễu binh qua các đường phố Huế hô to khẩu hiệu đòi lật đổ Chính phủ của Thiệu.

Phối hợp với phong trào ở Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt và các thành phố khác ở miền Trung, thanh niên, học sinh và đông đảo các tầng lớp nhân dân Sài Gòn tổ chức liền “sáu đêm không ngủ”, thu hút hàng vạn người tham gia mỗi đêm . . . Phong trào đấu tranh này đã lan rộng ra 29 thành phố, thị xã toàn miền Nam, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nỗ lực chiến tranh của Mỹ.

Giữa tháng 6-1966, chính quyền Sài Gòn mới lập lại được quyền kiểm soát ở Huế, Đà Nẵng. Dù vậy, qua sự kiện này, uy thế và hiệu lực của chính quyền, quân đội Sài Gòn đã lại bị tổn thương, sa sút nghiêm trọng. Mâu thuẫn giữa Mỹ và nguỵ quyền Nguyễn Văn Thiệu phát sinh. Oasinhtơn nhận thấy: “Đến giữa năm 1966 tình hình đã trở nên rõ ràng là sức mạnh quân sự của Mỹ không thể nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam” 1.

Như vậy Mỹ không thực hiện được chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh, mà có nguy cơ chiến tranh sẽ kéo dài, Mỹ sẽ bị sa lầy.  Đây là điều Mỹ chưa bao giờ nghĩ tới. Vì nếu chiến tranh kéo   dài sẽ gây bao nhiêu hiểm nguy về quân sự, chính trị, kinh tế, về uy tín của nước Mỹ trước con mắt của thế giới phương Tây, mà Tổng thống đương nhiệm Mỹ không lường hết được.


__________________________________
1. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, t.4, tr.l, bản đánh máy, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #81 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2009, 12:45:02 am »


 Đối với miền Bắc Việt Nam, mặc dù đã sử dụng một khối lượng lớn bom đạn, áp dụng nhiều thủ đoạn đánh phá, và chịu nhiều tổn thất về máy bay, người lái, nhưng chiến dịch Sấm rền đã không bẻ gãy được ý chí của quân và dân Thủ đô - Hà Nội, không ngăn chặn được miền Bắc tiếp tế cho miền Nam, chỉ gây ra chết chóc, tàn phá cho người dân, chất chồng cao tội ác của Mỹ chống lại loài người.

Mùa Hè năm 1966, hội nghị chuyên đề bí mật bao gồm một tập thể các nhà khoa học danh tiếng của Mỹ dưới sự đỡ đầu của Chính phủ Mỹ để nghiên cứu toàn bộ kết quả cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, đã đi đến kết luận rằng: “Tính đến tháng 7-1966, các hoạt động ném bom của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam đã không có ảnh hưởng trực tiếp đáng kể nào đến khả năng của Hà Nội trong việc tiến hành và hỗ trợ các hoạt động quân sự ở Nam Việt Nam” 1.

Tình hình đó, cộng với những thất bại của quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, khiến cho Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara “phải suy tính lại vai trò của toàn bộ chiến dịch oanh tạc trong cố gắng của Mỹ.  ông rất đau khổ biết rõ tình trạng bất lực của các hoạt động thâm nhập vào Nam và không thấy biểu hiện gì chứng tỏ oanh tạc có khả năng bẻ gãy ý chí của Hà Nội” 2. 

Những cố gắng chiến tranh của Mỹ trên cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam trong mùa khô 1965-1966 không đạt được mục tiêu dự định là một bất ngờ lớn, một thất bại có ý

Những cố gắng chiến tranh của Mỹ trên cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam trong mùa khô 1965-1966 không đạt được mục tiêu dự định là một bất ngờ lớn, một thất bại có ý nghĩa chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Thất bại đó càng khiến cho phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền tăng nhanh ở Mỹ; khiến cho nhiều quan chức cao cấp Mỹ hoài nghi về chính sách và cách thức tiến hành chiến tranh của chính quyền Giônxơn.  Dù vậy, Mỹ vẫn ráo riết tăng quân và phương tiện chiến tranh, chuẩn bị mở tiếp cuộc phản công chiến lược lần thứ hai trong mùa khô 1966-1967.

Về phía ta, sau thắng lợi mùa khô 1965-1966, theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, quân, dân các chiến trường, các địa phương miền Nam sử dụng một bộ phận lực lượng vũ trang thích hợp, đánh bồi vào quân Mỹ, phá kế hoạch chuẩn bị của chúng; đồng thời tích cực chuẩn bị lực lượng và thế trận đương đầu mới với địch trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, mùa khô 1966-1967.

Để đẩy mạnh phong trào cách mạng ở Quảng Trị, Thừa Thiên tiến lên ngang tầm đòi hỏi của tình hình, hỗ trợ tích cực cho phong trào các tỉnh đồng bằng Khu V, Nam Bộ, trực tiếp là vùng đồng bằng Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, tháng 4-1966, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định tách Trị - Thiên ra khỏi Khu V, thành lập Khu uỷ Trị - Thiên, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị.

Căn cứ vào nhiệm vụ của Bộ Chính trị giao cho, Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Quân khu Trị - Thiên đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu uỷ Trị - Thiên.  Tiếp đó, để buộc địch phải bị động về mặt chiến lược, phân tán hơn nữa khối chủ lực cơ động, ngăn chặn âm mưu mở rộng chiến tranh trên bộ ra nam Quân khu IV, tháng 6- 1966, Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Mặt trận đường 9 –bắc Quảng Trị 3 (Mặt trận B5).

Đây là những quyết định kịp thời, đúng đắn, thể hiện quyết tâm tạo hướng tiến công mới của ta vào nơi yếu của địch trên chiến trường miền Nam, buộc Mỹ phải đưa lực lượng lên chiến trường rừng núi. Ta thực hiện đánh tiêu diệt chiến dịch, chiến lược đối với quân cơ động chiến lược Mỹ - nguỵ bằng lực lượng chủ lực mạnh của ta ở miền Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến trường khác tiến công và nổi dậy.

Sau ngày thành lập, một bộ phận chủ lực cơ động miền Bắc được triển khai trên Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị, bắt đầu tiến công vào tuyến phòng thủ tây đường 9, tuyến ngăn chặn địa đầu phía bắc của địch ra Huế, Đà Nẵng bị đe doạ. Tình hình đó buộc Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ phải tăng quân ra hướng Trị - Thiên, đưa tổng số quân Mỹ và quân nguỵ Sài Gòn có mặt trên chiến trường này lên tới 41.900 tên, trong đó có 16.750 binh sĩ Mỹ.



___________________________________
1, 2. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ..., Tlđd, t.2, tr.140, 149.
3. Mặt trận này gồm địa bàn ba huyện là Do Linh, Cam Lộ, Hướng Hoá; bắc giáp Vĩnh Linh, Quảng Bình, tây giáp Trung - Hạ Lào, đông giáp biển Đông, nam giáp huyện Hải Lăng, sông Ba Lòng, thị xã Quảng Trị.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #82 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2009, 10:29:43 pm »

Trong khi lực lượng địch bị rút ra hướng Trị - Thiên, quân, dân ta trên các chiến trường mở chiến dịch tiến công Bình Long (Nam Bộ), bắc Phú Yên (Khu V), bắc Kon Tum và tây Gia Lai (Tây Nguyên) ; đồng thời chặn đánh quyết liệt các cuộc hành quân của địch ra vùng Tam Quan bình Định), Tuy Hoà (Phú Yên) . . . chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mùa khô 1966-1967.

Đến tháng 10-1966, khối chủ lực cơ động Quân giải phóng đã lên tới 8 sư đoàn bộ. binh, 1 sư đoàn pháo binh, một số trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh và binh chủng. Về tổ chức chiến trường, ngoài việc thành lập Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị, ta còn tổ chức Đặc khu quân sự rừng Sác (5-1966), thành lập Khu X gồm hai tỉnh Quảng Đức, Phước Long của Khu VI và tỉnh Bình Long của Khu VII . . .

Công tác củng cố tổ chức, biên chế, huấn luyện, đảm bảo vũ khí, trang bị và lương thực, thực phẩm, dự kiến phương án tác chiến, cũng được các chiến trường, các địa phương xúc tiến gấp rút. 

Về phía địch, tháng 10-1966, Giônxơn triệu tập hội nghị khối SEATO nhằm động viên các nước đồng minh châu Á tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào chiến tranh Việt Nam. Tháng 11-1966, Bộ Quốc phòng Mỹ quyết định tăng thêm quân vào miền Nam, đạt tới mức 469.000 quân Mỹ vào giữa năm 1968. Không quân, hải quân Mỹ được lệnh tăng cường đánh phá một loạt mục tiêu quân sự, kinh tế trên miền Bắc; ngăn chặn quyết liệt trên tuyến vận tải 559... 

Mùa khô 1966-1967, Mỹ tung vào cuộc phản công chiến lược lần thứ hai một lực lượng lớn bao gồm 20 sư đoàn và 10 lữ đoàn, trung đoàn chủ lực (có 7 sư đoàn và 4 lữ đoàn Mỹ), 4.000 máy bay, 2.500 xe tăng, xe bọc thép, 2.540 khẩu pháo, 500 tàu, thuyền chiến đấu cùng hàng chục vạn tấn bom đạn, chất độc hoá học.

Nếu tính cả số quân nhân Mỹ trên Hạm đội 7, ở các căn cứ quân sự Mỹ tại Thái Lan, Nhật Bản, Philíppin, Guam tham gia chiến tranh Việt Nam, thì tổng cộng quân được sử dụng vào cuộc phản công chiến lược lần này vượt xa số quân tham gia cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, gần 1 triệu 20 vạn quân Mỹ, quân đội Sài Gòn và một số nước đồng minh của Mỹ. Riêng quân Mỹ có 60 vạn. Ngoài ra, Mỹ, chính quyền Sài Gòn còn tung vào cuộc phản công hàng vạn tên tề điệp ác ôn, hàng trăm “đội bình định”…

Với nỗ lực quân sự lớn và bằng những thủ đoạn quân sự, ngoại giao, tâm lý chiến kết hợp, giới cầm quyền Oasinhtơn cũng như giới lãnh đạo quân sự Mỹ hy vọng cuộc phản công chiến lược lần này sẽ giành thắng lợi, làm chuyển biến cục diện chiến trường vào giữa hoặc cuối năm 1967 có lợi cho Mỹ để bước vào năm 1968 - năm bầu cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 1969-1972.

Nhằm mục tiêu đó, nếu mùa khô 1965- 1966, địch đánh ra năm hướng thì giờ đây, toàn bộ nỗ lực quân sự của lực lượng chiến đấu Mỹ hiện có trên chiến trường miền Nam chủ yếu dồn vào một hướng miền Đông Nam Bộ, trọng điểm chiến khu C, D. Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tập trung 7 sư đoàn, 5 lữ đoàn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, quân một số nước đồng minh mở liền ba cuộc hành quân lớn quy mô cấp quân đoàn.

Ngày 14-9- 1966, địch mở cuộc hành quân áttơnborơ (Atteleboro) với 30.000 quân Mỹ và quân Sài Gòn hòng đánh đòn bất ngờ vào căn cứ Dương Minh Châu, tiêu diệt chủ lực, phá căn cứ, kho tàng của ta.

Phán đoán được ý đồ của địch, Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy Miền quyết định sử dụng Sư đoàn 9, các đơn vị pháo cối, đặc công, bộ đội địa phương, dân quân, du kích Dầu Tiếng, Tây Ninh và tự vệ cơ quan chủ động mở chiến dịch Tây Ninh nhằm đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn của địch. Lực lượng ta bố trí sẵn sàng trên những khu vực dự kiến địch sẽ tiến quân, thành thế trận liên hoàn hỗ trợ cho nhau giữa phía trước, phía sau, giữa các thứ quân: chủ lực, địa phương, dân quân, du kích và tự vệ cơ quan...

Dựa trên thế trận đó, lực lượng vùng căn cứ liên tục chặn đánh và tiến công vào đội hình hành quân của các đơn vị Mỹ, bẻ gãy nhiều mũi tiến quân và gây cho chúng nhiều thiệt hại về sinh lực, phương tiện chiến tranh. Sau 72 ngày đêm đối phó với lực lượng vùng căn cứ trong một thế trận bất lợi cho Mỹ, ngày 24- 1 1-1966, Oétmolen phải chấm dứt cuộc hành quân, rút toàn bộ lực lượng còn lại ra khỏi khu vực căn cứ Dương Minh Châu trong khi các mục tiêu đề ra cho cuộc hành quân không thực hiện được.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #83 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2009, 10:30:44 pm »


Sau cuộc hành quân này, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ dồn sức mở tiếp cuộc hành quân Xiđa Phôn (Cidar Fall) - cuộc hành quân lớn cấp quân đoàn thứ hai đánh vào vùng tam giác Bến Súc - Củ Chi - Bến Cát là khu vực bàn đạp của ta uy hiếp Sài Gòn từ phía bắc.

Dựa vào hệ thống công sự, địa đạo được cấu trúc vững chắc và hóc hiểm, quân dân Củ Chi, Bến Cát, Trang Bàng đã bám trụ kiên cường, liên tục tổ chức các trận tập kích vào đội hình trú đóng ban đêm của quân Mỹ. Nhân lúc địch đang lo đối phó với lực lượng vũ trang tại chỗ của ta thì chủ lực Quân giải phóng miền Nam phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ của Quân khu Sài Gòn - Gia Định mở các cuộc tiến công vào bên sườn, sau lưng các đơn vị quân Mỹ, gây cho chúng nhiều thiệt hại về sinh mạng và phương tiện chiến tranh.

Sau gần một tháng đánh phá ác liệt (từ ngày 3 đến ngày 26- 1- 1 966) , nhưng địch không tiêu diệt được một đơn vị chủ lực nào của ta, không phá được chiến tranh du kích. Trái lại, lực lượng vũ trang ta trụ bám và dựa vào hệ thống công sự, địa đạo đánh cho quân Mỹ bị tổn thất nặng nề. Ngày 26-1-1966, địch buộc phải chấm dứt cuộc hành quân, dồn 15.000 dân về thị xã Bình Dương. Thành uỷ, Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Sài Gòn - Gia Định cùng Trung đoàn 16 chủ lực Miền vẫn tiếp tục trụ bám ở vùng “đất thép” Củ Chi.

Tuy bị thất bại liên tiếp trong hai cuộc hành quân tìm diệt, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ mục tiêu tìm diệt cơ quan đầu não và chủ lực Quân giải phóng miền Nam, tạo nên bước ngoặt có lợi cho Mỹ trong năm 1967. Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ huy động 45.000 quân, 1.200 xe tăng và xe bọc thép, hơn 250 trọng pháo, 17 phi đoàn máy bay mở cuộc hành quân Gianxơn Xi ti (Junction City) - một cuộc hành quân lớn nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam - đánh vào căn cứ Dương Minh Châu.

Căn cứ Dương Minh Châu (chiến khu C) là khu vực rừng núi rộng lớn, thưa dân thuộc tỉnh Tây Ninh. Hình thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tiếp tục được củng cố trong kháng chiến chống Mỹ, căn cứ này là nơi đứng chân của Trung ương Cục, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Bộ Chỉ huy Miền để chỉ đạo cuộc kháng chiến, cùng các đơn vị trực thuộc như bệnh viện, đài phát thanh, trường đào tạo, kho tàng. . . Hệ thống cơ quan, kho tàng, bệnh viện, trường học, nhà xưởng... được bố trí dọc theo triền suối cạn, ẩn dưới tán rừng, trong các công sự nửa chìm nửa nổi, nối liền với nhau bằng mạng giao thông hào chằng chịt.

Ngay từ giữa năm 1966, trên cơ sở phán đoán ý đồ của Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, Bộ Chỉ huy Miền đã triển khai kế hoạch củng cố bộ đội và tổ chức phòng thủ căn cứ theo phương châm trụ bám đánh địch tại chỗ. Sau khi đánh bại cuộc hành quân Xiđa Phôn, căn cứ Dương Minh Châu được tổ chức thành 13 “huyện”, mỗi “huyện” chia thành từng “ấp”, từng “xã” chiến đấu có hệ thống công sự, trận địa, hầm hào vững chắc và liên hoàn hỗ trợ cho nhau. Lực lượng bộ đội, cán bộ, nhân viên các cơ quan phương huyện và du kích các xã, bám trụ địa bàn, đánh địch tại chỗ, phối hợp với bộ đội chủ lực.

Như vậy, trước khi địch triển khai cuộc hành quân, trong căn cứ Dương Minh Châu đã hình thành ba thứ quân và được bố trí thành thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn, có chiều sâu, chi viện, hỗ trợ cho nhau thuận lợi. Đây là sự vận dụng sáng tạo chiến lược chiến tranh nhân dân trên một địa bàn dân cơ ít và thưa thớt của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền. 

Ngày 22-2-1967, địch chính thức mở cuộc hành quân Gianxơn Xi ti đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu. Địch đổ quân bao vây kín phía biên giới Campuchia với ý đồ không cho cơ quan đầu não của ta chạy thoát, dùng Sư đoàn 25 và Trung đoàn thiết giáp 11 Mỹ từ phía nam căn cứ đánh vào Sóc Ky, Tà Dạt. Nhưng điều làm cho quân Mỹ bất ngờ là khi chúng vừa tiến đến khu vực Sóc Ky, Tà Dạt đã bị lực lượng du kích cơ quan được trang bị súng chống tăng B40 , B41, súng phòng không 12,7 mm, cùng tiểu đoàn thông tin, công binh đánh diệt 36 xe tăng, xe bọc thép và hơn 600 tên Mỹ, bắn rơi 42 máy bay, chặn đứng mũi đột kích hướng chủ yếu của chúng.

Trong khi đó, Sơ đoàn 9 chủ lực Miền sử dụng những phân đội nhỏ liên tục tiến công hai bên sườn, sau lưng đội hình hành quân của địch, diệt một đại đội, một chi đội xe bọc thép, loại khỏi vòng chiến đấu 360 tên. Quân Mỹ buộc phải co cụm ở lộ 1, 4 và 22 chững đỡ bị động. Bị tiến công liên tục ở Bảy Bàu, Ang Khắc, Cà Tum, Bàu Cỏ, Tráng A Lầu, Tà Xia, Bến Ra... quân Mỹ phải rút bỏ cụm chốt Đồng Rùm (11-3), kết thúc giai đoạn một cuộc hành quân.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #84 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2009, 10:31:17 pm »


Ngày 15-3, địch lật cánh sang hướng đông nhằm bao vây, thọc sâu vào trung tâm căn cứ, mở đầu cho giai đoạn hai cuộc hành quân. Sư đoàn 9 chủ lực Miền bố trì điều chỉnh đội hình, đón đánh địch ở Đồng Rùm, Đồng Pan, Chà Dư, v.v. . Trong các ngày từ ngày 18 đến ngày 20-3, du kích cơ quan, bộ đội địa phương liên tục chặn đánh Lữ đoàn dù 173, Trung đoàn thiết giáp 11 ở Bầu Tràm, Bàu Cột; Lữ đoàn 3 Sơ đoàn 4, Lữ đoàn 1 Sư đoàn 25, Lữ đoàn 2 Sư đoàn Anh cả đỏ ở Đồng Rùm, Đồng Kèn. Sư đoàn 9 tiến công cụm quân Mỹ ở Đồng Rùm , Chà Dư. . .

Ngày 11-4, quân Mỹ rút chạy khỏi Đồng Rùm; ngày 16-4, rút khỏi Đồng Kèn, ngày 10-4, các cụm quân Mỹ ở Tràng Ba Vùng, Bàu Cột tháo chạy, làm cho các cánh quân địch trên toàn tuyến chiến dịch nao núng và tan vỡ. Trước tình hình đó, ngày 13-4, quân Mỹ rút khỏi Sóc Con Trăng. Cuộc phản công của quân Mỹ thực tế đến đây chấm dứt. Nhưng mãi đến ngày 15-5-1967, Oétmolen mới tuyên bố chấm dứt cuộc hành quân. .

Kết quả 83 ngày chiến đấu ròng rã, ta loại khỏi vòng chiến 11.000 tên địch, bắn rơi, phá huỷ 160 máy bay, 992 xe tăng và bọc thép, 112 pháo, cối, tiêu diệt, đánh thiệt hại 8 tiểu đoàn và 11 đại đội Mỹ, 10 chi đoàn xe tăng, xe bọc thép:.. 

Đánh thắng cuộc hành quân Gianxơn Xi ti có ý nghĩa chiến lược to lớn. Đây là cố gắng sử dụng quân Mỹ lớn nhất và cũng là cuối cùng trong cuộc chiến tranh Việt Nam của Lầu Năm Góc, nhưng không thu được kết quả, khiến cho chính quyền Mỹ cảm thấy họ sẽ bị đánh bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Cùng với cuộc hành quân tiến công vào Dương Minh Châu, địch mở liên tục 980 cuộc hành quân quy mô tiểu đoàn, sư đoàn đánh vào các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, ven Sài Gòn - Gia Định, Khu VI, Tây Nguyên, Khu V và Trị - Thiên nhằm hỗ trợ cho kế hoạch bình định và phối hợp với hướng chính Đông Nam Bộ. Song, tất cả những cuộc hành quân trên đều bị quân và dân các địa phương danh thắng, loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên Mỹ, nguy, Nam Triều Tiên.

Gọng kìm tìm diệt bị bẻ gãy, chương trình bình dính - gọng kìm thứ hai của cuộc phản công chiến lược lần này của địch cũng bị thất bại nặng nề. Theo kế hoạch, địch dự định trong năm 1967 sẽ bình định 3.500 ấp trên toàn miền, tập trung vào các vùng “ưu tiên quốc gia”. Mục tiêu chủ yếu của chương trình bình định là nhằm triệt phá phần lớn cơ sở cách mạng trong vùng nông thôn để tách lực lượng vũ trang khỏi sự đùm bọc, che chở của nhân dân. Đó là biện pháp mà R.  Cômơ (Robert Komer) - đặc phái viên bình định của Giônxơn, quan niệm như “nhát dao đâm vào tim Việt cộng”.

Để đạt mục tiêu trên, ngoài việc đào tạo gấp rút cán bộ bình định tung xuống nông thôn, Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn sử dụng hầu hết toàn bộ quân đội Sài Gòn kết hợp với lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát. . . mở hàng nghìn cuộc hành quân càn quét, liên tục đánh phá, chà đi xát lại nhiều vùng nông thôn. Không quân và các trận địa pháo của Mỹ dội xuống vùng giải phóng, vùng tranh chấp một khối lượng lớn bom đạn và chất độc để tàn sát dân thường, huỷ hoại mùa màng, nhà cửa, khủng bố tinh thần của nhân dân ta.

Chúng còn dùng những biện pháp bạo lực nhằm cưỡng bức người nông dân phải bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên để vào sống trong các ấp đời mới, ấp tân sinh mà thực chất là biến tướng của mô hình ấp chiến lược thời Ngô Đình Diệm. Bên cạnh đó, trong năm 1967, địch còn triển khai các chương trình kinh tế, chính trị, văn hoá... để hỗ trợ và thúc đẩy công việc bình định tiến triển . . .

Những biện pháp trên đây của địch khiến cho cuộc đấu tranh chống phá bình định của quân, dân ta gặp nhiều khó khăn. Trong cuộc đấu tranh đầy gian khổ và phức tạp đó, có một bộ phận nông dân, thậm chí cả cán bộ, đảng viên không chịu nổi thiếu thốn, hy sinh... đã bỏ vào vùng địch hoặc ra đầu thú, đầu hàng. Nhưng nhìn chung, quân, dân ta kiên trì phương châm ba bám, đẩy mạnh ba mũi giáp công, chặn đánh quyết liệt các cuộc hành quân càn quét, hành quân bình định của địch, trừng trị đích đáng bọn tề điệp nằm vùng, bọn tay sai ác ôn và các đoàn cán bộ bình định, gây mất ổn dính và vô hiệu hoá chính quyền cơ sở địch ở nhiều nơi, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, vùng làm chủ. . .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #85 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2009, 10:33:02 pm »

Do những cố gắng trên đây, trong mùa khô 1966- 1967, ta giành thêm 390 ấp, xã, nâng tổng số xã, ấp được giải phóng lên 700 xã và 6.750 ấp. Chính quyền Sài Gòn chi còn kiểm soát được 5.400 ấp trong tổng số 16.293 ấp trên toàn miền. Theo đánh giá của phía chính quyền Sài Gòn, chương trình bình định năm 1967 chỉ đạt được 13% so với kế hoạch đề ra ban đầu.

Tại các vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, khống chế, đặc biệt các đô thị lớn, phong trào đấu tranh chính trị ngày càng phát triển. Năm 1967, tuy không bùng nổ thành cao trào nhưng phong trào đi dần vào chiều sâu, gắn chặt với mục tiêu chung của toàn dân tộc là chống Mỹ và tập đoàn tay sai Thiệu - Kỳ.

Mùa khô 1966-1967, hơn một triệu lượt đồng bào các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long biểu tình chống địch càn quét, bắn pháo, rải chất độc khai quang. . . , hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích phát triển. Trong các thành phố lớn, những tháng đầu và các tháng 7, 8, 9 của năm 1967, học sinh, sinh viên, tăng ni phật tử, công chức, nhà buôn và các tầng lớp xã hội khác tổ chức biểu tình, hội thảo với nội văn hoá dân tộc, chống sự du nhập lối sống Mỹ; đòi Thiệu - Kỳ phải từ chức, đòi chấm dứt chiến tranh, vãn hồi hoà bình cho xứ sở. . .

Đưa quân chiến đấu vào Việt Nam, Mỹ hy vọng giúp đỡ cho chính quyền và quân đội Sài Gòn đủ sức tự đứng vững để thực hiện mục tiêu chính trị của chiến lược chiến tranh cục bộ. Thế nhưng, ngược với mong muốn của Mỹ, quân đội và chính quyền đó ngày càng thêm phụ thuộc vào sự có mặt của đội quân viễn chinh, cơ sở xã hội của chính quyền Sài Gòn ở các thành thị và nông thôn bị mất dần. “Những cố gắng ban đầu của Chính phủ Việt Nam cộng hoà nhằm định ra các chương trình bình định và phát triển nông thôn đã thất bại, vì đó là những chương trình đầu đuôi lẫn lộn được vạch ra một cách vụng về” 1.

Thực tế đó khiến nhiều quan chức cao cấp trong Chính phủ Mỹ ngao ngán: “Sự thật không đáng phấn khởi chút nào... Vì, cũng như những năm 1961, 1963, 1965, đến . năm 1967, Mỹ đã không tìm ra được một “công thức” hoặc “chất xúc tác” nào để rèn luyện họ” 2. 

Đến năm 1967, cuộc chiến tranh cục bộ đã không diễn ra suôn sẻ theo tính toán ban đầu của giới lãnh đạo nước Mỹ.  Ngược lại, việc bị sa lầy ở chiến trường Việt Nam sau ba năm leo thang chiến tranh đã đặt Mỹ đứng trước tình thế bế tắc cả về chiến lược và chiến thuật trên chiến trường, gây ra cho chính quyền Oasinhtơn một loạt vấn đề nan giải về kinh tế, chính trị, xã hội trong nước.

Chiến tranh kéo dài và chi phí cho cuộc chiến tranh ngày càng tăng đã làm thâm thủng nặng nề ngân sách Chính phủ liên bang - đến năm 1967, con số thâm hụt đó đạt tới 25,3 tỷ đô la. Hệ quả tất yếu là nạn lạm phát tăng nhanh, khiến nền kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái, giá cả tăng vọt, sản xuất có biểu hiện đình trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, 3,8 triệu lao động Mỹ thất nghiệp hoàn toàn. .

Tình hình đó, cộng với số binh sĩ Mỹ chết trên chiến trường Việt Nam ngày càng gia tăng, đã làm cho xã hội Mỹ bị chia rẽ sâu sắc. Làn sóng biểu tình chống chiến tranh và các hình thức phản đối chính quyền, phản đối chiến tranh ngày một dâng cao. Giới lãnh đạo nước Mỹ và ngay trong nội bộ chính quyền Giônxơn, bị phân hoá thành phe chủ hoà và phe chủ chiến (sách báo Mỹ gọi là phái bồ câu và phái diều hâu).

Đặc biệt, ngày càng nhiều nghị sĩ Quốc hội Mỹ đòi giảm bớt cam kết, hạ thấp các mục tiêu của Mỹ ở Việt Nam, tìm một giải pháp nhằm sớm đưa nước Mỹ thoát khỏi vũng lầy chiến tranh. Xu hướng thay đổi lập trường đó trong Quốc hội Mỹ đang trở thành áp lực chính trị ngày càng tăng đối với chính quyền Mỹ và với cá nhân Tổng thống Giônxơn. 

Đứng trước thái độ của dư luận và sức ép từ phía Quốc hội, nội bộ Chính phủ Mỹ càng thêm phân hoá trong vấn đề chiến tranh Việt Nam. Tháng 4-1967, Oétmolen được Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ hậu thuẫn mạnh mẽ đã chính thức đề nghị Tổng thống Mỹ tăng tiếp quân vào miền Nam theo hai mức 3.


______________________________
1. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam. . . , Tlđd, tr. 12. 
2. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt nam, Tlđd, t.2, tr.180.
3. Mức một, tăng thêm 100.000 quân. Đây là mức mà Oétmolen cho là tối thiểu;
Mức hai, tăng thêm 201.250 quân, đưa tổng số binh lính Mỹ ở miền Nam đạt tới 671.616 người vào giữa năm 1968.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #86 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 12:51:05 pm »

Trong khi đó, Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ hối thúc Tổng thống Mỹ cho phép mở rộng chiến tranh mặt đất sang Lào, Campuchia và phần đất phía nam của miền Bắc Việt Nam; leo thang đánh phá toàn bộ hệ thống mục tiêu trên miền Bắc và phong toả chặt cảng Hải Phòng; tăng thuế và gọi lực lượng trù bị để bù vào số quân thiếu hụt ở các căn cứ quân sự Mỹ trên khắp thế giới do phải dồn cho chiến trường Việt Nam. Nhưng nếu chấp nhận những yêu cầu trên đây của giới tướng lĩnh thì số phận chính trị của bản thân Tổng thống Mỹ Giônxơn sẽ không còn hy vọng gì trong cuộc bầu cử sắp tới vào năm 1968.

Vì thế, khi toàn bộ các đề nghị trên đây vừa được tiết lộ thì sự bất đồng về quan điểm một cách gay gắt giữa phái quân sự và dân sự trong Chính phủ Giônxơn nổi lên ngay lập tức, đến nỗi các tham mưu trưởng liên quân Mỹ tuyên bố họ sẽ công khai từ chức nếu các đề nghị nói trên của họ bị bác bỏ.  Trước tình hình đó, Giônxơn đành phải chọn con đường mà Tài liệu mật Lầu Năm Góc gọi là “leo thang từng bước” hoặc là “o ép từ từ” hòng dung hoà sự bất đồng trong nội bộ Chính phủ.

Mùa Thu năm 1967, Giônxơn quyết định tăng thêm 55.000 quân sang miền Nam Việt Nam - thay vì 200.000 quân như Oétmolen đề nghị; chấp thuận yêu cầu oanh tạc thêm 57 mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam - chứ không mở rộng chiến tranh trên bộ sang Lào, Campuchia, nam khu IV và không phong toả cảng Hải Phòng như Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ yêu cầu. Còn việc động viên quân trù bị như đề nghị của giới quân sự Mỹ, Giônxơn xem như một hàng rào chính trị mà ông không muốn vượt qua.

Như thế, mặc dù muốn nghiêng về giới quân sự hiếu chiến nhưng Tổng thống Mỹ Giônxơn vẫn buộc phải thận trọng trong việc tính toán bước đi của Mỹ ở Việt Nam sao cho vừa tránh được dư luận trong nước, ổn định được nội bộ để có thể bước vào năm vận động tranh cử một cách xuôi chèo mát mái. . . 

Tại Hà Nội, ngay sau khi cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, mùa khô 1966- 1967 của quân Mỹ kết thúc, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương điện gửi lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, trong đó nhấn mạnh việc tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo đợt tiến công Hè Thu năm 1967 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đợt hoạt động Đông Xuân năm 1967-1968.  Đồng thời, để củng cố bộ máy chỉ đạo cách mạng miền Nam nhằm đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới, ngày 19-5-1967, Bộ Chính trị điện cho Trung ương Cục thông báo quyết định thành phần Bộ Chỉ huy Miền, Quân uỷ Miền; lưu ý Trung ương Cục cần chú ý tăng cường cán bộ cho Khu uỷ, Bộ Tư lệnh Khu VII, Khu IX, đặc biệt là Khu VII.

Sau ngày Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mất (ngày 6-7-1967), Trung ương Đảng cử đồng chí Phạm Hùng vào thay, giữ chức Bí thư Trung ương Cục. Tiếp đó, bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo của Khu uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn cũng được Trung ương Đảng kiện toàn 1. 

Cũng ngay sau ngày đánh thắng cuộc phản công chiến lược lần thứ hai và bắt đầu từ đó trở đi, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương chỉ đạo sát sao việc soạn thảo, bổ sung, từng bước hoàn chỉnh bản Dự thảo kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1967- 1968 nhằm thực hiện chủ trương tận dụng thời cơ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1968, theo phương hướng đánh lớn. Nhiều đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường được triệu tập ra Hà Nội để tham gia xây dựng kế hoạch chiến lược quan trọng này.

Trong quá trình bàn bạc, Quân uỷ Trung ương nhận thấy: nếu cứ tiếp tục mở các đợt hoạt động quân sự và đấu tranh chính trị như những năm trước, đánh theo cách đánh cũ thì khó tận dụng được thời cơ có lợi để tạo nên chuyển biến chiến lược trên chiến trường, chiến tranh vẫn sẽ nhùng nhằng, giằng co, kéo dài.

Nhưng mặt khác, trước đối thủ có quân số đông, hoả lực dồi dào, khả năng cơ động cao, tiếp ứng nhanh, lại chiếm ưu thế áp đảo trên không, trên sông, trên biển như quân Mỹ thì phương án bao vây để tiêu diệt lớn đội quân này hoặc đánh bật chúng ra khỏi miền Nam... rõ ràng là không hiện thực.


________________________
1. Ngày 27-9-1967, đồng chí Lê Đức Thọ điện gửi đồng chí Nguyễn Văn Linh thông báo quyết định cử đồng chí Nguyễn Văn Linh xuống làm Bí thư Khu uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn kiêm Chính uỷ, Bí thư quân khu; đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh, Phó Bí thư Khu uỷ và Phó Bí thư quân khu; đồng chí Võ Văn Kiệt làm Phó bí thư Khu uỷ, trực tiếp làm Bí thư Thành uỷ Sài Gòn...
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #87 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 12:51:37 pm »

Vì thế, Quân uỷ Trung ương quyết định: hướng sức mạnh chủ yếu của chiến tranh cách mạng miền Nam vào đô thị - nơi đặt các cơ quan đầu não của địch. Trong 5 ngày từ ngày 20 đến ngày 24- 10- 1967, Bộ Chính trị họp hội nghị mở rộng bàn về chủ trương và kế hoạch táo bạo này.

Hội nghị xác định rất rõ: cho đến thời điểm này, thời cơ chiến lược đã xuất hiện. Muốn chớp thời cơ đó, Bộ Chính trị quyết định: về phương pháp, dùng tổng công kích - tổng khởi nghĩa; về hướng tiên công, nhằm vào đô thị trên toàn miền; về phương thức, tiên công và nổi dậy đồng loạt; về thời điểm, bắt đầu vào dịp Tết Mậu thân 1968.

Tiếp sau hội nghị này, tháng 11-1967, Bộ Chính trị họp tiếp để bàn cụ thể về Kế hoạch Tổng khởi nghĩa ở các đô thị miền Nam.

Sau Hội nghị Bộ Chính trị, các chiến trường, các địa phương bắt tay vào chuẩn bị trực tiếp cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Với thời gian còn lại 3 tháng, hướng đánh lớn. Nhiều đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường được triệu tập ra Hà Nội để tham gia xây dựng kế hoạch chiến lược quan trọng này.

Trong quá trình bàn bạc, Quân uỷ Trung ương nhận thấy: nếu cứ tiếp tục mở các đợt hoạt động quân sự và đấu tranh chính trị như những năm trước, đánh theo cách đánh cũ thì khó tận dụng được thời cơ có lợi để tạo nên chuyển biến chiến lược trên chiến trường, chiến tranh vẫn sẽ nhùng nhằng, giằng co, kéo dài.

Nhưng mặt khác, trước đối thủ có quân số đông, hoả lực dồi dào, khả năng cơ động cao, tiếp ứng nhanh, lại chiếm ưu thế áp đảo trên không, trên sông, trên biển như quân Mỹ thì phương án bao vây để tiêu diệt lớn đội quân này hoặc đánh bật chúng ra khỏi miền Nam... rõ ràng là không hiện thực.

Vì thế, Quân uỷ Trung ương quyết định: hướng sức mạnh chủ yếu của chiến tranh cách mạng miền Nam vào đô thị - nơi đặt các cơ quan đầu não của địch.

Trong 5 ngày từ ngày 20 đến ngày 24- 10- 1967, Bộ Chính trị họp hội nghị mở rộng bàn về chủ trương và kế hoạch táo bạo này. Hội nghị xác định rất rõ: cho đến thời điểm này, thời cơ chiến lược đã xuất hiện. Muốn chớp thời cơ đó, Bộ Chính trị quyết định: về phương pháp, dùng tổng công kích - tổng khởi nghĩa; về hướng tiên công, nhằm vào đô thị trên toàn miền; về phương thức, tiên công và nổi dậy đồng loạt; về thời điểm, bắt đầu vào dịp Tết Mậu thân 19ớ8.

Tiếp sau hội nghị này, tháng 11-1967, Bộ Chính trị họp tiếp để bàn cụ thể về Kế hoạch Tổng khởi nghĩa ở các đô thị miền Nam.

Sau Hội nghị Bộ Chính trị, các chiến trường, các địa phương bắt tay vào chuẩn bị trực tiếp cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Với thời gian còn lại 3 tháng, việc chuẩn bị trở nên vô cùng gấp gáp.

Ba tháng đó các chiến trường, các địa phương phải khẩn trương hoàn tất một khối lượng công việc khổng lồ và rất phức tạp: xây dựng và hoàn chỉnh phương án, kế hoạch công kích, khởi nghĩa; tổ chức, điều động, bố trí lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị; phân chia chiến trường; tổ chức hệ thống đảm bảo hậu cần; triển khai mạng lưới giao liên từ căn cứ xuống vùng ven, vào nội thành; chuẩn bị khu vực, địa điểm cất giấu lực lượng và địa bàn xuất phát tiến công; điều tra các mục tiêu và nắm tình hình cũng như quy luật hoạt động của địch ở nội đô.

Đồng thời, huy động lực lượng bí mật bằng nhiều đường, nhiều loại phương tiện vận chuyển vũ khí vào nội thành cất giấu. . . Để khắc phục mâu thuẫn giữa thời gian quá ngắn và nội dung chuẩn bị quá nhiều, các địa phương, các chiến trường đã phân cấp, phân hướng, trên dưới đồng thời chuẩn bị.

Trong điều kiện thời gian gấp, chiến trường chia cắt, hơn một triệu quân Mỹ, quân đội Sài Gòn, quân một số nước đồng minh của Mỹ với bộ máy kìm kẹp cùng mạng lưới tình báo, gián điệp, chỉ điểm giăng rộng và trà trộn khắp mọi nơi nhưng quá trình chuẩn bị của ta vẫn giữ bí mật tuyệt đối và cơ bản hoàn tất trước khi ngày giờ nổ súng bắt đầu.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #88 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 12:55:58 pm »

Cùng với quá trình chuẩn bị, các chiến trường mở đợt hoạt động Thu Đông 1967. Đợt hoạt động này nằm trong khuôn khổ giai đoạn 1 của kế hoạch tác chiến chiến lược.  Mục đích của đợt hoạt động này là trực tiếp tạo thế, tạo lực cho Tết Mậu Thân, buộc địch phải phân tán binh lực, nghi binh làm lạc hướng chú ý của chúng, tạo thêm điều kiện cho quá trình chuẩn bị của ta.

Vì thế, ở vùng ven đô thị và vùng nông thôn đồng bằng, lực lượng vũ trang ta được lệnh duy trì các hoạt động như lệ thường. Trong khi đó, chủ lực Quân giải phóng liên tiếp mở các chiến dịch có quy mô tương đối lớn ở khu vực rừng núi nhằm đánh bồi vào quân Mỹ, phá kế hoạch chuẩn bị phản công lần thứ ba của chúng và lôi kéo, ghìm chân một bộ phận quan trọng chủ lực Mỹ tại vòng ngoài. 

Chiến dịch Lộc Ninh - đường 13 của chủ lực miền Nam (27-10 đến 10-12-1967) ở khu vực rừng núi miền Đông Nam Bộ; chiến dịch Đắc Tô của lực lượng vũ trang Tây Nguyên đầu tháng 11- 1967) được mở ra là nhằm mục tiêu đó.

Qua các chiến dịch này, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn cho rằng: “Đối phương đã bị những thiệt hại nặng nề đến nỗi nỗ lực chính của Việt cộng và quân Bắc Việt Nam hiện nay phần lớn chỉ giới hạn ở vùng biên giới Nam Việt Nam” 1. 
 
Cùng với các hoạt động trên chiến trường miền Nam trong Thu Đông 1967, cơ quan chỉ đạo chiến lược đã đề ra các biện pháp nghi binh nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của bộ chỉ huy đối phương: tung bản tác chiến giả vào chiến trường, phóng thích hai tù binh “giặc lái” Mỹ về đoàn tụ với gia đình nhân dịp Nôen năm 1967, nhắc lại tuyên bố ngày 28-1-1967 của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, rằng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà sẽ nói chuyện với Chính phủ Hoa Kỳ sau khi phía Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc vô điều kiện . . .

Toàn bộ những hoạt động trên đây của ta không lọt qua sự chú ý của giới lãnh đạo nước Mỹ và Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn. Vào cuối năm 1967, họ đã đi tới nhận định rằng: trong năm 1968, trọng tâm hoạt động của đối phương sẽ là chống phá bình định, mở một số trận đánh dọc miền biên giới, tiến công các mục tiêu ở hai tỉnh Quảng Trị - Thừa Thiên, tìm cách bảo tồn lực lượng, cố gắng duy trì mức độ giao tranh như năm 1967.

Xuất phát từ nhận định này, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ chủ trương tiếp tục mở cuộc phản công chiến lược lần thứ ba, mùa khô 1967- 1968 mà hướng chủ yếu vẫn lại là miền Đông Nam Bộ và hướng quan trọng là Trị - Thiên nhằm duy trì thế giằng co, tránh mọi sự đảo lộn bất ngờ, chờ cho kỳ bầu cử Tổng thống mới ở Mỹ kết thúc sẽ tính toán bước đi tiếp theo. 

Ngày 28-12-1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp và hạ quyết tâm chuyển chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định 2. “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định” 3.

Về mục tiêu chiến lược của Tổng. công kích và tổng khởi nghĩa, Bộ Chính trị chỉ rõ: “đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc” 4.

Về hướng tiến công chiến lược, Bộ Chính trị quyết định sử dụng lực lượng quân sự của ta “căng địch ra khắp chiến trường. . . , điều động lực lượng quân sự của địch ra các chiến trường quan trọng và sử dụng những quả đấm mạnh đánh quỵ các binh đoàn chủ lực của địch” 5.


_
________________________
1. Neil Sheehan: Lời nói dối hào nhoáng, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, t.2, tr.392.
2. Nghị quyết này của Bộ Chính trị sau đó được Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1-1968) thông qua và trở thành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 của Trung ương Đảng. 
3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 29, tr. 50, 53, 54.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #89 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 12:57:48 pm »

Đó là đòn đánh chính của bộ đội chủ lực trong tổng công kích. Một đòn chính nữa “phải nhằm vào các thành thị quan trọng, kết hợp lực lượng xung kích về quân sự với lực lượng chính trị cửa quần chúng ở các thành thị và vùng nông thôn kế cận vùng dậy đánh sụp các cơ quan đầu não của Mỹ và nguỵ” 1. 

Bộ Chính trị xem “đó là đòn ác liệt nhất, đánh vào óc, tim, mạch máu của địch và, cũng là cách đánh tốt nhất để thực hiện ba mũi giáp công trong cả ba vùng chiến lược, để tiêu diệt sinh lực địch đến mức cao nhất làm sụp đổ chỗ dựa chính trị của địch và đè bẹp ý chí xâm lược của chúng” 2. 

Căn cứ vào Nghị quyết Bộ Chính trị được Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh gấp rút hoàn chỉnh lần cuối phương án tổng công kích - tổng khởi nghĩa và xác định cụ thể: cùng với đòn tiên công của bộ đội chủ lực ở hướng phôi hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là đường 9 - Khe Sanh, nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, một đòn tiên công chiến lược đánh vào thị xã, thành phố quy mô trên toàn miền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng nông thôn và đô thi, mở đầu cho tổng công kích - tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn, Gia Định, Đà Nẵng, Huê, trọng điểm là Sài Tròn - Gia Định, Huế - Đà Nẵng và các thành phố lớn.

Theo kế hoạch đã định, ngày 12-1-1968, liên quân Lào - Việt nổ súng mở màn chiến dịch tiến công Nậm Bạc, tiêu diệt địch ở Bắc Lào. Cùng lúc đó, tại miền Nam Việt Nam, các sư đoàn, trung đoàn chủ lực Quân giải phóng bắt đầu rời căn cứ, hướng về các trung tâm dân cư và đô thị. Đồng thời, một số sư đoàn chủ lực miền Bắc tập kết xung quanh khu vực rừng núi Khe Sanh, hình thành thế bao vây, uy hiếp căn cứ quan trọng này của địch.

Trước tình hình đó, ngày 13-1-1968, Oétmolen buộc phải ra lệnh huỷ bỏ kế hoạch mở cuộc phản công chiến lược lần thứ ba, lui các đơn vị quân Mỹ về giữ vùng quanh Sài Gòn; huỷ bỏ các cuộc hành quân mang mật danh York ở các tỉnh phía bắc; lệnh cho Sơ đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ thôi không từ Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ mà cùng Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 Mỹ chuyển ra tỉnh Thừa Thiên, tăng cường cho mặt trận phía bắc. –

Giữa lúc đó, đêm 20- 1- 1968, các đơn vị chủ lực ta tiến công tập đoàn cứ điểm Khe Sanh, uy hiếp tuyến phòng thủ đường 9 của địch. Chiến dịch này vừa mở ra đã thu hút tâm trí của giới lãnh đạo nước Mỹ.

Giônxơn chỉ thị cho tướng Tay lo lập phòng Tình hình đặc biệt tại Nhà Trắng và đích thân theo dõi diễn biến chiến sự Khe Sanh từng giờ. Ám ảnh vì một Điện Biên Phủ, Giônxơn lệnh cho các tham mưu trưởng liên quân Mỹ phải viết cam kết giữ vững Khe Sanh bằng mọi giá; lệnh cho Oétmolen hằng ngày phải gửi về Oasinhtưn báo cáo tình hình chiến sự Khe Sanh. 

Tại miền Nam, Oétmolen thành lập Sở chỉ huy tiền phương của Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại Vùng 1 chiến thuật để kịp thời chỉ huy toàn bộ lực lượng quân Mỹ và quân Sài Gòn ở mặt trận phía bắc và nhằm đối phó với ta ở Khe Sanh.  Toàn bộ lực lượng này, vào cuối tháng 1-1968 lên tới 40% .  tiểu đoàn bộ binh và thiết giáp mà Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ hiện có trong tay.

Các hoạt động nghi binh chiến lược, đặc biệt chiến dịch Khe Sanh mở màn trước Tết Mậu Thân 10 ngày, đã làm cho Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn và giới lãnh đạo Oasinhtưn bị lạc hướng. Trong khi phía Mỹ dồn tâm trí và lực lượng ra hướng đường 9 - Khe Sanh thì đêm 29 rạng ngày 30- 1- 1968, quân, dân các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung và Tây Nguyên đồng loạt tiến công vào các thành phố, thị xã, thị trấn, căn cứ quân sự, kho tàng, sân bay, sở chỉ huy... của địch, mở màn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 3. 

24 giờ sau khi quân dân các tỉnh ven biển miền Trung và Tây Nguyên nổ súng mở màn, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt nổ ra ở khắp các tỉnh và thành phố lớn miền Nam.  Bộ binh, đặc công, pháo binh, biệt động... ta, ngay từ đầu, đã đánh mạnh, đánh trúng các mục tiêu trọng yếu của địch ở Sài Gòn, Huế, Quảng Trị, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt, Tây Ninh, Bến Tre, Biên Hoà, Mỹ Tho, Cần Thư, Trà Vinh, Châu Đốc, Vĩnh Long, Cà Mau, Sóc Trăng, Rạch Giá . . . Hầu hết các cơ quan đẩu não, hệ thống căn cứ quân sự, các tuyến giao thông huyết mạch, hệ thống kho tàng, sân bay, bến cảng. . . của địch trên khắp miền Nam bị đồng loạt tiến công.


____________________________
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 29, tr.53, 54.
3 . Việc các địa phương Quân khu 5 nổ súng tiến công sớm hơn một ngày được giải thích là bởi trước Tết, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà công bố đổi lịch, tức ngày mồng một Tết Mậu Thân chậm hơn lịch cũ một ngày. Các địa phương Quân khu 5 nổ súng theo lịch cũ miền Nam. nên giờ nổ súng sớm hơn một ngày nếu so với lịch mới miền Bắc.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM