Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:48:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm  (Đọc 84344 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #20 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2009, 06:23:27 am »

Đồng ý với Lon Xằm. Khuynh hướng popular hóa lịch sử thậm chỉ không có cả tác dụng giải trí.
Logged

Chết vì ghét người!
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #21 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2009, 09:06:23 am »

      "Đến khi người Pháp cai trị, chắc là họ có mở sách cũ, học được thói đối xử của Cao Biền, nên đã san bằng đền thờ thần Tô Lịch, để xây dựng lên ở đó, là Nhà Thờ lớn hiện nay vậy."

     Theo định nghĩa trên thì tôi thấy câu văn "Đến khi người Pháp cai trị, chắc là họ có mở sách cũ, học được thói đối xử của Cao Biền, nên đã san bằng đền thờ thần Tô Lịch, để xây dựng lên ở đó, là Nhà Thờ lớn hiện nay vậy."  mà bạn bảo sai về lịch sử. Tôi nghĩ không cần đi sâu quá về khía cạnh lịch sử nhiều, đó chỉ là một hạt sạn nhỏ  trong bài do nhân dân các thế hệ truyền miệng và muốn tạo cho câu truyện có độ thật và huyền bí hơn nên đã lồng ghép thêm lịch sử với truyền thuyết.
     

Từ thời Pháp xây Nhà Thờ Lớn tới nay là bao nhiêu năm mà tạo thành 1 "truyền thuyết" sai lạc lịch sử như thế hả bạn? Truyền thuyết đành là TP văn học dân gian nhưng nó cũng là 1 tài liệu lịch sử. Về thời xa xôi thì không nói chứ những gì mới diễn ra cách nay hơn 100 năm mà sai thế này thì làm sao mà châp nhận được?
Logged
donghai
Thành viên
*
Bài viết: 169


Vì nước quên thân - Vì dân quên mình


WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2009, 10:24:52 am »

    
[/quote]

Từ thời Pháp xây Nhà Thờ Lớn tới nay là bao nhiêu năm mà tạo thành 1 "truyền thuyết" sai lạc lịch sử như thế hả bạn? Truyền thuyết đành là TP văn học dân gian nhưng nó cũng là 1 tài liệu lịch sử. Về thời xa xôi thì không nói chứ những gì mới diễn ra cách nay hơn 100 năm mà sai thế này thì làm sao mà châp nhận được?
[/quote]

            Đúng là đoạn văn trên đã sai về phần lịch sử. Tôi đã tìm hiểu nhiều và xin cải chính lại Nhà thờ lớn Hà Nội được Pháp xây dựng từ năm 1883 và được khánh thành 4 năm sau trong dịp lễ Giáng sinh 1887 trên  mảnh đất Chùa Báo Thiên.

 http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=12522&rb=0401
Logged

Đông Hải

             

                Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta.
                Tuổi ấu thơ  hùng anh cho chí tuổi già.
donghai
Thành viên
*
Bài viết: 169


Vì nước quên thân - Vì dân quên mình


WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2009, 10:29:47 am »

    Tôi sẽ cố gắng kiểm tra tính chính xác của các câu truyện truyền thuyết sắp tơi sẽ đưa lên diễn đàn. Nếu có gì nhầm lẫn, sai sót mong các bạn nhắc nhở góp ý thêm cho tôi!
                                                         Đ.Hải
Logged

Đông Hải

             

                Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta.
                Tuổi ấu thơ  hùng anh cho chí tuổi già.
donghai
Thành viên
*
Bài viết: 169


Vì nước quên thân - Vì dân quên mình


WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2009, 06:33:39 pm »

Thiếu Phụ Nam Xương

 
Phần 1:
     Đời vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072), ở huyện Nam Xương, thuộc ven sông Hoàng, nay là thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân (Nam Hà), có nhà họ Vũ, tuy gia sư không thuộc khá giả, nhưng lại nức tiếng gần xa vì có cô con gái xinh đẹp, nết na, vừa khéo tay, hay làm, lại biết đảm đang quán xuyến công việc. Nàng tên là Vũ Thị Thiết.

     Con trai trong vùng đến dạm hỏi. Cha mẹ nàng cũng nhiều phen cân nhắc, đắn đo và cuối cùng nhận lời gã cho một chàng trai cùng làng, thuộc dòng họ Trương. Gia đình chàng Trương này rất giàu có, lại chỉ có hai mẹ con. Tuy nhiên, anh chàng này thuôïc loại người vai u thịt bắp, không đến trường lớp học hành gì cả.

     Sự cân nhắc của cha mẹ cô gái kể ra cũng chu đáo. Xưa nay cha mẹ nào không muốn gả con cho gần? Lại gả vào nơi khá giả và không phải tranh giành với ai thì càng tốt chứ sao? Còn chàng rể tương lai, xem ra cũng thuộc loại "được": Khỏe mạnh, chăm chỉ lại hiền lành. Tuy kém về đường học hành, nhưng không ai thấy chàng ta đi ngang về tắt, hoặc sa vào con đường cờ bạc rượu chè. Ở nhà quê, suốt đời cày sâu cuốc bẩm và lo chí thú làm ăn, thì thử hỏi, chọn được chàng rể và gia đình như thế, có khác nào như bắt được vàng.

     Họ nhà gái phấn khởi đã đ ành, còn họ đ àng trai sự vui mừng càng tăng thêm gấp bội. Có cô con gái nhất làng làm về làm dâu họ, thì sao lại không vui mừng? Phen này nhất định sẽ tổ chức đám cưới thật to, các họ khác nhìn vào cứ gọi là lác mắt! Hoa thơm đã có người hái, người họ khác ngồi mà chờ đến mùa quýt sang năm!

     SaÜn của, họ nhà trai thịt đến ba bò bảy lợn. còn rượu thì hàng trăm vò, thả sức uống say. Mọi người trong làng trong xã được dịp ra ra vào vào, nên mặt lúc nào cũng trông đỏ tưng bừng, còn làng nước thì đua nhau kéo đến trông nườm nượp. Ăn uống dòng dã suốt ba ngày liền. Phường chèo cũng về hát và làm trò suốt ba đ êm. Từ các mâm rượu, từ các cuộc vui, mọi người cười nói oang oang. Xóm mạc tưng bừng như mở hội. Ở ngõ ngách nào cũng chỉ bàn về đám cưới. Thôi thì đủ các ý đẹp lời hay và các kiểu tán tụng. Rượu thịt nhiều thì kể ra cũng khác thật!

     Vì thói đời thì hay phù thịnh, nên trong lúc say sưa, người nào người nấy cũng chỉ thấy nói đến sự tốt đẹp. Nào môn đăng hộ đối, nào giai lão bách niên, rồi con đ àn cháu đống, rồi lại như hoa như nụ ... Thôi thì chẳng thiếu một mỹ tự nào!

     Ngay cha mẹ cô dâu cũng vậy, cứ đinh ninh là  đã chọn được một chàng rể nên người. Họ mừng thầm cho con gái, dẫu chưa vào được nơi sang quý, nhưng chí ít, cũng là chốn mát mặt thảnh thơi. Hỏi thử khắp cả làng này, đã có ai bằng được?

     Nhưng thói đời thường hay phù thịnh, vì thế mà cũng thành ra nông nỗi thế nào. Chàng rể của họ, được tiếng rằng hiền, nhưng thực ra lại là một người rất cục. Nhà con một, lại được nuông chiều từ nhỏ và chẳng hay tiếp xúc với ai, nên cái cục ấy chưa có dịp phát lộ ra bên ngoài.

     Không học hành gì, nên sự suy xét của chàng Trương cũng thật xốc nổi, nông cạn, chỉ được cái khôn vặt. Đã thế, đến lúc có vợ, tính khí của chàng lại thêm những điểm lạ lùng. Cứ như trên đời này chỉ mỗi vợ mình là  đẹp, nên chàng ta canh chừng, cấm đoán, chẳng muốn cho vợ tiếp xúc , chuyện trò với ai. Đã đ ành trai gái hay ghen, nhưng ở chàng Trương, sự ghen tuông đã đến mức lố bịch, nó là sản phẩm của một lòng dạ nhỏ nhen và một đầu óc rất mực u tối. Từ khi về nhà chồng, cô gái họ Vũ quả nhiên trở thành một người vợ hiền, dâu thảo. Mọi việc, từ trong nhà  đến đồng bãi đều do một bàn tay nàng quán xuyến, đảm đang. Lo ruộng trên bờ dưới nước phân giống má. Lo con lợn con gà, đường kim mũi chỉ, rồi cơm ngon canh ngọt cho cả nhà. Thôi thì thượng vàng hạ cám, chẳng thấy lúc nào nàng để tay chân không, công việc nối tiếp công việc, mà việc nào cũng thực chu đáo, đâu vào đấy cả. Mẹ chồng thấy nàng dâu như thế, vui như mở hội trong lòng. Còn anh chồng thì được thể, lại càng ăn no ngủ kỹ, giao hết công việc cho vợ lo liệu. Duy có điều, mỗi lần vợ ra khỏi nhà, anh ta cảm thấy lòng dạ chẳng yên, nên tìm mọi cách để theo, vì vậy, tiếng là  đi làm, nhưng thực tình là  để canh chừng vợ.

     Biết ý chồng, chị vợ mỗi khi tiếp xúc với ai cũng hết sức dè chừng. Còn lo công việc thì dường như đã thành bản tính của chị. Vì thế, gia đình họ được tiếng là gia đình êm ấm, thuận hòa, đáng làm gương cho mọi gia đình khác. Lúc này chị vợ cũng đã bắt đầu có mang.

     Giá như không có chiến tranh, không có sâu bệnh hạn hán lụt lội để cho dân chúng yên ổn làm ăn, lúc nào cũng ngô lúa đầy bồ, gia súc đầy sân thì còn vui mừng nào bằng. Và gia đình chàng Trương, dẫu anh chồng có tính hay ghen thì cũng chẳng làm sao. Anh ta ghen thế chứ ghen gấp mười lần thế, chị vợ cũng dè chừng được, và gia đình họ mãi mãi chẳng hề hấn gì.

     Tuy nhiên, tai họa từ trên cao đổ ập xuống đầu mọi người: Chiến tranh nổ ra giữa Đại Việt và Chiêm Thành đúng lúc mà gia đình chàng Trương đang sum họp yên ổn ấy.

     Vua Lý Thánh Tông Đại Việt cho rằng vua Chiêm Thành Chế Củ không biết lễ độ: Không giữ tình lân bang, chẳng chịu triều cống, lại còn hay cho quân lính cướp phá ở biên giới. Vậy nên cần phải mang quân đi "dậy" cho một bài học nhớ đời.

     Nhà vua đích thân làm Đại nguyên soái thống lĩnh ba quân. lệnh ban xuống cho mỗi thôn ấp phải lấy cho đủ quân số. tất cả trai tráng, dù con một mà không đươc học hành gì, cũng phải lên đường. Bà mẹ chàng Trương ở lại miền Nam Xương, dù  đã khóc đến hết nước mắt, lại mang lễ vật đến tất cả các cửa, mà cuối cùng con trai cũng không thoát "nạn".

     Ngày chàng Trương lên đường, chị vợ nước mắt chạy quanh, lại đang bụng mang dạ chửa, nhưng cũng làm mâm cơm để mời anh em, họ hàng đến dự. Thôi thì đủ các lời động viên, cho nên bà mẹ phải chờ cho mọi người về hết mới dám khuyên con:

     - Thôi thì đ ành vậy. Nhà vua đã có lệnh, mẹ cũng chẳng giữ được con ở nhà. Chỉ xin con nhớ rằng nhà mình mấy đời chân lấm tay bùn, nên chẳng cần con phải xông pha nơi mũi tên hòn đạn để thăng quan chức làm gì. Vinh hoa để dành cho người khác, còn con giữ lấy hai chữ "bình an" mà trở về, cho mẹ khỏi lo phiền.

     Chị vợ cũng nắm lấy chồng vạt áo chồng, nói tiếp:

     - Thiếp chỉ mong chàng làm được như lời mẹ dặn. Ở nhà mọi việc chàng cứ yên tâm, đã có thiếp đảm đương. Vợ chồng là nghĩa trăm năm. Đời thiếp trước sau chỉ một chàng. Gia đình ta mai ngày rồi sẽ được đoàn tụ ...

     Chàng Trương lặng thinh không nói năng gì, cũng chẳng có cử chỉ nào. Chàng ta nhìn chăm chăm vào bụng vợ, rồi đột ngột đặt tay lên ngực mình mà nói:

     - Tôi đã suy tính kỹ càng, chẳng có gì lo cho tôi đâu. Nàng hãy lo đến công việc ở nhà. Rừng ruộng nhiều thì cố mà làm, không nên chung đụng với người khác. Khi sinh con, đặt tên cho nó là thằng Đản, chắc nó sẽ là con trai ...

     Nói rồi chàng điềm tĩnh bước ra khỏi nhà, không một lần ngoái đầu nhìn lại.

     Anh lính họ Trương quả nhiên đã là một tay khôn ranh có hạng, nên trong suốt cuộc chiến tranh, đều tìm được cách thoát hiểm dễ dàng. Hiển nhiên anh ta không dũng cảm, cũng chẳng hăng máu vịt bao giờ. Luôn luôn tìm mọi cách, mọi cớ để tụt hậu, không phải đánh giáp lá cà. Khi ở tuyến sau, khi vào đội tải lương, lúc thì làm liên lạc. Khi buộc phải xông lên phía trước cùng đội quân đầu tiên, thì chỉ chục bước chân, anh ta đã tìm được cách ngã. Nếu quân ta thắng thì anh ta xông lên phía sau, còn nếu quân ta thua anh ta chạy lui phía trước. Suốt cuộc chiến tranh, anh ta chỉ "diễn" độc có "trò" đó mà xem cũng thành công mỹ mãn, chẳng phải sứt đầu mẻ trán gì. SaÜn tính dễ ăn dễ ngủ, anh ta bỏ qua mọi lo lắng ưu phiền. Nếu có lúc nào đó chợt nhớ đến mẹ già, vợ trẻ thì anh ta tặc lưỡi: "Vẫn thế cả thôi mà", rồi ngủ tiếp.

     Ấy vậy mà trong những ngày này, bà mẹ chàng Trương lại lo đến phát ốm. Chị vợ đã mệt lại càng thêm mệt. Tuy nhiên, là người phụ nữ đảm đang, chị vẫn gắng gượng mọi việc lo tròn.

     Kể từ ngày chàng Trương ra đi, nửa năm sau, ở nhà vợ chàng sinh được một mụn con trai. Thằng bé hơi gầy nhưng nét mặt thì giống bố như tạc. Nhớ lời chồng dặn, chị đặt tên cho nó thằng Đản.

     Trong những ngày con dâu nằm "ổ", công việc lặt vặt tự nhiên phải "trút" sang cho mẹ chồng, vì gia đình không nuôi người ở. Bà cụ, tuy mừng thì có mừng, nhưng tuổi cao lại saÜn bệnh tật, nên cũng không thể "trụ" được lâu dài. Bởi vậy, khi con dâu rời "ổ" thì cũng là lúc bà mẹ ốm liệt giường.

     Một nách con nhỏ, lại công việc, ấy thế mà chị vẫn chạy vạy, lo tìm thầy thuốc rồi cơm cháo hậu hạ bà mẹ chu đáo hàng mấy tháng trời. Làng xóm thấy vậy ai cũng ngợi khen, còn bà mẹ thường nắm tay con mà nói:

     - Mẹ biết sức mẹ cũng chẳng cố thêm được đâu, con đừng quá lo lắng, chạy vạy mà sinh ốm sinh đau thì khổ ...

     Đến khi sắp hấp hối, bà cụ còn căn dặn thêm:

     - Mẹ thấy ... trong người ... yếu lắm ..., không còn được gặp ... bố thẳng Đản ... trở về ... con ở lại ... trông nom ... có con có cháu ... thế này ... mẹ cũng ... hả lòng hả dạ ... Ới con ơi ... Ai gây ra ... cuộc binh đao ... có thấu cho ... mẹ con tôi ... nông nỗi ...

     Vừa nói bà cụ vừa nức nở, rồi nấc khan vài tiếng, đoạn, hai tay buông xuôi, vành mắt cũng từ từ khép lại ... Bà cụ đã "đi" rồi, trên gò má vẫn còn đọng lại mấy giọt nước mắt nóng hổi.

Logged

Đông Hải

             

                Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta.
                Tuổi ấu thơ  hùng anh cho chí tuổi già.
donghai
Thành viên
*
Bài viết: 169


Vì nước quên thân - Vì dân quên mình


WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2009, 06:35:00 pm »

 
Thiếu phụ Nam Xương
Phần 2:
     Chị vật vã than khóc bên xác mẹ. Họ hàng, làng xóm kéo đến, cùng chị lo liệu đám tang. Tuy không có người chồng ở nhà, nhưng mọi vệc đều chu đáo, ai ai cũng đều cảm phục và ca ngợi lòng hiếu thảo của chị.

     Từ ngày bà mẹ chồng qua đời, vợ chàng Trương phải một mình đảm đương quán xuyến công việc. Những việc không đừng được chị mới nhờ người, mà toàn là chỉ đ àn bà con gái với nhau cả. Giữ cho được một gia tư bề thế, đầy những ruộng cả ao liền, quả là  điều không dễ. Lại phải bồng bế, nuôi nấng con thơ nên nỗi vất vả lại càng chồng chất. Đi đến đâu chị cũng phải địu con theo. Lúc nào chị cũng tất bật vội vội vàng vàng ... Những khi mưa dầm gió bấc hoặc đ êm hôm khuya khoắt, trong căn nhà trống trải chỉ thui thủi có hai mẹ con, thì nỗi buồn lại càng như nẫu ruột nẫu gan thêm.

     Nhưng rồi những ngày ảm đạm nhất cũng qua đi. Đứa bé lớn dần. Biết lẫy, biết bò, rồi tập đi, tập nói. Có đứa trẻ trong nhà, thỉnh thoảng lại bi bô, nỗi buồn của chị cũng vơi nhẹ và nhà cửa cũng đỡ quạnh hiu. Chị hay bày ra các trò chơi và  đồ chơi để con ngồi một mình, vì dẫu sao cũng phải làm nhiều công việc khác.

     Khi đứa trẻ nói sõi và bắt đầu biết nhận xét đôi chút thì một hôm nó hỏi:" Mẹ ơi, bố đi đâu?". Mặc dù biết rồi có lúc con sẽ hỏi câu hỏi này, nhưng cứ nghĩ nó còn bé quá, nên chị trả lời cho xong việc: "Bố đi vắng rồi."

     Nào ngờ, thằng bé vẫn hỏi tiếp:" Thế bao giờ bố trở về?"

     Chị lăng ra lúng túng, rồi đ ành phải trả lời thật:"Bố đi đánh giặc xa lắm, chưa về nhàđược". Thế là thằng bé lắc đầu quày quạy, rồi lăng ra khóc, đòi mẹ:" Phải đưa bố về! Phải đưa bố về nhà kia! ..."

     Chị thực sự bối rối, nước mắt chảy quanh dỗ con mà lòng dạ tan nát. Đứa bé vẫn cứ khóc. Lúc ấy, lợn trong chuồng lại đang rít lên đòi ăn. Không thể ngồi lâu, và thế là chị đã buột miệng thốt ra cái câu tai hại nhất:"Đến tối bố về!". Đến tối! khi người mẹ thấp đ èn lên để trong nhà sáng sủa cũng là lúc đứa bé nhớ ra, và nó lại đòi đến mấy lần: "Mẹ ơi bố đâu rồi!".

     Chị thảng thốt nhìn quanh, như thể chờ đợi sự xuất hiện của phép thần. Cửa lúc ấy đã khép và cổng bên ngoài cũng đã đóng ... chợt nhìn thấy cái bóng của mình đang lung linh trên vách, chị nhanh trí chỉ liền cho con thấy:"Đấy!Bố đấy! bố đã về với đản đấy!".

     Đứa bé trố mắt ra ngạc nhiên, mọi lần trước, nó hoàn toàn chưa để ý đến chuyện này. Thế là nó reo lên, chạy về phía ấy. Biết ý, chị vẫy tay để cái bóng cũng vẫy tay theo, và thằng bé sung sướng, cười lên như nắc nẻ ...

     Chuyện đời nhiều khi nghĩ cũng thật oái ăm. Cái trò chơi vô hại ấy, cuối cùng rồi cũng trở thành có hại. Nhưng đó là chuyện xảy ra về sau, còn bây giờ, tối nào thằng Đản cũng bắt mẹ thắp đ èn lên để cho bố nó về. Tối nào hai mẹ con chị cũng chơi đến tận khuya, chỉ khi nào thằng riú mắt lại buồn ngủ, nó mới chịu thôi. Đấy cũng còn là cái cách một công đôi việc của người mẹ: Trong lúc thằng bé đ ùa nghịch, chị cũng tranh thủ vá may và làm được vô khối công việc nửa.

     Kể ra, nếu đầu óc thằng bé bớt đần độn đi đôi chút, chắc trò chơi này cũng không kéo dài được lâu. Cái sự đần độn của nó, cũng như cái tính thiển cận dẫn đến hay ghen của người bố, chắc là do trời định. Và cũng là do trời định, cả cái tài đảm đang tháo vát của người thiếu phụ chờ chồng, đã bày đặt ra trò vui, để tự động viên, nhưng cũng là  để tự lừa dối mình.

     Giá như người mẹ chẳng nghĩ cách tạo ra thêm nhiều hình thù mới mẻ, ngộ nghĩnh trên vách, thì chỉ sau mấy lần, thằng bé cũng sẽ chán. Đằng này, để cho đứa con vui, dường như chị cũng tự huyễn hoặc ngay cả bản thân mình. Khi về chàng Trương biết chuyện chắc sẽ mãn nguyện mà cười vang lên, hả hê sung sướng lắm ...

     Vẫn nhớ đinh ninh cái tính hay ghen đến kỳ cục của chồng, tối nào chị cũng gài chặt cánh cổng ngõ. Lại còn tấp thêm mấy ngọn tre gai ở phía trong.

     Quả nhiên, đ êm hôm chẳng có kẻ nào mò đến cả. Thế nhưng, tiếng nói tiếng cười của hai mẹ con và ánh đ èn, thì chẳng cánh cổng nào ngăn lại được. Theo kẽ vách, ánh sáng hắt cả ra ngoài sân, còn tiếng nói tiếng cười thì văng vẳng tận hàng chòm hàng xóm ...

     Mấy ngày nay sao có con chim khách về hót trước nhà: "Chim báo điềm lành chăng?" Lòng người thiếu phụ thấy xốn xang: Chồng chị mãn hạn lính sắp trở về đây. Tính từ ngày chàng Trương ra đi, đến nay đã ngoài hai năm và  đứa con cũng đã gần ba tuổi. Nếu lúc này chồng chị về thật, thì còn niềm vui sướng nào bằng? Chị nghĩ thầm. Bà mẹ dầu sao cũng đã mồ yên mả đẹp, và chị cũng đã làm trọn bổn phận làm dâu của mình, nếu bây giờ chị hay nghĩ đến chồng thì cũng có gì đáng trách? Ôi! Chẳng phải xe ngựa hay võng giá xênh xang, mà chỉ cầu chồng mặt mũi tay chân lành lặn trở về là  được rồi. Nghĩ đến đấy, đôi mắt chị long lanh, hai gò má chị ửng hồng, còn trong lồng ngực, trái tim đập thình thịch ...

     Thế rồi chỉ mấy ngày sau, chàng Trương chồng chị đã trở về nhà thật!.

     Vua Đại Việt tưởng có thể đ è ngay bẹp vua Chiêm Thành, nhưng nào ngờ, mấy trận đầu đã bị thua liểng xiểng. Nhà vua rút quân về sâu trong lãnh thổ, cách thật xa biên giới để củng cố lực lượng và có lúc chán nản, đã toan rút quân về. Nhưng rồi sau có quân tiếp viện và lương thực tới, có thượng tướng Lý Thường Kiệt can ngăn, lại có "biểu" khích lệ của bà Nguyên phi nhiếp chính Ỷ Lan, nên cuối cùng nhà vua cũng lấy lại được sĩ khí, quyết tâm xuất binh thắng trận.

     Khi bài học mà nhà vua "dậy" xong, nghĩa là quân Chiêm Thành đã đại bại, thì bên phía quân ta, thiệt hại cũng không phải ít. Tính ra, phải ngoài hai năm cuộc chiến mới thật tàn, cướp đi vô số sinh mạng và của cải.

     Anh lính họ Trương, như đã nói, do có máng khóe, nên cuối cùng vẫn bình yên vô sự. Chàng ta trở về mà lòng dạ hân hoan. Lại sắp được cặp kề bên vợ. Lại được nhìn thấy mẹ già. Lại có cả thằng con nhỏ lũn cũn chạy theo sau. Nổi mừng tựa như chấp cánh mà bay lên vậy.

     Nhưng nào ngờ, vừa đặt chân tới đầu làng, chàng Trương đã hay tin mẹ mất. Chàng nắc lên nức nở rồi vội vả bước thật nhanh về nhà. Đẩy cổng bước vào, thấy vợ con lúi húi dưới bếp, chàng cũng chỉ nhìn qua, rồi vội bước trên nhà trên, quẳn bọc quần áo xuống đất và lăn ra khóc thảm thiết. Về sau trong làng, có người bảo đấy là người con hiếu thảo hết lòng, nhưng có người lại cười thầm: Sao mà nông nỗi hồ đồ đến vậy!

     Chị vợ dắt con từ nhà bếp lên, tần ngần một hồi trước cảnh tượng, rồi cuối cùng cũng phải lựa lời khuyên nhủ chồng. Chàng ta đã thôi cơn khóc, liền xòa tay ôm lấy đứa con, như thể cầu mong một sự chở che, nhưng đứa bé rãy nãy vùng chạy ra, làm cho chàng ta cảm thấy bị hụt hẫng. Chị vợ chẳng biết làm thế nào, chỉ trơ mắt đứng nhìn chồng. Chàng ta bảo vợ tìm nắm hương, be rượu, mấy quả cau và lá trầu không để đi viếng mộ mẹ. Lúc vợ đi chuẩn bị, thì người chồng cũng tìm cách dỗ dành đứa con, nhưng hai mắt nó dương thao láo, nghe thấy mà chẳng nói năng gì. Chắc là nó vừa lạ vừa sợ.

     Chàng Trương cầm lễ vật, bế cả đứa con để đi viếng mộ mẹ, bởi vì lúc này họ hàng làng xóm cũng đã bắt đầu đến chơi, chị vợ phải lo đun nước, dọn dẹp nhà cửa ... nên bế nó không tiện.

     Dường từ nhà ra mộ mẹ cũng khá xa,nhưng biết đám ruộng chôn nên chàng Trương cũng không phải hỏi ai. Vừa đi chàng vừa sụt sùi, làm cho đứa bé sợ hãi, hai tay cứ ôm riết lấy cổ bố. Đến mộ, đặt lễ vật và thắp hương xong chàng ta lại òa lên khóc nức nở. Vừa khóc vừa kể lể nguồn cơn. Rồi vật vã, rồi lại gào lên những hồi thảm thiết. Thấy người lớn khóc, đứa bé cũng khóc theo. Một lúc lâu sau, dường như chợt tỉnh ngộ, chàng Trương mới nhớ tới việc dỗ con. Và lần đầu tiên trong đời, đứa bé được nghe chàng ta gọi là "con" và xưng là "bố":

     - Thôi, nín đi con, đừng khóc nữa. Bà đã mất rồi, lòng bố cũng đang tan nát đây. Nào đứng lên, về với bố đi con.

     Đứa bé lúc này đã nín, nhưng nó lại giương cặp mắt nhìn người bố ngơ ngác. Nó nhớ nó đã cómột người bố đen truùi trũi, đ êm nào cũng trở về với hai mẹ con nó kia. Người bố ấy tuy không bao giờ nói, nhưng lần nào mẹ nó cũng bảo đấy là bố thật, và nó đã tin theo. Bởi vậy, nó trả lời chàng Trương - người bố đang đứng trước mặt:

     - Ô ... ông ... Không phải là bố. Bố tôi đến tối mới về kia!

     - Ai bảo thế? Chàng Trương liền saÜng giọng.

     Đứa bé giương mắt thao láo đáp: "Mẹ!"

     Chỉ vừamới nghe có thế đã thấy chàng Trương giận dữ điên cuồng. Máu dồn lên mặt, hai tai ù  đặc, chàng ta toan giang tay tát thằng bé, nhưng như chợt tỉnh, hai tay chàng bỗng buông sõng, lẩy bẩy, và hai tròng mắt cứ tự nhiên cũng ráo hoảnh. Thay vì nỗi đau, bây giờ trong lòng chàng chỉ còn là sự căm giận và cơn ghen đang mỗi lúc mỗi bốc lên ngùn ngụt.

     Chẳng nói chẳng rằng, lại quên cả thu lễ vật, chàng ta vội vã bế thốc đứa bé. Do cảm nhận được thái đôï của "người bố", đứa bé cũng chẳng dám, dù chỉ là cựa quậy. Miệng nó nín câm như thóc còn mặt mũi thì tái xanh tái xám.

     Chàng Trương dường như đã chạy thẳng về nhà, nét mặt hằm hằm, gặp ai cũng khồn chào hỏi. Cơn giận dữ của chàng đang đến độ điên khùng.

     Đặt phịch đứa con xuống sân, chẳng chào hỏi ai, chàng ta vội vàng xuống bếp túm lấy tóc vợ, lôi đi sềnh sệch. Vừa chửi, chàng ta vừa vung tay tát vợ liên hồi. Khách khứa đột nhiên thấy cảnh này, ai cũng tròn xoe mắt, một hồi sau mới dám vào can.

Logged

Đông Hải

             

                Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta.
                Tuổi ấu thơ  hùng anh cho chí tuổi già.
donghai
Thành viên
*
Bài viết: 169


Vì nước quên thân - Vì dân quên mình


WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2009, 06:37:25 pm »

Thiếu phụ Nam Xương

Phần 3:

     Chị vợ bị đau, bị nhục quá, vừ khóc vừa chạy thẳng ra khỏi nhà ... cơn giận của chàng Trương vẫn chưa hả, lại chợt nhớ nỗi đau mất mẹ, chàng ta còn quát với theo:

     - Bước! Đồ đĩ! Giá mày chăm sóc mẹ tao tử tế thì đâu đến nỗi. Mẹvừa nằm xuống mà mày đã vội rước trai về nhà. Đồ quạ tha. Bước! Bước! ...

     Lúc ấy, họ hàng làng xóm mới bắt đầu bình luận. Những người ở xa thì bảo: "Xưa nay có thấy chị ấy chuyện trò lâu với ai bao giờ?" hoặc "Bận việc nhà,việc đồng bãi. Lại nách con nhỏ như thế, hỏi còn bụng dạ nào mà nghĩ đến chuyện trai trên gái dưới?" Nhưng những người láng giềng lại nói: "Đêm nào cũng thấy cửa đóng im ỉm, mà trong nhà  đ èn thắp sáng trưng, đến khuya vẫn còn tiếng cười tiếng nói." Chưa ai hiểu thế nào. Thế rồi có một người độc mồm độc miệng đã hạ một câu: "Tâm ngẩm mà  đấm chết voi. Loi choi đấm voi không chết". Lại một người nữa: "Xưa nay ai biết ma ăn cỗ bao giờ?". Thật rõ là "miệng lưỡi thế gian!", và mọi người vẫn còn bàn tán mãi ...

     Chị vợ chàng Trương vùng chạy khỏi nhà  để thoát khỏi bị chửi bới đánh đập, để khỏi con mắt nhìn khinh rẻ của những người đến chơi. Khi đã mệt, sức không chạy được nữa thì chị lảo đảo rồi ngồi bệt xuống bên vệ đường và những suy nghĩ lộn xộn cũng từ đâu dồn cả lại. "Sao thằng chồng lại vũ phu, đểu giả đến thế? Vừa về đến nhà, chưa kịp hỏi han đầu đuôi xuôi ngược ra sao, mà hắn đã chửi đã đánh?"

     Chị hiểu ngay là do đứa con nói "Tối bố mới về", nên hắn tưởng thật mới đánh đòn ghen, nhưng lúc này đây, nỗi phẫn uất tím ruột bầm gan khiến chị không thể quay về để thanh minh với hắn và với mọi người. "Ta không thèm trở về nhà hắn nữa", chị nghĩ, rồi đứng dậy, lững thững bước ra mé bờ sông Hoang vắng vẻ.

     Ở phía trước, nước sông vẫn cuồn cuộn, vô tình trồi như bao giờ. Chị nhìn xung quanh, xa xa có vài bóng người vẫn đi lại làm lụng như mọi khi, nhưng ở phía nhà "hắn", tịnh không có ai chạy ra đây cả. "A! Thế nghĩa là anh em họ hàng xa gần nhà hắn cũng đều nghi ta". Chị nghĩ. "Được, các người cứ ngồi ở đấy mà bàn tán với nhau đi, ta đây chẳng thèm nói lại nửa lời. Ta khinh thường tất cả các người! Nào giỗ tết, nào ma chay, sao kéo đến ăn thì đông, mà bây giờ không có ai đứng ra để nói được một lời tử tế?".

     "Ruộng cả ao liền, tưởng như thế mà muốn chửi bới đánh đâïp ta được à? Bao mồ hôi công sức vất vả khó nhọc mấy năm nay của ta, sao các người không mở mắt ra mà ngẫm cho kỹ?"

     Đến lúc này, khi cơn giận dữ người chồng đã chuyển sang giận dữ cả anh em họ hàng nhà chồng, thì lập tức chị cũng hiểu ngay: Con đường rút về nhà bố mẹ đẻ của mình đã hết. "Về lúc này chỉ chuốc thêm lấy nhục nhã ê chề", chị nghĩ tiếp, "Họ hàng có người sẽ bảo không có lửa làm sao có khói?, vậy ta biết ăn nói thế nào? Dẫu cây ngay không sợ chết đứng", nhưng làm sao mà tránh khỏi được sự nghi ngờ?".

     Càng nghĩ chị càng thấy mình đang lâm vào tình cảnh cùng quẫn, không còn lối thoát nào. Nhớ lại đoạn đời từ khi bước chân về nhà chồng đến nay, chị cũng chỉ cảm thấy ghê tởm. "Nhà con một giàu có, bố mẹ ta cứ ngỡ là vàng, nhưng nào có biết hắn chỉ là thằng đần độn, vũ phu, còn ta thì chẳng khác cái thân tù, đi đâu cũng phải xét nét. Bây giờ mà hắn đánh đập thế, thì thử hỏi mai sau, liệu có thoát được không?"

     "Thôi! Thà rằng chết quách đi cho rảnh, còn sống làm gì nữa?" Cuối cùng chị đi tới quyết định. "Ta chết đi để cho bố con hắn sống một mình". Ôi! Thằng con! "Đản ơi! Sao ba tuổi rồi mà mày không phân biệt nổi một người với một cái bóng? Mặt mũi mày giống bố mày thế, thì thử hỏi mai sau tao biết trông cậy vào ai? ..."

     Người thiếu phụ loạng choạng đứng dậy, nhìn xuống dòng sông một hồi như thể còn cân nhắc điều gì, đoạn thấy chị ngoái nhìn lại phía sau và khắp bốn xung quanh. Trong sâu thẳm cõi lòng, chị vẫn còn le lói một tia hy vọng cuối cùng, tia hy vọng sự sống, và  đấy là cái bản năng muôn thuở của con người ta, dù rằng về lý trí thì đã quyết một bề : Chết! Nếu lúc ấy một người ở phía gia đình nhà chồng hay một người thân nào đó của chị, hoặc thậm chí một người không quen biết xuất hiện, thì có lẽ sau đó chị cũng chẳng nhảy xuống sông tự tử ở dưới dòng sông, nhưng hỡi ơi, dường như tất cả mọi người đều đã quay lưng lại với chị, dù vô tình hay hữu ý!

     Ở gia đình chàng Trương, cho đến lúc này mọi người vẫn còn ngồi đấy mà bàn tán, đoán già  đoán non . Không một ai nghĩ đến cái điều tai hại nhất có thể xảy ra, do vậy, hệt đúng như trường hợp "cha chung không ai khóc", không một ai nói và bàn tới chuyện đi tìm chị về.

     Ở phía gia đình bố mẹ đẻ của chị, do ở xa, nên đến lúc này cũng chưa ai hay biết điều gì. Còn những người đi làm đồng bãi, những người không quen biết, trước đó dẫu có đi qua cũng không ai hiểu chị ngồi đó vì sao. Đến lúc chị đứng dậy nhìn quanh thì ba bề bốn bên, lại tịnh không có một bóng người nào ở gần đó. Thế là hết! Hỡi ơi! Thế là niềm hy vọng cuối cùng của chị đã hết!

     "Ai nghĩ ta, cười ta rước trai về nhà thì chỉ đến tối nay thôi, hãy mởi mắt to ra mà nhìn, xem có phải như thế không? Ta đây đâu phải hạng lang chạ. Ta đây đâu phải loạn con nhà mèo mả gà  đồng? Bao công phu khó nhọc bỏ ra vun đắp cho cái nhà ấy, kể từ nay, ta cũng coi như đã đổ xuống sông xuống biển. Cậy giàu cậy có của thì hai bố con cứ ngồi đây mà ăn, ta đấy không thèm ngõi nữa. Ôi, cái số ta sao lại phải sa vào với cái giống vừa ngu đần, vừa vũ phu và bạc ác đến thế? Ôi, thật ghê tởm! Vĩnh viễn từ nay ta ghê tởm!"

     Vừa nghĩ như thế, người thiếu phụ vừa loạng choạng bước xuống dòng sông tới thẳng mép nước và lội ra một đoạn. Chị cúi xuống, lấy hai tay vốc nước rửa mặt, rồi trong cơn khát, uống liền môït hơi nước đầy bụng, cảm thấy cái mát đang thấm sâu vào cơ thể mình. Ôi khoan khoái quá, chị nghĩ, và chị muốn mình cũng được mát mẻ mãi như dòng nước này!

     "Ơi sông ơi, nước ơi ... hãy đón ta vào lòng. Hãy giúp ta quên cõi đời ngang trái này ...". Vừa lẩm bẩm, hạ bàn chân chị vừa đạp mạnh xuống đất, rồi cùng lúc, dang hai tay nhoài người ra như thể định ôm lấy dòng nước vào lòng.

     Chỉ trong chốc lát, dòng sông đã cuốn trôi đi thân thể của chị.

     Khi nghe bên nhà chàng Trương có tiếng ồn ào, làng xóm thi nhau kéo đến, mỗi lúc một đông. Chẳng hỏi han, chẳng nước nôi, cũng chẳng tiếp đón mà lẽ ra khi trong nhà có người đi xa trở về, phải có. Người ta đến là vì tò mò, vì chàng Trương mới ở lính về mà  đã đánh đòn ghen. Lúc chị vợ vùng chạy được ra khỏi nhà thì cơn giận của anh chồng phải một hồi sau mới hả. Giá không có người khuyên can ngăn lại chắc chàng ta cũng đuổi theo đánh vợ đến chết. Có người hỏi vì sao mà thế thì chàng ta hất hàm: "Hỏi thằng Đản ấy!" Thế là mọi cặp mắt đổ dồn về phía đứa trẻ, khiến nó sợ hết hồn. Lúc nãy, khi chàng Trương đánh mẹ nó, nó khiếp hãi quá khóc thét lên, còn bây giờ, nó hoàn toàn ngơ ngơ ngác ngác, hệt như "mèo cắt tai".

     Khi có người đánh bạo đến bên nó hỏi: "Đản ơi, thử nói xem ai đ êm nào cũng đến nhà mày đi" thì thấy mặt nó bần thần, chỉ giương mắt ra nhìn lại. Điều nó thực sự không hiểu vì sao "ông kia" lại đánh mẹ nó, và vì sao mọi người kéo đến đây đông thế? Ấy vậy mà, căn cứ thái độ bề ngoài ấy, mọi người lại bàn tán rồi phhỏng đoán ra lung tung.

     Hàng tiếng đồng hồ sau, cuộc bàn tán cũng nhạt dần, các cặp mắt nhìn nhau đã thoáng phần nghi ngại. Thế rồi người ta lục tục ra về, cũng nhộn nhạo y như hồi mới đến. Và thật buồn: Không ai nói và bàn tới chuyện đi tìm vợ chàng Trương cả.

     Đến lúc chỉ còn lại hai bố con, chàng Trương mới đi xem xét, thu dọn nhà cửa. Thằng Đản đang ngồi thu lu ở xó nhà, ngủ gà ngủ gật. Chàng Trương đến bên, bế nó lên giường rồi lấy chiếu đắp qua cho khỏi ruồi. Chẳng biết làm gì, lại thấy đói bụng, chàng mới đi tìm gạo thổi cơm. Khi cơm chín, chàng lên nhà, thấy thằng bé vẫn ngủ, bèn lấy bát đũa và xuống ăn ngay tại bếp. Bát vục thẳng vào nồi y nhu hồi còn ở lính. Khi đã no nê, chàng ra bể uống một gáo nước, rồi cứ thế lên nhà, xoa hai chân vào nhau, leo lên giường nằm ngủ. Chỉ một lát sau, tiếng ngáy đã vang khắp nhà.

     Đứa con cựa mình thức dậy vào lúc chập tối. Đói, mệt và sợ, khiến nó ngủ li bì. Chỉ đến khi chàng Trương, do quá say sưa gác chân lên người nó, thì nó mới tỉnh. Nó dụi mắt nhìn quanh thấy lạ quá, rồi gọi "Mẹ ơi" một hồi không thấy gì bèn khóc thét lên, làm cho chàng Trương giật mình tỉnh dậy. Trong nhà tối, tiếng khóc của đứa bé lại càng làm tăng thêm vẻ thê lương.

     Chàng Trương ghé sát mặt vào để nhìn cho rõ, làm cho nó sợ quá, nín bặt. Bỗng nhiên, chàng cảm thấy có cái gì đó đang đổ sụp trong lòng. Ôi sao mà ngao ngán, mà tủi nhục cái ngày đầu tiên trở về nhà!

     Chàng lập cập bước đi tìm đ èn, rồi châm lửa. Căn nhà  đang tối bỗng sáng bừng lên như có phép màu, và cái bóng của chàng cũng in rõ lên trên vách. Thằng bé, dụi mắt mấy cái, ngơ ngác một lúc, rồi bỗng thét lên: "A! Mẹ ơi! Bố về! Mẹ ơi! Bố đã về!" Vừa thét, nó vừa chạy lại ôm chầm lấy cái bóng.

     Chàng Trương vừa nghe vừa nhìn theo con, bàng hoàng, và bỗng thấy tim thót lại. Rồi nước mắt chàng ứa ra ...

     Dù  đần độn đến mức nào thì cuối cùng chàng cũng hiểu: đứa bé gọi cái bóng là bố, thế nghĩa là  đ êm hôm không có ai đến cả!

     Chàng khóc lên như mưa. Càng khóc càng thấy xót xa ân hận trong lòng. "Phải đi tìm vợ gấp! Phải đi tìm vợ gấp!". Chàng nghĩ.

     Chàng lật đật chạy sang các nhà hàng xóm, nhờ họ đi tìm cho. Đèn đuốc thắp lên rồi mọi người bủa đi các nơi, các ngã. Có người còn chạy cả đến nhà bố mẹ đẻ của nàng. Chó sủa lên inh ỏi. Người gọi nhau í ới. Nhưng đến hết đ êm ấy cũng chẳng ai tìm thấy nàng. Nét mặt ai nấy đều ngơ ngơ ngác ngác. Và người ta bắt đầu bàn tán, chê cười chàng Trương.

     Mờ sáng hôm sau, bây giờ chính yếu là anh em họ hàng nội ngoại cùng đi tìm nàng. Do đoán rằng nàng đã ra sông tự tử, nên mọi người đi dọc theo hai bên bờ sông, dùng sào dùng gậy gạt bèo gạt cỏ, để nhìn cho rõ. Quả nhiên, đến quãng gần trưa, người ta đã tìm thấy xác nàng lẫn vào một vạt bèo, ở khúc sông ngoặt phía dưới, cách khoảng hai cây số. Khi vớt lên, mặt mũi tay chân nàng nhợt nhạt, hai mắt nhắm nghiền.

     Chàng Trương hớt hơ hớt hải chạy tới, lăn lộn bên xác vợ mà vật vã, than khóc. Vừa than khóc chàng cũng vừa tự xỉ vả mình, nhưng được một hồi thì ngất xỉu. Người ta phải dùng hai cái cáng để cáng cả hai vợ chồng chàng về nhà.

     Đám tang vợ chàng Trương sau đó, được tổ chức rất to, theo như ý nguyện của chồng, nghĩa là cũng thịt đến ba bò bảy lợn như ngày lễ cưới, duy chỉ còn những lời tán tụng! Sau lễ an táng, chàng Trương còn mời cả thầy phù thủy về lập đ àn tràng và bắc cầu giải oan cho nàng ở bến sông Hoàng, nơi phỏng đoán là nàng đã nhảy xuống tự tử. Trong những ngày này, nét mặt chàng ủ rủ, tiều tụy, thật tương phản với vẻ hùng hùng hổ hổ hôm trước.

     Tiếng đồn về vợ chàng Trương chết oan, mấy ngày sau, đã lan ra khắp trong phủ ngoài huyện. Lý ra chàng phải vào tù, nhưng quan trên xét thấy chàng vừa đi chiến trận về lại đang bận con nhỏ nên đã tha cho. Từ đấy tính tình của chàng cũng điềm đạm hơn, không còn nông nổi cục sức như trước. Ba năm sau chàng lại lấy vợ mới.

     Nhưng bến sông Hoàng từ đấy trở đi đã không còn bình thường như trước nửa. Đây là bến đò đông, người của mấy xã thường xuyên qua lại, đi làm lụng, buôn bán. Lẽ tự nhiên, người ta nói và bàn nhiều về vụ tự tử vừa mới xảy ra. Lại nói và bàn cả về lễ giải oan, mời được ông thầy cao tay, gọi "hồn" về ngay cả ban ngày ban mặt. Thế rồi tiếng đồn ngày mỗi lan xa, và càng về sau, càng nhiễm thêm màu huyền bí. Người ta bảo rằng tờ mờ sáng nào cũng thấy "nàng" hiện về, có khi còn đứng nói chuyện hay cùng đi chợ với người này người khác, nhưng chỉ được một thoáng đã biến mất. Người ta lại bảo nàng "đòi" lập đền thờ, nếu không bến sông này còn xảy ra nhiều vụ tự tử, hoặc đò đầy sông sâu có khi còn bị lật úp nữa ...

     Thế rồi mấy tháng sau, dân chúng trong vùng góp công góp của dựng một ngôi đền ở bến sông Hoàng để thờ "nàng", từ nay được gọi là bà Thiết. Hương khói ở đó quanh năm không lúc nào dứt, do ngày nào cũng có người đi chợ, đi buôn bán ngang qua.

     Đến đời Lê Thánh Tông, nhà vua lại mang quân đi đánh Chiêm Thành như thời nhà Lý, với ông vua có cùng miếu hiệu với Ngài, cách đó 400 năm.

     Khi thuyền rồng đi qua bến sông Hoàng, ngoảnh lên thấy ngôi miếu dưới bóng cây cổ thụ, lại thấy dân chúng và cả quân lính nữa, ra vào khấn vái tấp nập, nhà vua lấy làm ngạc nhiên lắm. Ngài ra lệnh mời quan sở tại đến để hỏi han. Sau khi nghe quan sở tại tấu trình về xuất xứ và hình trạng của vị thần được thờ, Ngài châu mày như thể không vừa ý điều gì lại cũng như thể đang suy nghĩ về điều gì. Thế rồi người ta thấy Ngài đứng dậy đi quanh một vòng, đoạn ngồi xuống bàn, quẹt đầu bút vào nghiêng mực, rồi đề ngay một bài thơ tứ tuyệt lên tờ giấy đã để saÜn. Xong xuôi, Ngài đọc lại một lần, vừa đọc vừa gật gật đầu, dấu hiệu sự tự tán thưởng. Lát sau, có mấy vị trong hội Tao đ àn đi theo xuất chinh đến, Ngài đưa bài thơ cho họ truyền nhau đọc. Ở đây chẳng nói thì mọi người cũng rõ: Tất cả bọn họ đều cúi đầu bái phục tài xuất khẩu thành thơ và xuất khẩu khí đế vương trong bài thơ của Ngài.

     Sự thật thì trong bài thơ ấy, nhà vua chẳng hề nhắc đến chuyện chiến tranh, là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết của người thiếu phụ. Điều này có thể giải thích được: Việc Ngài đi xuất chinh lần này cũng giống như việc đã xảy ra trước đó 400 năm, do vậy, Ngài thấy trực tiếp nói e ra không tiện. Hơn nữa xưa nay, cái mạng của dân chúng đối với vua chúa thì có đáng giá gì đâu. Mạng một người lính hay mạng vợ, đều "không là cái gì" so với công việc "thế thiên hành đạo" của Ngài. Bởi vậy, việc vợ người lính tự tử sau đó được tôn lên làm thần, làm cho Ngài tỏ ra không vừa ý - nếu không muốn nói thẳng ra là Ngài thấy khó chịu. Đối với Ngài, dù ai đó có là thần thì cũng chỉ ở dưới tầm mắt của Ngài, do bộ Lễ của Ngài cai quản và phong tặng. Cái "khẩu khí đế vương" của Lê Thánh Tông chẳng những thể hiện ở việc xem thường thần, mà còn thể hiện cả ở chỗ: Nhân dịp này Ngài muốn dạy cho tất cả thần dân của Ngài một bài học truyền đời. Ấy là bài học: "Đừng bao giờ nghe trẻ con mách", nhưng xem ra, đấy lại là một bài học không "chuẩn", nếu không muốn nói là bài học tầm phào.

     Nguyên bài thơ của Lê Thánh Tông, về sau được khắc đề ở "Đền bà Thiết", như sau:
Nghi ngút bên đường tỏa khói hương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Ngọn đ èn dù tắt đừng nghe trẻ
Dám trách chàng Trương khéo phũ phàng.
      Người ta kể rằng: Sau khi có bài thơ của vua Lê Thánh Tông, các vị chức sắc ở Nam Xương đã lệnh ngay cho tổng và xã sở tại tu sửa lại ngôi đền cho thật khang trang, đẹp đẽ, không phải để xứng đáng với vị thần được thờ mà chính yếu là  để xứng đáng với bài thơ của nhà vua sẽ được khắc đặt ở trong đó. Bởi vì, xưa nay "ngọc bút", có bao giờ lại không quan trọng.


                                                                 Đ.Hải
                                                     Sưu tầm từ Internet
Logged

Đông Hải

             

                Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta.
                Tuổi ấu thơ  hùng anh cho chí tuổi già.
donghai
Thành viên
*
Bài viết: 169


Vì nước quên thân - Vì dân quên mình


WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2009, 09:53:44 pm »

Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng
[/b]
 

     Thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm (Ba Vì Hà Tây) xưa nay là miền đất đai trù phú, sản vật dồi dào, lại có sông ngòi bao quanh, tạo nên nhiều phong cảnh đẹp.

     Vào thời nước ta thuộc Đường (603-906) ở thôn này có gia đình họ Phùng thuộc loại giàu có, truyền qua 5 đời đều là quan lang, làm tù trưởng Châu Đường Lâm (gần bằng một huyện bây giờ). Các đời trước là Phùng Khiêm, Phùng Thông, Phùng Đạt. Đến Phùng Viễn thì sinh con trai trưởng là Phùng Hưng. Ba năm sau lại sinh hai con trai nữa là Phùng Hải và Phùng Mâu.

     Đến tuổi trưởng thành ba anh em họ Phùng đều là những chàng trai chí khí, đảm được hơn người. Đặt biệt Phung Hưng và Phùng Hải lại có thêm sức mạnh phi thường.

     Một lần vào rừng, Phùng hưng bị hổ vồ nhưng nhanh nhẹn né tránh được rồi vật nhau với hổ, và cuối cùng đánh chết hổ, mang về.

     Còn Phùng Hải thì đã có lần thử sức, vác cả một con thuyền nặng nghìn hộc, đi được hơn mười dăm mới dừng.

     Khi người cha già yếu thì phùng hưng mới nói nghiệp, cũng làm tù trưởng Châu Đường Lâm, được các châu ấp lân cận mến phục.

     Dưới ách cai trị của quan quân nhà Đường, dân ta thường ấy phải triệu trăm bề điêu đứng. Trước đó đã có các cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên (năm 687) rồi của Mai Thúc Loan (năm 722) nhưng đều bị đ àn áp.

     Đến năm đại lịch thứ hai (767) có giặc cướp đi thuyền lớn từ biển phía nam (đảo Java) tới, Đô úy Châu Vũ Định là Cao Chính Bình đánh dẹp được. Rồi bình ở lai cái trị, bắt dân đống góp rất nặng nề.

     Phùng Hưng tự nhủ: Đất nước ta từ khi có vua Hùng lập quốc, có núi tả Sông Hồng anh linh đến vạn thuở, cớ sau bây giờ vẫn phải chìm đắm mãi trong cảnh lầm than? Ta phải cùng các anh hùng hào kiệt cứu lấy gian sơn, đánh cho giặc bắt tan tành. Đất nước ta phải do người nước ta làm chủ, chứ lẽ nào phải cống nạp mãi?

Thế rồi Phùng Hưng nuôi ý định dấy binh.

     Trước hết ngài bàn việc đó với hai người em. Cả hai người em cũng cùng có chí hướng như Ngài.

     Vào đúng ngày đầu tháng ba (âm lịch), ba anh em lập một đ àn tràng, thảo sớ tấu trình Ngọc Hoàng Thượng đế, xin về việc dấy binh khởi nghĩa sắp tới.

     Đột nhiên có đám mây ngũ sắc sà xuống, một tiên ông tóc bạc trắng đỗ hạc bước ra. Anh em Phùng Hưng cúi đầu bái tạ.

     Tiên ông nói:

     - Ta ở Tây Vực, đi chu du chín châu tám biển, thấy hương trầm ngào ngạt, lại thấy đ àn tràng thiết lập trang ngghiêm, nên cảm động mà tới.

     Nói xong, tiên ông lấy từ túi áo ra một chiếc móng rồng và một khối ngọc, đưa cho Phùng Hưng.

     Ba anh em cúi đầu cảm tạ, nhưng vừa ngẩng lên, đã thấy đám mây ngũ sắc sà xuống, và tiên ông cưỡi hạc bay đi. ba anh em lại vội vàng nhìn xuống ...

     Nhìn hai báu vật, cả ba anh em đều băn khoăn, không biết dùng để làm gì? Lại phải thỉnh cầu Thượng đế lần thứ hai vậy.

     Họ thay lễ vật trên đ àn tràng, thay đ èn nhang và cùng quỳ xuống. Phùng Hưng đọc tờ sớ như sau:

     - Chúng con lòng thành, xin kính dâng Ngọc Hoàng Thượng đế. Ngài đã ban cho hai báu vật, nhưng chúng con người trần mắt tục, chưa biết dùng vào việc chi. Vậy kính mong Ngài hãy mở lòng chỉ bảo.

     Phùng Hưng vừa dứt lời, đã thấy giữa không trung nổi lên môït ánh chớp sáng lòa. Lập tức, bốn thiên thần đội mũ trụ, cũng cưỡi mây bay xuống. Một vị nói:

     - Ngọc Hoàng phái Tiên ông xuống cho Ngài hai báu vật ấy, một làm chuôi kiếm, một làm quốc ấn. Tác thành như vậy là  để Ngài dùng vào việc giữ nước.

     Nói xong, cả bốn thiên thần liền cươic mây bay đi. Anh em Phùng Hưng chỉ còn biét quỳ xuống bái tạ.

     Thế là thhuận lòng trời! Sau lễ tế cáo, ba anh em chế tạo ngay một thanh kiếm thật sắc, ròi tra vào chuôi được làm từ móng rồng, ở giữa khắc ba chữ "Thiên linh kiếm". Còn khối ngọc đã saÜn có hình vuông, chỉ khắc vào mấy chữ là thành quốc ấn. Ba anh gọi đó là "Thiên bảo ấn".

     Từ đó, Phùng Mâu ở nhà trông coi công việc trong châu, còn Phùng Hưng và Phùng Hải chia nhau đi khắp các vùng gần xa, chiêu tập hào kiệt.

     Để đánh lạc hướng chú ý giặc, Phùng Hưng đổi tên Cự Lão, Phùng Hải đổi tên là Cự Lực. SaÜn có sức khỏe hơn người, hai anh em đến các sới vật thường xuyên tổ chức trong các kỳ lễ hội tại các địa phương, vừa để tham gia mà cũng vừa là cách tốt nhất để nhận mặt làm quen với các anh tài. Phùng Hưng xưng là Đô Quân, Phùng Hải xưng là Đô Bảo.

     Đi đến đâu hai anh em cũng được mọi người mén mộ. Các tay đô vật ở khắp các trang ấp đều rất mực phục tài anh em Đô Quân và Đô Bảo, lại vừa nhận thấy ở họ những tấm lòng thật hào hiệp, quảng đại, nên khi nghe nói tới việc dựng cờ khởi nghĩa, họ đều nhiêït liệt hưởng ứng và cùng nhau hẹn ngày khởi sự.

     Sau mấy tháng đi khắp các vùng, anh em Phùng Hưng, Phùng Hải trở về nhà. Nhân ngày húy kỵ ông bố 11 tháng 3, ba anh em làm cỗ thật to, mời tất cả anh em, họ mạc và dân làng. Lại mời tất cả bạn bè và hàng ngũ chức sắc dưới quyền trong châu Đường Lâm, đó là các trang ấp trưởng.

     Trong bữa cổ, mọi người ăn uống vui vẻ, rồi sau đó bàn sang chuyện khởi nghĩa. Anh em Phùng Hưng đưa ra "Thiên linh kiếm" và "Thiên bảo ấn". Các trang ấp trưởng và mọi người đều đặt tay lên ngựa mà và hứa: "Chúng tôi nguyện xin đem hết tài năng" ...

     Ba ngày sau, mấy ngàn dân binh đã được tuuyển mộ. Để Phùng Mâu ở lại trông coi các việc, còn Phùng Hưng, Phùng Hải mượn tiếng là  đi tuần thú trong châu, đã dẫn quân chếch xuống phía nam, đến Thời Trung trang (nay là làng Chuông, tức xã Phương Trung - Thanh Oai - Hà Tây) thì dừng lại.

     Đây là  địa điểm thuận lợi cho việc tập luyện, phiên chế quân ngũ, vừa đủ xa để bọn giặc đóng ở thành Đại La (Hà Nội) không dòm ngó tới, lại vừa đủ gần để từ đây có thể hành quân bất ngờ tấn công quân địch.

     Thời Trung trangd cách thành Đại La khoảng ngoài hai chục cây số (theo đơn vị đo lường chiều dài bây giờ), hành quân nửa ngày là  đã lên tới nơi.

     Tại đây, như đãhẹn trước, các anh tài khắp nơi mang theo những người cùng chí hướng, lục tục tìm về. Trong vòng một tuần quân số đã lên tới hàng vạn.

     Sau mấy tuần phiên chế và tập luyện, vào đầu mùa Hạ, tháng 4 - 791 (Đường Trinh Nguyên năm thứ 7), theo kế của Đỗ Anh Luân một danh sĩ cùng người Đường Lâm, là bạn chơi với Phùng Hưng từ nhỏ, nay là quân sư lo việc bày binh bố trận- anh em Phùng Hưng, Phùng Hải đã mang quân chia làm hai ngả, bao vây thành Đại La trong đ êm tối.

     Cao Chính Bình mặc dù là viên tướng đảm lược, nhưng cũng đ ành chịu bó tay thúc thủ trong thành, vì quá bị bất ngờ. Không thể đem quân nống ra ngoài được, vì các nơi hiểm yếu đã bị chặn giữ, Cao Chính Bình đ ành phải cho một vài tên lính lanh lợi, giữa đ êm tối tìm cách lẻn ra, đưa thư cấp báo về nhà Đường, xin tiếp viện.

     Ba tháng ròng, thành Đại La bị vây chặt. Các đòan viện binh của nhà Đường đến đều bị quân của Phùng Hưng đánh tan. Cao Chính Bình hay tin lo lắng quá thành khối u lớn ở sau lưng. Rồi khối u vỡ, Coa chính Bình rồi cũng chết.

     Khi tin Cao Chính Bình chết bay ra ngoài thành, Phùng Hưng hạ lệnh cho quân lính từ các nơi hiểm yếu, nhất loạt tiến công. Quân nhà  đường chống không nổi, phải kéo cờ trắng ra hàng.

     Phùng Hưng dẫn đại binh vào chiếm Đô hộ phủ trong niềm hân hoan của mọi người. Tướng sĩ suy tôn ngài là Vi đô Tướng quân.

     Vi đô Tướng quân lập tức bắt tay vào việc chấn hưng đất nước và xây thành đắp lũy, luyện tập binh mã, đẻ đối phó với nhà Đường sau này. Ngài chưa xưng Đế, nhưng thực sự đã điều hành công việc như một vị Hoàng đế. Ngài mang lại cho muôn dân cảnh no ấm, thái bình, không phải đem lễ vật cống nạp cho ngoại bang, và các thuần phong mỹ tục trong nước cũng đang được khôi phục lại.
Logged

Đông Hải

             

                Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta.
                Tuổi ấu thơ  hùng anh cho chí tuổi già.
donghai
Thành viên
*
Bài viết: 169


Vì nước quên thân - Vì dân quên mình


WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2009, 09:56:43 pm »

Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng

(Tiếp theo)
   
     Nhưng thật tiếc thay, những công việc mà Ngài thực thi đang tiến triển thì dừng lại, bởi cái chết đến quá đột ngột, vào đúng bảy năm sau tức năm 798, lúc đó Ngài mới đang ở độ tuổi sung mãn.

     Xét về công lao cũng như tài năng, đức độ, nhiều người muốn lập Phùng Hải lên thay, vì thấy ông xứng đáng nhất. Nhưng một người đầu mục phụ tá cho Phùng Hưng, và sau này phụ tá cho Phùng An, con trai trưởng của Phùng Hưng tên là Bồ Phá Cần, không tán thành.

     Bồ Phá Cần là người có sức mạnh vô song, nhưng liều lĩnh và thiển cận, một mực lập Phùng An lên thay, rồi đem quân chống lại Phùng Hải. Không muốn nhìn thấy cảnh máu chảy đầu rơi, lại cốt nhục tương tàn nên Phùng Hải né tránh, cùng vài người thân tín, bỏ lên ở động Chu Nham, rồi sống cuộc đời dân giã cho đến lúc mã chiều xế bóng.

     Phùng An nối nghiệp bó, nhưng là người không có đảm lược lớn. Một người như thế chỉ có thể trị vì đất nước trong cảnh thái bình, còn khi đất nước có biến động thì sẽ không đảm đương nổi.

     Công việc đầu tiên mà Phùng An tiến hành là tổ chức lễ an táng cho cha thật trọng thể. Sự trọng thể lại càng tăng gấp bội phần, vì tất cả dân chúng và binh lính đều thực lòng tiếc thương vị anh hùng của mình vừa nằm xuống.

     Dân chúng và binh lính đưa tang, khóc Ngài đến đỏ hoe cả hai con mắt. Họ thương tiếc, gọi Ngài là Bố Cái, tức cha mẹ, theo cách gọi của thời bấy giờ. Rồi họ lại gọi Ngài là Đại vương, như trước đó vẫn gọi Ngài như thế. Phùng An con trai Ngài, do cảm nhận được những tình cảm ấy của dân chúng và binh lính cũng suy tôn Ngài làm "Bố Cái đại vương". Và cái tên ấy còn mãi đến ngày nay.

     Nhưng tiếc thay, Phùng An là người tài hèn trí mọn, không nối được cái chí của cha, chú. Hai năm sau Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang làm An Nam Đô hộ phủ. Xương đi sau, sai sứ giả đem đồ lễ vật đi trước để dụ dỗ An. An sắp xếp nghi vệ đầy đủ, dẫn quần thần ra hàng.

     Những người họ Phùng nhiều chí khí và nhiều người họ khác nữa, thấy vậy, bèn tản đi các nơi, không muốn ở lại hợp tác với giặc.

     Khi Phùng Hưng mất, mộ được táng tại phía tây bắc Kinh thành và  được lập miếu thờ. Ngày nay, ở đầu phố Giảng Võ - Hà Nội, vẫn còn ngôi mộ của Ngài, trên có văn bia, đề bốn chữ "Phùng Hưng cố lăng". Còn tại quê hương của Ngài, ngay từ khi Ngài mới mất, dân chúng đã lập miếu thờ. Truớc là  để tỏ lòng nhớ thương, còn sau là  để cúng lễ, cầu mong Ngài ban cho mưa thuận gió hòa, tai qua nạn khỏi hoặc làm ăn phát đạt.

     Tất cả đều thấy ứng nghiệm, vì vậy "mỗi khi vào ngày tạ lễ, người đến nhiều như núi như biển, bánh xe chật đường". Về sau, dân chúng xây dựng thêm,"miếu maọ nguy nga, lửa hương bất tuyệt"(theo Việt điện u linh).

     Đúng 100 năm, sau ngày Ngài mất, cũng tại quê hương của ngài (Đường Lâm), một người anh hùng nữa đã ra đời. Đó là Ngô Quyền (898 - 944). Sau khi giết Kiều Công Tiễn trả thù cho bố vợ (Dương Đình Nghệ), Ngô Quyền xưng vương, rồi đánh tan quân Nam Hán ở cửa sông Bạch Đằng. Trước trận đó, thấy quân giặc đông, nhả vua cũng có phần lo lắng, nhưng"đ êm nằm mộng, bỗng thấy một ông già tóc bạc, mũ áo nghiêm trang ... xưng là Phùng Hưng đến cổ vũ và hứa sẽ đem vạn đội thần binh mai phục trước ở chỗ hiểm yếu" (theo Việt điện u linh).

     Sau trận thắng, nhà vua tạ ơn, xuống chiếu lập đền thờ Phùng Hưng ở làng Cam Lâm to hơn quy môcũ, và tổ chức lễ hội thật trọng thể. Từ đó thành điển lệ. Các triều đại về sau đều có sắc thượng phong: "Phụ hựu", "Chương tín", "Sùng nghĩa". Đó là những tên hiệu mà các triều Trần trùng hưng đã tặng thêm cho Ngài.

     Ngày nay, nhiều trường học, đường phố cũng mang tên Ngài.
 
                                                                  Đ.Hải
                                                         Sưu tầm từ Internet
Logged

Đông Hải

             

                Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta.
                Tuổi ấu thơ  hùng anh cho chí tuổi già.
donghai
Thành viên
*
Bài viết: 169


Vì nước quên thân - Vì dân quên mình


WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 06:04:06 am »

Việt Quốc Công Thái Úy Lý Thường Kiệt


Phần 1:
 
     Lý Thường Kiệt là nhà chính trị kiệt xuất, nhà quân sự thiên tài, đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp chấn hưng đất nước và giữ vững nền độc lập dân tộc. Đức độ và tài năng của Ngài là một tấm gương sáng ngời để các thế hệ Việt Nam mãi mãi soi chung.

     Theo sách Việt điện u linh thì Lý Thường Kiệt là người phường Thái Hòa, ở bên phải kinh thành Thăng Long, thời Lý. Mãi đến gần đây, quê quán của Ngài mới được xác định cụ thể thêm, nhờ vào mọi người làng Bắc Biên còn giữ được một quả chuông lớn đúc năm Canh Ngọ (1690), nay treo ở chùa trong làng. Trên chuông có khắc bài minh nói rõ quê gốc của Lý Thường Kiệt là làng An Xá (trong nội thành Thăng Long), rồi sau đó chuyển đến Cơ Xá. Cơ Xá đổi thành Phúc Xá rồi hợp nhất với bãi Trung Hà. Cho đến khi boãi Trung Hoà bị lỡ hết, mọi người lại dời về Bắc Biên, nằm ven sông Hồng, ở phía Bắc chân cầu Long Biên ngày nay, cách nột thành khoảng 4 cây số.

     Cha của Lý Thường Kiệt là Lý An Ngữ, làm quan triều Lý Thái Tổ đến chức Sùng ban lang tướng. Lý Thường Kiệt được nối nghiệp cha, ngay từ lúc còn ít tuổi đã đượcđưa vòa cung Long Đức ở ngoài thành để hầu cận Thái tử Phật Mã tức Lý Thái Tông sau này, với chức "Hoàng môn chi hậu".

     Không quản là chức danh nhỏ mọn mà ngay từ thời ấy, nhiều thiên tư của Nhài đã được bộ lộ, khiến cho nhà vua tương lai rất mực hài lòng. Ngoài ra, Ngài là người đẹp trai và có phong tư tuấn nhã, nên đã nổi tiếng vào khắp kinh thành Thăng Long lúc bấy giờ.

     Khi Lý Thái Tông lên ngôi, Ngài được phong "Nội thị sảnh đô tri", tức là giám sát các công việc xảy ra trong hoàng cung. Điều đó nói lên Ngài là người trung tín, được nhà vua tin cẩn ngay từ khi còn ít tuổi.

     Quả vậy, tính tình của Ngài khảng khái cương trực, lại biết giữ tín lễ tiết và làm việc cần mẫn siêng năng, xét đoán các việc công minh, nên được nhà vua càng nể trọng thêm, và thăng lên chức Đình úy sứ, trông coi các việc về hình án trong triều. Cuối năm Nhâm Ngọ (1042) Ngài được nhà vua ủy nhiệm cùng một số đại thần khác soạn thỏa bộ "Hình thư". Đó là bộ luật Hình sự đầu tiên của nước ta.

     Lý Thái Tông băng hà, Lý Thánh Tông nối ngôi (1054), ngài được phong là Hiệu úy Thái bảo. Ngài giữ chức một cách cung cẩn, trung tín, không để xảy ra sai sót điều gì. Lý Thánh Tông tin tường, giao cho Ngài "Tiết việt", tức là thay mặt nhà vua, đi kinh lý các sự việc xảy ra trong hai quận Thanh Hóa, Nghệ An và năm châu, ba nguồn kế cậ đó, thuôïc các boọ tộc người thiểu số. Sau máy tháng không quản đường xa, lại thêm leo đ èo vượt suối mệt nhọc, Ngài trở về, công việc hoàn thành mỹ mãn.

     Tháng 2 - 1069, Lý Thánh Tông thân làm tướng thống lãnh mang đại quân đi đánh Chiêm Thành vì quân lính nước này thường hay quấy nhiễu biên giới. Ngài được phong chức Đại tướng, dẫn đạo binh tiên phong đi mở đường. Do Chiêm Thành chuẩn bị từ trước đã phòng thủ chắc chắn, nê quân ta đánh mãi không được. Lý Thánh Tông rút quân về châu Cư Liêm để nghe ngóng nội tình. Sau khi có lính cấm vệmang thư của Nguyên phi Nhiếp chính Ỷ Lan tới, báo tin Kinh đô vẫn vững vàng, lòng dân vẫn hòa hợp, nên nhà vua cho quân quay trở lại quyết chiến với Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt đốc xuất binh lực, xông lên phá tan các tuyến phòng ngự của đối phương, bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ cùng 5 vạn người, cả lílnh lãn dân.

     Chế Củ xin cắt đất dâng ba châu:Địa Lý (nay là huyện Lệ Ninh - Quảng Trị), Ma Linh (Bến Hải - Quảng Bình)và Bố Chính (Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa - Quảng Bình) để chuộc tội tha về.

     Sau trận đại thắng, Lý Thương Kiệt được phong Phụ quốc Thái phó kiêm các chức Chử trấn tiết độ, Đồng trung thư môn hạ, Thượng trụ quốc, Thiên tử nghĩa đệ, Phụ quốc thượng tướng quân, tước là Khai Quốc công. Đó là những tước vị quan trọng, được thay mặt nhà vua trong những trong nhiều việc quốc gia đại sự, từ việc quân cơ đến viênội trị. Lại được nhận em kết nghĩa của nhà vua (Thiên tử nghĩa đệ) thì thực là một vinh dự hiếm có!

     Tuy nhiên, đó còn là trách nhiệm, lại là sự ký thác của nhà vua mà Lý Thường Kiệt phải gánh vác vì dân vì nước. Và quả nhiên, Ngài đã không phụ lòng tin tưởng ấy của nhà vua, như càng về sau càng thấy rõ.

     Tháng giêng năm 1072, Lý Thánh Tông băng hà ở điện Hội Tiên, thọ 50 tuổi, tức là bằng sau chiến thắng Chiêm Thành vàLý Thường Kiệt được phong thưởng với nhiều người khác. Lý Nhân tông lên kế vị lúc ấy mới 7 tuổi. Đã từng là nhiếp chính nên mọi công việc triều chính lúc bấy giờ đều do bà Linh Nhân hoàng thái phi, và ngay sau đó là Linh Nhân Hoàng thái hậu, tức Ỷ Lan phu nhân, mẹ đẻ của Lý Nhân tông thao túng.

     Cùng trong năm 1073, do nắm quyền hành tuyệt đối mà bà ta, tất nhiên là dưới danh nghĩa nhà vua, đã bắt giam rồi bức tử Dương Thái hậu (vợ chính thất, tức Hoàng hậu của Lý Thánh Tông) và 76 cung nữ để chôn theo lăng Thánh tông! Và Thái sư Lý Đạo Thành, tức Tể tướng, người đứng đầu hàng các quan giúp vua trông coi việc triều chính, cũng bị cất chức cho vào trấn thủ vào tận Nghệ An ...

     Trong tình trạng như vậy, nếu một người giữ nhiều trọng trách như Lý Thường Kiệt mà tỏ ra ham hố quyền lực thì ắt sẽ bị thanh trừng ngay không thương tiếc. Tuy nhiên, Lý tướng quân đã không hề tỏ ra nao núng, đúng như câu thành ngữ xưa: "Cây ngay không sợ chết đứng!". Ngài lẳng lặng thi hành trách nhiệm của mình mà không tham gia vào các vụ tranh giành quyền lực.

     Từ trước đến nay Ngài vẫn nổi tiếng trong giới quan trường là người khoan hòa chính trực, bản thân sống cần kiệm giản dị, được cả dân chúng lẫn giới quan chức kính nể. Ngài không xu thời, không kết bè  đảng, không vun vén quyên lợi cho bản thân và cho họ hàng nhà mình. Đối với Ngài chỉ có công việc, tức việc nước, việc dân là trọng. Và Ngài đã đem hết tài năng và sức lực ra để phấn đấu cho mục đích ấy, còn mọi thứ khác thì Ngài đều xem thường.

     Trong trường hợp ấy, lẽ dĩ nhiên những người ham hố quyền lực khi nắm được quyền hành tuyệt đối, thì họ cũng chẳng dại gì mà hạ bệ Ngài và những người như Ngài, bởi như vậy chỉ có hại cho họ mà thôi, cả về danh tiếng cũng như trong thực tế. Thử hỏi, nếu một người như Ngài mà bị phế bỏ thì quốc gia còn cóm gì là thể thống nữa? Và khi gặp chuyện đại sự thì sẽ lấy ai ra để gánh vác?

     Quả nhiên bà Linh Nhân hoàng thái hậu, quyên biến và khôn ngoan có thừa, đã không động chạm gì đến Ngài thật. Hơn nữa bà ta còn khuyến khích Ngài làm nhiều việc có lợi cho sự cai trị của mình.

     Lý tướng quân, lẽ dĩ nhiên cũng hiểu rõ lòng dạ của bà hoàng thái hậu. Ngài không làn điều gì khinh suất để bà ta mất lòng, còn bản thân vẫn luôn luôn kiên trì phương châm "hiến việc tốt, can việc xấu" của một bề tôi trung thành và công minh chính trực.

     Sau khi Thái sư Lý Đạo Thành bị bãi chức, đương nhiên Ngài trở thành một vị quan đầu triều, nhưng chưa được phong. Nếu phải một người xu thời thì lập tức họ sẽ vào hùa với Hoàng thái hậu để mau được thăng chức, nhưng Lý tướng quân đã không làm như thế. Trái lại, Ngài còn làm một việc xưa nay chưa từng có, nhưng rất hợp đạo lý và  được nhiều người đồng tình.

     Ấy là việc từ trước đến nay, các đại thần dù giả trẻ, khi vào chầu vua, nhất nhất đều quỳ mọp dưới bệ rồng. Điển là một "điển lệ", một "phép trời", là biểu hiện quyền hành tuyệt đối, tối thượng của "Thiên tử" đối với tất thảy mọi người còn lại.

     Đứng bề ngoài trông vào, trường hợp của nhà vua già mà các bề tôi trẻ thì cong khả dĩ coi được. Nhưng trong trường hợp ngược lại, tức nhà vua còn trẻ, thậm chí còn quá trẻ, mà bề tôi lại có người già lụ khụ thì thật là trớ trêu, nghịch mắt! Đương nhiên như thế là trái với đạo lý truyền thống "kính lão đắc thọ" của dân tộc, mà ai ai cũng đều nhận thấy, nhưng lại chưa có ai dám nói đến chuyện đó trước cả triều đình!

     Lý tướng quân lúc ấy chưa phải đã già. Ngài mới đang còn ở độ tuổi tráng niên sung mãn, nhưng nhìn cảnh nhiều lão thần có công từ các đời vua trước, nay phải quỳ mọp trước mặt nhà vua tí hon, mới có 7, 8 tuổi thì Ngài cảm thấy chạnh lòng. Vả ại, sự kính trọng về hình thức đâu phải là sự kính trọng từ thâm tâm? Hơn nữa, nếu nhà vua bé tý chưa đủ nhận thức, lại coi đây là trò đ ùa từ đấy dung dưỡng thêm tính tàn bạo và thói hống hách sau này, thì thật là tai hại cho dân cho nước!

     Sau khi cân nhắc kỹ càng, Lý tướng quân làm sớ tấu trình xin hxo các vị công thần cao tuổi mỗi khi vào chầu thì được chống gậy, được ngồi nghế và không phải quỳ.

     Lời tấu trình của Ngài được nhà vua chấp nhận. Hơn thế nữa, Linh Nhân Hoàng thái hậu còn lấy lòng mọi người thêm bằng cách sai thị vệ lấy nghế cho tất cả các quan đều được ngồi và tặng thêm các lão thần mỗi người một chiếc gậy trúc!

     Dẫu sao thì đấy mới là một ví dụ nhỏ, cũng khá diển hình, để nói lên Lý Thường Kiệt đã làm nhà cải cách nền "hành chính quốc gia" ngay từ thuở ấy. Sự suy nghĩ của Ngài đối với vận hôïi, vận mệnh của đất nước thực ra còn to lớn và ý nghĩa hơn gấp nhiều lần. Ngài là chính trị nhìn xa thấy rộng nhất trong số những người đương thời, và khôg chỉ là  đương thời.

     Nhận thấy sự học lúc bấy giờ đã phát triển ra nhiều tầng lớp mọi người trong nước, vậy mà nhiều việc công lại làm không chạy. Nhiều viên quan lại ở địa phương, thậm chí cả triều đình trung ương, lại khôngđược học hành gì cả, họ không óc tri thức, nên xử đoán nhiều việc chỉ theo cảm tính. Ngay cả sự bàn bạc công việc giữa triều đình, nhiều vị đại thần cũng tỏ ra lúng túng, do thiếu hiểu biết. Đúng như sách đã nói : "Nhân bất học bất tri lý", và tình trạng này nếu kéo dài thì chỉ làm cho mọi việc ngưng trệ và  đất nước suy yếu đi mà thôi.
Logged

Đông Hải

             

                Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta.
                Tuổi ấu thơ  hùng anh cho chí tuổi già.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM