Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:43:12 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 11  (Đọc 139876 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #150 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 11:59:00 pm »

Về cách đánh chiến lược phải kết hợp chặt chẽ tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công trên khắp ba vùng chiến lược. Phải nắm vững chiến lược tổng hợp, luôn luôn tạo ra sức mạnh mới, đánh liên tục và bất ngờ, tiến tới tổng tiến công và nổi dậy, thắng dịch tại sào huyệt quan trọng của chúng là Sài Gòn - Gia Định. Chúng ta đồng tình với kế hoạch chiến lược năm 1975 Bộ Tổng tham mưu trình bày. ở Nam Bộ có ba nhiệm vụ quan trọng: vừa đánh ở đồng bằng, vừa diệt chủ lực địch, vừa ép đô thị. ở Khu V, Tây Nguyên thì đồng tình đánh mạnh ở Tây Nguyên, mở đầu từ Buôn Ma Thuộc.

Hội nghị hoàn toàn nhất trí với kết luận của đồng chí Lê Duẩn.

Bộ Chính trị khẳng định: Chúng ta đang dửng trước thời cơ chiến lược to lớn nhơ hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Bộ Chính trị thông qua kế hoạch chiến lược hai năm 1975, 1976 và dự kiến nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Ngày 9-1-1975, Thường trực Quân uỷ Trung ương họp quán triệt và triển khai quyết định của Bộ Chính trị. Tham dự cuộc họp có các đồng chí Chu Huy Mân, Võ Chí Công, Lê Trọng Tấrl, Hoàng Minh Thảo. Trọng tâm cuộc họp bàn về chiến dịch Tây Nguyên.

Các đồng chí dự họp đều nhất trí đánh Buôn Ma Thuộc là đòn đột phá bất ngờ đối với địch, sẽ có nhiều khả năng phá vỡ hệ thống phòng ngự của địch ở Vùng chiến thuật 2, làm rung chuyển Tây Nguyên, phá vỡ thế trận phòng ngự của địch ở Quân khu 2, tạo ra thế chiến lược mới để thực hiện kế hoạch chiến lược hai năm 1975 - 1976. Thường trực Quân uỷ Trung ương xác định rõ, cụ thể nhiệm vụ chiến dịch nam Tây Nguyên, mục tiêu then chốt quyết định và mục tiêu quan trọng.

Cuối cùng, dông chí Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân uỷ Trung ương kết luận hội nghị. Đồng chí xác định rõ khu vực và mục tiêu tiến công, nhiệm vụ của chiến dịch, hướng phát triển, sử dụng lực lượng và gợi ý cách đánh. Đồng chí nhấn mạnh đến phương châm mạnh bạo, bí mật, bất ngờ 1. 
 
Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao cho đồng chí Lê Ngọc Hiền, Phó Tổng tham mưu trưởng đi ngay vào chiến trường, phổ biến chỉ thị của Thường vụ Quân uỷ Trung ương ngày 9- 1- 1975 về nhiệm vụ chiến dịch nam Tây Nguyên cho Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên.

Ngày 21-l-1975, đồng chí Lê Ngọc Hiền đến chiến trường, phổ biến chính thức nhiệm vụ chiến dịch nam Tây Nguyên là: Phải tiêu diệt từ 4 đến 5 trung đoàn bộ binh, từ 1 đến 2 trung đoàn thiết giáp, nhiều tiểu đoàn bảo an, trung đội dân vệ. Cố gắng dành quỵ hoặc tiêu diệt 1 sư đoàn, đánh thiệt hại nặng Quân đoàn 2 nguy. Giải phóng phần lớn hoặc hoàn toàn tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức gồm ba thị xã Cheo Reo, Gia Nghĩa, Buôn Ma Thuộc. Trọng điểm là tỉnh Đắc Lắc, mục tiêu then chất quyết định là Buôn Ma Thuộc, mục tiêu quan trọng là ba quận lỵ Đức Lập, Thuẫn Mẫn, Kiến Đức. Hướng phát triển là Cheo Reo, Gia Nghĩa.Cheo Reo là hướng phát triển chủ yếu. 


III- BUÔN MA THUỘT - ĐÒN ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC MỞ ĐẦU CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975. CUỘC TIẾN CÔNG HUẾ - ĐÀ NẴNG GIẢI PHÓNG CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG TRUNG TRUNG BỘ

Sau Tết âm lịch, tại Sở Chỉ huy của đại diện Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh bên bở sông Đắc Đam, Đại tướng Văn Tiến Dũng thay mặt Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, tuyên bố thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên 2.
 
- Trung tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh.

- Đại tá Đặng Vũ Hiệp, Chính uỷ.

- Thiếu tướng Vũ Lăng và các Đại tá Phan Hàm, Nguyễn Năng, Nguyễn Lang, Phó Tư lệnh.

- Đại tá Phí Triệu Hàm, Phó Chính uỷ.

- Đồng chí Nguyễn Quốc Thước phụ trách tham mưu, người dự thảo kế hoạch tác chiến, vẽ bản đồ quyết tâm chiến dịch theo sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh chiến dịch.


________________________
1. Đại tướng Văn Tiến Dũng: Đại thắng mùa Xuân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr.37.
2. Bộ Tư lệnh Mặt trận với tính chất, nhiệm vụ là Bộ Tư lệnh chiến dịch, để khỏi trùng tên Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã có trước, từ đây chúng tôi dùng tên Bộ Tư lệnh chiến dịch (B.T).
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #151 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 12:19:16 am »

Bên cạnh Bộ Chỉ huy chiến dịch, có đồng chí Bùi San đại diện Thường vụ Khu uỷ khu V cùng một bộ phận cơ quan.  Các hướng chiến dịch thành lập các ban chỉ đạo tác chiến phối hợp trên từng hướng do đồng chí bí thư tỉnh uỷ và tỉnh đội trưởng các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức phụ trách.

Từ ngày 17 đến ngày 19-2-1975, trên cơ sở quyết tâm và kế hoạch tác chiến của Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh chiến dịch họp mở rộng, thảo luận kỹ về so sánh lực lượng, về bố trí thế trận và cách đánh. Hội nghị quyết định tập trung lực lượng mạnh, chủ yếu vào Buôn Ma Thuộc, Đức Lập, Thuần Mẫn. Mục tiêu then chốt quyết định là Buôn Ma Thuộc. Sau đó, phát triển tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Cheo Reo, Gia Nghĩa và các chi khu, quận lỵ trong ba tỉnh. Đắc Lắc là trọng điểm.

Cách đánh chiến dịch là bí mật triển khai lực lượng, cắt đường 19, 14, 21 ngăn chặn lực lượng ứng cứu của địch; đánh Đức Lập và Thuần Mẫn để kéo địch ở Buôn Ma Thuộc ra tiêu diệt, làm cho Buôn Ma Thuộc sư hở, cô lập. Dùng lực lượng binh chủng hợp thành tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Buôn Ma Thuộc. 

Bộ Tư lệnh chiến dịch dự kiến kế hoạch tác chiến theo hai phương án:

- Một là, đánh địch khi chúng chưa tăng cường phòng ngự dự phòng.

- Hai là, dịch đã tăng cường phòng ngự dự phòng. 

Về chỉ đạo, Bộ Tư lệnh chiến dịch nêu rõ trong công tác chuẩn bị lấy phương án thứ hai làm cơ bản, nhưng trong thực hiện phải cố gắng tạo thời cơ đánh dịch theo phương án thứ nhất.

Đêm 25-2- 1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch thông qua phương án tác chiến chiến dịch trước đại diện quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh. Trên tấm bản đồ quyết tâm chiến dịch có ghi rõ nhiệm vụ, sử dụng lực lượng, các mũi tiến công vào mục tiêu then chốt Buôn Ma Thuộc. Các đồng chí Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh chiến dịch và Đặng Vũ Hiệp, Chính uỷ ký quyết tâm lên tấm bản đồ. Đại tướng Văn Tiến Dũng ký phê chuẩn.

Đây là thể hiện quyết tâm giải phóng Tây Nguyên và niềm tin chiến thắng của quân dân ta trong thực hiện kế hoạch chiến lược năm 1975. Một phong trào thi đua: Mừng Đảng, mừng xuân, ra quân đại thắng, quét sạch quân thù, giải phóng Tây Nguyên được phát động trong lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Nguyên.

Một khí thế thi đua lập công mới dâng lên sôi nổi. Dưới tán lá xanh của rừng đại ngàn, các đơn vị bộ binh, xe tăng, pháo binh, cao xạ, công binh, đặc công, thông tin, vận tải và cán bộ, chiến sĩ cơ quan chiến dịch hối hả làm đường, bắc cầu, vận chuyển vật chất. . . chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc tiến công.

Theo nhiệm vụ mới, các trung đoàn công binh 7 và 575, các tiểu đoàn công binh của các sư đoàn bộ binh vừa làm xong mạng dường chiến dịch, chiến đấu khu vực Đức Lập, Kiến Đức đã phải chuyển hướng làm đường vào Buôn Ma Thuộc. Thời gian gấp gáp, mạng đường vào Buôn Ma Thuộc phải qua địa hình trống trải, nhiều nương rẫy và ấp chiến lược các chiến sĩ công binh phải trinh sát đánh dấu các tuyến dường, vừa làm, vừa chỉnh hướng tránh nương rẫy và ấp chiến lược.

Ngày 31-1-1975, Trung đoàn công binh 575 từ phía bắc Đức Lập mang theo hai máy húc Hồng Kỳ hành quân sang phía bắc thị xã Buôn Ma Thuộc, bắt đầu sửa chữa, khôi phục con đường 50 và 48, mở mới tuyến dường 50B cùng hai nhánh 50C, 50D dài 61 km. Trung đoàn công binh 7 làm tuyến đường 51 cùng hai nhánh 57B, 57C dài 75 km vào hướng Buôn Ma Thuộc.

Bảo vệ các tuyến đường mới mở và đường dây thông tin hữu tuyến từ Sở Chỉ huy chiến dịch đến vị trí tập kết của các đơn vị, các cụm kho chiến dịch là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, yêu cầu phải tuyệt đối bí mật và an toàn. Nếu để lộ thì phải trả giá bằng tính mạng và xương máu. Bởi vậy, các đơn vị phải đi xa cách đường hàng năm, sáu cây số chặt cây, lá về nguỵ trang cho đường, đồng thời bám sát và tránh địch. Khi địch nghi ngờ mở cuộc hành quân lùng sục bộ đội phải tạm dừng thi công. Quá trình làm đường phải nguy trang và xoá dấu vết sao cho địch không phát hiện được.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #152 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 12:19:37 am »

Lúc này, hậu cần chiến lược bắt đầu giao hàng ở Kon Tum, Gia Lai. Đẩu tháng 1 - 1975 sẽ giao hàng ở Đắc Lắc. Số lượng hàng hoá trung ương chi viện cho mặt trận rất lớn, lên đến hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốn chữa bệnh, xăng dầu...

Chưa bao giờ Tây Nguyên được tiếp nhận một khối lượng lớn hàng hoá nhiều chủng loại đến thế.  Hậu cần chiến dịch phải huy động toàn bộ xe tô, xe đạp thồ và lực lượng vận tải bộ, các bệnh viện, các cơ quan ra mặt đường vận chuyển đạn, gạo, đến các cụm kho chiến dịch rồi theo những con đường quân sự làm gấp chuyển hàng đến. sư đoàn 10, 320, 316, trung đoàn 95B, 25, 198. Các đơn vị pháo binh, xe tăng có phương tiện thì tự vận chuyển cho đơn vị mình.

Đầu tháng 3- 1975, hàng dự trữ cho các đơn vị đạt 78% kế hoạch, trong đó lương thực, thực phẩm đạt 114% kế hoạch, vũ khí đạt 83% kế hoạch, xăng dầu đạt 24% kế hoạch. 

Bên cạnh các đoàn xe tô chở đầy hàng, những đơn vị vận tải mang nặng hàng hoá ngày đêm hướng vào Buôn Ma Thuộc, các đơn vị Bộ tăng cường cho Tây Nguyên cũng hối hả hành quân: Sư đoàn 968 từ Lào sang; Sư đoàn 316 từ Nghệ An vào; Trung đoàn 95B, Trung đoàn cao xạ 232, Trung đoàn công binh 575 thuộc Đoàn 559; 1 tiểu đoàn đặc công của Bộ; 1 tiểu đoàn cầu phà, 1 tiểu đoàn và 1 đại đội thông tin, 1 tiểu đoàn vận tải, 1 đại đội trinh sát, 1 trung đội khí tượng, 3 trạm sửa chừa xe pháo, Đội điều trị 48 và 8.000 quân bổ sung lần lượt đến Đắc Lắc.

Ngoài ra còn có các đơn vị phối thuộc và phối hợp: Sư đoàn 3 - Quân khu 5 đến khu vực đường 19 phía đông An Khê; Trung đoàn bộ binh 271, Tiểu đoàn 14 đặc công của Miền đến Gia Nghĩa; Tiểu đoàn 21, Sư đoàn 470 thuộc Đoàn 559 đến Bản Đôn. Quân đông, mỗi tiểu đoàn biên chế trên dưới 400 người - một kỷ lục chưa từng có ở chiến trường.

Các đơn vị cũ của Mặt trận Tây Nguyên đã kinh qua chiến đấu hiệp đồng binh chủng lớn, quen thuộc chiến trường; các đơn vị bổ sung, phối hợp, phối thuộc đã từng lập công ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ở chiến dịch Quảng Trị, miền Đông Nam Bộ, Khu V, lại được chuẩn bị kỹ về tư tưởng, chính trị, kỹ thuật và chiến thuật đánh thành phố trước khi bước vào chiến dịch, có quyết tâm rất cao.

Ở Tây Nguyên nói chung, Đắc Lắc nói riêng, quân ta trội hơn hẳn quân địch về số lượng và chất lượng, lại được bố trí trong thế trận vững chắc liên hoàn, hình thành những quả đấm mạnh ở khu vực tác chiến then chốt của chiến dịch. 

Trung tuần tháng 12-1974, sau khi ta giải phóng Phước Long, địch vẫn còn nhận định ta có thể đánh với quy mô lớn hơn năm 1974, nhưng không bằng năm 1968 và năm 1972.  Ta chưa có khả năng đánh những thành phố, thị xã lớn. Yêu cầu chủ yếu của cộng sản trong năm 1975 là giành cho được hai triệu dân ở đồng bằng sông Cửu Long, mở rộng vùng căn cứ ở miền núi để thúc ép chính quyền Sài Gòn thi hành Hiệp định Pari.

Về hướng tiến công, địch cho rằng ta sẽ đánh Quân khu 3, chủ yếu là Tây Ninh. Về thời gian, địch phán đoán ta sẽ đánh trước hoặc sau Tết và kéo dài hết mùa khô.  Do nhận định như vậy, Thiệu ra lệnh cho quân đội, cảnh sát mở các cuộc hành quân bình định cấp tốc, lập tức liên tục trong 3 tháng kể từ ngày 1-1-1975 nhằm phá kế hoạch chuẩn bị của ta.

Cũng do nhận định sai lầm đó, mà địch không thay đổi thế bố trí chiến lược mạnh hai đầu, mỏng yếu ở giữa, chúng cũng chưa có kế hoạch tăng cường lực lượng cho Quân khu 2, trong đó có Tây Nguyên. Song, đến ngày 23- 1-1975, tình báo địch lại phát hiện Trung đoàn 25 của ta đang di chuyển sang đường 21, Sư đoàn 10 ở Kon Tum di chuyển về hướng nam Tây Nguyên. Đích phán đoán ta sẽ đánh Đức Lập, Gia Nghĩa, mở thông hành lang với Đông Nam Bộ. Lập tức Trung đoàn 53 nguỵ mở cuộc càn quét ra vùng Quảng Nhiêu, Buôn Hồ, Trung đoàn 45 được điều đến Buôn Hồ, lùng sục phía tây Thuần Mẫn. Biệt kích, thám báo đổ xuống thăm dò ở khu vực đóng quân của Sư đoàn 320. 

Càng gần đến ngày nổ súng, tình hình càng trở nên phức tạp căng thẳng. Mạng đường sá và cầu phà hướng thị xã Buôn Ma Thuộc chưa hoàn thiện một số đơn vị đang trên đường vào vị trí tập kết; địch lại tăng cường lùng sục ở khu vực ta đang chuẩn bí. Nếu địch phát hiện được lực lượng và sự chuẩn bị của ta, tất chúng sẽ điều quân ngăn chặn. gây khó khăn cho ta.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #153 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 12:19:55 am »

Trước tình hình dó. Bộ Tư lệnh chiến dịch họp, phân tích từng hành động của địch, phán đoán ý đồ của chúng và đi đến kết luận: Những hoạt động lùng sục của dịch mới có tính chất thăm dò cục bộ, chúng chưa tìm được lực lượng của ta và hướng chính của chiến dịch. Đây là một nhận định rất quan trọng và sáng suốt.

Trên cơ sở nhận định dó, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương: Kiên trì, giữ bí mật ý định và lực lượng ta ở khu vực tác chiến chủ yếu. Tích cực hoạt động nghi binh chiến dịch trên hướng Kon Tum, Plâyku. Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 hành quân lên phía tây tránh dụng độ với địch, phải xoá sạch dấu vết không để chúng phát hiện, giữ bí mật lực lượng; lệnh cho Sư đoàn 968 tăng cường hoạt động ở hướng Kon Tum, Plâyku để giữ chân Trung đoàn 44, thu hút Trung đoàn 45 về lại Plâyku. 

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch, Sư đoàn 320 bí mật. nhanh chóng hành quân lên phía tây đường 14, chỉ dể lại một bộ phận trinh sát bám địch; Sư đoàn 968 tiến công diệt các chốt địch trên đường 19 tây, bức rút dồn Tầm, đánh chiếm dãy điểm cao 605, Chơ Kra, Chơ Gội nằm trong tuyến phòng thủ phía tây nam thị xã Plâyku, đồng thời bắn pháo vào Kon Tum, Plâyku, dùng lực lượng đánh chiếm,  cắt đứt một đoạn đường 14 ở phía nam Tân Phú. Những hoạt động đó của ta, buộc địch phải tăng cường phòng giữ bắc Tây Nguyên: Trung đoàn 45 nguỵ phải bỏ dở cuộc càn quét phía tây Thuần Mẫn, vội vã rút về Thanh An, giữ mặt phía tây nam thị xã Plâyku.

Thời gian còn lại cho công tác chuẩn bị rất ngắn. Mạng đường sá cánh bắc còn cách Buôn Ma Thuộc từ 10 đến 15 km.  23 giờ ngày 9-3, Trung đoàn công binh 575 mới khai thông trục đường 50B và 2 nhánh 50C, 50D nối với đường xuất phát tiến công của xe tăng. Thời gian này, Trung đoàn 7 cũng hoàn thành trục đường 51, 57B, 57C.

Còn lại dốc phía nam ngầm Kơmuya khi nổ súng sẽ dùng bộc phá san bằng.  Trung đoàn 29 thông tin thi đua với các chiến sĩ công binh, đã gấp rút mắc đường dây hữu tuyến cho Trung đoàn 148 (Sư đoàn 316), Trung đoàn 198 đặc công, Trung đoàn 95B bộ binh, Trung đoàn 273 xe tăng, Trung đoàn 675 pháo binh, Trung đoàn 575 công binh và cụm kho 10B ở hướng bắc; nối đường dây Sở Chỉ huy chiến dịch với Sư đoàn 320 ở Thuần Mẫn, Sư đoàn 10 ở Đức Lập, Sư đoàn 316 ở tây Buôn Ma Thuộc.

Bộ Tư lệnh chiến dịch điều khiển các đơn vị bí mật tiến vào vị trí tập kết đã quy định; theo dõi, đôn đốc Trung đoàn 95B vượt đường 14 sang hướng đông Buôn Ma Thuộc cùng Trung đoàn 198 đặc công nổ súng đúng kế hoạch.  Sau khi các đơn vị triển khai trên hướng chính chiến dịch an toàn, bí mật, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Trung đoàn 95 nổ súng cắt đường 19 đoạn phía đông thị xã Plâyku. 

Đêm ngày 3 rạng ngày 4-3, Trung đoàn 95 bất ngờ tiến công tiêu diệt hệ thống đồn bốt và các chốt địch trên đường 19 từ ngã ba Lây Bôn đến ấp Phú Yên, làm chủ đoạn đường dài 20 km. Trên đường 19 đoạn từ An Khê đến Bình Khê, hồi 5 giờ 30 phút cùng ngày, Sư đoàn 3 - Quân khu 5 tiến công địch ở phía bắc Che Chẻ, chốt lăng Mai Xuân Thưởng, Đồi Đá Chóp Nõn, điểm cao 308, 309, Định Quang, v.v., làm chủ các mục tiêu trên.

Đường 19 từ Plâyku đi Quy Nhơn bị cắt đứt.

Chiến dịch Tây Nguyên mở màn.

8 giờ ngày 4-3- 1975, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh chiến dịch họp nhận định tình hình: Ta vẫn giữ được bí mật, bất ngờ và điều địch vào dúng ý đồ của ta. Thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm: Đánh địch theo phương án thứ nhất, địch chưa tăng cường phòng ngự dự phòng.

Bộ Tư lệnh chiến dịch theo dõi kiểm tra chặt chẽ Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10; lệnh cho Sư đoàn 968 tăng thêm đạn pháo đánh vào Kon Tum, Plâyku; Trung đoàn 149 - Sư đoàn 316 nhanh chóng vượt đường 14 vào nam thị xã Buôn Ma Thuộc; Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24 chuẩn bị đánh Mê Van; 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 95B cùng Tiểu đoàn 21 chặn địch ở Bản Đôn; đề nghị đại diện Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Sư đoàn 3 Quân khu 5 ở An Khê, Bình Khê hoạt động mạnh hỗ trợ cho Trung đoàn 95A.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #154 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 12:20:15 am »

Ngày 5-3-1975, Trung đoàn 25 cắt đường 21, làm chủ đoạn phía nam Chư Cúc; Trung đoàn 9 - Sư đoàn 320 đánh cắt đường 14 đoạn phía bắc Thuần Mẫn. Tập đoàn phòng ngự của địch ở Tây Nguyên bị chia cắt với dông bằng Khu V; Buôn Ma Thuộc bị cô lập. Ta đã thực hiện hoàn hảo việc chia cắt chiến lược giữa Tây Nguyên với các tỉnh duyên hải miền Trung, cắt đứt các con đường tiếp tế của địch từ các căn cứ liên hợp quân sự, hậu cần ở Cam Ranh, Quy Nhơn, Chu Lai, Đà Nẵng lên Tây Nguyên, chia cắt chiến dịch giữa Buôn Ma Thuộc với bắc Tây Nguyên.

Tuy vậy, cường độ các trận đánh của ta trên các hướng nghi binh chưa đủ độ để buộc địch phải xử lý ở Buôn Ma Thuộc. Địch vẫn bị thu hút vào hướng Kon Tum, Plâyku. Điều này chứng tỏ nghệ thuật nghi binh lừa địch của ta tài giỏi đến mức điêu luyện, điều khiển địch theo ý muốn. Bởi vậy, trong các ngày 4, 5, 6, 7-3, địch dùng Liên đoàn 4 biệt động quân và Lữ đoàn 3 kỵ binh cùng với lực lượng bảo an giải toả đường 19, đối phó với Trung đoàn 95A. 

Ở hướng đông đường 19 - An Khê, địch dùng trung đoàn 40, 42 thuộc Sư đoàn 22 quân cộng hoà đối phó với Sư đoàn 3 - quân khu 5. Trên đường 21. địch sử dụng 1 chi đoàn xe tăng, thiết giáp, cùng với học viên Trường biệt động quân ở Dục Mỹ và lực lượng bảo an đối phó với Trung đoàn 25 ở tây Khánh Dương.

Địch bị giam chân, bị động đối phó với ta ở các hướng phối hợp, Bộ Tư lệnh chiến dịch cho Sư đoàn 320 đánh Chư Xê (nam Thuần Mẫn) để kéo Trung đoàn 53 ngụỵ ra đối phó.  Sau khi tiêu diệt địch ở Chư Xê, ngày 8-3- 1975, Trung đoàn . 48 - Sư đoàn 320 được tăng cường 2 khẩu pháo 105 mm: 3 khẩu pháo 85 mm bắn thẳng, tiến công chi khu quân sự Thuần Mẫn. 6 giờ nổ súng, đến 7 giờ 20 phút, Trung đoàn 49 diệt 1 tiểu đoàn bảo an, 2 trung đội cảnh sát, làm chủ Thuần Mẫn. Đây là mục tiêu quan trọng đấu tiên của chiến dịch. 

Lực lượng địch trong thị xã Buôn Ma Thuộc bị ép chặt từ phía bắc, chúng đang bàng hoàng, lo sợ, thì sáng ngày 9-3, Sư đoàn 10 và Trung đoàn pháo binh 40, tiến công chi khu quân sự, quận lỵ Đức Lập. Đây là tuyến phòng thủ vững chắc của địch bao gồm 5 cứ điểm nằm trên đường 14 phía tây nam thị xã Buôn Ma Thuộc. Trong ngày 9: Sư đoàn 10 chỉ chiếm được căn cứ Núi Lửa, căn cứ 23. Địch chống cự quyết liệt, đội hình tiến công của Sư đoàn 10 bị chặn lại. Sư đoàn 10 điều chỉnh đội hình, củng cố lực lượng, tiếp tục tiến công sang ngày 10-3 mới dứt điểm. Mục tiêu quan trọng thứ hai của chiến dịch đã bị tiêu diệt.

Như vậy, đến ngày 9-3- 1975, quân ta đã cài xong thế chiến lược và chiến dịch Tây Nguyên. lo Cũng trong ngày 9-3- 1975, Phạm Văn Phú, Tư lệnh quân đoàn 2, Quân khu 2 nguỵ đáp máy bay xuống Buôn Ma Thuộc kiểm tra tình hình. Buôn Ma Thuộc vẫn yên tĩnh, nhưng đề phòng ta tiến công, Phạm Văn Phú chỉ thị cho cấp dưới phải kiểm soát chặt chẽ việc phòng thủ thị xã và giao cho Vũ Thế Quang, Phó Tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh làm Tư lệnh chiến trường. Đến lúc này, địch vẫn không phát hiện được ý đồ của ta, chúng cho rằng ta đánh Thuần Mẫn, Đức Lập là để nghi binh.

Để giam chân địch tại chỗ, không cho lực lượng ở Kon Tum, Plâyku và các nơi khác ứng cứu cho Buôn Ma Thuộc, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Trung đoàn 675 pháo nòng dài sẵn sàng bắn phá sân bay Hoà Bình nếu địch đổ quân tăng cường cho thị xã và lệnh cho Tiểu đoàn 33 hoả tiễn sẵn sàng đánh sân bay Cù Hanh (Thị xã Plâyku) không cho địch cơ động bằng đường không ứng cứu cho Buôn Ma Thuộc, trói chặt lực lượng địch ở Kon Tum, Plâyku. 

Đến giờ nổ súng, lực lượng địch về cơ bản không thay đổi so với trước đó. Ở Buôn Ma Thuộc có Sở Chỉ huy tiền phương Sư đoàn 23 (gọi là căn cứ 23), Trung đoàn 53 bộ binh (thiếu 1 tiểu đoàn), 1 tiểu đoàn tăng, thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn bảo an và cảnh sát, tiểu khu Đắc Lắc. Tổng số khoảng 8.000 tên.

Buôn Ma Thuộc là thị xã lớn ở Tây Nguyên, diện tích khoảng 25 km2 chạy dài trên một vùng đồi bằng với bình độ từ 420 đến 480 m, là thị xã có tầm quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế ở Tây Nguyên.

Chiều ngày 9-3- 1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch phát lệnh tiến công. Đêm 9 rạng ngày 10, rừng Tây Nguyên vẫn nép mình lặng lẽ dưới trăng. Nhưng từ vị trí tập kết quân ta tiến vào chiếm lĩnh trận địa.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #155 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 12:20:37 am »

1 giờ 35 phút ngày 10-3-1975, cuộc tiến công mục tiêu then chốt quyết định Buôn Ma Thuộc bắt đầu. Trung đoàn 198 đặc công táo bạo luồn sâu, bất ngờ nổ phát súng đầu tiên, tiến công sân bay Ngã Sáu, sân bay Hoà Bình ở phía đông, khu kho Mai Hắc Đế ở phía tây, tây nam thị xã. Cửa ngõ phía đông, phía tây và tây nam vào Buôn Ma Thuộc đã mở.  Pháo binh chiến dịch, hoả tiễn ĐKZB, H12 bắt đầu bắn vào căn cứ Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 nguỵ. Lợi dụng tiếng súng tiến công dồn dập của đặc công và tiếng rít của đạn hoả tiễn, các đơn vị bộ binh, xe tăng, pháo tầm xa nhanh chóng vượt sông Xêrêpốc tiến vào chiếm lĩnh tuyến xuất phát xung phong.

6 giờ ngày 10-3, Trung đoàn 95B và xe tăng vượt qua cửa ngõ sân bay lên thẳng ở phía đông thị xã do đặc công chiếm giữ đánh chiếm Ngã Sáu. Cùng lúc, ở hướng tây, tây nam thị xã các đơn vị bộ binh đánh tiêu diệt các cứ điểm Chư Bua, Chư Duê, điểm cao 491. Hệ thống cứ điểm vòng ngoài thị xã trên cả ba hướng nam, tây nam, tây bắc của địch bị quân ta tiêu diệt.

7 giờ 10 phút, pháo binh tầm xa chiến dịch bắn vào Sư đoàn bộ Sư đoàn 23, tiểu khu Đắc Lắc, khu thiết giáp, khu pháo binh địch. Các chiến sĩ Trung đoàn 148 - Sư đoàn 316 áp sát đội hình, bộc phá liên tục mở cửa đánh chiếm khu pháo binh, khu thiết giáp, hậu cứ Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 53 nguy. Sau đó, Trung đoàn 148 và xe tăng tiến theo đường Phan Bội Châu, đánh địch co cụm ở khu vực Trường trung học Bồ Đề, phát triển sang Ngã Sáu hợp điểm với Trung đoàn 95B.

Ở hướng tây, địch phản kích chiếm lại khu kho Mai Hắc Đế, chặn đường tiến của Trung đoàn 174. các Chiến sĩ đặc công Trung đoàn 198 phối hợp với Trung đoàn 174 đánh chiếm lại khu kho, diệt 2 xe GMC, 2 xe M113. Thừa thắng, Trung đoàn 174 tiến công địch, chiếm khu tiếp liệu. ở hướng tây, mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của Tiểu đoàn 4 - Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 10 cùng với xe tăng Trung đoàn 273 vượt qua các ổ đề kháng vòng ngoài, đánh chiếm khu vận tải, khu truyền tin, đến 16 giờ đánh chiếm doanh trại của Tiểu đoàn 23 quân y, áp sát căn cứ Sư đoàn bộ Sư đoàn 23.

Sự có mặt của mũi thọc sâu Tiểu đoàn 4 sát cơ quan đầu não địch trong thị xã, khiến cho chúng vô cùng hoang mang, kêu cứu khẩn thiết. Tên Vũ Thế Quang, Tư lệnh chiến trường Buôn Ma Thuộc và tên Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng Đắc Lắc bỏ căn cứ lần trốn ra rừng cà phê. 

Ở hướng nam thị xã, tiểu đoàn 7 và 8 - Trung đoàn 149 - Sư đoàn 316 vượt qua suối ỉa Tam đánh vào khu tiếp vận, Sở Thú y, Ty Ngân khố, khu cư xá sĩ quan ở đường Lê Lợi; Tiểu đoàn 9 phải bôn tập đoạn đường dài 8 km tiến công vào sân bay Hoà Bình ở phía đông thị xã.

Cùng với cuộc tiến công thị xã Buôn Ma Thuộc, ở hướng Gia Nghĩa, tỉnh ly của tỉnh Quảng Đức, Trung đoàn 271 bộ binh, Tiểu đoàn 14 đặc công diệt địch trong ấp Nhân Cơ, Nhân Hải, áp sát sân bay Nhân Cơ.

Trong ngày 10-3-1975, mặc dù địch phản kích mạnh trên bốn hướng, nhưng bộ đội ta kiên cường chiến đấu, làm chủ phần lớn các mục tiêu trong thị xã.

Đêm 10-3- 1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch họp đánh giá tình hình tiến công ngày đẩu vào mục tiêu then chốt quyết định và chủ trương:

- Tập trung lực lượng nhanh chóng tiêu diệt Sở chỉ huy Sư đoàn 23 và các mục tiêu còn lại trong thị xã. 

- Triển khai lực lượng sẵn sàng dành địch phản kích, khẩn trương tiêu diệt các căn cứ bàn đạp Bản Đôn, Chư Nga, Buôn Hồ, không cho lực lượng cơ động bên ngoài của địch dựa vào đó giải toả Buôn Ma Thuộc.

- Đưa các dợn vị cao xạ áp sát thị xã bảo vệ đội hình tiến công của ta, bảo vệ nhân dân. Điều Sư đoàn 10 sang phía đông Buôn Ma Thuộc làm lực lượng dự bị và sẵn sàng đánh địch phản kích.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #156 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 07:34:55 pm »

Ngày 11 -3-1975, sau khi pháo binh chiến dịch bắn phá mãnh liệt các mục tiêu trong thị xã, từ bốn hướng, quân ta dồn tập tiến công vào căn cứ Sư đoàn bộ Sư đoàn 23. Địch điên cuồng chống cự quyết liệt. Đến 1 giờ ngày 1 1 -3-1975, toàn bộ quân địch đã bị diệt và bị bắt làm tù binh. Cuộc tiến công vào mục tiêu then chốt quyết định của chiến dịch toàn thắng.

Thị xã Buôn Ma Thuộc với 96.000 dân hoàn toàn được giải phóng. Cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt trận dân tộc giải phóng tung bay khắp nóc nhà dân, công sở, trường học trong các khu phố Lê lợi, Nơ Trang Lơn, Trần Hưng Đạo, v.v.. Nhân dân di sư tán, tối ngày 11 bắt dầu rải rác kéo nhau về. 

Hai tên Vũ Thế Quang và Nguyễn Trọng Luật chạy trốn ra rừng cà phê ngoài thị xã bị các chiến sĩ trung đoàn 24 và 174 bắt sống. Vũ Thế Quang khai là: chúng hoàn toàn bất ngờ, cả người Mỹ cũng phán đoán các ông không có khả năng đánh những thị xã lớn, cùng lắm năm 1975 các ông chỉ có thể đánh thị xã cỡ nhỏ như An Lộc, Gia Nghĩa... 

Thừa thắng, trong các ngày 12, 13, 14-3, quân ta tiến đánh các cán cứ 45, cầu Thọ Thành, Buôn Hồ, Chơ Pao, Đạt Lý, ấp Châu Sơn, Chư Nga. Bản Đôn, làm mất các căn cứ bàn đạp để phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuộc của địch. 

Lúc này, Sư đoàn 10 đã di chuyển sang phía đông Buôn Ma Thuộc sẵn sàng trong tư thế đón đánh địch phản kích.  Từ ngày 13 đến ngày 16-3, dưới sự yểm trợ của không quân. Quân đoàn 2 nguỵ cho trung đoàn 45 và 44 thuộc Sư đoàn 23 bộ binh đổ xuống Phước An, khu vực điểm cao ()81 phía đông bắc căn cứ Hoà Bình, liên kết với Liên đoàn biệt động quân 21 theo đường 21 phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuộc.

Ngày 14-3-1975, dưới sự yểm trợ của pháo binh chiến dịch, Sư đoàn 10 và xe tăng ta tiến công cụm quân địch ở điểm cao 581, diệt cụm quân của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 45 nguy. Ngày 15, ta tiếp tục tiến công lực lượng địch co cụm ở Ngã ba Nông Trại và căn cứ 53 ở sân bay Hoà Bình.

Căn cứ 53 bị diệt, tàn quân của trung đoàn 44, 45 ở khu vực 581 bị đánh tan, đã hốt hoảng chạy về co cụm ở quận lỵ Phước An.  Ngày 17-3, Sư đoàn 10 tiến công giải phóng Phước An. địch còn lại chạy về Chư Cúc. Nhưng ngay trong ngày, Trung đoàn 25 ở phía đông Chư Cúc đánh diệt một đại đội đang chạy về Khánh Dương, khoá chặt đường về đồng bằng của dịch. Ngày 18-3-1975, Sư đoàn 10, xe tăng Trung đoàn 273 tiến công tiêu diệt và bắt sống toàn bộ số quân còn lại của Sư đoàn 23 nguỵ, giải phóng vùng đông bắc tỉnh Đắc Lắc. 

Thắng lợi của trận đột phá Buôn Ma Thuộc và trận đánh thắng cuộc phản kích chiến dịch của Sư đoàn 23 nguỵ, đã đẩy nguỵ quân, nguỵ quyền miền Nam đến cảnh cùng quẫn, tan rã nhanh chóng, mở đầu bước suy sụp mới không gượng dậy được của chúng.

Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên nhận định: Trong tình hình Buôn Ma Thuộc bị mất, phương thức phòng thủ thành phố, thị xã mất hiệu nghiệm. Cuộc phản kích của Sư đoàn 23 là phương thức tích cực nhất trong phòng ngự về chiến dịch bị đánh bại, các căn cứ bàn đạp không còn, nên có thể dịch sẽ rút lui khỏi Tây Nguyên để bảo toàn lực lượng. Và như vậy, trận Buôn Ma Thuộc đã vượt ra ngoài phạm vi thắng lợi của một chiến dịch, mang ý nghĩa và tầm vóc chiến lược, đẩy địch mắc sai lầm về chiến lược. 

Nhận định đúng đắn này được minh chứng bằng chỉ thị ngày 14-3-1975 của Nguyễn Văn Thiệu rằng: “Quân viện bị cúp thiếu đạn và tiền, dịch đánh mạnh hơn năm 1968, 1972; Kon Tum, Plâyku người ít, kinh tế không có, rút quân về cứu Buôn Ma Thuộc và giữ vùng duyên hải” 1.

Cũng trong ngày này, Đại sứ Mỹ Matin đang ở Oasinhtơn gửi cho Thiệu một bức thư an ủi và hứa hẹn viện trợ với điều kiện “Nếu như có thể có cơ hội trong vài tuần tới để Quân lực Việt Nam cộng hoà đánh một trận đẹp mắt với quân Bắc Việt Nam để công chúng Mỹ thất rõ thì điều đó có tác dụng. Phản ứng chính trị ở đây (Mỹ) sẽ rất tốt, nếu có sự kiện như vậy... Tôi có thể bảo đảm chắc chắn với Ngài rằng Tổng thống Pho và các ông Bộ trưởng Quốc phòng, Ngoại giao (Mỹ) đều quyết tâm khi cuộc tranh cãi ở Hoa Thịnh Đốn chấm dứt thì các Ngài cũng sẽ được nguồn của cải cần thiết” 2. 



_________________________
1. Trích phúc trình của Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2, Quân khu 2 nguỵ lên Nguyễn Văn Thiệu ngày 7-4-1975, tài liệu lưu Bộ Tham mưu Binh đoàn Tây Nguyên.
2. Thư Matin gửi cho Nguyên Văn Thiệu, ngày 14-3-1975, lưu tại bảo mật Binh đoàn Tây Nguyên.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #157 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 07:47:19 pm »

Kết quả lời hứa hẹn của Matin là Tổng thống G.Pho ra lệnh lập cầu hàng không chở hàng quân sự khẩn cấp tăng viện cho quân nguy. Những chiếc máy bay vận tải khổng lồ C5 Galaxi chở hàng trăm khẩu pháo hạng nặng và những quả bom CBU55 của Mỹ đổ xuống sân bay Tân Sơn Nhất để chính quyền Thiệu giết hại đồng bào mình trong giờ phút tuyệt vọng.

Mặc dù được Mỹ an ủi, hứa hẹn, nhưng đêm 14-3-1975, địch bắt đầu rút lui chiến lược khỏi Tây Nguyên, mở đầu bằng việc Sư đoàn 6 không quân ở sân bay Cù Hanh đốt giấy tờ vơ vét đồ đạc chen chúc nhau lên máy bay di tản về Sài Gòn.

Tiếp những ngày sau, các đài quan sát của ta phát hiện báo về Sở Chỉ huy chiến dịch là từng đoàn xe địch hàng trăm chiếc từ ngã ba Mỹ Trạch theo đường 7 chạy về Phú Bổn; đồng thời lúc này Quân uỷ Trung ương điện cho biết địch đã rút bỏ Kon Tum, Plâyku và lệnh cho Bộ Chỉ huy chiến dịch đôn đốc Sư đoàn 320 khẩn trương đánh địch rút lui. 

Cuộc truy kích thần tốc của Sư đoàn 320 trên đường số 7, Tây Nguyên được hoàn toàn giải phóng.

Để bảo đảm an toàn cho cuộc rút lui khỏi Tây Nguyên, địch điều liên đoàn biệt động quân số 6 và 23 tăng cường cho Lữ đoàn 2 kỵ binh bảo vệ đoạn đường từ Ngã ba Mỹ Trạch đến quận Sơn Hoà, yểm trợ cho công binh sửa đường, bắc cầu vì đường số 7 đã hư hỏng nặng. Điều Liên đoàn biệt động quân số 7 ở Kon Tum về án ngữ đoạn đường từ Cheo Reo đến đèo Tu Na. Đoạn đường còn lại giao cho quân địa phương hai tỉnh Phú Bổn, Phú Yên bảo vệ. 

Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Sư đoàn 320 tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, 1 cụm pháo binh chiến dịch đuổi đánh địch. Trung đoàn 95B đơn vị đánh Buôn Ma Thuộc đang làm dự bị cho Sư đoàn 10 ở đường 21 được điều sang làm dự bị cho Sư đoàn 320. Quyết tâm của ta là tiêu diệt toàn bộ tập đoàn quân rút chạy của địch không cho chúng về co cụm ở Phú Yên, Khánh Hoà.

Đêm 16-3-1975, Tiểu đoàn 9-Trung đoàn 64 được lệnh bôn tập chặn địch ở phía đông nam thị xã Cheo Reo, tỉnh lỵ của tỉnh Phú Bổn. Bộ đội ta phải vượt các dãy núi đá tai mèo sắc nhọn, chạy tắt xuống đường số 7, trong khi địch di chuyển bằng ôtô. Cuộc chạy đua của các chiến sĩ Tiểu đoàn 9 với địch hết sức khẩn trương, quyết liệt.

16 giờ ngày 16-3, các chiến sĩ Tiểu đoàn 9 mới tới được đường 7 đoạn đông nam thị xã Cheo Reo 4 km. Đại đội 11 của Tiểu đoàn 9 nhờ ở gần nên đến trước các đơn vị 5 tiếng động hồ. Xe địch một số ít đã chạy đến Củng Sơn, nhưng đại bộ phận tập đoàn rút chạy của Quân đoàn 2 vẫn còn ở Cheo Reo. Tiếp theo cuộc bôn tập của Tiểu đoàn 9 là toàn bộ Trung đoàn 64; sau Trung đoàn 64 là Trung đoàn 48, Trung đoàn 49 (E9) và cơ quan sư đoàn. 

Sáng ngày 17-3, quân địch chạy khỏi Cheo Reo khoảng 4 km gặp trận địa phục kích của Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64. Bộ đội ta nổ súng chặn đầu. Đang còn hoảng sợ, cả đoàn xe cơ giới của địch lao ra hai bên đường, chạy hàng năm, hàng bảy, một số tên lái xe sợ quá bỏ cả xe chạy về lại Cheo Reo.

Sáng ngày 18-3, địch củng cố đội hình dùng hai thiết đoàn tăng, thiết giáp mở đường chạy về Củng Sơn. Tiểu đoàn 9 kiên cường đánh chặn. Cầu Ca Nu sập. Đường tắc nghẽn, địch bỏ xe chạy vào rừng, tìm cách lội qua sông Ba. Nhưng, trung đoàn 64, 48, 49 đã đuổi kịp, chặn đánh, diệt và bắt hàng trăm xe, hàng ngàn tên giặc.

Một phi đội máy bay A37 bảo vệ sườn của đội hình hành quân bộ của quân nguỵ, hốt hoảng ném bom nhầm xuống Liên đoàn 7 biệt động quân, làm chết, bị thương một tiểu đoàn, phá hỏng một số xe tăng, thiết giáp.  Tên chuẩn tướng Phạm Duy Tất chỉ huy cuộc tháo chạy, phải kêu lên: “Tổn thất quá nặng nề gần như tan rã”, “Liên đoàn 23 biệt động quân thường xuyên phải đối đầu với Sư đoàn 320, thường xuyên bị tấn kích” 1.


_________________________
1. Phúc trình của Phạm Duy Tất, tài liệu lưu Bộ Tham mưu Quân đoàn 3.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #158 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 07:47:43 pm »

Trong ngày 18-3, Tiểu đoàn 1-Trung đoàn 48 vây diệt 1 tiểu đoàn bảo an ở Cầu Cháy, cắt dứt đường 7 từ Phú Thiên di Cheo Reo. Để tạo thế vây diệt toàn bộ quân địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 nhanh chóng đánh chiếm thị xã Cheo Reo, nơi tụ điểm của tàn quân dịch. Được chi viện của pháo binh chiến dịch, Trung đoàn 48 mở dợt tiến công vào sân bay, toà hành chính, tiểu khu Phú Bổn, khu cố vấn Mỹ, trại lính Ngô Quyền, Ty Cảnh sát, Ty Chiêu hồi. Đài phát thanh. Sau 6 giờ chiến đấu liên tục đến 22 giờ ngày 18-3, thị xã Cheo Reo được giải phóng. Bộ đội ta tiêu diệt một bộ phận lực lượng chủ lực và địa phương Quân đoàn 2. 

Giữa lúc Sư đoàn 320 tiến công địch, giải phóng thị xã Cheo Reo, thì ở bắc Tây Nguyên, trong ngày 18-3, Trung đoàn 29 thuộc Sư đoàn 968 cùng lực lượng địa phương giải phóng thị xã Kon Tum; Trung đoàn 95A cùng với lực lượng tỉnh Gia Lai giải phóng thị xã Plâyku.

Ngày 19-3, Trung đoàn 19-Sư đoàn 968 giải phóng Thanh Bình.

Trên đường số 7, ngày 21-3, Trung đoàn 64 đuổi kịp lực lượng địch chạy trước, vây diệt chúng ở Phú Túc. Ngày 22-3, diệt địch ở Ga Pui, Trung đoàn 64 tiến sát Củng Sơn. 

Ngày 24-3-1975, Trung đoàn 64 và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên phối hợp tiến công địch ở Củng Sơn. Lực lượng địch ó đây khoảng 6.000 tên, 40 xe tăng, xe bọc thép. 12 giờ ngày 24 ta bắt đầu tiến công đến 18 giờ cùng ngày, Củng Sơn được giải phóng.

Số địch còn sống sót chạy về Tuy Hoà khoảng 11 xe M113 và một bộ phận Liên đoàn 6 biệt động quân.  Cuộc truy kích thần tốc của Sư đoàn 320 trên đường số 7 kết thúc thắng lợi. Quân ta tiêu diệt gọn tập đoàn rút chạy của Quân đoàn 2 nguỵ, gồm 4 liên đoàn biệt động quân 6, 7, 23, 25, các trung đoàn thiết đoàn số 3, 19, 21, 1 tiểu đoàn chủ lực cộng hoà, cơ quan Quân đoàn 2, nhân viên kỹ thuật Sư đoàn 6 không quân và sân bay Cù Hanh; bắt gần 8.000 tên; thu 1.400 xe các loại (có 90 xe tăng, 34 xe M113). 

Ngày 23-3, Sư đoàn 3-Quân khu 5 và Trung đoàn 95A giải phóng An Khê . Trên đường 21, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 đánh chiếm Khánh Dương, diệt và làm tan rã Trung đoàn 40 thuộc Sư đoàn 22 nguy và 4 tiểu đoàn bảo an. 

Ở Quảng Đức, ngày 20-3, Trung đoàn 21 đánh chiếm Kiến Đức và ngày 24-3 giải phóng thị xã Gia Nghĩa. 

Ngày 25-3-1975, toàn bộ Tây Nguyên-một địa bàn chiến lược được hoàn toàn giải phóng.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên biểu hiện sinh động bước phát triển cao nhất của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, vì chiến dịch Tây Nguyên khai triển trong điều kiện lực lượng và thế trận của địch còn nguyên vẹn, tinh thẩn, ý chí của quân đội Sài Gòn tuy có sa sút nhưng quyết tâm của chúng chống cự đến cùng và còn hy vọng giành thắng lợi.

Thắng địch trong điều kiện như vậy không phải dễ, ta phải có lực lượng mạnh và nghệ thuật quân sự phát triển đến đỉnh cao, đánh địch thiên biến vạn hoá, xuất quỷ nhập thẩn mới chiến thắng giòn giã như vậy. 

Ngày 26-3-1975, theo Quyết định số 54/QĐ-QP của Bộ Quốc phòng, Quân đoàn 3 được thành lập. Ngày 27-3, tại Sở Chỉ huy chiến dịch phía tây quận ly Thuần Mẫn, Đại tướng Văn Tiến Dũng công bố quyết định trên.

Quân đoàn 3 lấy phiên hiệu B3, về sau mang tên Binh đoàn Tây Nguyên, do Thiếu tướng Vũ Lăng làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp, Chính uỷ. Quân đoàn 3 gồm Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Sư đoàn 316 bộ binh, Trung đoàn đặc công 198, Lữ đoàn pháo binh 40, Lữ đoàn pháo binh 675, 3 trung đoàn pháo cao xạ 593, 232, 234, Lữ đoàn xe tăng 273, Lữ đoàn 7 công binh, Trung đoàn thông tin 29 và một đại đội tên lửa phòng không chiến thuật A72. Tổng quân số từ 45 đến 47.000 người. 

Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng chủ lực Tây Nguyên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến giai đoạn cuối cuộc chiến tranh.  Tiến công giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh Trung Bộ.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #159 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 07:48:00 pm »

Khi mặt trận Tây Nguyên nổ súng tiến công địch ở thị xã Buôn Ma Thuộc, thì ở Trị-Thiên, Quân đoàn 2 mở chiến dịch tiến công phía tây thành Huế, đánh địch cả vùng giáp ranh và đồng bằng; Sư đoàn 2 và lực lượng vũ trang Quân khu 5 mở đợt hoạt động ở phía tây và tây nam thành phố Đà Nẵng, thị xã Tam Kỳ nhằm phối hợp, chia lửa với Tây Nguyên, đồng thời tạo bàn đạp, đón thời cơ tiến công giải phóng Huế, Đà Nẵng.

Tại Nam Bộ, đêm 10-3-1975, nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tiến công và nổi dậy diệt chi khu Hựu Thạnh, vây lấn yếu khu Thầy Phó, giải phóng chi khu Thuận Thới, Ba Kè, làm chủ đoạn sông Mang Thít. Tiếp đó ta diệt 50 đồn bốt địch, áp sát thị xã Vĩnh Long.

Ở Trà Vinh, quân ta giải phóng các huyện Càng Long, Châu Thành, Duyên Hải, Cái Ngang, Cầu Kè.

Ở Cần Thơ, ta diệt đồn ông Tháp, dành chiếm căn cứ Bà Đầm, giải phóng các xã Trường Xuân, Trường Thành, Kênh Xàng, Ô Môn. Ngày 6-4, Quân khu 9 sử dụng Sư đoàn 4 và Trung đoàn 161 tiến công sân bay Trà Nóc và thị xã Cần Thơ.

Ở Quân khu 8, ngày 1 1-3, Sư đoàn 8 tiến công căn cứ Ngã Sáu diệt 2 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 7 nguỵ, phá vỡ hệ thống đồn bốt dịch ở khu vực kênh Mới và kênh Nguyễn Văn Tiếp B. Tiểu đoàn đặc công 283 diệt các dồn địch phía đông bắc Ngã Sáu và Hậu Mỹ, mở vùng giải phóng từ huyện Cái Bè tỉnh Mỹ Tho đến Mỹ An, Kiến Văn tỉnh Sa Đéc; Trung đoàn 88 diệt các đồn địch ở phía bắc Cai Lây và phối hợp với Tiểu đoàn công binh 341 cắt đường 12, hình thành thế bao vây Mỹ Tho.

Trên tuyến biên giới Kiến Tường-Long An, Sư đoàn 5 và lsư đoàn 3 bộ binh cùng một số đơn vị binh chủng và bộ đội địa phương tỉnh Kiến Tường, Long An, Tây Ninh mở thông hành lang từ Tây Ninh xuống vùng Đồng Tháp Mười, thực hiện đánh cắt đường 4, tạo bàn đạp tây nam Sài Gòn. 

Miền Đông Nam Bộ và Khu VI, lực lượng vũ trang và nhân dân tiến công địch nhiều nơi, giải phóng một vùng rộng thuộc tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông và 12 xã phía nam Long An; các đội đặc công, biệt động diệt địch ở Phú Hoà Đông, Tân Thạnh Tây, Tổng Thôn, Thới Mỹ; pháo kích sân bay Biên Hoà, căn cứ Đồng Dù, gây cho địch nhiều thiệt hại.  Trung đoàn 812-Quân khu 6 tiến công địch, giải phóng Di Linh, tiến lên Đà Lạt phối hợp với Trung đoàn dặc công 198 Tây Nguyên, giải phóng thành phố Đà Lạt và toàn tỉnh Lâm Đồng.

Sự phối hợp nhịp nhàng của các chiến trường đã tạo cho Tây Nguyên phát triển tiến công thuận lợi, giành thắng lợi nhanh chóng. Khi bộ đội Tây Nguyên đang truy kích địch trên đường 7 và tiến công thị xã Cheo Reo, thời cơ giải phóng dải đất Trung Trung Bộ xuất hiện. Ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị họp bổ sung quyết tâm chiến lược từ giải phóng miền Nam trong hai năm trước đây, thay bằng giải phóng miền Nam trong năm 1975 và ra lệnh mở cuộc tiến công Huế-Đà Nẵng. 

Nắm bắt được thời cơ, ngày 19-3-1975: các lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Trị chuyển sang tiến công giải phóng thị xã và toàn tỉnh Quảng Trị. Địch buộc phải co về phòng thủ phía nam sông Mỹ Chánh. Tuyến phòng thủ phía bắc Quân khu 1 bị đập vỡ, Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân khu 1, Quân đoàn 1 kêu gọi binh linh “tử thủ Huế”. Y thề thốt “Việt cộng bước qua xác tôi mới vô được cố đô Huế”. Còn Nguyễn Văn Thiệu thì tuyên bố trên Đài phát thanh Sài Gòn “Đà Nẵng, Huế, Quân khu 3, Quân khu 4 sẽ giữ đến cùng”. 

Bước vào cuộc tiến công Huế - Đà Nẵng, Quân khu Trị-Thiên được tăng cường Trung đoàn bộ binh 46; Quân đoàn 2 được bổ sung thêm Sư đoàn 325 (thiếu Trung đoàn 95) và Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304; Quân khu 5 có thêm Sư đoàn 304 (thiếu).

Lực lượng được tăng cường mạnh, lại tạo được bàn đạp áp sát Huế từ phía tây và tây nam, nên sau khi có lệnh tiến công Huế hai ngày, ngày 21-3, Quân đoàn 2, lực lượng vũ trang Quân khu Tn-Thiên từ ba hướng bắc, tây, nam tiến công Sư đoàn 1 bộ binh và Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến 147 nguỵ, đánh thiệt hại nặng các đơn vị này. Bộ đội ta cắt đứt, cô lập Huế với Đà Nẵng ở đoạn quốc lộ 1 từ Mũi Né đến Bái Sơn, tiến hành bao vây Huế.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM