Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:20:50 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 11  (Đọc 139878 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #110 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 03:25:04 pm »

Cánh chủ yếu do Chiến đoàn đặc nhiệm bao gồm Lữ đoàn 1 dù, 2 thiết đoàn số 11 và 17 theo đường 9 qua Lao Bảo đánh chiếm Bản Đôn, Sêpôn. Hai cánh khác ở phía bắc có Lữ đoàn 3 dù, Liên đoàn 1 biệt động quân và phía nam do Sư đoàn 1 bộ binh đảm nhiệm chiếm các điểm cao phía bắc đường số 9 và phía nam sông Sêpôn, khu vực Sai, Mường Noọng, bảo vệ hai bên sườn cho cánh quân chủ yếu.

Ngay khi địch vừa xuất phát hành quân, Bộ Tư lệnh mặt trận ra lệnh cho các lực lượng tại chỗ đánh ngăn chặn, làm chậm bước tiến của địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực cơ động đánh những trận tiêu diệt lớn.

Ở phía bắc đường 9, trong những ngày đầu tiên, lực lượng tại chỗ đã bắn rơi hàng chục máy bay lên thẳng của địch khi chúng đổ quân ương khu vực này. Kết hợp với lực lượng tại chỗ, các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 kịp thời cơ động lực lượng đến tiến công vào cánh quân bảo vệ sườn phía bắc của địch.  Đến ngày 3-3-1971, Lữ đoàn 3 dù và Liên đoàn 1 biệt động quân bảo vệ sườn phía bắc bị ta đánh thiệt hại nặng.

Phía nam, các chốt, điểm tựa phòng ngự trên các điểm cao do lực lượng tại chỗ của Đoàn 559 đảm nhiệm đánh địch đạt kết quả tốt và cùng với Sư đoàn 324 (thiếu) đẩy lùi được mũi tiến công phía nam của địch và đánh thiệt hại cánh quân này.

Trên hướng chủ yếu - trục đường số 9, trong hai ngày 8 và 9-2-1971, Trung đoàn 24 - Sư đoàn 304 và lực lượng tại chỗ của Đoàn 559 đã chặn đánh và bẻ gãy nhiều đợt tiến công vượt biên giới của quân nguỵ Sài Gòn, giữ vững điểm cao 351 .

Ngày 10-2-1971, địch dùng một lực lượng lớn với trên 100 xe tăng, thiết giáp chở Chiến đoàn đặc nhiệm có sự chi viện mạnh của hoả lực pháo binh, vượt qua trước điểm cao 351 lên Bản Đôn. Đồng thời chúng dùng máy bay lên thẳng đổ Tiểu đoàn 9 dù xuống Bản Đôn. Do điểm cao 351 cách xa đường (khoảng 400 in), địch lại dùng tốc độ cao kết hợp thả khói màu che khuất; hệ thống phòng ngự ở Bản Đôn của ta chưa đủ mạnh và chắc, nên ta đã để mất Bản Đôn. 

Từ ngày 10-2, một mặt, ta sử dụng lực lượng vây chặt địch tại Bản Đôn, kiên quyết không cho chúng phát triển lên Sêpôn, mặt khác, ta tiếp tục đánh cắt đường số 9 (đoạn Lao Bảo - Bản Đôn), nhằm chặn tiếp tế đường bộ và cô lập địch.  Hai cánh quân địch bảo vệ sườn phía bắc và nam đường 9 bị đánh thiệt hại nặng, lực lượng chủ yếu của địch bị ta vây chặt ở Bản Đôn không phát triển được, chúng buộc phải đưa lực lượng dự bị chiến lược vào tham chiến.

Ngày 28-2-1970, Lữ đoàn 2 dù, 2 thiết đoàn 4 và 7 (lực lượng phát triển lên Sêpôn theo kế hoạch chúng đã dự tính) được tung vào tăng cường phòng thủ Bản Đôn và bảo vệ đường 9, đoạn Lao Bảo - Bản Đôn.

Trong khi ở mặt trận chính, địch bị ta đánh thiệt hại trên các hướng phải co cụm chống đỡ không thực hiện được ý đồ đánh chiếm Sêpôn, thì ở tuyến sau, các lực lượng của Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị liên tiếp tổ chức các trận phục kích giao thông, pháo kích và tập kích vào các căn cứ hậu cần, sở chỉ huy của địch ở Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử . . . gây nhiều tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, ngụy.

Bị bất ngờ vì chủ lực ta xuất hiện sớm ngoài dự kiến, lại bị đánh thiệt hại nặng ngay từ đầu, nên địch lúng túng tìm cách đối phó. Trong thế bất lợi đó, để tiếp tục thực hiện ý đồ của cuộc hành quân, địch đã tăng cường thêm lực lượng và chuyển cánh phía nam (do Sư đoàn 1 bộ binh đảm nhiệm) thành hướng chủ yếu để phát triển lên Sêpôn. 

Từ ngày 3 đến ngày 6-3-1971, địch dùng máy bay lên thẳng đưa phần lớn Sư đoàn 1 bộ binh xuống chiếm các điểm cao 660, 723, Phu Rệp, Phu Om ở nam đường 9. Sau khi tạo được bàn đạp, chúng đổ 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 2 Sư đoàn 1 xuống đông bắc Sêpôn. Đồng thời, từ Bản Đôn, địch cũng tổ chức một mũi theo đường 9 đánh lên Sêpôn để phối hợp với 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 2 Sư đoàn 1 . 

Quyết không cho địch chiếm Sêpôn và tiến xuống Sađi - Mường Noọng, Bộ Tư lệnh chiến dịch điều Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320 lên phía tây để tăng cường giữ Sêpôn, dùng Sư đoàn 2 (thiếu) tiến công tiêu diệt Sư đoàn 1 bộ binh nguỵ Sài Gòn. Các Trung đoàn 2 của Sư 324, Trung đoàn 102 của Sư 308 và Trung đoàn 24 của Sư 304 đánh cắt đường 9 đoạn Lao Bảo - Bản Đôn và đánh địch từ Lao Bảo về Hướng Hóa.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #111 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 03:26:16 pm »

Sau khi Sư đoàn 1 của địch bị diệt, Sư đoàn 308 có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở Bản Đôn. Với sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị chủ lực cơ động với lực lượng tại chỗ, ta đã ngăn chặn các cánh quân địch. 

Ở cánh nam, khi địch vừa đổ quân xuống chiếm các điểm cao nam đường 9, chúng đã bị các lực lượng tại chỗ diệt 8 đại đội, bắn rơi 40 máy bay lên thẳng.

Ở đường 9, các trung đoàn 24 và 102 kiên cường đánh địch giải toả, diệt trên 300 tên, phá huỷ và phá hỏng nhiều xe tăng, xe bọc thép.

Ở Bản Đôn địch vẫn bị bao vây chặt. Các mũi quân địch đánh lên Sêpôn, chúng không thực hiện dược. Đường bộ bị cắt, đường không bị khống chế, hàng vạn tên nguỵ Sài Gòn ở đường 9 - Nam Lào lâm vào tình thế khốn đốn.

Chính Oétmolen đã thú nhận: “Quân Bắc Việt Nam phản công quyết liệt. Sức ép của họ hết sức nặng nề, hoả lực bắn máy bay của họ hết sức ác liệt, đến mức trong một số trường hợp không thể tiếp tế được, mà việc dùng máy bay trở thành phương tiện duy nhất còn lại. Thế rồi bắt đầu một việc làm khó khăn nhất trong tất cả hoạt động quân sự, rút lui trước cuộc tiến công mãnh liệt của đối phương” 1.
 
Vậy là dù đã đến cách Sêpôn 1 km, quân nguỵ Sài Gòn vẫn buộc phải tháo chạy dưới làn đạn truy kích mạnh mẽ của quân ta.

Bộ Chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị chuyển sang tiến công trên toàn tuyến, kiên quyết cắt đứt đường rút lui của chúng, không cho chúng rút nhanh, rút có tổ chức, rút an toàn, tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định.  Ở hướng chính, trên cơ sở thế trận bao vây, ta tập trung lực lượng đánh tập đoàn chiến dịch chủ yếu của địch đang co cụm ở Bản Đôn.

Ngày 13-3-1971, quân ta bắt đầu đột phá Bản Đôn. Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, ngày 18-3, địch bắt đầu rút khỏi Bản Đôn. Ta công kích vào toàn bộ khu vực Bản Đôn.  Đến ngày 20-3, ta đã diệt 1.762 tên, bắt sống 107 tên, thu và phá huỷ 113 xe quân sự, 24 khẩu pháo, bắn rơi 52 máy bay lên thẳng, trong đó có Lữ đoàn dù 3, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn trưởng.

Hỗ trợ cho hướng chính, ở cánh nam, ngày 16-3-1971, Sư đoàn 2 được tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 tiến công tiêu diệt đại bộ phận Trung đoàn 1 Sư đoàn 1 ngụy ở điểm cao 723 (Phu Rệp).

Ngày 20-3, Sư đoàn 2 tiếp tục tiến công diệt 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 2 - Sư đoàn 1 ở điểm cao 660. Ngày 22-3, Sư đoàn 324 đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147 thuỷ quân lục chiến ở điểm cao 550.

Ngày 23-3-1971, toàn bộ địch ở đường 9 - Nam Lào bị ta quét sạch. Chiến dịch kết thúc thắng lợi sau 45 ngày chiến đấu quyết liệt Ta diệt 2 lữ đoàn (Lữ đoàn dù 3 và Lữ đoàn 147 thuỷ quân lục chiến), 1 trung đoàn bộ binh (Trung đoàn 1 - Sư đoàn 1) và 5 tiểu đoàn khác tiểu đoàn 39 biệt động quân, Tiểu đoàn 8 dù, Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 3, Tiểu đoàn 2 và 4 Trung đoàn 2 - Sư đoàn 1), 4 thiết đoàn (4,7,11 và 17), 8 tiểu đoàn pháo (3 tiểu đoàn pháo của Sư đoàn 1, 2 tiểu đoàn pháo của Sư đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo của Lữ 147, 1 tiểu đoàn pháo của Biệt động quân và 1 tiểu đoàn pháo của Lữ đoàn kỵ binh không vận), đánh thiệt hại nặng Sư đoàn dù, Sư đoàn 1 bộ binh, Sư đoàn thuỷ quân lục chiến, bắn rơi và phá huỷ 556 máy bay (có 505 máy bay lên thẳng), 43 tàu, xà lan, 1. 138 xe quân sự (có 528 xe tăng và xe bọc thép), 112 khẩu pháo và súng cối cỡ lớn.

Đây là thắng lợi rất to lớn có ý nghĩa chiến lược, đúng như Bộ Chính trị đã đánh giá: Thắng lợi trên mặt trận đường số 9 - Nam Lào đã đánh bại một bước quan trọng, mở ra triển vọng hiện thực đánh bại hoàn toàn chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh và học thuyết Níchxơn ở Đông Dương của đế quốc Mỹ. Lực lượng tinh nhuệ nhất của Sài Gòn bị đánh quỵ cũng làm gục luôn vai trò nòng cốt của chúng để thực hiện học thuyết Níchxơn dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương, do đó thắng lợi có ý nghĩa rất lớn đối với cục diện chiến tranh, không những ở miền Nam nước ta mà cả ở hai nước bạn. . .


___________________
1. Oétmolen: Một quân nhân tường trình (Hồi ký), Nxb. Gorden City Doubldat and Company, New York, 1976, Thư viện Trung ương quân đội dịch, bản đánh máy, tr.97.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #112 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 03:27:36 pm »

Thắng lợi này là thắng lợi rực rỡ của đường lối chống Mỹ, cứu nước, của đường lối quân sự, của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta trong giai đoạn địch tiến hành chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, đỉnh cao của quá trình phiêu lưu mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương. Ta đã nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, tạo thế trận mới, tạo thời cơ chiến lược mới, phối hợp chặt chẽ giữa quân và dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia... theo tinh thần Đông Dương là một chiến trường, đẩy mạnh diệt địch và đánh phá bình định, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao.

Đây là thành công trong việc vận dụng nghệ thuật chiến dịch, điển hình là trong một chiến dịch tiêu diệt lớn, dã phát triển sáng tạo cách đánh được xây dựng qua quá trình chiến tranh cách mạng mang kiểu cách Việt Nam. Đồng thời nó cũng cho ta nhiều kinh nghiệm rất cơ bản trong việc chỉ đạo tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang, nhất là đối với bộ đội chủ lực” 1.

Để có thắng lợi này, bộ đội ta thương vong không ít, 2.163 đồng chí hy sinh, 6.176 đồng chí bị thương. Ngày 31-3-1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng dã gửi thư khen ngợi cán bộ, chiến sĩ trên Mặt trận đường 9 - Nam Lào đã “đánh giỏi, thắng giòn giã, lập chiến công xuất sắc”. 

Song song với cuộc hành quân Lam Sơn 179, địch sử dụng lực lượng tới 23.000 quân, có 15 phi đoàn máy bay Mỹ yểm trợ mở cuộc hành quân Toàn thắng 1- 71. Mục tiêu mà không đặt ra trong cuộc hành quân này là phối hợp với đường 9 - Nam Lào, phân tán lực lượng ta, tiêu diệt một bộ phận quan trọng chủ lực Quân giải phóng, phá căn cứ, kho tàng, hệ thống giao thông chiến lược, giải toả đường 7, lập phòng tuyến ngăn chặn ở Đông Bắc Campuchia. 

Cùng với đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Lào, trên hướng Campuchia, ta bẻ gãy cuộc hành quân Toàn thắng 1-71, loại khỏi vòng chiến đấu 17.000 tên địch (có 15.000 nguỵ Phnôm Pênh, 180 tên Mỹ, bắn cháy 1.500 xe quân sự (có 750 xe tăng, xe bọc thép), bắn rơi 200 máy bay các loại phá hỏng 180 khẩu pháo.

Đây là thắng lợi có ý nghĩa rất quan trọng. Thắng lợi này đã đập tan cố gắng cuối cùng của địch đánh sang Campuchia, tiêu diệt một số sinh lực quan trọng của chúng, phối hợp và chia lửa với chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào và chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Quang Trung 4 ở Tây Nguyên. 

Sau thất bại của cuộc hành quân Toàn thắng 1- 71, địch tập trung lực tương cố giữ cho được Snun hòng duy trì bàn đạp tiến công lấn chiếm vùng căn cứ cách mạng, hạn chế mọi hoạt động của lực lượng vũ trang ta trong mùa mưa năm 1971.

Snun là một thị trấn thuộc tỉnh Krachiê, cách thủ đô Phnôm Pênh 184 km về phía đông bắc và cách Sài Gòn 136 km về phía bắc, cách biên giới Việt Nam - Campuchia 20 km, nằm ở đầu mối giao thông then chốt nối đường 13 và đường số 7, có vị trí chiến lược quan trọng. Lực lượng địch đóng ở đây có 1 chiến đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 5, 1 tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp và Trung đoàn thiết giáp số 1 của quân đội Việt Nam cộng hoà nguỵ miền Nam Việt Nam). 

Từ ngày 25-5-1971, Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7 chủ lực Miền phối hợp với quân và dân Campuchia tổ chức bao vây và tiến công mạnh vào quân địch ở Snun. Địch phản kích quyết liệt hòng nới rộng vòng vây của ta. Sau 5 ngày cố thủ, địch đã bị ta đánh thiệt hại nặng. Trước tình thế nguy ngập, trưa 30-5-1971, địch tháo chạy khỏi Snun theo đường 13 về Việt Nam.  Bộ đội ta tiếp tục truy kích.

Đến ngày 31-5, toàn bộ chiến đoàn bộ binh địch cùng Trung đoàn thiết giáp số 1 và Tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp bị tiêu diệt. 1.500 tên địch chết và bị thương, 300 tên bị bắt, gần 200 xe quân sự bị tịch thu và phá huỷ, 40 máy bay bị bắn rơi. Đây là một trong những trận đánh hay, thắng lớn của bộ đội ta trên chiến trường Đông Bắc Campuchia.


_______________________
1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975 - Những sự kiện quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản, 1988, tr.241-242.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #113 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 03:28:03 pm »

Cuộc hành quân Quang Trung 4 trên địa bàn Tây Nguyên bắt đầu từ ngày 27-2-1971. Lực lượng địch tham gia trong cuộc hành quân này là Trung đoàn 42 thuộc Sư đoàn bộ binh 23, Liên đoàn 2 biệt động quân. Địch triển khai hành quân trong khi các đơn vị chủ lực Tây Nguyên đang chuẩn bị đợt tác chiến Xuân Hè 1971 trên hướng Đắc Siêng.

Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên lập tức chuyển phương án sang phản công địch. Từ ngày 27-2 đến ngày 4-3-1971, các trung đoàn 66, 28, 31 đã đánh thiệt hại nặng các tiểu đoàn 1 và 2 của Trung đoàn 42, Tiểu đoàn 22 biệt động quân ở khu vực Ngọc Tô Ba. .  Vừa ra quân đã bị tổn thất nặng, địch phải rút khỏi Ngọc Tô Ba về phòng ngự trên tuyến Lây Cần - Đắc Mót - Tân Cảnh.

Lực lượng vũ trang Tây Nguyên từ phản công chuyển sang tiến công, hướng chủ yếu nhằm vào điểm cao Ngọc Rinh Kua - một vị trí quan trọng trên tuyến phòng ngự cơ bản của địch ở bắc Tây Nguyên. Tại điểm cao này, ngày 31-3-1971, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66 cùng Đại đội đặc công 19 đã đánh diệt một tiểu đoàn địch, làm chủ trận địa.  Ngay ngày hôm sau, Đại đội 8 pháo binh thuộc Trung đoàn 40 dùng chính những khẩu pháo đã thu được ở Ngọc Rinh Rua bắn phá căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh.

Mất Ngọc Rinh Rua, tuyến phòng ngự của dịch bị vỡ một mảng quan trọng.  Quân đoàn 2 nguỵ vội mở cuộc hành quân Quang Trung 6 nhằm giải toả khu vực này. Liên tục từ ngày 1 đến ngày 16-4-1971, địch dùng tới 20 tiểu đoàn thuộc các sư đoàn 22, 23, Liên đoàn 2 biệt động quân, Lữ đoàn 2 dù ra phản kích, song không chiếm lại được vị trí đã mất, ngược lại chúng còn bị diệt thêm 3 tiểu đoàn, 9 tiểu đoàn khác bị đánh thiệt hại nặng. Quân uỷ Trung ương đã gửi điện khen bộ đội Tây Nguyên “Đánh giỏi, lập công xuất sắc, trưởng thành nhanh chóng”.

Như vậy, trên cả ba hướng địch mở các cuộc hành quân lớn là Đông Bắc Campuchia, đường 9 - Nam Lào và vùng Ngã ba biên giới đều bị ta đánh bại. Ta không chỉ tập trung lực lượng bẻ gãy ba cuộc hành quân lớn, trên các chiến trường từ Trị - Thiên đến Nam Bộ, các lực lượng vũ trang ta hoạt động tích cực gây cho địch nhiều thiệt hại.

Ở Trị - Thiên, ta chặn đứng cuộc hành quân Lam Sơn 720 với ý đồ đánh lên miền tây Thừa Thiên của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 600 tên, bắn rơi 30 máy bay. 

Khu V, quân và dân Quảng Nam làm phá sản cuộc hành quân Quyết thắng 20B của 12 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 2 nguỵ đánh vào các huyện Đại Lộc, Quế Sơn.  Nam Bộ, quân ta đánh vào các hậu cứ, sở chỉ huy sân bay và các cụm phòng ngự của địch dọc biên giới thuộc các tỉnh Bình Long, Phước Long, Tây Ninh.

Những thất bại liên tiếp trên chiến trường ba nước Đông Dương cho thấy quân chủ lực nguỵ Sài Gòn không thể đảm đương nổi vai trò xung kích trên bán đảo Đông Dương, chúng đã suy yếu nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Mỹ chủ trương xây dựng, phát triển nguỵ Lonnon với hy vọng lực lượng này có thể tự đảm đương nhiệm vụ đối phó với phong trào cách mạng ở Campuchia để quân chủ lực Sài Gòn rút về Nam Việt Nam.

Cuộc hành quân lớn dầu tiên mà quân nguỵ Phnôm Pênh thực hiện trong chính sách Khơme hoá chiến tranh của Mỹ là hành quân Chenla II bắt đầu từ ngày 20-8-1971.  Bộ Tư lệnh Miền sử dụng Sư đoàn 9 và C40 (bộ đội bảo vệ căn cứ) mở chiến dịch phản công, kiên quyết đánh bại cuộc hành quân của địch.

Suốt 100 ngày đêm chiến đấu liên tục, các lực lượng vũ trang ta đã phối hợp chặt chẽ với bạn, bao vây chia cắt, cô lập địch ra từng khúc trên suốt tuyến đường 6 dài 60 km từ Snun tới Côngpông Thom để tiêu diệt từng bộ phận. Ngày 13- 11, ta mở cuộc tiến công tiêu diệt Lữ đoàn 17 của địch ở Run Luông. Ngày 28, 29- 11 ta đánh chiếm 9 vị trí ngoại vi từ Ba Rá đến Côngpông Thom . Đến ngày 1-12-1971, hầu hết các vị trí then chốt của địch đều bị ta chiếm. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, Lonnon ra lệnh rút toàn bộ lực lượng khỏi đường 6.

Ngày 3-12-1971, cuộc hành quân Chenla II của địch kết thúc. Trên 12.000 tên nguỵ Lon Non bị tiêu diệt, gần 2.000 tên (có 1.000 dân vệ) bị bắt sống. Trong số này, có nhiều tên là chỉ huy tiểu đoàn, lữ đoàn. Với thắng lợi này ta đã giáng một đòn rất nặng vào âm mưu Khơme hoá chiến tranh của Mỹ, định dùng ngụy Lon Non làm lực lượng cơ động mạnh đánh vào sau lưng ta. Đồng thời, ta tăng thêm uy thế chính trị cho cách mạng Campuchia và phát huy mạnh mẽ quyền chủ động trên chiến trường.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #114 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 03:28:23 pm »

Ở Lào, sau thất bại đường 9 - Nam Lào (3-1971), cao nguyên Bôlôven (6- 1971), Mỹ vẫn ngoan cố tìm cách khống chế khu vực Cánh Đồng Chum - một vùng chiến lược quan trọng, nhằm giữ lợi thế về quân sự và chính trị ở Lào, hòng kiềm chế, thu hút một bộ phận chủ lực ta ở đây, tạo điều kiện cho nguỵ Sài Gòn rảnh tay hoạt động ở Nam Việt Nam.

Lợi dụng mùa mưa , từ tháng 7- 197 1, Mỹ đưa quân đánh thuê Thái Lan và phỉ Vàng Pao từ Sảm Thông - Long Chúng lấn chiếm vùng Cánh Đồng Chum. Lực lượng địch sử dụng vào cuộc hành quân này lên tới 33 tiểu đoàn. Kế hoạch của chúng là đánh chiếm toàn bộ Cánh Đồng Chum và theo đường 7 tiến đến sát biên giới Việt - Lào. Song kế hoạch này không thực hiện được. Bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng Lào đã ngăn chặn, đẩy lùi các cuộc tiến công của địch, buộc chúng phải co lực lượng về phòng ngự tại khu vực Cánh Đồng Chum.

Tháng 12-1971, ta và bạn mở chiến dịch tiến công khôi phục lại Cánh Đồng Chum. Ngày 18-12-1971, chiến dịch mở màn. Chỉ sau ba ngày (từ 18 đến ngày 20- 12- 1971), ta phá vỡ toàn bộ tập đoàn phòng ngự vòng ngoài của định từ Cánh Đồng Chum đến Mường Sủi gồm các cụm phòng ngự Phu Tâng - Phu Tợn - Phu Keng, địch phải bỏ Cánh Đồng Chum rút về Sảm Thông - Long Chúng. Bộ đội ta tiếp tục truy kích địch. 

Giải phóng Cánh Đồng Chum là thắng lợi to lớn của cách mạng Lào, đánh dấu bước tiến mới về nghệ thuật tổ chức và trình độ tác chiến tập trung hiệp đồng binh nhung của bộ đội ta và bạn. Với chiến thắng này, quân Thái Lan - chỗ dựa của quân nguỵ Lào bị giáng một đòn nặng.

Cùng với những thắng lợi to lớn về quân sự trên chiến trường ba nước Đông Dương, mặt trận chống phá bình định ở miền Nam Việt Nam cũng giành được những kết quả đáng kể.

Theo nhận định của Bộ Chính trị, năm 1971, địch tập trung lực lượng đánh sang Lào và Campuchia, ở trong nước, chủ lực địch còn lại mỏng và sư hở. Đây là điều kiện thuận lợi để ta phá chương trình bình định của chúng. Bộ Chính trị đã điện cho Trung ương Cục, Quân uỷ Miền và các khu uỷ ở miền Nam “đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, đập tan kế hoạch bình định của địch”.

Được sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Chính trị, từ Trị - Thiên, Khu V, Tây Nguyên đến đồng bằng Nam Bộ, phong trào chống phá bình định phát triển.  ở Trị - Thiên, đến cuối năm 1971, ta đã giải phóng thêm 40 thôn xã vùng giáp ranh và tranh chấp với địch, làm chủ về ban đêm 117 thôn, xây dựng được cơ sở cách mạng ở 472 thôn trong tổng số 841 thôn. Kế hoạch bình định của địch bị đẩy lùi một bước.

Khu V, lực lượng vũ trang và nhân dân bức hàng loạt cứ điểm, đồn bốt địch ở các tỉnh Quảng Đà, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên... Từng mảng hệ thống ấp chiến lược và khu dồn dân của địch được giải phóng.  Nổi bật trong năm 1971 là phong trào chống phá bình định ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là vùng căn cứ U Minh.

Từ đầu năm 1969, địch nhiều lần tổ chức những cuộc hành quân lớn nhằm bình định lấn chiếm U Minh nhưng đều thất bại. Cuối năm 1970. địch tổ chức cuộc hành quân lấn chiếm lần thứ ba với lực lượng gồm 2 sư đoàn (Sư đoàn 9 và Sư đoàn 21 bộ binh), 2 liên đoàn biệt động quân, Lữ đoàn B thuỷ quân lục chiến, Thiết đoàn 9 và nhiều giang đoàn có sự yểm trợ của không quân. Đây là cuộc hành quân quan trọng nhất trong toàn bộ kế hoạch bình định của địch ở đồng bằng sông Cửu Long.

Rút kinh nghiệm hai lần trước, địch không tập trung quân đánh phá ồ ạt mà phân tán thành từng bộ phận nhỏ, đánh lấn từng bước, chiếm đến đâu củng cố đến đó. Với những thủ đoạn nham hiểm, biện pháp đánh phá ác liệt, địch đã gây cho ta nhiều thiệt hại. Ở U Minh, tính bình quân trong những ngày này, mỗi người dân phải gánh chịu tới 700 kg bom đạn, rừng tràm bị huỷ diệt đến 70%. 

Tháng 6- 1971, về cơ bản địch đã chiếm được U Minh Thượng, một phần U Minh Hạ, chúng còn đặt kế hoạch “tô dày”, “lấp kín” U Minh, sau đó mở rộng lấn chiếm nam Cà Mau.  Trước tình hình trên, được sự chỉ đạo của Trung ương Cục Bộ Tư lệnh Miền, Đảng uỷ - Bộ Tư lệnh Quân khu 9 tập trung lực lượng 3 trung đoàn (2, 10 và 20) mở đợt phản công đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm U Minh của địch.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #115 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 03:28:45 pm »

Theo dự kiến, đêm 7 rạng ngày 8-9-1971, cuộc phản công bắt đầu. Song kế hoạch bị lộ, nên từ chiều ngày 6-9, địch đã bắn pháo vào khu vực ta ém quân, đồng thời dùng trực thăng đổ quân bao vây. Ta buộc phải nổ súng sớm. Chỉ sau 2 giờ chiến đấu ta đã diệt gọn Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 33 và Đại đội trinh sát thuộc Sư đoàn 21 nguỵ. Địch đưa Trung đoàn 31 đi cứu nguy cũng bị Trung đoàn 2 chặn đánh làm thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn.

Đêm 7 rạng ngày 8-9-1971, Trung đoàn 10 diệt căn cứ Nỗng Cạn (xã Khánh Lâm). Đây là Sở Chỉ huy nhẹ của Trung đoàn 32, có 1 tiểu đoàn địch đóng giữ. Cùng đêm, Trung đoàn 20 đánh thiệt hại nặng căn cứ Rọ Ghe.  Ngày 12-9-1971, đợt phản công vào U Minh kết thúc. Ta diệt 1 căn cứ, 1 đồn, 2 sở chỉ huy nhẹ cấp trung đoàn, 2 tiểu đoàn, 5 đại đội, đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn khác, loại khỏi vòng chiến đấu 2.057 tên địch.

Chiến dịch Nhổ cỏ U Minh lần thứ ba của địch bị thất bại. Chương trình bình định ở miền Tây Nam Bộ bị chững lại Căn cứ U Minh được giữ vững, củng cố và mở rộng.  Phối hợp với U Minh, bộ đội đặc công Quân khu 9 đánh thiệt hại nặng căn cứ Xẻo Rô và chi khu Thứ Ba. Trung đoàn 1 ở Long Mỹ đánh quỵ 11 đại đội bảo an, diệt 3 đồn ở xã Xà Phiên. Trung đoàn 3 hoạt động ở Vĩnh Trà diệt một số đồn bốt tạo thế mới cho phong trào. ở Sóc Trăng, bộ đội đặc công diệt chi khu Phú Lộc. ở Cà Mau, Tiểu đoàn 3 U Minh tập kích địch ở Rau Dừa và cùng với bộ đội, du kích huyện Cái Nước diệt 5 đồn ở tuyến Bình Hưng, đưa 11.000 dân trở về quê cũ làm ăn.

Cuộc chiến đấu chống phá địch bình định ở Trung Nam Bộ, Đông Nam Bộ diễn ra không kém phần quyết liệt. Tại Trung Nam Bộ, từ ngày 30-3 đến ngày 1-5- 1970, Quân khu 8 liên tiếp mở ba đợt hoạt động A, B, C để đánh phá bình định, mở vùng. Tuy nhiên sau hai đợt hoạt động (A, B), ta bị tiêu hao nhiều, lực lượng bổ sung thiếu nên không mở được đợt C. 

Sang năm 1971, lợi dụng lúc địch tập trung đội phó với ta trên hướng đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và vùng Ngã ba biên giới, Quân khu 8 đẩy mạnh đánh phá bình định. Cuối năm 1971, phong trào chống phá bình định ở Khu VIII đã có chuyển biến rõ rệt.

Miền Đông Nam Bộ, năm 1970, tình hình chống phá bình định còn nhiều khó khăn. Năm 1971, lợi dụng lúc địch đánh sang Campuchia và bị ta đánh bại ở đó, quân và dân Đông Nam Bộ kết hợp tiến công quân sự với đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng giải phóng các sở cao su nằm trên tỉnh lộ 2 như Tráng Lớn, Xà Bang, Quang Minh, Tân Việt Nam, Hoà Lạc, Việt Cường. . . Ta khôi phục và xây dựng được cơ sở ở một số vùng địch tạm chiếm; củng cố thế trận chiến tranh nhân dân ở vùng Đất Đỏ, chiến khu Minh Đạm tỉnh Bà Rịa.

Trên toàn miền Nam, năm 1970, địch kiểm soát được 7.200 ấp và khu dồn, đến năm 1971 chúng chỉ còn kiểm soát được 4.860 ấp, khu dồn. Chương trình bình định của địch thụt lùi một bước nghiêm trọng. Chính Tômxơn (Thom son) - một chuyên gia về bình định trong một báo cáo mật gửi cho Níchxơn, đã thừa nhận: Tình hình bình định nông thôn đang suy sụp Lực lượng làm nhiệm vụ an ninh yếu. Chủ lực buộc phải đối phó ở vòng ngoài không thể rút về được. Tinh thần quân địa phương kém, nhất là sau Nam Lào và Snun. Do đó, nếu Việt cộng đánh mạnh, chương trình bình định có thể thất bại.

Thắng lợi về quân sự cũng như trên mặt trận chống phá bình định đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị, binh vận phát triển. Ở Huế, năm 1971 có 68 cuộc đấu tranh chính trị do Tỉnh uỷ Thừa Thiên tổ chức đòi Mỹ rút về nước, đòi lật đổ chính quyền tay sai với 65 vạn vượt người tham gia.

Tại Sài Gòn - Chợ Lớn, phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên và nhân dân lao động đều tập trung vào khẩu hiệu đòi Mỹ phải rút nhanh, rút hết, đòi hoà bình, độc lập. Trong ba tháng (từ tháng 12-1970 đến tháng 2-1971) đã có 37 xe Mỹ bị đốt cháy. Nhiều truyền đơn phản đối sự có mặt của Mỹ ở Việt Nam được rải khắp các phố, chợ và cả trước Toà Đại sứ Mỹ.  Phong trào Nghe đồng bào tôi nói và nói cho đồng bào tôi nghe lan rộng trong học sinh, sinh viên từ Huế đến Sài Gòn. 

Nổi bật hơn cả trong phong trào học sinh, sinh viên ở các thành phố lớn là đấu tranh chống chế độ quân sự hoá học đường của nguỵ. Ở Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Cần Thơ, nhiều phòng quân sự học đường đã bị đốt. Sinh viên còn thành lập các ban vận động đòi bỏ chương trình huấn luyện quân sự học đường, tổ chức mít tinh, biểu tình, bãi khoá với các khẩu hiệu: Chương trình huấn luyện quân sự học đường là âm mưu khát máu của đế quốc Mỹ, Mỹ cút, ngụy nhào, quân sự học đường dẹp. . .

Cuối năm 1971, học sinh, sinh viên lại một lần nữa thể hiện vai trò của mình trong việc cùng nhân dân chống bầu cử Hạ viện và Tổng thống độc diễn của Mỹ - nguỵ.  Phong trào không chỉ giới hạn trong học sinh, sinh viên.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #116 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 03:39:36 pm »

Trong công nhân cũng diễn ra những cuộc đấu tranh lớn. Đáng chú ý là đấu tranh của công nhân Hãng pin Con Ó.  Cuộc đấu tranh được sự đồng tình ủng hộ của các nghiệp đoàn nên đã giành được thắng lợi.

Ở các vùng nông thôn nổi lên phong trào đấu tranh của nông dân chống đích cào nhà, gom dân . . .

Trong năm 1971 , phong trào đấu tranh chính trị ở miền Nam có bước phát triển mới góp phần quan trọng đẩy nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn suy sụp tinh thần, hỗ trợ tích cực cho ta giành thắng lợi to lớn trên mặt trận quân sự, chính trị. Khối chủ lực cơ động của quân đội Sài Gòn bị đánh quỵ, phải co về phòng ngự chiến lược và chiến dịch. Chương trình bình định bị chặn lại. Kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh của địch bị đẩy lùi một bước nghiêm trọng. Ta đã dần dần giành lại thế chủ động trên chiến trường.

Trung ương Cục miền Nam khẳng định: mặc dù ta và địch còn giằng co quyết liệt nhưng tình hình nông thôn đã vượt qua thời kỳ khó khăn nghiêm trọng nhất. Ta đã chặn địch lại được, đã đánh lùi chúng ở nhiều nơi và đang tạo ra những điều kiện hết sức cơ bản để tiến lên đánh bại chúng” 1.

Đó là những cơ sở để Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương xác định quyết tâm chiến lược giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải thương lượng với ta ở Pan trong thế thua để chấm dứt chiến tranh, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị mọi mặt để kiên trì cuộc kháng chiến trong trường hợp chiến tranh kéo dài.


III- CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC NĂM 1972 Ở MIỀN NAM
VÀ CHIẾN THẮNG B52 Ở MIỀN BẮC, HIỆP ĐỊNH PARI ĐƯỢC KÝ KẾT.

Những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của ta trên chiến trường ba nước Đông Dương trong năm 1971 đã tạo ra một cục diện mới có lợi cho ta. Một thời cơ lớn của cách mạng đã xuất hiện .

Tháng 5- 1971, Bộ Chính Trị Trung ương Đảng họp xác định nhiệm vụ cần kíp cho quân và dân ta là: Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến  trường miền Nam và cả chiến trường Đông Dương, đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh cửa Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và ở Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời, chuẩn bị, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài 2.

Sau Hội nghị Bộ Chính trì, tháng 6- 1971, Quân uỷ Trung ương họp để nghiên cứu tình hình và bàn biện pháp thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị. Quân uỷ Trung ương nhận định: “Tình hình đang chuyển biến mau lẹ đòi hỏi ta phải có một sự cố gắng cao nhất, tranh thủ thời gian, khắc phục khó khăn, nhược điểm, xây dựng thế và lực của ta trên chiến trường lên nhanh hơn nữa, kịp thời nắm lấy thời cơ, hành động bất ngờ, giành lấy thắng lợi cao nhất, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh rút hết quân Mỹ, đánh cho nguỵ quân, nguy quyền tan rã, sụp đổ một bước nghiêm trọng” 3. 

Về địch, Quân uỷ Trung ương nhận thấy: Mặc dù bị thất bại nặng nề trong Xuân Hè 1971, nhưng đế quốc Mỹ chưa từ bỏ âm mưu cơ bản của chung là “bám giữ miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia, duy trì chủ nghĩa thực dân mới bằng Việt Nam hoá chiến tranh, làm cho ta suy yếu phải chịu thua, hoặc chúng chấm dứt được chiến tranh bằng thương lượng trên thế mạnh” 4.


_______________________
1. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục miền Nam lần thứ 11, tháng 10-1971, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
2. Xem: Nghị quyết Bộ Chính trị, tháng 5-1971, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
3, 4. Nghị quyên Quân uỷ Trung ương, tháng 6-1971, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #117 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 03:41:05 pm »

Quân uỷ Trung ương xác định quyết tâm chiến lược năm  1971- 1972 là : “Tập trung mọi cố gắng, đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị trên cả ba vùng chiến lược ở miền Nam Việt Nam và khắp cả chiến trường Đông Dương” 1.

Quân uỷ dự kiến ba hướng tiến công chiến lược trong năm 1972: “Hướng chủ yếu số 1 là chiến trường biên giới Campuchia và miền Đông Nam Bộ, hướng chủ yếu thứ hai là chiến trường Tây Nguyên; hướng phối hợp quan trọng là miền núi tây Trị - Thiên”. Trị - Thiên tuy là hướng phối hợp quan trọng “nhưng lại gần miền Bắc, có điều kiện bảo đảm hậu cần, vì vậy cần phải gấp rút chuẩn bị để có thể đánh lớn khi cần thiết hoặc có lợi 2.

Phương hướng hoạt động chung cho toàn chiến trường miền Nam là: “Phối hợp đòn chủ lực mạnh ở rừng núi với phong trào tiến công nổi dậy mạnh ở đồng bằng phong trào đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang mạnh ở đô thị, tiến công vào ba chỗ dựa của chính sách Việt Nam hoá chiến tranh, tạo nên một cục diện mới có lợi cho ta trong trường hợp ngừng bắn, tạo điều kiện để đưa phong trào cách mạng tiến lên một cách vững chắc trong tình hình mới” 3. 

Đối với miền Bắc, Quân uỷ Trung ương nhấn mạnh: Phải ra sức củng cố và nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu cho các lực lượng vũ trang nhằm đối phó với các đợt oanh tạc của không quân, hải quân địch, tiêu diệt biệt kích và tập kích nhỏ, đánh bại mọi hành động xâm lược phiêu liêu quân sự của địch. Muốn vậy cần có lực lượng cơ động mạnh sẵn sàng đối phó kịp thời, khi cần thiết có lực lượng bổ sung đầy đủ cho miền Nam.

Tháng 2-1972, Quân uỷ Trung ương họp. xác định:

Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất là tập trung chỉ đạo chiến tranh và tăng cường miền Nam. Nhân lúc Mỹ - nguỵ vừa thua to trên cả chiến trường ba nước Đông Dương, nước Mỹ lại đang ở vào thời điểm chính trị nhạy cảm của cuộc chạy đua vào Nhà Trắng, Quân uỷ Trung ương quyết định nắm lấy thời cơ thuận lợi, tập trung lực lượng đánh bại địch bằng ba đòn chiến lược:

- Một là, đòn tiến công của bộ đội chủ lực trên những hướng và chiến trường có lợi cho ta, nhằm tiêu diệt lớn và đánh quỵ lực lượng chủ lực nguỵ.

- Hai là, đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng. Kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh vận, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích và phong trào nổi dậy của quần chúng.

- Ba là, đòn đấu tranh của nhân dân các đô thị, kết hợp đấu tranh cách mạng của quần chúng, làm rối loạn hậu phương địch, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ của nguỵ quyền Sài Gòn và mâu thuẫn giữa Mỹ với tay sai. 

Căn cứ vào kết quả công tác chuẩn bị của ta và sự thay đổi về thế bố trí chiến lược của ta và địch trên chiến trường, ngày 11-3-1972, Thường vụ Quân uỷ Trung ương họp, chính thức quyết định phương hướng cuộc tiến công chiến lược năm 1972 như sau: Trị - Thiên, trước xác định là hướng phối hợp quan trọng, nay chuyển thành hướng chiến lược chủ yếu. 

Miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên hướng chủ yếu số 1 và 2, nay cùng với Khu V đẩy mạnh tác chiến quy mô vừa và lớn tạo thành một cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam nhằm: Tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam, đưa cuộc kháng chiến tiến lên một bước mới.

Về hướng tiến công chiến lược chủ yếu, Quân uỷ Trung .  ương xác định đây là một trong những hướng chiến lược rất quan trọng. Tại đây, ta sẽ mở một chiến dịch quy mô lớn, một chiến dịch hợp đồng binh chủng, một chiến dịch tổng hợp cả về quân sự và chính trị. Nhiệm vụ của chiến dịch:

1. Tiêu diệt thật nhiều lực lượng quân sự, thật nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, nhất là quân chủ lực của chúng, đập vỡ tuyến phòng thủ của địch, phát triển tiến công thắng lợi.


_____________________
1, 2, 3. Nghị quyết Quân uỷ Trung ương tháng 6-1971, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #118 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 03:41:56 pm »

2. Phối hợp với phong trào quần chúng ở đồng bằng, đô thị, các vùng địch còn kiểm soát, hỗ trợ cho quần chúng tiến công và nổi dậy, phá kìm kẹp giành quyền làm chủ, đánh bại kế hoạch bình định của địch, củng cố thế ba vùng vững mạnh của ta .

3. Giải phóng những khu vực có điều kiện và khi có thời cơ thuận lợi, ra sức mở rộng vùng giải phóng của ta. 

4. Thu hút, giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng đích, phối hợp chặt chẽ với các chiến trường khác. 

5. Rèn luyện và phát triển lực lượng quân sự và chính trị của ta về mọi mặt.

Trong các nhiệm vụ trên, nhiệm vụ hàng đầu có tính chất quyết định là tiêu diệt thật nhiều lực lượng quân sự địch, nhất là quân chủ lực của chúng, nhanh chóng làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta để tiến lên giành thắng lợi quyết định.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, từ cuối năm 1971, công tác chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị vật chất cho cuộc tiến công chiến lược đã được khẩn trương tiến hành. Trên tuyến vận tải chiến lược, Đoàn 559 vừa củng cố mở rộng tuyến đường Đông Trường Sơn, vừa xây dựng con đường kín Tây Trường Sơn. Nhờ vậy trong mùa khô 1971- 1972, khối lượng hàng vận chuyển từ miền Bắc vào các chiến trường tăng gấp hai mùa khô năm 1970 - 1971.

Cùng với mạng đường chiến lược, mạng đường chiến dịch cũng được gấp rút xây dựng. Trên các chiến trường, bộ đội công binh, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến và nhân dân địa phương mở đường chiến lược Bắc - Nam đến Lộc Ninh và xẻ núi bạt đồi mở nhiều tuyến đường ngang chạy từ tây sang đông, nối trục đường chiến .  lược xuống các vùng tây Trị - Thiên, tây Quảng Nam. 

Với hệ thống đường chiến lược, chiến dịch khá hoàn chỉnh, từ hậu phương miền Bắc, vật chất chi viện cho chiến trường miền Nam vào đầu năm 1972 tăng vọt. Chỉ trong quý I năm 1972, lượng hàng mà Đoàn 559 vận chuyển tương đương cả năm.

Cùng với vật chất, quân bổ sung cho các mặt trận cũng được tăng cường. Nhiều sư đoàn, trung- đoàn bộ binh, pháo binh, công binh, cao xạ, tăng thiết giáp cùng hàng ngàn thợ sửa chữa, cán bộ kỹ thuật được điều động vào chiến trường. Lực lượng tại chỗ cũng được củng cố, xây dựng.

Ở miền Đông Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Miền thành lập Sư đoàn 75 pháo binh và Trung đoàn 26 thiết giáp. Quân khu 5, Sư đoàn 3 bộ binh được bổ sung đủ quân số và trang bị, quân khu thành lập thêm Sư đoàn 711 bộ binh. Chiến trường Trị-Thiên, bộ tăng cường 7 trung đoàn pháo xe kéo từ 85 mm trở lên và một số tiểu đoàn độc lập. Đây là chiến dịch triển khai pháo binh lớn nhất của ta gồm 14 loại pháo, đạn miền Bắc hiện có, trừ hai loại pháo phòng thủ bờ biển chưa dùng. Pháo binh ta hình thành ba cấp: pháo chiến dịch, pháo sư đoàn và pháo đi cùng đội hình trung đoàn bộ binh tiến công. Pháo binh chiến dịch triển khai trên một chính diện rộng từ 50 đến 100 km, nghĩa là từ phòng tuyến nam - bắc đường 9 đến Huế.

Bộ Tư lệnh chiến dịch được tổ chức để chỉ huy hướng chủ yếu này gồm các dông chí: Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng - Tư lệnh chiến dịch, Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị - Chính uỷ kiêm Bí thơ Đảng uỷ chiến dịch. Các đồng chí Cao Văn Khánh, Giáp Văn Cương, Doãn Tuế, Hồng Sơn, Anh Đệ, Lương Nhân, Lê Tự Đồng, Hoàng Minh Thi được cử làm Phó Tư lệnh, Phó Chính uỷ chiến dịch. Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo hướng chiến lược quan trọng Trị - Thiên.

Ở Tây Nguyên, ta mở chiến dịch Đắc Tô. Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm các đồng chí: Trương Chí Cương (Tư Thuận), Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng - Chính uỷ chiến dịch. Đồng chí Hoàng Minh Thảo - Tư lệnh, đồng chí Trần Thế Môn - Phó Chính uỷ.  Tại miền Đông Nam Bộ, Trung ương Cục, Quân uỷ, Bộ Chỉ huy Miền mở chiến dịch Nguyễn Huệ. Trung tướng Trần Văn Trà được cử làm Tư lệnh chiến dịch, Thiếu tướng Trần Độ Chính uỷ.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #119 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 03:43:02 pm »

Ngày 23-3-1972 Bộ Chính trị chính thức thông qua kế hoạch tiến công chiến lược năm 1972. Trong lúc ta đang gấp rút dồn sức chuẩn bị cho chiến dịch, địch vẫn chủ quan cho rằng: “Từ năm 1969 đến nay, hầu hết các đơn vị chủ lực cộng sản đã rút ra ngoài biên giới không yểm trợ cho hạ tầng cơ sở được. Từ đó đến nay, hạ tầng cơ sở của cộng sản vẫn thưa được phục hồi. Cộng sản còn ở thế bị động về chiến lược, chiến thuật và đang thiếu thốn trầm trọng, nhất là đạn dược, tinh thần cán binh giảm sút, tuyển mộ khó khăn, số hồi chánh tăng, mức độ hoạt động của cộng sản trong năm 1972 sẽ tương tự như 6 tháng cuối năm 1971. Có thể việc chống phá bình định được tăng cường hơn và đẩy mạnh hoạt động trong dịp bầu cử Tổng thống Mỹ tháng 11- 1972” 1. 

Với nhận định trên, địch vẫn giữ thế bố trí lực lượng mạnh ở hai đầu và tăng quân ra các vùng biên giới để bịt kín hành lang, phá cơ sở hậu cần của ta.

Ở Trị - Thiên, địch bố trí 2 sư đoàn bộ binh tăng cường, 3 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp 13 tiểu đoàn và 5 đại đội pháo binh với 258 khẩu pháo cùng 4 tiểu đoàn, 94 đại đội bảo an, hơn 5.000 cảnh sát... Lực lượng này phòng thủ trên hai tuyến đường 9 - Quảng Trị và Thừa Thiên, lấy Quảng Trị làm trọng điểm. ở Tây Nguyên, địch củng cố tuyến phòng thủ Đắc Tô - Tân Cảnh do Sư đoàn 22 nguỵ đảm trách.

Khi phát hiện Sư đoàn 320 và Sư đoàn 2-Quân khu 5 có mặt ở Tây Nguyên, địch liền điều Lữ đoàn 2 dù và tiếp sau là cả Sư đoàn dù nguỵ từ Sài Gòn ra cùng với Tiểu đoàn 11 biệt động quân tổ chức thêm tuyến phòng ngự lâm thời bên bờ tây sông Pô Cô để ngăn chặn ta và tăng cường củng cố tuyến phòng ngự cơ bản bắc Kon Tum.

Ở Nam Bộ, để giữ cửa ngõ Sài Gòn, đề phòng ta tiến công, địch củng cố tuyến phòng thủ biên giới chạy dọc theo các tỉnh Bình Long, Tây Ninh. Ba sư đoàn chủ lực 9, 25, 18 và 456 xe tăng, thiết giáp, 396 khẩu đại bác, 67 liên đội, 146 đại đội bảo an cùng hàng chục vạn dân vệ, phòng vệ dân sự được bố trí phòng giữ trên hai hướng đường 22 và đường 13, trong đó đường 22 là hướng chủ yếu. Địch tin rằng, ta không có khả năng đánh lớn vào các tuyến phòng ngự của chúng để chọc vào đô thị và vùng đông dân, mà chỉ mở đợt hoạt động vừa trên hướng Tây Nguyên và đánh phá bình định ở đồng bằng.

Tết Nguyên đán Nhâm Tý (1972) qua đi, địch không thấy ta có hoạt động gì lớn, chúng càng chủ quan. Đột nhiên, ngày 30-3-1972, ta đồng loạt nổ súng tiến công vào các tuyến phòng thủ đường 9 - Quảng Trị, Kon Tum (Tây Nguyên) rồi miền Đông Nam Bộ. Địch hoàn toàn bất ngờ cả về thời gian, hướng chủ yếu cũng như quy mô, cường độ cuộc tiến công.  Chúng lúng túng, bị động điều quân đối phó khắp nơi. 

Trên hướng chủ yếu Quảng Trị, đúng 11 giờ ngày 30-3, cùng lúc pháo binh ta thực hiện “bão táp 1” đánh vào tuyến phòng thủ nam - bắc đường số 9, tiêu diệt căn cứ Động Toàn, Ba Hồ, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Quán Ngang, Đầu Mầu. Ta đã đập vỡ hoàn toàn vỏ cứng của tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch đánh chiếm nhiều bàn đạp quan trọng, tiêu diệt một bộ phận lớn lực lượng địch, phát động được quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.

Ngày 2-4-1972, ta cùng 34 khẩu pháo 130 mm bắn 3.700 viên đạn vào điểm cao 241, buộc Trung đoàn 56 nguỵ xin ta ngừng bắn để đầu hàng. Được pháo chiến dịch chi viện mạnh mẽ, Trung đoàn 24 (Sư 304) được tăng cường 1 đại đội xe tăng tiến công điểm cao. Chỉ sau vài giờ chiến đấu, quân ta hoàn toàn làm chủ căn cứ.

Cùng ngày, trung đoàn 27 và 48 (Sư 320) đánh thiệt hại cánh quân địch phản kích tại Cùa (gồm 1 trung đoàn thiết giáp và 1 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến) hỗ trợ nhân dân nổi dậy giải phóng hoàn toàn huyện Cam Lộ.

Ngày 3-4-1972, pháo binh ta tập trung bắn dồn dập hơn 6.000 quả đạn vào căn cứ Mai Lộc và miếu Bái Sơn, yểm trợ mạnh mẽ cho Trung đoàn 66 (Sư 304) tiến công Sở Chỉ huy Lữ đoàn 147 thuỷ quân lục chiến ở Mai Lộc, Trung đoàn 36 - Sư đoàn 308 tiến công miếu Bái Sơn. Tiểu đoàn bảo vệ Sở Chỉ huy Lữ đoàn 147 không chống cự nổi trước sức tiến công của ta đã tháo chạy và bị diệt gần hết. Ta giải phóng toàn bộ khu vực này.


____________________
1. Kế hoạch quân sự hỗn hợp AB 147 của Bộ Tổng Tham mưu quân lực Việt Nam cộng hoà, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM