Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:36:51 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 11  (Đọc 139873 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #120 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 03:46:11 pm »

Trung đoàn 36 sau khi tiến công miếu Bái Sơn buộc Trung đoàn 57 nguỵ rút chạy, đã vượt sông Cam Lộ đuổi đánh Trung đoàn 5 ngụy đến tận phía bắc thị trấn Đông Hà. Tiểu đoàn bộ binh cơ giới của trung đoàn nhanh chóng thọc sâu về phía đông thị trấn. Song, trên đường cơ động, tiểu đoàn bị máy bay địch ném bom trúng đội hình phải dừng lại củng cố. Quân địch ở Đông Hà vô cùng hoang mang, nhưng lực lượng ta ở phía sau lên không kịp, ta bỏ lỡ cơ hội đánh chiếm Đông Hà sớm hơn dự kiến.

Tính đến ngày 4-4- 1972, sau 6 ngày tiến công liên tục ta đã phá vỡ tuyến phòng thủ đường 9 - bắc Quảng Trị của địch, diệt 4 căn cứ trung đoàn, 7 căn cứ tiểu đoàn, loại khỏi vòng chiến đấu Trung đoàn 56, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 2 và Lữ dù 147, giải phóng hoàn toàn hai huyện Gio Linh, Cam Lộ. 

Ở Tây Nguyên, ngày 30-3-1972, cùng lúc với tiếng súng mở màn chiến dịch ở hướng chính Trị - Thiên, Trung đoàn 52 và một tiểu đoàn của Trung đoàn 48 - Sư 320 tiến công vào tuyến phòng thủ tây sông Pô cô, vây ép Tiểu đoàn dù 2 ở điểm cao 1.049 và các chốt phụ cận, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn dù 2. Địch buộc phải đưa tiếp Lữ đoàn dù 3 ra tuyến phòng thủ tây sông Pô Cô.

Để nhanh chóng đập vỡ tuyến phòng thủ ngăn chặn của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho Trung đoàn 48 - sư đoàn 320 tiến công diệt Tiểu đoàn dù 11 ở điểm cao 1.01(5 (căn cứ Sácli). Đợt tiến công đầu tiên không thành, Trung đoàn 64 phải củng cố và rút kinh nghiệm, đến ngày 14-4 mới tiến công tiếp. Tiểu đoàn 11 dù bị diệt, tuyến phòng ngự của địch bị chọc thủng. Sư đoàn dù ngụy phải co về giữ tuyến phòng ngự cơ bản Võ Định - thị xã Kon Tum. .

Hai ngày sau tiếng súng ở Trị - Thiên và Tây Nguyên nổ, ngày 1-4-1972, tại miền Đông Nam Bộ, chiến dịch Nguyễn Huệ cũng mở màn. Địa bàn chiến dịch trải dài trên bốn tỉnh nằm ở phía bắc Sài Gòn là Bình Long, Phước Long, Tây Ninh và Bình Dương. Hướng chủ yếu của chiến dịch là đường 13, hướng thứ yếu là đường 22. Trên hướng chủ yếu, cụm cứ điểm Lộc Ninh được chọn làm khu quyết chiến then chốt mở đầu, thị xã Bình Long (còn gọi là thị xã An Lộc hay Hớn Quản) được chọn làm khu quyết chiến then chốt của chiến dịch .

4 giờ sáng ngày 1-4-1972, ta nổ súng tiến công tuyến phòng thủ Xa Mát - Bàu Đựng do Chiến đoàn 49 nguỵ đóng giữ. Đến 2 giờ 40 phút ngày 2-4-1972, ta làm chủ cứ điểm Xa Mát, diệt một bộ phận Chiến đoàn 49, sau đó phát triển tiến công Chiến đoàn 46 đóng ở phía bắc Thiện Ngôn. 

Trong lúc trên hướng thứ yếu đường 22, cuộc tiến công của ta diễn ra ác liệt, thì ở hướng chủ yếu đường 13, bộ đội ta dang triển khai lực lượng. Đến cuối ngày 4-4-1972, toàn bộ đội hình chủ yếu của chiến dịch (gồm 3 sư đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo cối, 1 tiểu đoàn xe tăng, các tiểu đoàn đặc công. . .) chiếm lĩnh xong các vị trì xuất phát tiến công. Sư đoàn 5 bao vây cụm cứ điểm Lộc Ninh, Sư đoàn 9 bố trí ở phía bắc thị xã Bình Long. Sư đoàn 7 chốt chặn dọc theo đường 13 tử nam thị xã đến bắc Chân Thành. –

Khu phòng thủ Lộc Ninh do Chiến đoàn 9 - Sư đoàn 5 bộ binh nguỵ phụ trách. Tại đây, dựa vào hệ thống cứ điểm cấu trúc vững chắc, kết hợp với lực lượng cơ động mạnh, địch tổ chức thành hai tuyến phòng ngự: phía trước là hệ thống cứ điểm tiền tiêu cặp sát biên giới Việt Nam - Campuchia gồm Hoa Lơ, Lộc Tấn, Bù Đốp - do Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 chiếm đóng. Cụm này còn được tăng cường một lực lượng cơ động mạnh gồm Thiết đoàn 1 (thiếu) và Tiểu đoàn biệt động quân 74 để ngăn chặn ta từ xa. Phía sau là cụm cứ điểm Lộc Ninh với một lực lượng hạn chế, chủ yếu để bảo vệ cơ quan như Sở Chỉ huy Chiến đoàn 9, chi khu, trận địa pháo, sân bay và kho tiếp liệu.

5 giờ 30 phút ngày 5-4-1972, cuộc tiến công vào cụm cứ điểm Lộc Ninh bắt đầu. Sư đoàn 5 được tăng cường Trung đoàn 3 - Sư đoàn 9, 1 trung đoàn pháo cối và hoả tiễn, 2 đại đội xe tăng do thượng tá Bùi Thanh Vân (út Liêm) chỉ huy đánh vào chi khu Lộc Ninh. Bị đánh bất ngờ, địch lúng túng đối phó. Chúng vội điều Tiểu đoàn 2 - Chiến đoàn 9, Thiết đoàn 1 và tiểu đoàn biệt động 74 từ Hoa Lư, Lộc Tấn về cứu nguy. .

Sáng 6-4-1972, toàn bộ đội hình cứu viện của địch lọt vào trận địa phục kích của ta tại Cửa Chùm Bao (cách thị trấn Lộc Ninh 2 km về phía bắc). Ta nổ súng diệt toàn bộ Thiết đoàn 1 và Tiểu đoàn 74 biệt động quân. Tiểu đoàn 2 luồn rừng chạy về phía nam cũng bị ta chặn đánh diệt gần hết.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #121 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 04:06:49 pm »

Tuyến phòng thủ tiền tiêu xung yếu của địch trên đường 13 cùng lực lượng cơ động mạnh của địch bị xoá sổ, cụm cứ điểm Lộc Ninh bị cô lập. Sáng 7-4-1972, ta mở đợt công kích vào Lộc Ninh, đến trưa, ta làm chủ hoàn toàn, đại tá Nguyễn Công Vĩnh - Chỉ huy trưởng chiến đoàn bị bắt. 

Ngày 8-4-1972, bước một chiến dịch Nguyễn Huệ kết thúc. Đây cũng là lúc ở Khu V ta mở chiến dịch tổng hợp bắc Bình Định. Không gian chiến dịch rộng 1.200 km2 bao gồm cả vùng giáp ranh, vùng ven biển trải dài trên các huyện Tam Quan, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ thuộc tỉnh Bình Định. 

Sau 24 ngày chiến đấu quyết liệt (8-4 - 2-5-1972), Sư đoàn 3 chủ lực Quân khu 5 cùng đặc công quân khu và lực lượng vũ trang địa phương đã diệt Liên đoàn bảo an 48, Chiến đoàn đặc nhiệm 40, định thiệt hại nặng Trung đoàn 41, giải phóng các huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân và nửa phía bắc huyện Phù Mỹ với trên 20 vạn dân.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, để phối hợp với cuộc tiến công chiến lược trên toàn Miền, Quân khu 9 mở đợt tiến công mang tên là Chiến dịch Nguyễn Huệ II lấy U Minh, Chương Thiện làm trọng điểm 1, Vĩnh Trà là trọng điểm 2. Đêm 6 rạng ngày 7-4- 1972, Trung đoàn 2 (thiếu) và lực lượng vũ trang quân khu tiến công chi khu, quận lỵ Ngang Dừa, diệt một bộ phận Trung đoàn 31 - Sư 21 và 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 16 - Sư đoàn 9 nguỵ. Trung đoàn 10 diệt căn cứ Bà Thầy, Nỗng Cạn (xã Khánh Lâm - Cà Mau), Trung đoàn 3 diệt yếu khu Thầy Phó (xã Hữu Thạnh, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long). Đến ngày 10-4-1972, quân, dân trong quân khu đã diệt, bức rút, bức hàng 170 đồn, 1 chi khu, 5 căn cứ tiểu đoàn và 4 yếu khu.

Quân khu 8, thực hiện chủ trương chung, mở đợt hoạt động có tính chất phối hợp, tạo thế trên địa bàn ba tỉnh Mỹ Tho, Kiến Tường, Kiến Phong. Đêm 6 rạng ngày 7-4-1972, Trung đoàn 88 đột phá vào khu vực kênh Dương Văn Dương, diệt đồn Kinh Quận, 2 trận địa pháo ở Kinh Quận và Mỹ An, bức rút 3 đồn khác.

Cùng thời gian này, Trung đoàn 11 - Sư đoàn 7 nguỵ bung ra đánh phá tuyến kênh Nguyễn Văn Tiếp. Trung đoàn 1 chủ lực quân khu đã tổ chức đánh diệt tiểu đoàn Rồng Xanh của Trung đoàn 11 nguỵ tại khu vực kênh 10. Hướng Mỹ Tho, Tiểu đoàn 514 đánh thiệt hại nặng chi khu Tân Hiệp , . . .

Như vậy, từ Trị - Thiên đến đồng bằng sông Cửu Long, cuộc tiến công chiến lược của ta đã diễn ra gần như đồng loạt và đều khắp với một nhịp độ ngày càng tăng.  Đây cũng là thời điểm Níchxơn quyết định Mỹ hoá trở lại cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân.  Trước hành động điên cuồng của đế quốc Mỹ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi quân và dân cả nước nêu cao quyết tâm cảnh giác cao, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng địch trong mọi tình huống. Trung ương quyết định tiếp tục đẩy mạnh cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, thực hiện cho được những mục tiêu chiến lược đã đề ra.

Lúc này, tại mặt trận Quảng Trị, ta chuẩn bị tiến công đợt hai. Địch đang co cụm lớn ở Đông Hà, Ái Tử, La Vang, Quảng Trị, nhưng trong từng cứ điểm, địch không đóng tập trung mà phân tán đóng từng tuyến bao quanh căn cứ. Chúng dùng “chiến thuật di tản”, dùng xe tăng, xe bọc thép bao quanh làm vỏ cứng ngăn chặn ta. Ở các căn cứ này, địch có 6 trung đoàn bộ binh, 4 thiết đoàn tăng, thiết giáp, 5 tiểu đoàn pháo (90 khẩu).

Kế hoạch của Bộ Tư lệnh chiến dịch là tập trung pháo diệt Đông Hà, ái Tử, La Vang, Quảng Trị. Trong tiến công đợt một, ta thu được pháo địch. nên thành lập thêm 8 đại đội tại chỗ đưa vào các cụm pháo biên chế.

Để thực hiện bước 2 giai đoạn 1, từ ngày 14 đến ngày 26-4, ta tập trung súng B72, B40, B41, ĐKZ bố trí nhiều tầng áp sát Đông Hà, đánh vỡ tuyến ngăn chặn bằng vành đai xe tăng của địch, buộc chúng phải phân tán đối phó, tạo thuận lợi cho lực lượng ta áp sát, tổ chức “bão táp 3” đánh vào Ái Tử, Lai Phước, La Vang.

Lúc 5 giờ chiều ngày 27-4, ta dùng 4 tiểu đoàn pháo bắn 3.500 viên đạn vào Đông Hà; 3 tiểu đoàn pháo bắn 2.500 viên vào ái Tử; 3 tiểu đoàn pháo bắn 3.000 viên vào Lai Phước; 3 tiểu đoàn pháo bắn 3.000 viên vào La Vang. Được pháo binh chiến dịch hỗ trợ mạnh mẽ, tối ngày 27-4, các đơn vị bộ binh thuộc sư đoàn 308, 304 cùng xe tăng đánh chiếm, làm chủ căn cứ Đông Hà, Ái Tử, Lai Phước.  Sáng ngày 30-4, địch ở căn cứ La Vang và thị xã Quảng Trị hốt hoảng rút chạy.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #122 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 04:07:09 pm »

Trưa ngày 1-5-1972, địch thực hiện ý đồ lui quân có tổ chức để bảo toàn lực lượng. Song, chúng bị các đơn vị của Sư đoàn 324 chặn đánh ở cầu Nhùng, cầu Dài, cầu Bến Đá.  Không thực hiện được ý đồ lui quân có tổ chức, địch phải bỏ lại toàn bộ xe, pháo, tháo chạy tán loạn. Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, Tư lệnh Sư đoàn 3 lên trực thăng chạy về Đà Nẵng. Các cố vấn Mỹ cũng dùng máy bay chạy thẳng về Sài Gòn.

18 giờ ngày 2-5-1972, ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Đây là tỉnh đầu tiên ở miền Nam được giải phóng. Ta đã đập tan hệ thống phòng ngự mà địch cho là kiên cố nhất miền Nam. Mất Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế trực tiếp bị uy hiếp. Nguyễn Văn Thiệu lập tức điều ngay 3 lữ đoàn và 2 trung đoàn từ Sài Gòn, Đà Nẵng ra Huế, đồng thời gấp rút bổ sung quân số, trang bị cho những đơn vị vừa bị tổn thất, nhằm tái chiếm Quảng Trị. Lực lượng dịch ở Thừa Thiên từ 2 sư đoàn tăng lên 4 sư đoàn bố trí tập trung trên hai hướng: hướng đường 1 và đường 12. 

Về ta, sau khi giải phóng Quảng Trị nhân khi địch đang rối loạn, Bộ Chính trị chỉ đạo Bộ Chỉ huy chiến dịch nắm lấy thời cơ, tiếp tục phát triển tiến công, kết hợp với nổi dậy của quần chúng, tiêu diệt đại bộ phận quân địch, giải phóng tỉnh Thừa Thiên (kể cả thành phố Huê). Song, qua hai đợt chiến đấu liên tục, lực lượng chiến đấu trực tiếp bị tiêu hao, sức khoẻ giảm sút, binh khí kỹ thuật, đạn dược chưa bổ sung kịp.  Địch lại tăng cường lực lượng củng cố tuyến phòng thủ với những thủ đoạn mới. Vì vậy đợt tiến công thứ ba của ta (từ ngày 20 đến ngày 26-6) vào tuyến phòng thủ sông Mỹ Chánh không thành công.

Từ cuối tháng 6- 1972, khi địch bắt đầu cuộc phản công tái chiếm Quảng Trị, chiến sự diễn ra ác liệt. Đại bác địch từ tàu chiến ngoài biển Quảng Trị bắn như mưa vào Thành cổ kết hợp với máy bay ném bom phá huỷ toàn bộ nhà cửa, phố phường, gây thương vong cho hàng ngàn dân và bộ đội. Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị diễn ra trong 81 ngày đêm (28-6 - 16-9- 1972) vô cùng ác liệt.

Trong quá trình đó, từ Pari, Cố vấn Lê Đức Thọ nhiều lần điện về nước yêu cầu lực lượng vũ trang miền Nam cố giữ vững và phát huy những thắng lợi đã giành được để tạo áp lực với Mỹ ở Hội nghị Pa ri. Tại mặt trận Quảng Trị, mỗi đêm ta phải bổ sung cho Thành cổ một đại đội bộ binh.

Vì phải đánh theo yêu cầu đàm phán, nên khi không còn điều kiện giữ Thành cổ mà không chuyển hướng tiến công cho phù hợp, vẫn cố bám trụ, để bộ đội thương vong nhiều, nhưng cuối cùng phải rút khỏi Thành cổ Quảng Trị. Đó là một khuyết điểm trong chỉ đạo chiến dịch. Bộ Chính trị theo dõi sát tình hình trong nước cũng như tại Hội nghị Pari quyết định phương án đấu tranh về vấn đề chính trị ở miền Nam và vấn đề quân miền Bắc ở miền Nam, Lào, Campuchia. Bộ Chính trị chỉ đạo cho phái đoàn ta ở Pari nên “thắt” và “mở” trên hai vấn đề then chốt trên.

Ở Trì - Thiên, lực lượng ta được lệnh rút khỏi Thành cổ Quảng Trị, lập trận địa phòng ngự, đánh địch ở phía nam sông Mỹ Chánh. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị kiên cường trụ bám đánh bại các đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa.  Đây là một bản anh hùng ca tuyệt vời về lòng trung thành, ý chí quả cảm và sự hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của quân và dân ta trên chiến trường trọng điểm này. 

Ở Tây Nguyên, sau khi chọc thủng tuyến phòng thủ ở tây sông Pô Cô, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã áp sát cụm phòng ngự Đắc Tô - Tân Cảnh, trong đó, căn cứ 42 là vị trí then chốt. Lực lượng địch ở đây có Sở Chỉ huy nhẹ Sư đoàn 22, Trung đoàn 42, 1 tiểu đoàn pháo và Trung đoàn thiết giáp số 14.

Đêm 23 rạng ngày 24-4-1972, Sư đoàn 2 (thiếu) được tăng cường Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 37 đặc công, dưới sự chi viện đắc lực của pháo binh đã tiến công căn cứ 42. Đến 11 giờ ngày 24-4 ta hoàn toàn làm chủ căn cứ. Lê Đức Đạt - Tư lệnh Sư đoàn 22 và tên đại tá cố vấn Mỹ chết tại trận. Vi Văn Bình - Phó Tư lệnh và toàn bộ Bộ Tham mưu Sư đoàn 22 bị bắt sống. Đây là lần đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên và cũng là lần đầu tiên ở miền Nam quân ta đánh tiêu diệt cấp sư đoàn địch, mở ra khả năng đánh tiêu diệt chiến dịch và chiến lược của Quân giải phóng miền Nam. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #123 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 04:07:40 pm »

Cũng trong ngày 24-4, Tiểu đoàn 10 dặc công và Tiểu đoàn 60 - Trung đoàn Ba Gia tiến công sân bay Đắc Tô 2, diệt Trung đoàn 47 ngụy. Thừa thắng, ta phát triển tiến công giải phóng Diên Bình, quận lỵ Đắc Tô và Lông H’ Rinh. 

Đắc Tô - Tân Cảnh bị diệt, địch ở thị xã Kon Tum hỗn loạn, song ta không tận dụng được thời cơ để phát triển tiến công ngay thị xã Kon Tum. Đúng một tháng sau, khi địch đã trấn tĩnh và củng cố, đêm 24 rạng ngày 25-5-1972, ta mới đột phá thị xã.

Sau hai ngày chiến đấu, ta chiếm được Dinh Tỉnh trưởng, Sở Chỉ huy Trung đoàn 53, khu kho 40 - 41, hai phần ba Biệt khu 24 và một phần sân bay. Địch phản kích quyết liệt Chúng thả bom cháy và chất độc hoá học vào đội hình quân ta. Sư đoàn 2 gặp khó khăn. Cuộc chiến đấu trong thị xã diễn ra quyết liệt suốt hơn 10 ngày. Cả ta và địch đều thương vong và tổn thất nặng.

Thấy khả năng không giải phóng được thị xã, đêm 5 rạng ngày 6-6-1972, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định rút quân ra khỏi thị xã để củng cố.  Chiến dịch bắc Tây Nguyên Xuân Hè 1972 kết thúc. 

Tại miền Đông Nam Bộ, sau khi chiếm được thị trấn Lộc Ninh, Bộ Tư lệnh Miền chỉ thị cho Bộ Tư lệnh chiến dịch Nguyễn Huệ, tranh thủ lúc địch đang rối loạn, chuyển lực lượng xuống phía nam tiến công chiếm lĩnh thị xã Bình Long. 

Ngày 13-4-1972, Sư đoàn 9 bắt đầu nổ súng tiến công thị xã Bình Long. Song tình hình địch lúc này đã thay đổi so với trước. Ngày 9-4-1972, địch phá cầu Cần Lê gây khó khăn cho ta trong việc cơ động lực lượng, đồng thời chúng mở cuộc hành quân Toàn thắng 72 C với lực lượng gồm Chiến đoàn 7 và Liên đoàn 3 biệt động quân, giải toả khu vực quanh thị xã Ngày 11-4, địch dùng máy bay lên thẳng bốc Chiến đoàn 8 từ Lai Khê đổ xuống thị xã, đưa tổng số quân ở thị xã lên 3 lữ đoàn tăng cường.

Trong 2 ngày 12 và 13-4, chúng lại đưa Sư đoàn 21 và 1 trung đoàn thiết giáp từ miền Tây Nam Bộ lên chốt chặn đường 13, (đoạn Lai Khê - Bàu Bàng). Cuộc tiến công vào thị xã Bình Long của ta gặp khó khăn. Đến ngày 15-5-1972, ta vẫn chưa dứt điểm được thị xã. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Miền chủ trương: không tiến công thị xã nữa mà chuyển sang bao vây cô lập Bình Long, thu hút, kìm chân địch trên đường 13, tạo điều kiện cho hướng khác phát triển.

Từ ngày 16-5-1972, thực hiện nhiệm vụ chốt chặn trên đường 13, ta đã chiến đấu quyết liệt đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch. Cuộc tranh chấp giữa ta và địch trên đường 13 đoạn từ nam Bình Long đến bắc Chân Thành kéo dài suốt 4 tháng liền với những trận đánh lớn quyết liệt. Đến ngày 1-9-1972, bằng trận Bàu Bàng, ta kết thúc 135 ngày đêm đánh cắt giao thông trên đường 13, làm phá sản kế hoạch giải toả cho Bình Long. Chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ đến đây về cơ bản đã chấm dứt.

Giữa lúc ta đang thắng lớn trên mặt trận quân sự, chính trị, thì Tổng thống Mỹ Níchxơn sang thăm Trung Quốc từ ngày 21 đến ngày 28-2-1972. Tiếp sau đó, Níchxơn thăm Liên Xô từ ngày 20 đến ngày 29-o-1972. Âm mưu của Níchxơn là vận động hai nước lớn Xô - Trung cắt giảm viện trợ làm cho ta giảm sức chiến đấu và ép ta phải chịu những điều kiện áp đặt của Mỹ tại Hội nghị Pari.

Tuy kết quả không theo ý muốn của Mỹ, nhưng là hành động “đáng tiếc” của hai người bạn lớn vô hình chung đã tiếp tay cho Mỹ.  Mặc dù vậy, cuộc tiến công của quân và dân miền Nam vẫn không giảm và tại Hội nghị Pa ri ta vẫn kiên quyết giữ đúng nguyên tắc. không hạ thấp chỉ tiêu. 

Đồng bằng sông Cửu Long, sau đợt hoạt động tạo thế (từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 5- 1972), ngày 10-6- 1972, chiến dịch tiến công tổng hợp của Quân khu 8 mở màn.  Từ cuối tháng 5-1972, Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương ‘Cục và Quân uỷ Miền điều chủ lực xuống đồng bằng sông Cửu Long để triển khai chiến dịch này. Địa bàn chiến dịch gồm năm tỉnh: Mỹ Tho, Kiến Tường, Kiến Phong, Gò Công và Bến Tre.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #124 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 04:08:39 pm »

Đây là địa bàn trọng yếu của đồng bằng sông Cửu Long. Tại đây lực lượng địch có Sư đoàn 7, Trung đoàn 6 thiết giáp, một liên đoàn đặc nhiệm hải quân, 5 giang đoàn, Liên đoàn 41 biệt động quân cùng lực lượng bảo an dân vệ cảnh sát dã chiến tại địa phương.

Về phía ta có Sư đoàn 5 chủ lực Miền (mới từ miền Đông xuống), C30B (tương đương sư đoàn gồm các trung đoàn 24, 207, 271 và các đơn vị binh chủng như Trung đoàn 28 pháo binh, Tiểu đoàn đặc công, Tiểu đoàn thông tin), các trung đoàn 1, 88, 320, và 3 tiểu đoàn đặc công, 2 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn công binh (Quân khu Cool, bộ đội các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Kiến Tường, Kiến Phong, Bến Tre.

Quyết tâm của ta là dùng một bộ phận chủ lực bất ngờ thọc sâu chọc thủng tuyến ngăn chặn biên giới và phá vỡ tuyến ngăn chặn trung tâm Đồng Tháp Mười, bảo đảm hành lang vận chuyển, nhanh chóng thọc sâu xuống đường 4, tiến công dứt điểm một số quận lỵ, chi khu, làm đòn bẩy phát động quần chúng nổi dậy giải phóng phần lớn tỉnh Mỹ Tho, Kiến Tường và một phần Kiến Phong, sau đó phát triển mở vùng ở Gò Công và Bến Tre .

Chiến dịch diễn ra ba đợt.

Đợt 1 (10-6 - 30-6-1972): Chủ lực Miền đột phá tuyến biên giới, thọc sâu xuống Vùng 4 Kiến Tường. Quân khu 8 và địa phương phối hợp mở mảng ở nam - bắc đường 4, tiêu diệt một bộ phận sinh lực dịch, mở thông hành lang tạo điều kiện cho chủ lực Miền phát triển.

Mở đầu, ngày 10-6-1972, Trung đoàn 2 - Sư đoàn 5 nổ súng tiến công chi khu Long Khối. Cùng ngày, một bộ phận của Sư đoàn 5 cùng đặc công và bộ đội dịa phương vây ép căn cứ Gò Măng Đa, căn cứ Thạnh Trị. Pháo binh Miền pháo - kích thị xã Mộc Hoá.

Tại khu vực trọng điểm nam - bắc đường 4, lực lượng vũ trang quân khu và địa phương mở mảng Ba Dừa, đánh viện từ lộ Ba Dừa đến sông Ba Rài. Các tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Phong phối hợp hoạt động. Kết thúc đợt l, ta toại khỏi vòng chiến đấu 5.000 tên địch, diệt gọn một tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 8 tiểu đoàn khác, bức rút, bức hàng 50 đồn, giải phóng 2 xã, 30 ấp với trên 30.000 dân.

Từ ngày 3 đến ngày 31-7-1972, ta mở đợt 2 nhằm thu hút địch lên tuyến biên giới, phát huy ưu thế chủ lực Miền cùng lực lượng vũ trang ớ!a phương tiến công tổng hợp, mở mảng, mở vùng -nam đường 4, tạo thế đứng chân vững chắc để phát triển thế tiến công.

Với đợt hoạt động này, ta đã đánh quỵ Liên đoàn 41 biệt động quân (lần 2). Chiến đoàn A bảo an Bến Tre. diệt 7 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 13 tiểu đoàn. giải phóng 5 xã và nhiều ấp. mở ra nhiều mảng, hình thành các khu vực giải phóng tương đối liên hoàn, tạo thế đứng chân cho lực lượng vũ trang và cơ quan chỉ đạo các cấp Đồng thời. ta đã hình thành thế chiến dịch trên hai khu vực: biên giới và nam - bắc đường 4. đưa trọng điểm chiến dịch xuống trung tâm Đồng Tháp Mười (nam - bắc đường 4), tạo thế căng kìm địch trên nhiều hướng, ta có điều kiện phát triển, mở mảng. mở vùng: ...

Từ ngày 6-8 đến ngày 10-9-1972, ta mở tiếp đợt 3 nhằm “động viên nỗ lực ba thứ quân kết hợp tiến công và nổi dậy đánh bại một bước bình định của dịch giành thắng lợi ở chiến trường, góp phần giành thắng lợi ngoại giao ở Pa ri. phát triển thế tiến công, mở mảng nam - bắc lộ 4, phát triển mở mảng ở Bến Tre, mở lõm ở Gò Công, Chợ Gạo. Kiến Phong, căng kéo, đánh bại địch lấn chiếm đường số 1  Campuchia” 1. 
 
Trong dợt này, các cuộc phản công trên đường số 1 chống lấn chiếm Kôngpông Trò Béc và tiến công tổng hợp ở nam - bắc đường 4, mở mảng ở Bến Tre, Gò Công, Kiến Phong là những hoạt động nổi bật.

Tính chung. trong toàn chiến dịch (từ ngày 10-6 đến ngày 10-9-1972), trên địa bàn Quân khu 8, ta dã loại khỏi vòng chiến đấu 34.500 tên dịch (diệt 23.000, bắt l.5000 làm tan rã 10.000) bắn rơi 60 máy bay, phá huỷ 126 xe M113, 179 xe quân sự khác, 73 tàu, xuồng chiến đấu trên sông, 37 khẩu pháo, 21 kho, thu 3.222 súng các loại, 261 máy thông tin PRC 25, giải phóng 27 xã, 228 ấp với 240.000 dân. 


________________________
1. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Chiến dịch tiên công tổng hợp quân khu 8 năm 1972. Hà Nội, 1987. tr.70.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #125 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 07:27:44 pm »

Thắng lợi của chiến dịch tổng hợp Quân khu 8 dã làm thay đổi một bước quan trọng thế và lực giữa ta với dịch trên chiến trường có lợi cho cách mạng, đặt cơ sở cho quân và dân Quân khu 8 cũng như đồng bằng sông Cửu Long tiến lên giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong chặng đường tiếp theo.

Vào thời điểm này, ở Quân khu 9, đợt hoạt động kéo dài gần 5 tháng (7-4 – 25-8-1972) mang tên chiến dịch Nguyễn Huệ II cũng vừa kết thúc. Kết quả trong toàn dợt hoạt động, lực lượng vũ trang quân khu dã tiêu diệt, tiêu hao và làm tan rã gần một vạn tên dịch. diệt 4 chi khu, 2 yếu khu. 6 căn cứ trung đoàn, tiểu đoàn, dành chìm: cháy 213 tàu xuồng trên sông, phá huỷ 234 xe quân sự. 129 khẩu pháo. bắn rơi 151 máy bay, phá huỷ 5l kho, phá sập 51 cầu, thu 8.896 súng các loại: giải phóng 400 ấp với khoảng 800.000 dân. 

Đến đây, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của ta trên chiến trường miền Nam mà trọng điểm là Quảng Trị đã giành được thắng lợi to lớn, loại khỏi vòng chiến đấu gần 20 vạn tên địch trong đó về bộ binh có 2 sư đoàn, 9 trung đoàn và 38 tiểu đoàn bị tiêu diệt, 1 sư đoàn, 10 trung đoàn và 31 tiểu đoàn bị đánh thiệt hại nặng. Lực lượng các binh chủng có 12 trung đoàn thiết giáp và 17 tiểu đoàn pháo bị diệt.  Nhiều tuyến phòng ngự cơ bản trên những địa bàn xung yếu của dịch bị phá vỡ. Vùng giải phóng của ta được mở rộng tạo thế liên hoàn từ Trị - Thiên, Khu V vào đến đồng bằng sông Cửu Long. Chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ bị đẩy đến bờ vực của sự phá sản.

Cùng với thắng lợi ở miền Nam trong năm 1972, trên chiến trường Lào, ta và bạn phối hợp thực hiện thành công chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng giữ vững địa bàn dã giải phóng.

Ngày 21-5-1972. Mỹ huy động 40 tiểu đoàn quân nguỵ Lào và quân Thái Lan mở cuộc hành quân lấn chiếm Cánh Đồng Chum. Dựa vào thế trận dã chuẩn bị bộ đội tình nguyện Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội giải phóng Lào anh dũng đánh bại nhiều cuộc tiến công của địch giữ vững trận địa.

Cuộc chiến dấu bảo vệ Cánh Đồng Chum kéo dài gần nửa năm (21-5 -  15-11-1972) qua nhiều trận đánh ác liệt, nổi bật là trận phản đột kích tại khu vực Cha Hô, Bản Hai, Bản Phồn (nam Cánh Đồng Chum) ngày 26-10-1972. Ta và bạn đã dành bại hoàn toàn cuộc hành quân lấn chiếm Cánh Đồng Chum của quân nguỵ Viêng Chăn và quân đánh thuê Thái Lan, loại khỏi vòng chiến đấu 5.607 tên dịch, bắt 179 tên: đánh thiệt hại nặng 3 GM và 3 tiểu đoàn quân Thái Lan.

Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Lào, quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Lào thực hiện thắng lợi chiến dịch phòng ngự với quy mô lớn; phối hợp có hiệu quả với cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân miền Nam.

Ở miền Bắc, ngay sau khi Mỹ huy động lực lượng lớn không quân và hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai (6-4- 1972), Chính phủ ta đã ra tuyên bố: “không một sức mạnh tàn bạo nào, không một sự đe dọa láo xược nào lay chuyển được quyết tâm của nhân dân Việt Nam chiến dấu vì độc lập tự do của Tổ quốc” 1.

Vận dụng kinh nghiệm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất để đánh trả kịp thời bước leo thang ồ ạt của Mỹ, công tác phòng không nhân dân ở các địa phương được đẩy mạnh. Các đơn vị phòng không chủ lực và địa phương được điều chỉnh, tăng cường thêm lực lượng, và cơ động linh hoạt.  Chỉ trong vòng hơn một tháng, từ ngày 6 đến ngày 8-5-1972, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 90 máy bay, bắn cháy và bắn bị thương 20 tàu chiến Mỹ.

Sau một tháng đánh phá ác liệt miền Bắc, Mỹ không ngăn cản được miền Bắc chi viện cho miền Nam. Trái lại trên chiến trường miền Nam. Quân giải phóng ngày càng đánh mạnh và thắng lớn.

Trước tình hình đó, chính quyền Níchxơn tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh ở Việt Nam, mở rộng quy mô đánh phá miền Bắc, sử dụng những biện pháp quyết liệt để ngăn chặn sự chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam.


_________________________
1. Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 11-4-1972.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Bảy, 2009, 10:15:34 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #126 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 10:16:34 pm »

Từ ngày 9-5-1972, Mỹ bắt đầu dùng máy bay thả thuỷ lôi và mìn từ trường xuống tất cả các cửa sông, các cảng biển và trên nhiều vùng ven biển khác tử Móng Cái đến Vĩnh Linh.  Đồng thời, không quân địch mở nhiều dợt dành phá ác liệt vào tất cả các tuyến giao thông đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, dành phá các kho, đặc biệt là kho xăng, các cơ sở sản xuất công nghiệp và cả những vùng đông dân cư...

Đáng chú ý, từ tháng 6-1972 máy bay chiến lược B52 hoạt động thường xuyên với quy mô và cường độ ngày càng lớn, tập trung ở các khu vực Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An. Cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ trên miền Bắc ngày càng trở nên ác liệt, bởi chính quyền Níchxơn không chỉ mở rộng quy mô và cường độ đánh phá mà còn dùng các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện dại nhất như các loại máy bay cải tiến, những loại bom, mìn và khí tài điện tử điều khiển bằng la de.

Song, với một ý chí và quyết tâm cao, dưới sự chỉ đạo đúng đắn của quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng các lực lượng phòng không - không quân của ta vừa đánh vừa rút kinh nghiệm, sáng tạo. cải tiến nhiều khí tài điện tử công hiệu cao, cách đánh độc đáo. Nhờ vậy trong vòng gần 6 tháng (9-5 – 22-10-1972) quân, dân miền Bắc đã bắn rơi 561 máy bay, bắn chìm. bắn cháy 60 tàu chiến địch, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. 

Vượt qua sự đánh phá ác liệt và phong toả gắt gao của không quân và hải quân Mỹ, hàng hoá từ ngoài chuyển vào miền Bắc và từ miền Bắc đến các chiến trường miền Nam và Lào vẫn được bảo đảm. Năm 1972 số lượng hàng tiếp tế cho chiến trường tăng 1,7 lần so với năm 1971. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu, vừa ra sức sửa chữa nhà cửa, xây dựng phục hồi những thị trấn, thành phố bị bom Mỹ tàn phá, vừa tích cực khai hoang, phục hoá, gieo trồng đúng mùa vụ. Trên mặt trận này, nông dân kiên trì bám ruộng đồng, công nhân bám nhà máy, xí nghiệp, tăng năng xuất lao động, làm ra nhiều của cải đáp ứng yêu cầu dời sống và chiến đấu.

Năm 1972 mức thu mua lương thực tăng 1,5 lần so với năm 1971.  Cũng trong năm này, hai vạn thanh niên tòng quân vào bộ đội, hàng triệu lượt người tham gia thanh niên xung phong và dân công hoả tuyến sửa dường, bắc cầu đảm giao thông. 

Thất bại trên chiến trường miền Nam và không đạt được các mục tiêu trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, lại bị nhân dân thế giới và chính nhân dân Mỹ phản đối mạnh mẽ, ngày 22- 10- 1972, Níchxơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra.

Trên cơ sở những thắng lợi về quân sự và chính trị trên cả hai miền Nam - Bắc, ta tranh thủ đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, tăng cường hoạt động quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, các chính phủ và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Đặc biệt là hoạt động của phái đoàn ta tại Hội nghị Pari.

Ngày 8- 10-1972, trong cuộc gặp riêng với đại diện chính quyền Mỹ. đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị Pari về việt Nam đã đưa ra dự thảo văn bản Hiệp dịnh về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam gồm 10 chương. 

Ngày 17- 10- 1972, tại cuộc đàm phán ở Pari, các bên tham gia hội nghị đã thông qua văn bản Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam. Cũng tại phiên họp này, phía Mỹ thoả thuận với ta ngày 22-10-1972 sẽ ký tắt hiệp định tại Hà Nội, ngày 31-10-1972 sẽ ký chính thức tại Pari.

Song, Mỹ lại cố tình dây dưa, trì hoãn, không chịu thực hiện thoả thuận trong phiên họp ngày 17- 10, mà đòi ta phải sửa đổi nhiều điều khoản trong bản dự thảo hiệp định tháng 10 với lý do khó khăn từ phía Sài Gòn. Ý đồ của Mỹ là làm yên lòng Nguyễn Văn Thiệu để khỏi mang tiếng là “bỏ rơi một đồng minh” và tranh thủ thời gian củng cố nguỵ quân, nguỵ quyền để sau khi hiệp định được ký kết, chính quyền Sài Gòn vẫn đứng vững.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #127 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 10:17:30 pm »

Trước thái độ lật lọng của đế quốc Mỹ, ngày 26-10- 1972, Chính phủ ta đã ra tuyên bố nêu rõ lập trường chính nghĩa, thái độ thiện chí của ta đồng thời vạch trần sự tráo trở của chính quyền Mỹ, đòi Mỹ phải thực hiện nghiêm chỉnh những vấn đề đã thoả thuận. Bản tuyên bố khẳng định: “Chính quyền Níchxơn không có thái độ nghiêm chỉnh và thiện chí thương lượng nhằm chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam, mà chỉ kéo dài đàm phán để lừa dối dư luận, che đậy âm mưu duy trì nguỵ quyền Sài Gòn để tiếp tục chiến tranh xâm lược Việt Nam và Đông Dương” 1. 

Đồng tình với tuyên bố của Chính phủ ta, nhiều nước trên thế giới đã lên tiếng ủng hộ. Một làn sóng đấu tranh đòi Mỹ phải ký ngay hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam diễn ra mạnh mẽ. Tiêu biểu cho hoạt dộng này là Đại hội Liên hiệp công đoàn thế giới họp ở Bucarét Thủ đô Rumani, ngày 1-11-1972 đã ra tuyên bố hoàn toàn ủng hộ lập trường của Việt Nam và tố cáo thái độ lật lọng của Mỹ.

Sau khi tái trúng cử Tổng thống nước Mỹ, Níchxơn có hàng loạt hành động ngang ngược trái với những điều ông ta đã cam kết trước đó. Tại Hội nghị Pari, Mỹ yêu cầu sửa 126 điểm trong dự thảo hiệp định tháng 10. Phái đoàn ta ở Hội nghị Pa ri kiên quyết bác bỏ những đòi hỏi vô lý đó, đòi Mỹ nghiêm chỉnh thực thi những điều đã thoả thuận.

Ở miền Nam, chúng ồ ạt đưa vũ khí vào và đốc thúc quân nguỵ phản kích quyết liệt hòng giành giật lại những nơi vừa bị mất. Ở miền Bắc, địch tập trung lực lượng kể cả B52 đánh phá ngăn chặn quyết liệt các tuyến giao thông từ nam vĩ tuyến 20 trở vào nhất là ở các trọng điểm Bến Thuỷ, sông Gianh, Long Đại Quán Hầu, Linh Cảm... Chúng còn ngang nhiên tiến hành các chuyến bay trinh sát ra bắc vĩ tuyến 20 nhằm chuẩn bị cho một đợt đánh lớn.

Theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình, từ đầu tháng 11-1972, Bộ Tổng Tham mưu dã nhận dính: “Địch sẽ tập trung đánh phá ác liệt từ Thanh Hoá trở vào, đồng thời có nhiều khả năng chúng sẽ dành phá lại phía bắc. Do đó, trong khi tiếp tục chỉ đạo cuộc chiến đấu bảo vệ giao thông ở phía nam, ta phải nâng cao cảnh giác, tích cực chuẩn bị, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu ở phía bắc để đối phó có hiệu quả khi địch đánh trở lại”.

Trên cơ sở nhận dình này, một số đơn vị phòng không dã được tăng cường vào nam vĩ tuyến 20. Nhiều trận đánh ác liệt với không quân địch đã diễn ra trên dịa bàn này.  Đêm 22- 11- 1972, Trung đoàn tên lửa 263 đã bắn rơi B52 tại Nghệ An. Quân chủng Phòng không - Không quân dã tổ chức rút kinh nghiệm, tìm ra cách đánh B52.

Ngày 24-11-1972, Quân uỷ Trung ương lưu ý các đơn vị phòng không: đế quốc Mỹ có thể liều lĩnh dùng B52 đánh phá các vùng trọng điểm Hà Nội, Hải Phòng, các chân hàng, đầu mối giao thông, các vùng đông dân, dùng hải quân đánh phá tăng cường bờ biển.

Ngày 27-11-1972, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho các lực lượng vũ trang: Có nhiều khả năng, địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng B52 đánh phá ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng. Vì vậy, nhiệm vụ của Quân chủng Phòng không - Không quân là tập trung mọi khả nàng nhầm đúng đối tượng B52 mà tiêu diệt. 

Thực hiện sự chỉ đạo của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, các lực lượng phòng không - không quân ở miền Bắc khẩn trương tiến hành hàng loạt công tác chuẩn bị, điều chỉnh lực lượng cho đợt chiến dấu mới có thể xảy ra. Đến ngày 4- 12, khi Bộ Tổng Tham mưu điện cho các đơn vị: Địch sẽ dùng B52 đánh rộng trên toàn miền Bắc, thủ đoạn có thể bất ngờ, ồ ạt, đánh ngay vào Hà Nội, Hải Phòng thì mọi công việc chuẩn bị đã cơ bản hoàn thành. Nhiệm vụ phòng không sơ tán được tiến hành khẩn trương. Nhân dân thành phố Hà Nội và Hải Phòng đi sơ tán về các vùng nông thôn, chỉ còn lại lực lượng thanh niên và những người lớn tuổi có sức khoẻ và kinh nghiệm ở lại giữ gìn trật tự.


______________________
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.II, tr.565.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #128 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 10:18:00 pm »

Ngày 13-12-1972, Hội nghị Pari đi vào bế tắc. Đây cũng là thời điểm Níchxơn chính thức phê chuẩn kế hoạch tập kích ồ ạt bằng không quân quy mô lớn chưa từng có ở bắc vĩ tuyến 20 với mật danh Lainơbêchcơ (Linebacker II).

Theo kế hoạch, Mỹ tập trung toàn bộ lực lượng không quân trên các căn cứ ở Thái Lan và tàu sân bay, lấy các đơn vị máy bay chiến lược B52 cất cánh từ Utapao thuộc miền Nam Thái Lan và đảo Guam ở ngoài khơi Thái Bình Dương làm lực lượng đột kích chính. Hà Nội được chọn làm mục tiêu đánh phá chủ yếu. Hải Phòng cùng với khu vực giao thông đường sắt phía bắc sông Hồng là mục tiêu bổ trợ quan trọng.

Mục đích của cuộc tập kích là phá hoại tiềm lực kinh tế và quốc phòng của miền Bắc, đánh phá huỷ diệt, gây khủng khiếp trong nhân dân, buộc ta phải trở lại bàn thương lượng trên thế yếu và chấp thuận các đòi hỏi có lợi cho phía Mỹ. Qua cuộc tập kích Lainơbêchcơ II, Níchxơn thể hiện giữ vững cam kết ủng hộ Thiệu và răn đe ta: nếu hiệp định được ký mà ta vi phạm thì Mỹ không ngần ngại dùng sức mạnh quân sự trả đũa.

Ngày 18-12-1972, cuộc tập kích bắt đầu. Đây là cuộc tập kích dường không quy mô lớn nhất, hiện đại nhất, tàn bạo nhất trong lịch sử không quân của đế quốc Mỹ. Cách đánh cơ bản của chúng trong cuộc tập kích chiến lược này là lấy không quân chiến lược B52 làm lực lượng chủ yếu, đánh tập trung từng đợt vào ban đêm, kết hợp dùng lực lượng không quân chiến thuật đánh phá dai dẳng kéo dài cả ban ngày, kết hợp đánh đội hình lớn và đội hình nhỏ lẻ ở mọi độ cao (lớn, trung bình và thấp), áp dụng các thủ đoạn nghi binh và gây nhiễu phức tạp kết hợp dùng các loại vũ khí hiện đại có điều khiển tự động với vũ khí thông thường.

Song, nhờ được chuẩn bị tốt cả về tư tưởng và tổ chức với cách đánh linh hoạt, sáng tạo, ngay trong ngày đầu tiên xịch đánh phá, ta đã bắn rơi 3 máy bay B52. Tính chung trong toàn đợt, ta bắn rơi 81 máy bay trong đó có 34 máy bay B52, 5 F111, 21F4, 12A7, 1 F105, 4A6, bắt sống hàng trăm giặc lái. Đây là thất bại lớn nhất của đế quốc Mỹ trong hai cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc.

Thắng lợi này cùng với thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam trong năm 1972 đã buộc đế quốc Mỹ phải ngồi lại bàn Hội nghị Pari, chấp nhận những nội dung cơ bản của dự thảo hiệp định ngày 20-10-1972 mà trước dó chúng đã từng lật lọng đòi sửa đổi.

Ngày 30-12-1972, Níchxơn tuyên bố ngừng ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Việt Nam dân chủ cộng hoà và đề nghị ta họp lại Hội nghị Pari.  Từ ngày 8 đến ngày 13- 1-1973, cuộc gặp riêng giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và đại diện phía Mỹ Kítxinhgiơ dã diễn ra.  Ngày 23-1-1973 Hiệp định Pari về Việt Nam được ký tắt.  Ngày 27- 1- 1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam dã được ký chính thức và bắt dầu có hiệu lực từ 9 giờ ngày 28- 1-1973. Theo hiệp định, Mỹ cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ và chư hầu về nước, chấm dứt sự dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam...

Đây là thắng lợi rất to lớn của nhân dân ta. tạo cơ sở vững chắc để ta tiến lên đánh cho “nguy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đến đây, sau bốn năm triển khai chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh, sự áp dụng đầu tiên của học thuyết Níchxơn vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam với mục tiêu là làm tàn lụi cuộc chiến đấu của nhân dân ta, buộc nhân dân ta phải chấp nhận một chính quyền thực dân mới, đế quốc Mỹ không thực hiện được ý đồ của chúng.

Quân và dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã vượt qua những thử thách ác liệt, đoàn kết chiến đấu cùng nhân dân Lào, Campuchia, đánh bại từng bước leo thang, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương của Mỹ.

Thắng lợi giòn giã trên chiến trường ba nước Đông Dương trong những năm 1970 - 1971, đặc biệt là cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trưởng miền Nam trong năm 1972 và trận Điện Biên Phủ trên không ở miền Bắc cuối năm 1972, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa ri, về cơ bản ta đã làm phá sản chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của chúng.

Điều này đồng nghĩa với việc Học thuyết Níchxơn - một bước điều chỉnh chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ bị lung lay tận gốc. Thắng lợi này có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, bởi từ đây, Mỹ phải rút quân ra khỏi miền Nam, so sánh lực lượng giữa ta và địch thay đổi căn bản có lợi cho ta.

Từ đây, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ đấu tranh buộc dịch thi hành Hiệp đinh Pari, tạo thế, tạo lực, mở cuộc Tổng tiến công và nồi dậy giành toàn thắng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #129 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 10:19:59 pm »

Chương IV

TỔNG TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM

 I- ĐẤU TRANH THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PARI,
PHÁT TRIỂN THẾ VÀ LỰC CỦA CÁCH MẠNG

Bị thất bại trong cuộc chiến tranh, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa ri về Việt Nam, công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, rút hết quân Mỹ, quân các nước phụ thuộc Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Đúng ngày 29-3-1973, toàn bộ quân Mỹ ở miền Nam cuốn cờ rút về nước, chấm dứt sự xâm lược của chúng. 

Tướng Wayand, Tư lệnh quân Mỹ và đồng minh của chúng ở miền Nam cũng nhập vào số 2.501 lính Mỹ cuối cùng lặng lẽ bước ra sân bay Tân Sơn Nhất, rời khỏi Việt Nam dưới sự giám sát của Quân giải phóng. Mỹ rút, nhưng chiến tranh chưa chấm dứt do mưu đồ của Mỹ vẫn tiếp tục dùng chính quyền, quân đội Sài Gòn thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Bởi vậy, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn (MACV) được thay thế bằng Cơ quan tuỳ viên quốc phòng Mỹ (DAO) do tướng Giôn Muray điều khiển.

DAO thực chất là Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ trá hình sẽ điều khiển và giám sát các hoạt động quân sự, chính trị của quân đội, chính quyền Sài Gòn chống phá cách mạng sau khi Hiệp định Pari có hiệu lực. Mục tiêu trước mắt của Mỹ là lợi dụng hiệp định, lợi dụng những sư hở mất cảnh giác của ta, lấn chiếm đất, giành thêm dân, hòng xoá thế da báo, đẩy lực lượng cách mạng, nhất là bộ đội chủ lực Quân giải phóng khỏi vùng đồng bằng và đô thị.

Mặc dù buộc phải ký Hiệp định Pari, công nhận ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát tồn tại song song tạm thời trong thời gian quá độ tiến tới Tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam, Tổng thống Mỹ Níchxơn ngang nhiên tuyên bố trên các phương tiện thông tin đại chúng là y chỉ thừa nhận chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam.

Điều này phơi bày âm mưu thật sự của tập đoàn cầm quyền Níchxơn trong vấn đề giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng các điều khoản Mỹ đã cam kết trong Hiệp định Pari. Níchxơn, Kítxinhgiơ và Thiệu quan niệm Hiệp định Pari chỉ là mảnh giấy, nên không ép buộc phải tuân theo.

Với ý đồ đen tối trên đây, trước Hiệp định Pari được ký kết ba tháng, đế quốc Mỹ đã hối hả đưa sang Việt Nam 625 máy bay các loại, 500 khẩu đại bác, 400 xe tăng, xe bọc thép, nhiều tàu chiến và các loại phương tiện chiến tranh hiện đại khác, tăng lượng dự trữ vật chất chiến tranh cho chính quyền Sài Gòn lên gần hai triệu tấn 1. 

Tháng 10-1972, sau khi đồng chí Lê Đức Thọ trao dự thảo hiệp định cho phía Mỹ, Kítxinhgiơ liền điện cho Bâncơ (Bunker) ở Sài Gòn phải nhắc Thiệu “Nỗ lực tối đa chiếm thêm càng nhiều đất đai có thể được, đặc biệt các vùng quan trọng đông dân quanh Sài Gòn” 2.

Do vậy, Hiệp định Pari vừa ký, chính quyền Sài gòn đã lợi dụng lúc giao thời xua quân đi lấn chiếm vùng giải phóng của Chính phủ Cách mạng lâm thời, thực hiện chiến dịch tràn ngập lãnh thổ mà chính quyền Sài Gòn đã hoạch định từ giữa năm 1972 khi thấy Mỹ có thể ký Hiệp định Pari với Hà Nội, rút quân Mỹ về nước là xu thế không thể đảo ngược.

Hành động chống phá Hiệp định Pari đầu tiên của dịch là hồi 5 giờ ngày 27- 1- 1973, quân đội Sài Gòn dùng 200 xe tăng. xe bọc thép và Lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ số 147, được pháo binh mặt đất và pháo trên hạm tàu yểm trợ, đánh chiếm cảng Cửa Việt.

6 giờ ngày 28-1, trước Hiệp định Pari có hiệu lực một giờ, quân đội Sài Gòn đã đóng chốt 7 cụm từ nam cảng Cửa Việt đến Long Quảng, - Chánh Hội. Mất Cửa Việt: Đông Hà, Dốc Miếu, Quán Ngang bị uy hiếp, tuyến vận tải chiến lược qua đường 9 bị đe doạ. Cửa Việt bị địch chiếm, nhưng chỉ huy lực lượng phòng thủ Cửa Việt của ta không sử dụng quân đội đánh chiếm lại, vì sợ vi phạm hiệp định.


____________________
1. Theo số liệu trong Tuyên bố ngày 3-11-1973 của Bộ Ngoại giao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về việc Mỹ vi phạm Hiệp định Pari.
1. Lưu Văn Lợi – Nguyễn Anh Vũ: Cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kítxinhgiơ tại Pari, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội. 1996. tr.304.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM