Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:19:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 11  (Đọc 139814 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #90 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 12:58:11 pm »

Sài Gòn - Gia Định là trọng điểm thứ nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Tại đây, để bảo vệ trung tâm chính trị, quân sự và kinh tế của chúng, Mỹ - nguỵ đã bố trí nhiều loại lực lượng, hình thành nhiều tuyến phòng thủ vững chắc, thiết lập một mạng lưới tình báo, gián điệp, mật vụ cùng hệ thống đồn bốt, trạm kiểm soát giăng khắp mọi nơi.

Dù vậy, ngay từ phút nổ súng đầu tiên, các đội biệt động trang bị gọn nhẹ đã bất ngờ và đồng loạt đánh vào các mục tiêu như Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu quân nguỵ, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh, Toà đại sứ Mỹ. Tuy nhiên, các mục tiêu khác, như Tổng nha cảnh sát, Biệt khu Thủ đô, khám Chí Hoà, nhà riêng Nguyễn Văn Thiệu..., ta không đánh được - vì lực lượng biệt động hoặc bị ngăn chặn trên đường hành quân hoặc bị nhầm mục tiêu.

Trong khi đó, lực lượng vũ trang của các ban, ngành, đoàn thể như Thanh niên, Công đoàn, Hoa vận, Phụ vận. . . cơ động đánh địch trên đường phố Sài Gòn. Các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu cũng tiến công mạnh vào những mục tiêu được quy định. 

Trên hướng đông và đông bắc thành phố, các đơn vị thuộc Phân khu 4 và Phân khu 5 đánh địch trên đường 13, khu vực Bình Triệu, xa lộ Biên Hoà, ngã tư Hàng Xanh...

Ở hướng tây nam, lực lượng Phân khu 2 phối hợp với Trung đoàn bộ binh 16 và lực lượng đặc công tiến công sân bay Tân Sơn Nhất, trụ bám đánh địch phản kích ở khu vực cầu Tham Lương. ở hướng nam, các tiểu đoàn mũi nhọn Phân khu 3 đánh chiếm khu vực Phú Định, lò Gốm, chợ Thiếc, cầu Nhị Thiên Đường, phường Bến Đá, phường Hùng Thái, phường Đa Phước.

Ở hướng bắc và đông bắc, lực lượng vũ trang Phân khu 1 đánh chiếm Bộ Chỉ huy thiết giáp nguỵ ở trại Phù Đổng, chiếm một phần Bộ Chỉ huy pháo binh nguỵ ở trại Cổ Loa, căn cứ tiểu đoàn pháo binh ở trại Nỏ Thần, căn cứ 80 quân cụ, căn cứ 60 truyền tin...

Xung quanh Sài Gòn - Gia Định, một loạt các căn cứ quân sự, trụ sở quân đội và chính quyền Sài Gòn ở Biên Hoà, Bình Dương, Hậu Nghĩa, Long An. . . cũng bị tiến Công.

Tại Huế - thành phố lớn thứ ba miền Nam với dận số 15 vạn người tính đến thời điểm cuối năm 1967, ngay từ đầu, hầu hết các cơ quan đầu não chính quyền và quân đội Sài Gòn ở Vùng 1 chiến thuật bị ta đánh chiếm. Rạng sáng ngày 1-2-1968, phần lớn cố đô Huế đã lọt vào tay Quân giải phóng.

Sáng ngày 3-2, quần chúng bắt đầu nổi dậy lùng diệt, truy quét ác ôn và tàn binh nguỵ, phá bỏ ách kìm kẹp, thiết lập chính quyền cách mạng. Tại một loạt thị xã, thị trấn, quận lỵ khác trên toàn miền Nam, nhiều mục tiêu trọng yếu trong nội đô cũng bị ta đánh chiếm. Nhiều nơi, nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ, truy lùng bọn ác ôn, giúp đỡ bộ đội dưới nhiều hình thức như chỉ đường, tiếp tế lương thực, cứu chữa thương binh, dựng chướng ngại vật trên đường phố. . .

Đòn tiến công bất ngờ và mãnh liệt vào đô thị buộc Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ phải co lực lượng từ các nơi về ‘cứu nguy, bỏ ngỏ vùng nông thôn. Nắm vững thời cơ, quân, dân các địa phương đẩy mạnh tiến công và nổi dậy giành chính quyền làm chủ ở nhiễn nơi, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn.

Bị tiến công rộng khắp ở đô thị và nông thôn, thoạt đầu, địch lúng túng chống đỡ. Nhưng ngay sau đó, chúng nhanh chóng điều động lực lượng, tổ chức phản kích. Cuộc chiến đấu giành giật các mục tiêu trong và ven đô thị - đặc biệt là Sài Gòn, Huế, diễn ra vô cùng quyết liệt do địch chiếm ưu thế áp đảo về quân số và hoả lực.

Tại Sài Gòn, lực lượng chiến đấu trong thành phố của ta bị bao vây bốn mặt, bị tổn thất nặng nề: gần 80% chiến sĩ biệt động bị hy sinh và bị bắt, 50% lực lượng các tiểu đoàn mũi nhọn bị thương vong, một số tiểu đoàn khác khi rút quân chỉ còn 1/5, 1/10 quân số...
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #91 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 01:00:45 pm »

Ở Huế, quân ta liên tục đánh địch phản kích và trụ vững suốt 25 ngày đêm, sau đó, đêm 22-2- 1968, được lệnh rút ra để bảo toàn lực lượng. . .

Từ tháng 3- 1968 trở đi, áp lực của ta xung quanh các đô thị giảm dần. Trên thực tế, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (đợt 1) đã kết thúc. Trong gần hai tháng, quân và dân ta ở miền Nam đã tiến công mãnh liệt vào 4 trong 6 thành phố lớn, 37 trong 44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ. Chúng ta đã đánh mạnh, đánh trúng 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 trong số 11 bộ tư lệnh sư đoàn quân Sài Gòn, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ cùng nhiều bộ tư lệnh lữ đoàn, trung đoàn, các tiểu khu, chi khu và hàng trăm các căn cứ quân sự, kho tàng, sân bay, bến cảng, đường giao thông.

Đặc biệt ta đã đánh chiếm và làm chủ Toà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn trong nhiều giờ, đã làm cho Nhà Trắng, Lầu Năm Góc Mỹ và phương Tây sửng sốt, kinh ngạc. Như vậy, đây là lần đầu tiên sau nhiều năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, toàn bộ hệ thống phòng thủ đô thị của Mỹ và chính quyền, quân đội Sài Gòn bị tiến công; hậu phương, hậu cứ chiến tranh của chúng trở thành chiến trường, nơi đọ sức quyết liệt giữa các bên tham chiến trong nhiều tuần, nhiều tháng.

Trong cuộc đọ sức đó, bằng lối đánh táo bạo và dũng mãnh, lực lượng vũ trang ta đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá huỷ, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh của địch, giáng đòn quyết liệt vào uy thế của quân đội Mỹ trên chiến trường Việt Nam, làm suy giảm vị trí và ảnh hưởng của chính quyền và quân đội Sài Gòn ở cả thành thị lẫn nông thôn.

Thành công đó của Tết Mậu Thân và những tác động mãnh liệt của nó đã dội về nước Mỹ, khiến giới lãnh đạo Mỹ phải kinh hoàng, phải soát xét lại toàn bộ đường lối và cách thức tiến hành chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

Dưới tác động của sự kiện Tết Mậu Thân, giới lãnh đạo cao cấp Oasinhtơn lần đầu tiên nhận thấy những nỗ lực quân sự của Mỹ ở Việt Nam “không chỉ không có tận cùng mà còn vô vọng” 1; nếu Mỹ vẫn tiếp tục theo đuổi chiến tranh Việt Nam theo chiến lược cũ thì phải gánh chịu hậu quả “không thể kể xiết cho vị tri kinh tế của Mỹ ở trong nước cũng như ở nước ngoài, cho sức mạnh quân sự của Mỹ ở những nơi khác và cho đời sống chính trị của Mỹ nữa” 2. . .

Thực tế đó đã buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn, vào đêm 31-3-1968, đơn phương tuyên bố chấm dứt thời kỳ mà ở đó, Mỹ cam kết đưa các lực lượng quân Mỹ vào cuộc chiến tranh trên bộ ở miền Nam Việt Nam, giảm dần vai trò chiến đấu trực tiếp của quân đội Mỹ, vai trò này sẽ trao cho quân đội Sài Gòn; đồng thời, chấm dứt mọi hành động của không quân, hải quân chống nước Việt Nam dân chủ cộng hoà từ vĩ tuyến 20 trở ra, sẵn sàng cử đại diện đàm phán với phía Việt Nam dân chủ cộng hoà. Cuối cùng, ông tuyên bố không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ tiếp theo.

Về chiến lược quân sự, Mỹ quyết định bỏ chiến lược tìm và diệt thay vào đó bằng chiến lược quét và giữ.  Với quyết định ngày 31-3-1968, Chính phủ Mỹ mặc nhiên thừa nhận sự thất bại của chiến lược chiến tranh cục bộ ở Việt Nam. Ngày 31-3, do đó, đã mở ra “một chương rất  nhiều ý nghĩa trong lịch sử can thiệp của Hoa Kỳ: cuộc chiến tranh Việt Nam đã đi đến hồi kết thúc”  3 đối với Hoa Kỳ. 

Sau Tết Mậu Thân, nhằm “đẩy địch vào thế thất bại liên tiếp ngày càng suy yếu, tan rã, không sao gượng dậy được làm cho chúng thất bại trên chiến trường, thất bại ở các thành thị lớn và thất bại ở ngay nước Mỹ”, Bộ Chính trị quyết định mở tiếp đợt tiến công tháng 5 và tháng 8- 1968 mà hướng chính vẫn nhằm vào đô thị.

Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tế không như đợt 1, trong đợt này các chiến trường, các địa phương được lệnh đánh theo khả năng. Để phối hợp chặt chẽ với đấu tranh ngoại giao, đợt tiến công tháng 5 và tháng 8 đều được thực hiện trước các phiên họp tháng 5 và tháng 8-1968 tại Hội nghị Pa ri.



_____________________________
1. Ký ức của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Clácclípphớt về cuộc họp với giới chức quân sự cấp cao sau Tết Mậu Thân 1968, Tạp chí Lịch sử quân sự dịch, số 1-1993.
2. G. Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980, t.1, tr.312.
3.Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Tlđd, tr.569.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Bảy, 2009, 01:04:25 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #92 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 01:03:24 pm »


Thực hiện quyết định của Bộ Chính trì, vào lúc 0 giờ 30 phút ngày 5-5- 1968, quân dân các chiến trường miền Nam đã đồng loạt tiến công bằng bộ binh và pháo binh vào 31 thành phố, thị xã, 58 thị trấn, quận lỵ; đánh trúng 10 bộ tư lệnh quân đoàn và sư đoàn, 30 sân bay, 20 căn cứ xuất phát hành quân của địch . . . Trong đợt này, chiến sự diễn ra ác liệt ở trọng điểm Sài Gòn - Gia Định và khu vực đường 9 - Khe Sanh.

Ở Sài Gòn - Gia Định: pháo binh ta đã nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất, Sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, tân cảng Sài Gòn, Tổng Nha cảnh sát, Biệt khu Thủ đô; đặc công, biệt động đột kích Đài truyền hình, cầu Phan Thanh Giản; chủ lực Miền và các tiểu đoàn mũi nhọn cùng bộ đội địa phương đánh sâu vào nội đô, chiếm giữ ngã tư Bảy Hiền, Trường đua

Phú Thọ, quận lỵ Gò Vấp, cầu chữ Y, cầu Bình Lợi, cầu Bình Hoà... trụ lại và đánh địch phản kích trong một số ngày.  Tại đường 9 - Khe Sanh, ta tăng thêm lực lượng, đánh bại các cuộc hành quân giải toả của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, siết chặt vòng vây xung quanh Tà Cơn, dồn địch lâm vào tình thế bị uy hiếp nghiêm trọng.

Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ buộc phải lệnh rút bỏ Khe Sanh nhằm bảo toàn lực lượng (tháng 6-1968) - sau khi đã bị hao tổn hàng nghìn quân và hàng trăm máy bay.

Sau đợt tiến công tháng 5, ta mở tiếp đợt tiến công tháng 8-1968. Trong đợt này, ta sử dụng pháo binh là chủ yếu đánh vào một số mục tiêu ở 27 thành phố, thị xã và 100 thị trấn, quận lỵ, chi khu quân sự địch . . .

Mặc dù bồi tiếp đòn nặng vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, nhưng nhìn chung, do tiến công liên tục và kéo dài trên quy mô rộng lớn, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của ta trong năm 1968 bị tổn thất nặng nề: 111.306 cán bộ, chiến sĩ và quẩn chúng cách mạng đã anh dũng hy sinh và bị thương.

Mặt khác, trong khi dồn sức tiến công vào đô thị, ta bỏ hở trận địa nông thôn. Lợi dụng tình hình này, địch tung quân đẩy bật chủ lực ta ra xa; đồng thời mở các chiến dịch bình định, đánh phá và tranh chấp quyết liệt những vùng chúng vừa bị mất.

Kết hợp với đánh phá bằng bộ binh, địch thẳng tay tàn sát nhân dân ta mà vụ Sơn Mỹ 1 là một điển hình ; sử dụng máy bay và pháo binh dội đạn ào ạt vào vùng tranh chấp, vừng giải phóng, triển khai các hoạt động Phượng Hoàng 2 đẫm máu và khét tiếng. . . Với nỗ lực và thủ đoạn mới, lại biết lợi dụng sơ hở của ta ở nông thôn, từ giữa năm 1968 trở đi, địch dần lấy lại những khu vực bị mất trước đó.

Thế trận và lực lượng chiến tranh nhân dân ta trên các chiến trường bị suy giảm, bị tổn thất; cách mạng miền Nam đứng trước tình thế đầy khó khăn và thử thách nặng nề. Tuy nhiên, địch cũng không đảo ngược được thế thua chúng buộc phải xuống tiếp một nấc thang chiến tranh. Ngày 1- 11- 1968, Mỹ đơn phương tuyên bố chấm dứt hoàn toàn mọi hành động chống phá nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chấp nhận nói chuyện trực tiếp với đại diện của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại hội nghị bốn bên ở Pari. 

Ngày 2-11-1968, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ra tuyên bố. Việc Mỹ chấm dứt không điều kiện ném bom, bắn phá trên toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà sau 4 năm chồng chất tội ác tày trời đối với nhân dân miền Bắc Việt Nam và sau 5 tháng làm bế tắc cuộc nói chuyện tại Pari, đánh dấu một thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam ở cả hai miền.

Đó cũng là thắng lợi của phe xã hội chủ nghĩa, của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào hoà bình, một thắng lợi của nhân dân toàn thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ.


______________________________
1. Vụ thảm sát Sơn Mỹ diễn ra ở vùng thị xã Quảng Ngãi ngày 16-3-1968. Một đơn vị quân Mỹ xả súng bắn chết cùng lúc hơn 500 người dân thường vô tội.
2. Tháng 7-1968, địch lập Uỷ ban Phượng Hoàng các cấp nhằm đánh phá cơ sở cách mạng miền Nam bằng các hoạt động ám sát, bắt cóc; nhân viên gồm những tên được tuyển mộ trong bọn ác ôn, nhận lương và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA).
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #93 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 01:10:38 pm »


Mặc dù phạm một số sai lầm, khuyết điểm về chỉ đạo và  thực hiện như “chủ quan trong việc đánh giá tình hình, cho nên ta đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó” 1, sau đợt 1, ta chậm chuyển hướng về giữ trận địa nông thôn. . . nhưng “cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) vẫn giữ một vị trí to lớn và oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” 2.

Ngày 23-4- 1994, Bộ Chính trị họp, sau khi nghe các ý kiến của các đồng chí cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư về Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, Bộ Chính trị kết luận như sau: “Tết Mậu Thân thắng rất lớn, mà nhất là đánh bại ý chí xâm lược Mỹ, tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh. Nhưng sau đó ta chuyển chậm, chủ trương tiếp tục các đợt tiến công vào các đô thị khi không còn điều kiện là sai lầm về chỉ đạo chiến lược để địch gây cho ta nhiều khó khăn và tổn thất” 3 .

Từ năm 1961 đến năm 1968 là khoảng thời gian mà ở đó, đế quốc Mỹ lần lượt triển khai hai chiến lược chiến tranh hòng tiếp tục âm mưu xâm lược và thống trị miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Cuộc chiến leo thang với quy mô ngày càng mở rộng và cường độ ngày càng khốc liệt trên cả hai miền Nam, Bắc trở thành cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc Mỹ xâm lược.

Trong cuộc đụng đầu lịch sử đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân, toàn quân ta đã triển khai và thực hiện có hiệu quả đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, đẩy mạnh chiến lược tiến công, đương đầu và đánh thắng các bước leo thang chiến tranh, làm phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt và chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.

Những thất bại liên tiếp, toàn diện và ngày càng nặng nề trong nỗ lực xâm lược Việt Nam đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới đời sống chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội của. nước Mỹ, làm suy giảm vị thế của Mỹ trên trường quốc tế Trong những điều kiện đó, giới lãnh đạo cao cấp Mỹ buộc phải tính toán, cân nhắc và thay đổi lại chiến lược quân sự toàn cầu, chiến lược chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Về phía Việt Nam, giành thắng lợi trong cuộc đương đầu với lục quân, không quân, hải quân Mỹ trên khắp hai miền, quân và dân ta đã tạo ra cơ sở vững chắc để đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiếp tục phát triển theo phương hướng chiến lược mới mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.


Chương III

ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG
ĐÁNH THẮNG MỘT BƯỚC QUAN TRỌNG CHIẾN LƯỢC
VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH, BUỘC ĐẾ QUỐC MỸ PHẢI KÝ HIỆP ĐỊNH PARI

I. ĐẾ QUỐC MÝ TIẾP TỤC XÂM LƯỢC VIỆT NAM BẰNG CHIẾN LƯỢC
 VIỆT NAM HOÁ CHIẾN TRANH VÀ MỞ RỘNG CHIẾN TRANH SANG CAMPUCHIA VÀ LÀO

Sau bốn năm đưa quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam và dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam, chẳng những Mỹ không đạt được một mục tiêu nào trong bốn mục tiêu đã đề ra 1, mà còn bị quân và dân ta đánh cho thất bại nặng nề, làm phá sản hoàn toàn chiến lược chiến tranh cục bộ.


__________________________
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 34, tr.215, 216.
3. Kết luận của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 23-4-1994, số 215-BBK/BCT.
4. Bốn mục tiêu Mỹ đề ra là:
- Tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng, phá chiến tranh du kích;
- Bình định nông thôn miền Nam;
- Củng cố nguỵ quân, nguỵ quyền, ổn định an ninh; Ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, bóp nghẹt cách mạng miền Nam.

Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #94 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 01:14:57 pm »

Thất bại này đã tác động sâu sắc đến tình hình  chính trị nước Mỹ, Níchxơn trong ngày nhậm chức Tổng thống (20-1-1969) đã phải thú nhận: “Nước Mỹ đang có khủng hoảng về tinh thần, mắc kẹt trong chiến tranh, cấu xé và chia rẽ nội bộ.

Cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây ra căng thẳng gay gắt với nước Mỹ không riêng về mặt kinh tế, quân sự mà cả xã hội cũng như chính trì. Sự bất đồng cay đắng đã xé rách cơ cấu đời sống tinh thần nước Mỹ và, bất kể kết quả chiến tranh như thế nào, vết xé rách vẫn còn lâu mới lành” 1. 

Níchxơn và những chiến lược gia Mỹ nhận thấy chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt thời Kennơđi, Giônxơn không có khả năng ngăn chặn và đẩy lùi phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân á - Phi - Mỹ Latinh, mà tiêu biểu là Việt Nam, nó đã tỏ ra lỗi thời trước cuộc tiến công của ba dòng thác cách mạng thế giới. 

Để cứu vãn tình hình đang thua, Tổng thống Mỹ Níchxơn sau nửa năm cầm quyền đã đề ra học thuyết Ních xởn và chiến lược quân sự toàn cẩu răn đe thực têl thay ‘ thế cho chiến lược phản ứng linh hoạt.

Nội dung chủ yếu của học thuyết Níchxơn là:

1. Chia sẻ trách nhiệm: Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho các nước đồng minh. Các nước đồng minh phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong khu vực. 

2. Xây dựng sức mạnh: Mỹ gánh chịu phần chủ yếu về lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng các nước đồng minh phải cùng Mỹ chung sức gánh vác việc xây dựng lực lượng tác chiến trên khu vực chiến trường.

3. Thương lượng: Mỹ thương lượng với các nước đồng minh thành lập những liên minh khu vực, thương lượng giải quyết xung đột xảy ra giữa các nước thứ ba, thương lượng với Liên Xô về việc hạn chế sự phát triển vũ khí chiến lược. 

Mục tiêu tập trung của học thuyết Níchxơn là ra sức phá hoại phe xã hội chủ nghĩa, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc duy trì và củng cố sự thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu mới Mỹ trong phạm vi toàn cầu . . . 

Chiến lược quân sự toàn cầu mới dùng sức mạnh làm nản lòng đối phương, một cách thực tê, gọi tắt là chiến lược răn đe thực tê chủ trương: duy trì lực lượng mạnh để giữ thế cân bằng và răn đe, đồng thời giữ mọi cam kết của Mỹ với đồng minh trên cơ sở cùng nhau chia sẻ trách nhiệm, nhưng Mỹ vẫn khẳng định vai trò lãnh đạo đối với “thế giới tự do”. 

Việt Nam hoá chiến tranh là sự áp dụng đầu tiên của học thuyết Ních xởn vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, mà thực chất là chính sách dùng người Việt đánh người Việt bằng vũ khí, kỹ thuật của Mỹ, do Mỹ điều khiển.  áp dụng học thuyết Níchxơn vào Việt Nam, trước tiên Mỹ điều chỉnh chủ trương phi Mỹ hoá thành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.

Nếu trước đây Giônxơn chủ trương phi Mỹ hoá nhằm đẩy quân nguỵ ra phía trước, quân Mỹ đứng phía sau yểm trợ bằng pháo binh, không quân để tránh cho quân Mỹ khỏi bị thương vong và từng bước rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự. Nay chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh là một kế hoạch hoàn chỉnh cả về quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là chiếm giữ miền Nam Việt Nam, nhưng quân Mỹ lui về phía sau để rút dần về nước, giảm bớt sự dính líu của quân chiến đấu Mỹ trên bộ. 

Le đơ (Laird) - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ coi Việt Nam hóa chiến tranh là học thuyết Níchxơn trong hành động, là “biện pháp kết thúc sự tham gia của Mỹ, bước mở đầu tăng cường lực lượng đồng minh ở châu Á”, “Việt Nam hóa nghĩa là chuyển dần cho người Việt Nam trách nhiệm về tất cả các mặt của cuộc chiến tranh và trách nhiệm quản lý các công việc của họ: Có một chính phủ mạnh hơn, một nền kinh tế mạnh hơn, một lực lượng cảnh sát mạnh hơn” 2. 

Níchxơn đánh giá: “Chính sách này thoả mãn được mục tiêu của chúng ta (Mỹ) là giảm bớt sự dính líu của Mỹ” 3. - Ngày 18-2-1970, Ních xởn công bố nội dung chính sách Việt Nam hóa chiến tranh: là một chương trình nhằm tăng cường khả năng tự vệ của chính phủ và nhân dân Nam Việt Nam bằng kế hoạch ba giai đoạn:


__________________________
1. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr.187-188.
2. Tuyên bố của Le đơ ngày 26-9-1969.
3. Thông điệp của Níchxơn ngày 25-2-1971.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #95 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2009, 01:53:36 pm »

Giai đoạn 1: Từng bước chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho quân nguỵ, rút dần quân chiến đấu trên bộ của Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam.

Giai đoạn 2: Chuyển giao nhiệm vụ trên không cho quân đội Sài Gòn, làm cho quân nguỵ đủ sức đương đầu với lực lượng cách mạng, giữ vững được Việt Nam và Đông Dương trong quỹ đạo của Mỹ.

Giai đoạn 3: Hoàn tất những mục tiêu của Việt Nam hoá chiến tranh. Củng cố kết quả đã đạt được. Việt cộng suy yếu và chiến tranh sẽ tàn lụi.

Trong ba giai đoạn đó, theo Mỹ, giai đoạn 1 (dự kiến thực hiện từ năm 1969 đến giữa năm 1972) là giai đoạn quan trọng nhất được chia làm ba bước để thực hiện:

Bước 1 (từ năm 1969 đến giữa năm 1970): Bình định một số vùng đông dân quan trọng. Xoá bỏ hoàn toàn các cơ sở cách mạng ở vùng ta kiểm soát. Rút một số đơn vị chiến đấu của Mỹ ra khỏi chiến trường Việt Nam. Khống chế và đẩy lùi lực lượng vũ trang giải phóng, làm cho ta không hoạt động được ở quy mô từ đại đội trở lên.

Bước 2 (từ giữa năm 1970 đến giữa năm 1971): Bình định được tất cả các vùng đông dân quan trọng. Làm cho lực lượng vũ trang cách mạng bị phân tán nhỏ, không hoạt động được từ cấp đại đội trở lên ở những vùng căn cứ. Hoàn thành kế hoạch hiện đại hoá quân nguy, rút phần lớn quân Mỹ về nước.

Bước 3 (từ giữa năm 1971 đến giữa năm 1972): CƠ bản bình định xong cả miền Nam. Lực lượng vũ trang cách mạng không còn hoạt động được ở các vùng căn cứ trên biên giới Lào, Campuchia. Quân nguỵ đủ sức đương đầu với khối chủ lực miền Bắc Việt Nam. Rút hết quân chiến đấu trên bộ của Mỹ về nước.

Để thực hiện kế hoạch chiến lược này, Mỹ đề ra các biện pháp cụ thể:

1. Phát triển và hiện đại hoá quân nguỵ để có đủ sức đối phó với ta, thay thế dần quân Mỹ bằng cách ráo riết bắt lính, tăng cường và đổi mới trang bị, vũ khí, ‘huấn luyện cấp tốc cho quân nguỵ về kỹ thuật, chiến thuật.

2. Ra sức xây dựng nguỵ quyền mạnh, ổn định an ninh, phục hồi và phát triển kinh tế Nam Việt Nam. 

3. Bình định cho được nông thôn và kiểm soát được đại bộ phận dân chúng. Đây là biện pháp chiến lược chủ yếu của Việt Nam hoá chiến tranh nhằm tiêu hao và đẩy lùi chủ lực ta ra khỏi các vùng đông dân, nhiều của, xây dựng cơ sở xã hội cho bọn tay sai, củng cố nguy quyền. . 

4. Bao vây đánh phá kinh tế, đánh phá đường hành lang vận chuyển chiến lược, cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, tăng cường chiến tranh ở Lào, mở rộng chiến tranh sang Campuchia, xúc tiến liên minh khu vực, đảm bảo cho Việt Nam hoá chiến tranh thành công. 

5. Xúc tiến thủ đoạn ngoại giao xảo quyệt, tranh thủ hoà hoãn giữa các nước lớn, đặc biệt là triệt để lợi dụng Trung Quốc, hạn chế viện trợ cho ta, tiến tới cô lập cách mạng Việt Nam và Đông Dương, buộc ta phải chấp nhận những điều kiện của Mỹ trong cuộc thương lượng tại Hội nghị Pa ri. 

Những biện pháp chiến lược nêu trên chứng tỏ bản chất ngoan cố hiếu chiến và thâm độc của đế quốc Mỹ. Việt Nam hoá chiến tranh không phải là sự rút lui, chịu thua để tìm một lối thoát gọn ghẽ cho Mỹ. Trái lại, Níchxơn đang tìm mọi cách giành giật với ta để kết thúc chiến tranh trên thế mạnh. 

Thực hiện kế hoạch của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, Mỹ gấp rút củng cố và phát triển quân nguỵ có đủ sức đảm nhận toàn bộ trách nhiệm về an ninh của Nam Việt Nam và làm lực lượng nòng cốt cho Khơme hoá, Lào hoá chiến tranh của Mỹ; đồng thời đẩy mạnh chương trình bình định, mở rộng chiến tranh sang Campuchia, Lào.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #96 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2009, 01:54:21 pm »

Việc phát triển quân nguỵ miền Nam được Níchxơn coi là nội dung chủ yếu thứ nhất của Việt Nam hoá chiến tranh.  Theo tính toán của Níchxơn, mỗi năm quân nguỵ phải tăng từ 50.000 đến 100.000 quân, để đến cuối năm 1971 quân đội chính quy Việt Nam cộng hoà đạt 1.100.000. 

Trong kế hoạch này, Mỹ chú trọng phát triển cả ba quân chủng hải, lục, không quân, nhưng ưu tiên củng cố và phát triển lục quân. Nếu năm 1969, lục quân nguỵ chia thành bốn loạt (lực lượng xung kích; lực lượng chống xâm nhập; lực lượng bảo vệ đô thị; lực lượng yểm trợ xây dựng nông thôn) thì từ năm 1970 trở đi, lực lượng này được tổ chức thành hai loại:

1 . Lực lượng lưu động làm nhiệm vụ thường xuyên đánh phá căn cứ, hệ thống tiếp vận của ta, đẩy lùi, ngăn chặn chủ lực ta trở lại hoạt động trong nội địa.

2. Lực lượng lãnh thổ làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh nội địa, bình định nông thôn.

Các sư đoàn chủ lực bộ binh được bổ sung quân số, hoàn thiện biên chế. 1 sư có 12 tiểu đoàn, một trung đoàn có 4 tiểu đoàn. Các đơn vị biệt kích được cải tổ thành các tiểu đoàn biệt động quân biên phòng (37 tiểu đoàn).  Hoả lực yểm trợ cho lục quân cũng được tăng cường. 

Trong ba năm từ năm 1968 đến năm 1970, Mỹ - nguy đã xây dựng thêm 20 tiểu đoàn pháo từ 105 đến 175 mm, trang bị thêm 600 khẩu đại bác, đưa tổng số pháo của quân nguỵ lên 1.300 khẩu và 10.000 súng cối các loại. Xe tăng, thiết giáp từ 1.037 chiếc năm 1968 lên 1.879 chiếc năm 1972.

Địch rất quan tâm xây dựng khối bộ binh cơ động, dù, thuỷ quân lục chiến. Khối bộ binh cơ động năm 1968 mới có 50 tiểu đoàn, chiếm tỉ lệ 18,6%, đến cuối năm 1970 tăng lên 90 tiểu đoàn (đạt tỉ lệ 42%) .

Với sự phát triển lục quân như trên, đến tháng 6-1970, theo Mỹ, quân nguỵ có thể đảm nhận hầu hết nhiệm vụ chiến đấu trên bộ.

Ngày 1-7-1970, Bộ Tư lệnh Lục quân nguỵ ở miền Nam chính thức được thành lập. Cùng với lục quân, hải quân cũng được phát triển. Cuối năm 1971 đầu năm 1972 lực lượng này đã lên đến gần 50.000 quân, với 1.600 tàu các loại hoạt động trên biển và trên sông.

Không quân nguy được củng cố và kiện toàn, quân số tăng nhanh từ 35.000 người năm 1968 lên hơn 50.000 người năm 1971. Với lực lượng dã được tăng cường. năm 1970, không quân nguỵ được tổ chức lại thành 6 sư đoàn, 1 phi đoàn liên lạc. 1 phi đoàn vận tải, 5 phi đoàn trực thăng, 3 phi đoàn khu trục.

Mỹ đã trang bị cho bộ binh quân đội Sài Gòn 70.000 súng M. 16 - loại súng trường cực nhanh và hiện đại nhất của quân đội Mỹ lúc đó và 30.000 súng phóng lựu, 10.000 súng máy các loại.

Bên cạnh lực lượng chủ lực, Mỹ còn chú trọng xây dựng, phát triển quân địa phương (bảo an dân vệ và phòng vệ dân sự), đây là lực lượng quân sự trực tiếp làm nhiệm vụ bình định và kìm kẹp đồng bào ta ở nông thôn. Từ năm 1969, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã xây dựng thêm nhiều đại đội, trung đội bảo an, dân vệ, và phòng vệ dân sự; bảo đảm mỗi xã có 2 trung đội phòng vệ dân sự, đưa dần lực lượng này thay thế cho dân vệ, lấy dân vệ đôn lên bảo an, bảo an đôn lên bổ sung cho quân chính quy.

Công tác đào tạo, huấn luyện cũng được Mỹ quan tâm nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng quân nguỵ. Đến đầu 1970, Mỹ - nguỵ đã mở 23 trung tâm huấn luyện 25 trường quân sự cho các cấp, các quân, binh chủng.  Sau ba năm thực hiện kế hoạch phát triển và hiện đại hoá quân đội, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thu được kết quả đáng kể.

Quân số lính nguỵ tăng nhanh, vũ khí. trang bị được hiện dại hoá với tỉ lệ khá cao (vũ khí đạt 98,7%, quân xa cơ giới đạt 100%, thiết giáp, chiến xa đạt 99%, vô tuyến điện các loại đạt 75%), Cơ Cấu, tổ chức được củng cố thêm một bước. Dù vậy, quân nguỵ cũng không thể sánh được với quân Mỹ về chất lượng. Việc thay thế dần quân Mỹ bằng quân nguỵ đương nhiên tạo ra thế bất lợi cho chúng.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #97 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2009, 02:16:05 pm »

Nội dung chủ yếu thứ hai của chiến lược Việt Nam hoá theo Níchxơn là vấn đề bình định.

Trong Việt Nam hoá chiến tranh. bình định không chỉ là một biện pháp chiến lược quan trọng mà còn là mục đích xâm lược của Mỹ. Vì vậy, Níchxơn coi bình định là trận cuối cửng, ai thắng trận này sẽ thắng cuộc chiến tranh. Theo Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì bình định, dồn dân vào các ấp Tân sinh, ấp Đời mới là biện pháp chiến lược quyết định sự tồn vong của chế dộ Sài Gòn và sự thành bại của Việt Nam hoá chiến tranh.

Cho nên, Mỹ và nguỵ quyền miền Nam chia bình định làm nhiều giai đoạn để thực hiện: Bình định cấp tốc (từ tháng 11-1968 đến tháng 6-1969); Bình đinh phát triển nông thôn (từ tháng 7-1969 đến tháng 6-1970); Bình đinh đặc biệt (từ tháng 7- 1970 đến tháng 2- 1971) rồi chương trình Cộng đồng tự vệ và phát triển nông thôn từ tháng 3-1971 đến tháng 3-1972), v.v..

Biện pháp cơ bản hàng đầu để thực hiện bình định là tăng cường mở rộng và đẩy mạnh quy mô, mật độ hành quân càn quét. Từ năm 1969, các cuộc hành quân càn quét của quân đội Mỹ, nguỵ tăng lên một cách đột ngột so với các năm trước đó, nhất là chiến trường Nam Bộ.

Năm 1968 có 2.192 cuộc hành quân càn quét, năm 1969 tăng lên 4.344 cuộc, song chỉ riêng 10 tháng đầu năm 1970 đã có tới 6.745 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên. Nếu tính cả hoạt động dưới cấp tiểu đoàn, thì năm 1969 có 10.980 cuộc, năm 1970 tăng lên 23.783 cuộc 1.
 
Cùng với tăng cường và đẩy mạnh hành quân càn quét, địch còn sử dụng tổ chức Phượng hoàng do Phân cục tình báo của Mỹ ở Sài Gòn lập ra từ cuối năm 1967 dưới danh nghĩa là Văn phòng phụ tá đặc biệt (OSA) để đánh phá cách mạng, hỗ trợ cho chương trình bình định từ năm 1969. 

Tổ chức này phát triển nhanh với quy mô to lớn và sâu rộng từ trung ương đến địa phương với phương thức hoạt động rất thâm độc như sử dụng các tổ chức tình báo, cảnh sát chìm kết hợp khai thác những đối tượng đầu hàng. đầu thú của ta, điều tra phân loại hạ tầng cơ sở cách mạng. Trên cơ sở đó phát hiện cộng sản nằm vùng hoặc những người có cảm tình với cách mạng để bắt giam và tiêu diệt.

Theo đánh giá của chính quyền Sài Gòn, từ năm 1969 đến giữa năm 1970 là thời kỳ bình định đạt kết quả tốt nhất..  Trong thời gian này địch đã chiếm lại được đại bộ phận vùng nông thôn giải phóng, kiểm soát được thêm nhiều dân. Chỉ tính riêng năm 1969, địch đã kiểm soát thêm được 2.622 ấp (tăng 34 %) và 2.932.700 dân (tăng 16.6%) so với năm 1968. 

Từ tháng 6- 1970, chương trình bình định của địch mới bị chặn lại. Những năm 1971 - 1972 công tác bình định của địch càng gặp khó khăn hơn. Cuối năm 1971, theo báo cáo của địch thì chúng đã kiểm soát được 7.194 ấp, chiếm 64,4% tổng số ấp loại A và B (loại ấp có an ninh vững - theo phân loại của địch) và 14,6 trệu/17 triệu dân toàn miền Nam lúc bấy giờ. Song theo đánh giá của Tômxơn (Thom xon) - cố vấn bình định của Níchxơn sau khi đi kiểm tra 117 xã ở miền Nam thì: “An ninh bấp bênh, 70% số xã có chế độ cộng sản, nếu không giải quyết ngăn chặn thì ngày nào đó cộng sản sẽ lật đổ chế độ” 2 . 

Một biện pháp chiến lược không kém phần quan trọng mà  Mỹ dã thực hiện trong Việt Nam hoá chiến tranh là mở các cuộc phản kích ra vòng ngoài nhằm đánh phá hậu phương, đánh phá vùng giải phóng, đánh phá căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến, đánh phá hệ thống giao thông tiếp tế hậu cần để cô lập và làm suy yếu lực lượng cách mạng. 

Không kể các cuộc hành quân hồ trợ trực tiếp cho công tác bình định. trong 3 năm (từ năm l969 đến năm 1971) Mỹ - nguỵ đã mở tất cả 27.968 cuộc hành quân phàn kích từ cấp tiểu đoàn trở lên. trong đó có 724 cuộc quy mô cấp sư đoàn trở lên. 4208 cuộc cấp trung đoàn với hàng chục ngàn lần chiếc máy bay chiến thuật và máy bay B 52 rải khoảng 62.3.113 tấn bom.


________________________
1. Theo Tài liệu tổng kết hành quân hàng năm của Trung tâm hành quân Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam cộng hoà (nguỵ).
2. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Sđd, tr.201.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Bảy, 2009, 02:37:03 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #98 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2009, 02:35:53 pm »

Địch tập trung chủ yếu vào việc đánh phá căn cứ, hành lang tiếp tế, cơ sở hậu cần, kinh tế nhằm ngăn chặn ta từ xa, thu hẹp phạm vi vùng giải phóng và đẩy chủ lực ta ra xa tận biên giới.

Cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống chính sách Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ trong những năm 1969 - 1970 vô cùng gian khổ và quyết liệt. Ta và địch đều cố giành nhau từng tấc đất, từng xóm làng. Địch dồn dân vào ấp Tân sinh, ta đấu tranh phá ấp, giải phóng dân. Trong cuộc dấu tranh đó địch đã gây cho ta muôn vàn khó khăn. Đây là một trong những thời kỳ khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua. 

Do ta bị tổn thất trong Tết Mậu Thân và các cuộc Tổng tiến công đợt 2, dợt 3 năm 1968 và đánh giá không sát đúng tính chất phức tạp, nham hiểm của chính sách Việt Nam hoá chiến tranh. địch lại ngăn chặn tuyến hành lang chiến lược ác liệt, tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam bị gián đoạn. làm cho đời sống của bộ đội và nhân dân vùng giải phóng thiếu thốn, sức chiến đấu giảm sút.

Ở Tây Nguyên, toàn bộ gạo tồn lại của năm l968 chỉ bằng 1/3 số tồn kho năm 1967. Dự trữ lương thực đến giữa năm 1969 chỉ nuôi được bộ dội trong khoảng 1 tuần. Ở cực nam Trung Bộ và Trị - Thiên. do địch (đánh phá ác liệt, nhất là việc chúng dùng chất độc rải thảm, phát quang cộng với thiên tai, mất mùa dẫn đến nạn đói hoành hành nghiêm trọng. Bộ đội trực tiếp chiến dấu ở tuyến trước chỉ được cấp phát mỗi người một ngày từ 1 đến 3 lạng gạo, tuyến sau chỉ ăn củ rừng, khoai, sắn thay cơm . . .

Ở Khu V, mỗi chiến sĩ trực tiếp chiến đấu một ngày ăn nửa lon gạo; còn cán bộ. chiến sĩ cơ quan thì 8 người mới được một lon gạo. Vì thế Khu V phải giải thể Sư đoàn 3. còn Sư đoàn 2 và các trung đoàn 141, 220 cùng một số đơn vị thu dung, phục vụ phải dưa ra đường 9 - bắc Quảng Trị.

Ở Tây Nguyên, các đơn vị không trực tiếp chiến đấu được đưa ra miền Bắc, một số đơn vị chiến đấu bổ sung cho B2. Các trung đoàn 66, 24, 28, 95, Tiểu đoàn 631 còn lại phải cơ động vào nam Tây Nguyên ăn gạo từ Campuchia chuyển sang. Ở Nam Bộ, địch lấn và chiếm lại gần hết vùng giải phóng của ta ở đồng bằng. Có nơi như ở Trà Vinh, Vĩnh Long chỉ qua hai đợt bình định cấp tốc, vùng giải phóng từ 182 ấp chỉ còn 1 ấp, vùng tranh chấp từ 192 ấp giảm còn 178 ấp. Lực lượng vũ trang ta ở đây cũng giảm sút rất nhanh, nhất là Tây Nam Bộ. Chỉ 6 tháng đầu năm 1969 du kích xã, ấp tại Tây Nam Bộ bi tổn thất trận 15.000 người. Bộ đội chủ lực quân khu 8 từ 2 trung đoàn dồn lại còn 1 : Quân khu 9: ba trung đoàn dồn lại còn một trung đoàn và một tiểu đoàn. Vùng giải phóng bị thu hẹp, mất bàn đạp và chỗ đứng chân ở đồng bằng. các sư đoàn 5.7.9 chủ lực Miền bị đẩy lên tận biên giới Campuchia.  Thừa cơ hội này. địch tăng cường hành quân, càn quét, lấn chiếm.

Trận chiến trường miền Đông Nam Bộ. Sư đoàn 1 kỵ binh không vận. Sư đoàn 101 dù. Sư đoàn 25 bộ binh cơ giới Mỹ luân phiên đánh phá dọc biên giới Việt Nam - Campuehia. Ở Tâỵ nam Bộ. Sư đoàn 21 bộ binh và Liên đoàn 4 biệt động nguỵ chốt chặn biên giới đoạn từ Kiến Tường đến kênh Vinh Tế.

Ở Khu V. Sư đoàn 1 lính thuỷ đánh bộ, Sư đoàn Amêricơn: Lữ đoàn dù 173 Mỹ cùng Lữ đoàn 2 Rồng Xanh thuỷ quân lục chiến và Sư đoàn Bạnh Mã (Nam Triều Tiên) đánh vào vùng căn cứ ta ở Giằng, Đại Lộc (Quảng Đà). An Lão, Kim Sơn, Núi Bà (Bình Định). Cây Vừng, Kỳ Lộ, Sông Hình (Phú Yên) . . . 

Cách mạng miền Nam dang đứng trước những thủ thách nghiêm trọng. Cục diện chiến trường tạm thời có lợi cho địch.  Trước tình hình đó, tháng 4-1969 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn. 

Bộ Chính trị nhận định, lợi dụng lúc ta khó khăn, định tập trung lực lượng phản kích quyết liệt trên nhiều hướng, làm cho lực lượng vũ trang, chính trị của ta bị tiêu hao, cơ sở của ta tiếp tục bị vỡ,vùng giải phóng bị thu hẹp. Tuy vậy, địch không mạnh mà là hành động điên cuồng trong thế thua, vì thất bại, suy yếu buộc phải xuống thang chiến tranh, nhưng lại muốn xuống thang trên thế mạnh, đó là một mâu thuẫn vốn có trong chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ. Mâu thuẫn đó càng bị khoét sâu khi chiến tranh kéo dài.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #99 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2009, 03:33:02 pm »

Bộ Chính trị chủ trương động viên những nỗ lực cao nhất của cả hai miền tiến công và nổi dậy tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực nguỵ, phá vỡ phương trình trình định, đánh đổ và làm suy yếu nguỵ quyền các cấp từ trung ương đến địa phương; khôi phục và mở rộng vùng giải phóng, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc chúng phải từ bỏ ý đồ kết thúc chiến tranh, rút quân Mỹ về nước trên thế mạnh. 

Thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm tăng cường công tác tơ tưởng, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang trên cả hai miền Nam - Bắc. 

Tại Hà Nội, tháng 5- 1969, Hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân được tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện thân mật với các đại biểu dự hội nghị. Bác chỉ thị cho quân đội: “Phải xây dựng lực lượng thật tốt, chất lượng thật cao. Luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giỏi. bảo vệ tốt miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Chú ý tiết kiệm sức người và sức của, giữ gìn thật tốt vũ khí, trang bị” 1. 

Cùng với việc tổ chức hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị về Kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng và điều chỉnh sôllượng bộ đội thường trực một cách thích hợp nhằm bảo đảm cho các đơn vị làm tốt nhiệm vụ chiến đấu ở miền Nam, bảo vệ miền Bắc, giúp cách mạng Lào và phát triển lực lượng khi cần thiết. Một đề án chấn chỉnh lực lượng do Bộ Tổng tham mưu đề xuất đã được . 

Quân uỷ Trung ương phê duyệt. Theo đó. các sơ đoàn, trung đoàn bộ binh chủ lực của Bộ Tổng tư lệnh và các quân khu được kiện toàn đủ quân số và trang bị. Khối cơ quan, đơn vị phục vụ thuộc quân: binh chủng, quân khu, nhà trường giảm bớt để tăng cường lực lượng trực tiếp chiến đấu. Đến cuối năm 1969. toàn quân đã kiện toàn một bước biên chế tổ chức các đơn vị. rút được 13.200 cán bộ. chiến sĩ tăng cường cho chiến trường.

Nhằm lao dám sức chiến đấu cho lực lượng vũ trang ở miền ~vam trong Lình hình mới. quân uy Trung ương và I3ộ Thông tơ lệnh quyết định diều động nhiều đơn vị với đủ quân số và trang bị vào chiến trường, đồng thời điều chỉnh các đơn vị chủ lực ở chiến trường cho phù hợp với khả năng bảo dám vật chất cũng như đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới trên từng địa bàn.

Vừa củng cố tổ chức, các lực lượng vũ trang ta ở miền Nam vừa tiếp tục tiến công và phản công dịch. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 1969, ta đã mở hai đợt hoạt động lớn.

Đợt hoạt động Xuân (từ ngày 22-2 đến ngày 30-3-1969) và đợt hoạt dộng Hè (từ ngày 11-5 đến ngày 2-6-1969).  Trong đợt hoạt động Xuân, quân và dân ta ở miền Nam đã đánh vào 36 thành phố, thị xã, trên 100 quận lỵ, nhiều kho tàng, sân bay, sở chỉ huy của Mỹ - nguỵ, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực địch.

Đợt hoạt động hè các lực lượng vũ trang ta đánh vào 830 mục tiêu của địch, trong đó có 57 căn cứ, sở chỉ huy từ cấp trung đoàn trở lên, 41 sân bay quân sự. Đáng chú ý trong đợt hoạt động này: ngoài những trận đánh vừa và nhỏ nhằm tiêu hao một bộ phận lực lượng địch. ta mở được một số chiến dịch và trận đánh lớn như chiến dịch Đắc Tô II ở Tây Nguyên (từ ngày (5-5 đến ngày 17-6-1969) chiến dịch Long Khánh ở miền Đông Nam Bộ (từ ngày 5-5 đến ngày 20-6-1969).

Ở Trị - Thiên. ta chặn đánh quyết liệt các cuộn tiến công của địch vào tuyến vận tải chiến lược ở các khu vực Côcava, Tam Tanh. A Lưới, A Bia. trong đó trận đánh ở đồi A Bia là trận đánh dẫm máu nhất đối với quân Mỹ. A Bia được báo chí Mỹ và phương Tây đặt cho cái tên là Hamburger (Đồi băm thịt), còn Thượng nghị sĩ Mỹ Kennơđi thì chua xót nhận xét: cuộc tiến công lên núi A Bia là vô dạo đức, là dã man, là vô nghĩa, vô trách nhiệm. Không thể đem sinh mệnh của người Mỹ làm vật hy sinh vì lòng tự ái quân nhân” 2.
 
Mặc dù trong nùa đầu năm 1969, ta tiếp tục tiến công,  tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận lớn lực lượng định, song do hoạt động liên tục và bị tổn thất nặng trong năm 1968, ta chưa có thời gian củng cố, nguồn tiếp tế từ miền Bắc vào gặp nhiều khó khăn, lực lượng và cơ sở vật chất có hạn, trong khi đó: địch phản kích quyết liệt, nhất là sau đợt hoạt động Hè đã đẩy đại bộ phận chủ lực ta bật lên vùng rừng núi.


_______________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.454.
2. AP ngày 21 -5- 1969.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM