donghai
Thành viên

Bài viết: 169
Vì nước quên thân - Vì dân quên mình
|
 |
« Trả lời #30 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 06:05:18 am » |
|
Việt Quốc Công Thái Úy Lý Thường Kiệt Phần 2: Sua khi cân nhắc, Lý tướng quân đã làm sớ, tâu trình với nhà vua hết mọi đường lợi hại, rồi xin cho mở hai khoa thi "Minh tinh bác học" và "Nho học tam trường". Khoa thi trên để để chọn người tài giỏi trong nước ra đảm nhiệm các công việc quan trọng trong triều nôïi, còn khoa thi dưới thì chọn người thực hành các công việc giấy tờ, sổ sách tạ các địa phương. Lời tấu trình này cũng ngay lập tức đuợc chuẩn y, để thay cho cách tuyển dụng "cha truyền con nối" và dùng tiền "mua quan tiến chức" trước đây. Tháng 2 năm Ất Mão (1075) nhà vua xuống chiếu cho mở hai khoa thi này. Và Lê Văn Thịnh, chàng trai vùng Kinh Bắc đã đỗ trạng nguyên trong kỳ thi tuyển "Minh tinh bác học", tức là người mở đầu cho nền khoa bảng của nước ta. Người Chiêm Thành, sau lần thất bại phải cắt đất (1069) vẫn ấm ức nuôi ý chí phục thù. Lực lượng của họ lại mạnh dần lên, Nhận thấy Đại Việt có sự lục đục sau cái chết của Lý Thánh Tông, quân Chiêm Thành lại ra cướp biên giới (1074), và ở phía bắc, quân Tống cũng đang chuẩn bị lực lượng để kéo sang. Trước tình thế ấy, bà Linh Nhân Hoàng thái hậu đã có sự thay đổi về triều chính. Lý Đạo Thành bị biếm chức vào Nghệ An nay được triệu về kinh làm Thái phó bình chương quân quốc trọng sự (1074). Và năm sau (1075), đầu tháng 8, Phụ quốc Thái phó Lý Thường Kiệt lại dẫn quân đi đánh Chiêm Thành. Thấy Lý Thường Kiệt dẫn quân đến, quân Chiêm Thành liền rút vào cố thủ. Nhận thấy không nên để hao tổn lực lượng nhiều vào quân Chiêm Thành mà chính yếu là phải bảo toàn lực lượng để đối phó với nhà Tống ở mạn Bắc, nên Lý Thường Kiệt cho lui binh, sau khi đã củng cố và tăng cường thêm lực lượng ở lại phòng bị. Để vua Chiêm Thành phải từ bỏ ý định đò lại đất, Lý Thượng Kiệt cho họa địa đồ hình thế núi sông ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính. Ngài đổi tên hai châu phía trong, Địa Lý thành Lâm Bình, Ma Linh thành Minh Linh, dặn dò quan sở tại chiêu mộ thêm dân chúng ở các nơi về ở, và lo phòng thủ cho chắc, rồi kíp lên đường về Kinh đô . Lúc bấy giờ ở bên nước Tống, Tể tướng Vương An Thạch quỷ quyệt đang thi hành chính sách "thanh miêu" để tăng cường ngân khố, chuẩn bị tiềm năng và lực lượng sắp bành trướng cuống phía Nam và lo đối phó với nước Kim ở phía Bắc ... Nhận thấy Đại Việt sau hai lần chiến tranh với Chiêm Thành chắc đã hao binh tổn tướng nhiều. Lại bây giờ thêm quân Chiêm Thành đang chuẩn bị lực lượng đánh ra đòi đất, còn trong nước thì đ àn bà nhiếp chính đang làm sáo trộn nội tình ... nên Vương An Thạch tâu với vua Tống nên nhân cơ hội này mà dấy binh xuống phía Nam xâm lấn ... Vua Tống y theo và lập tức cho chuẩn bị. Sai Thẩm Khải, Lưu Di đến trị nhậm Quế Châu (nay là Quế Lâm - Quảng Tây), một mặt kích động các bôï tộc thiểu số ở trên đất ĐaÏi Việt nổi loạn, mặt khác, điều quân các nơi về tập trung huấn luyện, cả đánh thủy lẫn đánh bộ, rồ tích trưc lương thực, khí giới, thuyền bè, xe cộ ... Nạn xâm lược đã rành rành ra ở trước mặt rồi! Vua Nhân tông lúc ấy mới trong 10 tuổi, quyền phụ chính ở bà Linh Nhân Hoàng thái hậu. Bà Linh Nhân tuy là người quyền biến, có tài trị quốc (đã thử thách qua lần nhiếp chính khi Ý Thánh tông đi đánh Chiêm Thành ), nhưng không thể bị quần thần và dân chúng dị nghị, mất lòng tin, qua vụ sát hại Dương thái hậu cùng 76 cung nữ và hạ bệ Thái sư tông thất Lý Đạo Thành, vừa mới cùng xảy ra 2 năm về trước. Tuy bà đã kịp sữa chữa sai lầm (và cả tội lỗi!) bằng cách hết sức lấy lòng các quan đại thần (như ở đoạn trước đã nói) rồi đưa về Kinh đô và thăng lại cho Lý Đạo Thành từ Tổng trấn lên Thái phó để lo việc quân cơ ("Thái phó bình chương quân quốc trọng sự"), nhưng dẫu sao bà cũng không thể thay đổi được thực chất tình hình nếu như không dựa hẳn vào Lý Thường Kiệt. Quan Phụ chính Thái phó, thượng tướng Lý Thường Kiệt, sau khi từ biên giới phía Nam trở về, liền được phong ngay vào Thái úy, tức là chính thức đứng đầu hàng các quan võ tướng trong triều. Như đã nói, đối với Lý Thái úy, chỉ có việc nước, dù to dù nhỏ thế nào,thì từ trước đến nay, Ngài đều không hề bận tâm, ham hố. Đối với Ngài, đó chỉ là trách nhiệm và bổn phận, không hơn. Và phải nói, chính đức độ và tài năng của Ngài, trong tình hình triều chính lúc bấy giờ và trong hoàn cảnh đất nước ở hai đầu biên giới như vậy, đã là ngọn cờ, là tấm gương để mọi người, từ dân chúng, binh lính đến quan lại nhìn váo mà đoàn kết, cùng nhau đưa hết sức lực ra gánh các vác công việc chung. Ngài là vị tướng văn võ song toàn. Lý Thái úy cho rằng ngồi chờ giặc đến rồi mới đánh trả lại, là hạ sách. Chi bằng lúc chúng đang chuẩn bị lực lượng ở gần biên giới, mọi thứ hãy còn dở dang, mà đem quân đánh trước tốt hơn cả. Đánh như thế là đánh trên thế mạnh và đánh đúng thời cơ. Chúng tưởng ta nội tình lục đục, trên dưới không một lòng là chúng lầm to. Chúng tưởng ta hao tổn lực lượng và sa lầy ở Chiêm Thành là chúng cũng lầm to nốt. Đánh một kẻ chủ quan thiếu phòng bị lại chưa đủ long đủ cánh như thế như thế là rõ ràng chắc thắng hơn, dẫu rằng đường đất đi có xa và điều kiện tác chiến tuy có khó hơn. Lời bàn của Lý Thái úy lập tức được cả triều đình tán thưởng. Và không phải ai khác, chính Ngài sẽ thống lĩnh đại binh, cùng với phó tướng là Tông Đản, đi đánh quân Tống ở bên kia biên giới. Thế là, đầu mùa đông năm ấy, tháng 10 - 1075, tức là sau khi từ Chiêm Thành trở về, Ngài đem hơn 10 vạn quân, bằng cả hai dường thủy, bộ tiến đánh Châu Khâm và Châu Liêm (thuộc quảng Đông - Trung quốc). Sau trận chiến đấu ngắn, hai viên chi châu này rút vào cố thủ . Ngài lập tức cho quân ta bao vây. Vua Tống Lệnh cho đô giám Quảng Tây là Trương Thủ Tiết đến cứu ứng. Tuy ở đông đất nước người nhưng Lý Thái úy nghiên cứu địa hình địa chất rất kỹ. Ngài cho đặt phục ninh tai điểâm yếu trên con đường từ Quảng Tây tới, mà quân của trương thủ tiết nhất định phải đi qua. Đó là cửa ải Côn Lôn tai Nam Ninh. Một mặt, vẫn cho quân vây hãm hai Châu Khâm, Liêm; mặt khác, Ngài rút một lực lượng mạnh và bố trí saÜn thời gian tai Côn Lôn. Khi toàn bộquân của Trương Thủ Tiết rơi vào trận địa, quân của ta từ hai bên nhất loạt dùng cung tên bắn ra. Lúc bấy giờ, quân ta từ bốn phía mới xông vào đánh quân Tống tan tành. Trương Thủ Tiết bị chém đầu tại trận. Sau khi nghe tin quân cứu viện bị đánh tan tành, hai viên tri châu Khâm, Liêm đều kéo cờ trắng ra hàng (tháng 11). Quân ta vào thành, tịch thu lương thực khí giới rồi rồi tiếp tục tiến đánh châu Ung (tháng 1 - 1076). Tri châu Tô Giam đốc xuất binh mã cố thủ đến hơn một tháng sau mà không nao núng. Lý Thái úy cũng quyết tâm hạt thành cho bằng được. Sau khi đi quan sát kỹ bốn mặt thành về, Ngài cho quân lính chuẩn bị thật nhiều bao đất. Trong đ êm tối, từ nhiều hướng phụ, Ngài sai đốt đuóc tiến công để thu hút lực lượng địch, còn tại các hướng chính, Ngài cho quân lính mang bao đất áp sát chân thành, đắp thành ụ mà trèo lên. Quân ta từ đó vào được thành, đánh địch từ nhiều phía. Tô Giam thế cùng lực kiệt, phải cho quyến thuộc 36 người uống thuốc độc, còn mình cũng tự sát theo. Quân ta toàn thắng. Mười vạn quân với ba trận thắng liên tiếp, vang dội, đủ để cho triều đình nhà Tống biết thế nào là sức mạnh Đại Việt rồi. Lý Thái úy cho rút binh ngay. Quả nhiên, tháng ba năm ấy, nhà Tống đốc xuất 30 vạn binh mã từ Quảng Đông, Quảng Tây do Quách Quì, Triệu Tiết chỉ huy, ồ ạt kéo sang. Ở biên giới phía Nam, nhà Tống cũng xúi dục hai nước Chiêm Thành, Chân Lạp cùng đem quân tiến đánh. Không hề nao núng, triều đình Đại Việt chia binh ra hai ngã tiếp chiến. 10 vạn quân ở mặt trận phía bắc do Lý Thái úy chỉ huy. Thấy quân giặc đông, quân ta ít, Ngài cho củng cố tuyến phòng ngự kiên cố ở phía bắc sông Như Nguyệt (sông Cầu). Quân Tống kéo đến, vấp phải lực lượng đề kháng mạnh mẽ, đã không tiến thêm được nữa. Để cổ vũ tinh thần chiến đấu của ba quân, trong đ êm tối, Lý Thái úy cho mọt viên tướng thật tốt giọng, cầm loa quả bầu khô, đứng ở sông Nam Quận ngay trước cửa đền Trương Hát, đọc một bài thơ như sau: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tuyệt nhiên định phâïn tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư. Nghĩa: Sông núi nước Nam thì do vua Nam ở Rành rành ranh giới đã phân định tại sách trời Cớ sao lũ giặc kia dám kéo đến xâm phạm? Chúng bay xem: rồi sẽ chuốc lấy bại vong. Đó là bài thơ "thần" của chính Thái úy Lý Thường Kiệt viết. Lời thơ đanh thép, như là kết tinh ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc, được thể hiện qua tâm hồn và nghị lực của vị tướng tài ba lỗi lạc. Trong đếm tối, dưới ánh trăng sao vằng vặc, lời thơ sang sảng vang lên ôm trùm lấy sông núi, như thấm sâu vào mỗi đường gân, thớ thịt của từng chiến sĩ. Ai cũng thấy bồi hồi xúc động và náo nức, quyết chiến đấu hy sinh đến cả tính mạng của mình để giữ lấy nền độc lập của tổ quốc. Lời thơ ấy cũng chính là lời của hai vị thần tướng Trương Hống, Trương Hát, hai vị tướng tài ba và bất khuất của Việt Vương Triệu Quang Phục trước kia. Khi sinh thời hai vị thà chết chứ không chịu quỳ gối trước kẻ phản trắc là Lý Phật Tử tức hậu Lý Nam Đế, và sau khi mất, đã từng phù trợ cho Nam Tấn vương (tức Ngô Xương Văn, con thứ Ngô quân Ngô Quyền, người truất bỏ Dương Tam Kha tiếm ngôi để kế nghiệp cha, lên làm vua) đánh thắng Lý Huy làm loạn ở châu Tây Long rồi được lập đền thờ tại cửa sông Như Nguyệt và cửa sông Nam Quận.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đông Hải
Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta. Tuổi ấu thơ hùng anh cho chí tuổi già.
|
|
|
donghai
Thành viên

Bài viết: 169
Vì nước quên thân - Vì dân quên mình
|
 |
« Trả lời #31 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 06:07:07 am » |
|
Việt Quốc Công Thái Úy Lý Thường Kiệt Phần cuối: Được lời "hịch non sông" cổ vũ, quân ta trên dưới một lòng, dưới sự chỉ huy tài tình của Thái úy Lý Thường Kiệt đã tổ chức nhiều đợt tập kích đánh vào phòng tuyến của địch. Phó tướng Triệu Tiết bị giết cùng với hơn hơn một nghìn quân Tống khác. Quách Quì núng thế, mặc dù quân số nhiều hơn gấp ba lần, cũng phải tính đường rút quân lui về phía châu Quảng Nguyên là địa phận của nước ta ở giáp biên giới với nước Tống. Quách Quì tính nước ăn chắc, vì không thể đối mặt với Lý Thái úy màtiến vào kinh thành Thăng Long, nên y chiếm lấy châu Quảng Nguyên để dâng lên vua Tống. Ở biên giới phía Nam quân dân ta đã không để cho binh lính Chiêm Thành, Chân LaÏp tái chiếm. Thế là nền độc lập của dân tộc vẫn được giữ vững mà trong đó, Lý Thái úy chính là ngọn cờ, là linh hồn của cuộc chiến đấu. Tuy nhiên, sau chiến thắng địa vị quan trường của Thái Úy không tăng mà cũng không giảm, nghĩa là vẫn giử nguyên như cũ. Vẫn kiên trì phương châm "hiến việc tốt, can việc xấu" của một bề tôi chung thành và không màng danh lợi cho mình, Ngài lại ra sức tu bổ cho nền văn trị trong nước. Với trọng trách "trong thì cầm đại chính, ngoài thì coi sự lữ", Ngài" dốc một lòng lấy việc an xã tắt" làm vui. Triều Lý lúc bấy giờ, vua Hải còn nhỏ tuổi, bà Linh Nhân phụ chính, quả là đã biết người trụ cột là ngài, nên đã chắn hưng được đất nước. Ngay sau chiến thắng (1076) có chiếu của nhà vua cầu lời nói thẳng. Rồi cắét nhắc nhưng người hiền lương có tài văn võ, cho quản quân dân. lại chọn quan viên quan chức, người nào biết chữ cho vào Quốc Tử Giám học. Tiếp đến năm sau (1077) mở hội tụng kinh "phật thuyết Nhân Vương" trong đó có đoạn nói rằng "vua các nước cầu nguyện kinh này thì muôn dân được tay qua nạn khỏi"và thi "lại viên" bằng phép viết chữ, phép tính và hình luật. Năm 1078 sửa lại Thành Đại La, rồi đòi được nhà Tống sửa lại Châu Quảng Nguyên ... Rồi tiếp những năm sau nữa. Năm 1085, tháng 8, mờ kỳ thi văn học, chọn nhân tài lần thứ hai. Mạc Hiển Tích đỗ đầu ... Năm 1089 định lại quan chức, v.v.. Lúc bấy giờ nhà vua cũng đã khôn lớn, có thể đảm đương được việc trị quốc và đất nước đang buổi thái bình. Lý Thái úy lúc ấy cũng đã già, nhưng vẫn như xưa, là vị quan thanh liêm, chính trực. Năm 1101 nhân đổi niên hiệu , Lý Nhân tông cho Ngài kiêm chức "Nội thi phán thủ đô áp nha hành điện nội ngoại đô tri sự" nghĩa là từ nay Ngài sẽ là người phán quyết các việc phải trái xảy ra trong triều ngoài nội trước khi đưa lên nhà vua phê duyệt . Có thể nói, Ngài là người cao nhất trên thực tế, đã nắm quyền "cầm cân nảy mực" tức thi hành công bằng xã hội lúc bấy giờ! Tuy nhiên, chức trách chính của Ngài vẫn là vị tướng cầm quân mỗi khi đất nước lâm sự. Vì vậy, năm 1103, Ngài lại lên đường đi đánh Lý Giác ở Diễn Châu (Nghệ An). Lý Giác thua trốn sang Chiêm Thành. Vua Chiêm Thành là Chế Ma Na nghe theo Lý Giác xúi bẩy, đã đem quân chiếm lại ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính mà trước đây Chế Củ đã dâng Lý Thánh Tông để chuộc mạng. Tháng 2-1104, Lý Thái úy lại phải xuất chinh, dẫn đại binh đi đánh Chiêm Thành. Chế Ma Na đại bại, phải nộp lại đất như cũ. Và đấy cũng là trận thắng cuối cùng của Lý Thái úy. Do đường sá xa xôi, lại phải trèo đ èo vượt dốc mà tuổi đã cao, sức đã yếu nên khi trở về, Lý Thái úy bị ốm nặng. Tháng 6 năm 1105 Ngài qua đời, khép lại một sự nghiệp lẫy lừng từ lúc thiếu thời cho đến khi mãn chiều xế bóng. Cả triều đình và muôn dân đều thương tiếc Ngài. Lý Nhân tông truy tặng Ngài thêm chức"Nhập nội điện đô tri kiểm hiệu, Thái úy, bình chương quân quốc trọng sự" và tước "Việt quốc công". Lại cho người em của Ngài là Lý Thường Hiển được kế phong tước hầu. Lúc sinh thời, Ngài rất ghét chuyện đồng cốt quàng xiên mà nhiều kẻ đã lừa gạt mọi người để kiếm lợi. Ngài phạt bọn chúng rất nặng, nên thói tục nhơ bẩn cũng được rửa sạch phần nhiều. Tuy nhiên, Ngài đã rất khuyến khích việc thờ phụng những người có công với dân với nước, công nhận họ là những phúc thần. Đó cũng là đóng góp thêm về văn hóa và tín ngưỡng, nằm trong sự nghiệp chấn hưng đất nước và giữ vũng nền độc lập đân tộc của Ngài. Các triều đại trước đây mỗi khi chính vị, đều có sắc phong tặng Ngài. Chỉ riêng thời Trần đã có các mỹ hiệu "Trung phụ công", "Dũng mãnh", "Uy thắng" ...Đền thờ chính của Ngài ở xã Ngọ Xá, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Hương khói quanh năm, tôn nghiêm, kính cẩn. Ngày nay, nhiều trường học, đường phố ... đã mang tên Ngài. Sau đây là một bài "minh", khắc trên bia chùa Linh Xứng, nói về con người, hành trạng và công đức của Ngài: "Thái úy trong thì sáng suốt khoan hòa, ngoài thì nhân từ giản dị. Những việc đổi dời phong tục nào có quản công. Làm việc thì siêng năng, sai bảo dân thì ôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy. Khoan hòa giúp đỡ dân chúng, nhân từ giúp đỡ mọi người, cho nên mọi người kính trọng. Dùng uy vũ để trừ bọn gian ác. Đem minh chính để giải quyết ngục tụng, cho nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để lỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi dưỡng cả đến người già ở nơi thôn dã, nên người già nhờ đó mà được an thân. Phép tắc như vậy có thể gọi là cái gốc trị nước, cái thuật yên dân, mọi sự tốt đẹp đều ở đấy cả. Giúp chính sự có ba triều, dẹp yên loạn ngoài biên tái, chỉ khoảng vài năm mà tám phương yên lặng. Công thật lớn lao" Lý Thường Kiệt là nhân vật truyền thuyết mà cũng là nhân vật lịch sử. Ở Ngài, xét cả hai phương diện, đều thấy mang ý nghĩa thật là trọn vẹn, cả về tầm vóc, cũng như về giá trị văn hóa!" Đ.Hải Sưu tầm từ Internet
|
|
|
|
|
Logged
|
Đông Hải
Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta. Tuổi ấu thơ hùng anh cho chí tuổi già.
|
|
|
donghai
Thành viên

Bài viết: 169
Vì nước quên thân - Vì dân quên mình
|
 |
« Trả lời #32 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2009, 04:29:21 pm » |
|
Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ ________________________________________ Cách đây lâu đời lắm, ở Lĩnh Nam có một thủ lĩnh tên là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương Vương, sức khoẻ tuyệt trần, lại có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Một hôm, Kinh Dương Vương đi chơi hồ Ðộng Ðình, gặp Long Nữ là con gái Long Vương, hai người kết thành vợ chồng và ít lâu sau sinh được một trai, đặt tên là Sùng Lâm. Lớn lên Sùng làm rất khoẻ, một tay có thể nhấc bổng lên cao tảng đá hai người ôm. Cũng như cha, Sùng Lâm có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Khi nối nghiệp cha, chàng lấy hiệu là Lạc Long Quân. Lúc bấy giờ ở đất Lĩnh Nam còn hoang vu, không một nơi nào yên ổn, Lạc Long Quân quyết chí đi du ngoạn khắp nơi. Ðến vùng bờ biển Ðông Nam, Lạc Long Quân gặp một con cá rất lớn. Con cá này đã sống từ lâu đời, mình dài hơn năm mươi trượng, đuôi như cánh buồm, miệng có thể nuốt chửng mười người một lúc. Khi nó bơi thì sóng nổi ngất trời, thuyền bè qua lại đề bị nó nhận chìm, người trên thuyền đều bị nó nuốt sống. Dân chài rất sợ con quái vật ấy. Họ gọi nó là Ngư tinh. Chỗ ở của Ngư tinh là một cái hang lớn ăn sâu xuống đáy biển, trên hang có một dãy núi đá cao ngăn miền duyên hải ra làm hai vùng. Lạc Long Quân quyết tâm giết loài yêu quái, trừ hại cho dân, Lạc Long Quân đóng một chiếc thuyền thật chắc và thật lớn, rèn một khối sắt có nhiều cạnh sắc, nung cho thật đỏ, rồi đem khối sắt xuống thuyền chèo thẳng đến Ngư Tinh, Lạc Long Quân giơ khối sắt lên giả cách như cầm một người ném vào miệng cho nó ăn. Ngư Tinh há miệng đón mồi. Lạc Long Quân lao thẳng khối sắt nóng bỏng vào miệng nó. Ngư Tinh bị cháy họng vùng lên chống cự, quật đuôi vào thuyền của Lạc Long Quân. Lạc Long Quân liền rút gươm chém Ngư Tinh làm ba khúc. Khúc đầu hoá thành con chó biển. Lạc Long Quân lấy đá ngăn biển chặn đường giết chết con chó biển, vứt đầu lên một hòn núi, nay gọi hòn núi ấy là Cẩu Ðầu Sơn, khúc mình của Ngư Tinh trôi ra xứ Mạn Cẩu, nay còn gọi là Cẩu Ðầu Thủy, còn khúc đuôi của Ngư Tinh thì Lạc Long Quân lột lấy da đem phủ lên hòn đảo giữa biển, đảo ấy nay còn mang tên là Bạch Long Vĩ. Trừ xong nạn Ngư Tinh, Lạc Long Quân đến Long Biên. Ở đây có con cáo chín đuôi sống đến hơn nghìn năm, đã thành tinh. Nó trú trong một hang sâu, dưới chân một hòn núi đá ở phía Tây Long Biên. Con yêu này thường hóa thành người trà trộn trong nhân dân dụ bắt con gái đem về hang hãm hại. Một vùng từ Long Biên đến núi Tản Viên, đâu đâu cũng bị Hồ Tinh hãm hại. Nhân dân hai miền rất lo sợ, nhiều người phải bỏ cả ruộng đồng, nương rẫy, kéo nhau đi nơi khác làm ăn. Lạc Long Quân thương dân, một mình một gươm đến sào huyệt Hồ tinh, tìm cách diệt trừ nó. Khi Lạc Long Quân về đến tới cửa hang, con yêu tinh thấy bóng người, liền xông ra, Lạc Long Quân liền hoá phép làm mưa gió, sấm sét vây chặt lấy con yêu. Giao chiến luôn ba ngày ba đêm, con yêu dần dần yếu sức, tìm đường tháo chạy, Lạc Long Quân đuổi theo chém đứt đầu nó. Nó hiện nguyên hình là một con cáo khổng lồ chín đuôi. Lạc Long Quân vào hang cứu những người còn sống sót, rồi sai các loài thủy tộc dâng nước sông Cái, xoáy hang cáo thành một vực sâu, người đương thời gọi là đầm Xác Cáo, đời sau mới gọi là Tây Hồ. Dẹp yên nạn Hồ Tinh nhân dân quanh vùng lại trở về cày cấy trên cánh đồng ven hồ, và dựng nhà lập xóm trên khu đất cao nhất gọi là làng Hồ, đến nay vẫn còn. Thấy dân vùng Long Biên đã được yên ổn làm ăn Lạc Long Quân đi ngược lên vùng rừng núi đến đất Phong Châu. Ở vùng này có một cây cổ thụ gọi là cây chiên đàn, cao hàng nghìn trượng, trước kia cành lá sum suê tươi tốt che kín cả một khoảng đất rộng, nhưng sau nhiều năm, cây khô héo, biến thành yêu tinh, người ta gọi là Mộc Tinh. Con yêu này hung ác và quỷ quyệt lạ thường. Chỗ ở của nó không nhất định, khi thì ở khu rừng này, khi thì ở khu rừng khác. Nó còn luôn luôn thay hình đổi hạng ẩn nấp khắp nơi, dồn bắt người để ăn thịt. Ði đến đâu cũng nghe thấy tiếng khóc than thảm thiết, Lạc Long Quân quyết ra tay cứu dân diệt trừ loài yêu quái. Lạc Long quân phải luồn hết rừng này đến rừng kia và qua nhiều ngày gian khổ mới tìm thấy chỗ ở của con yêu. Lạc Long Quân giao chiến với nó trăm ngày đêm, làm cho cây long đá lở, trời đất mịt mù mà không thắng được nó. Cuối cùng Lạc Long Quân phải dùng đến những nhạc cụ như chiêng, trống làm nó khiếp sợ và chạy về phía Tây Nam, sống quanh quất ở vùng đó, người ta gọi là Quỷ Xương Cuồng. Diệt xong được nạn yêu quái, Lạc Long Quân thấy dân vùng này vẫn còn đói khổ thiếu thốn, phải lấy vỏ cây che thân, tết cỏ gianh làm ổ nằm bèn dạy cho dân biết cách trồng lúa nếp, lấy ống tre thổi cơm, đốn gỗ làm nhà sàn để ở, phòng thú dữ. Lạc Long Quân còn dạy dân ở cho ra cha con, vợ chồng. Dân cảm ơn đức ấy, xây cho Lạc Long Quân một toà cung điện nguy nga trên một ngọn núi cao. Nhưng Lạc Long Quân không ở, thường về quê mẹ dưới thủy phủ và dặn dân chúng rằng: "Hễ có tai biến gì thì gọi ta, ta sẽ về ngay! " Lúc bấy giờ có Ðế Lai từ phương Bắc đem quân tràn xuống phương Nam. Ðế Lai đem theo cả người con gái yêu rất xinh đẹp của mình là Âu Cơ và nhiều thị nữ. Thấy Lĩnh Nam phong cảnh tươi đẹp, lại nhiều chim muông, nhiều gỗ quý. Ðế Lai sai quân dựng thành đắp lũy định ở lâu dài. Phải phục dịch rất cực khổ, nhân dân chịu không nổi, hướng về biển Ðông gọi to: "Bố ơi! Sao không về cứu dân chúng con!". Chỉ trong chớp mắt, Lạc Long Quân đã về. Nhân dân kể chuyện, Lạc Long Quân hóa làm một chàng trai rất đẹp, có hàng trăm đầy tớ theo hầu, vừa đi vừa hát đến thẳng chỗ Ðế Lai ở. Lạc Long Quân không thấy Ðế Lai đâu cả, mà chỉ thấy một cô gái nhan sắc tuyệt trần cùng vô số thị tỳ và binh lính. Cô gái xinh đẹp đó là Âu Cơ. Thấy Lạc Long Quân uy nghi tuấn tú nàng đem lòng say mê, xin đi theo Lạc Long Quân. Lạc Long Quân đưa Âu Cơ về ở trong cung điện của mình, trên núi cao. Ðế Lai về, không thấy con gái đâu, liền sai quân lính đi tìm khắp nơi, hết ngày này qua ngày khác. Lạc Long Quân sai hàng vạn các ác thú ra chặn các nẻo đường, xé xác bọn chúng làm cho chúng khiếp sợ bỏ chạy. Ðế Lai đành thu quân về phương bắc. Lạc Long Quân ở với Âu Cơ được ít lâu thì Âu Cơ có mang, sinh ra một cái bọc. Sau bảy ngày cái bọc nở ra một trăm quả trứng. Mỗi trứng nở ra một người con trai. Trăm người con trai đó lớn lên như thổi, tất cả đều xinh đẹp khoẻ mạnh và thông minh tuyệt vời. Hàng chục năm trôi qua, Lạc Long Quân sống đầm ấm bên cạnh đàn con, nhưng lòng vẫn nhớ thủy phủ. Một hôm Lạc Long Quân từ giã Âu Cơ và đàn con, hóa làm một con rồng vụt bay lên mây, bay về biển cả. Âu Cơ và đàn con muốn theo Lạc Long Quân, nhưng không đi được, buồn bã ở lại trên núi. Hết ngày này qua ngày khác, họ mỏi mắt trông chờ mà vẫn biền biệt tăm hơi. Không thấy Lạc Long Quân trở về, nhớ chồng quá, Âu Cơ đứng trên ngọn núi cao hướng về biển Ðông lên tiếng gọi: "Bố nó ơi! Sao không về để mẹ con chúng tôi sầu khổ thế này". Lạc Long Quân trở về tức khắc. Âu Cơ trách chồng: - Thiếp vốn sinh trưởng ở núi cao, động lớn, ăn ở với chàng sinh được trăm trai, thế mà chàng nỡ lòng bỏ đi, để mặc con thiếp sống bơ vơ khổ não. Lạc Long Quân nói: - Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài. Nay ta đem năm mươi con về miền biển, còn nàng đem năm mươi con về miền núi, chia nhau trị vì các nơi, kẻ lên núi, người xuống biển, nếu gặp sự nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau, đừng có quên. Hai người từ biệt nhau, trăm người con trai tỏa đi các nơi, trăm người đó trở thành tổ tiên của người Bách Việt. Người con trưởng ở lại đất Phong Châu, được tôn làm vua nước Văn Lang lấy hiệu là Hùng Vương. Vua Hùng chia ra làm mười năm bộ, đặt tướng văn, võ gọi là lạc hầu, lạc tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương. Ngôi vua đời đời gọi chung một danh hiệu là Hùng Vương. Lạc Long Quân là người mở mang cõi Lĩnh Nam, đem lại sự yên ổn cho dân. Vua Hùng là người dựng nước, truyền nối được mười tám đời. Do sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ, nên dân tộc Việt Nam vẫn kể mình là dòng giống Tiên Rồng. Đ.Hải Sưu tầm từ Internet
|
|
|
|
|
Logged
|
Đông Hải
Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta. Tuổi ấu thơ hùng anh cho chí tuổi già.
|
|
|
lonesome
Moderator

Bài viết: 1244
|
 |
« Trả lời #33 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2009, 09:33:29 pm » |
|
Sùng Lãm chứ không phải Sùng Lâm.
Mong bạn khi copy các bài viết được tag là "Truyền thuyết" thì cũng nên coi lại xem sourrce của mình có thật là truyền thuyết không hay lại là truyện do người đời nay chế biến dựa trên các bản gốc. Tôi nói thế vì trong topic này của bạn đã có nhiều bài kiểu này rồi. Thân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
donghai
Thành viên

Bài viết: 169
Vì nước quên thân - Vì dân quên mình
|
 |
« Trả lời #34 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2009, 11:21:40 am » |
|
Truyện Tranh Truyền thuyết Lạc Long Quân- Âu Cơ ( Trăm trứng, trăm con) http://www.public.asu.edu/%7Eickpl/reading/tienrong.htm
|
|
|
|
|
Logged
|
Đông Hải
Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta. Tuổi ấu thơ hùng anh cho chí tuổi già.
|
|
|
donghai
Thành viên

Bài viết: 169
Vì nước quên thân - Vì dân quên mình
|
 |
« Trả lời #35 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2009, 06:16:20 pm » |
|
Quả Dưa Hấu Mai An Tiêm Phần 1 Thời vua Hùng Thứ 17, như thường lệ diễn ra từ các đời vua trước, có người khách buôn dông buồm từ phương Nam tới Kinh đô Phong Châu, bán cho nhà vua hàng hóa và một số nô lệ. Bản thân nhà vua chắc cũng không thiếu thứ gì, nhưng vì là người toàn quyền trong các việc mua bán, đổi chác với khách nước ngoài, nên trong những trường hợp như thế, Ngài thường mua tất cả hàng hóa và nô lệ. Hàng hóa là những thứ quý hiếm hoặc sản vật lạ mà trong nước không có, được đưa về kho để nhà vua phân phát dần cho các đại thần và quan lại, hoặc thưởng cho những người có công. Còn nô lệ, đôi khi cũng được chia cho các đại thần, nhưng phần lớn là để làm các việc trong nội cung, như xây dựng cung điện nhà cửa, làm các việc thủ công, vì họ đều là những người thợ khéo tay cả ... Những người nô lệ này được đặt trực tiếp dưới sự sai khiến của quan Thái giám. Thời gian đầu họ vừa làm việc vừa học nói theo tiếng bản địa. Dần dà, khi đã quen với phong tục tập quán, họ trở thành người bản xứ, cũng lấy vợ lấy chồng, làm ăn sinh sống như mọi người. Tuy nhiên trong quan niệm về tôn giáo, vì là thấm nhuần từ nhỏ ở trong "nôi" dân tộc của họ, nên vẫn có những sự khác biệt nhất định. Điều này đôi khi dẫn họ đến chỗ bị phiền nhiễu hoặc phải trả giá đắt, trước khi mọi người có thể hiểu và hoàn toàn thông cảm được. Hơn nữa, trong số họ, nếu có ai mong chóng thành đạt, hoặc được nhà vua sủng ái điều gì, thì thường là đối tượng để chuốc lấy sự đố kỵ, ghét ghen của những người xung quanh, nhất là những người ở trong đám quan lại. Mai An Tiêm, người mà sau này được dân chúng tôn xứng là "ông tổ của dưa tây" (hay dưa hấu), lúc đầu cũng chính là một người nô lệ như thế, trong lần mua bán vừa rồi. Chàng là một thanh niên hiền lành, mặt mũi khôi ngô sáng sủa, đặc biệt rất khéo tay. Ở quê hương phương Nam xa xôi của chàng, nam giới ngay từ nhỏ, ai cũng phải đến chùa học hành và đi tu, do vậy, tôn giáo đã thấm sâu vào từng người ngay từ tấm bé. Riêng bản thân chàng sau khi ở chùa về, gặp lúc gia cảnh quẩn bách, phải bán mình để cha mẹ chuộc nợ. Về đất Phong Châu, những ngày đầu Mai An Tiêm âu sầu thương cha nhớ mẹ, nhưng rồi chàng cũng mau chóng nhận ra mình chẳng bao giờ còn có thể quay trở về, nên đã định tâm tuân theo lời dạy của vị cao tăng, người thầy đầu tiên đã khai tâm cho chàng, khi ở trong chùa:"Con ạ. Ở trên đời này, mọi sự xảy ra đều do có tiền kiếp cả. Người ta chẳng nên vui hay nên buồn về những cái từ bên ngoài đưa tới cho mình. Ở hiền găïp lành, ở bạc gặp ác, hãy cứ gieo nhân nào thì gặt quả ấy, bởi vì trời đất và quỷ thần luôn luôn chứng giám và soi xét hành vi, lời nói, việc làm của mình". Do hành xử theo lời dạy đó nên dần dần chàng có thái độ thản nhiên trước mọi biến đổi, bản thân cũng mau chóng hòa nhập với công việc và với mọi người. Là người thông minh linh lợi nên chàng học nói tiếng bản địa rất nhanh, còn trong công việc, cũng tỏ ra có rất nhiều sáng kiến. Đang lát, xây dựng nhà cửa vốn là những việc từ nhỏ chàng đã quen làm cho nên bây giờ khi làm những việc đó, chàng thấy hoàn toàn thoải mái và phát huy hết sở trường đã có có của mình. Những vật dùng mà chàng đan lát, những kèo, mộng nhà mà chàng cưa đục, cùng những hình chạm trổ trên cột, trên xà ... Khiến cho ai nhìn vào cũng đều tấm tắc khen ngợi. Vốn là người chăm chỉ, ít nói năng, lại rất mực khiêm tốn, nên mọi người xung quanh đều cảm thấy yêu mến quý trọng chàng. Vua Hùng thứ 17 là người độ lượïng, khoan hòa, trong hành xử Ngài luôn tỏ ra vừa có ân lại vừa có uy, nên được triều thần cũng như dân chúng rất mực tôn kính, ngưỡng mộ. Tuy các việc trong cung đều giao cho quan thái giám, nhưng nhiều khi Ngài cũng thăm nom, bảo ban điều này điều khác. Thấy An Tiêm là chàng trai hiền lành, lanh lợi, lại khéo tay chăm làm, nên Ngài đem lòng mến mộ rồi nhận làm con nuôi. Mấy năm sau Ngài cưới vợ cho chàng. Vợ chàng, nguyên là một cô gái con nhà nghèo khó nhưng xinh đẹp, được tuyển vào cung làm thị nữ cho các nàng công chúa. Vua Hùng thấy nàng lễ phép, chăm chỉ, lại chịu khó nên cũng nhận làm con nuôi và đặt tên cho là nàng Ba. Thuở ấy, phong tục thuần phát, cho nên việc nhà vua nhận nhiều người làm con nuôi cũng là điều xảy ra khá bình thường. Các con nuôi của nhà vua không có ân sủng gì đặc biệt mà đơn giản chỉ là có thêm chút quan hệ gần gũi mà thôi. Việc nhà vua dựng vợ gã chồng cho các con nuôi, do vậy, cũng chỉ là theo lẽ thường tình vốn có. Tháng ngày yên ả trôi đi, Mai An Tiêm được nhà vua tín nhiệm, ban cho một chức quan nhỏ. Đến năm ba mươi lăm tuổi chàng đã có một gia cư vào loại khá giả: Một vợ hai con, ngôi nhà khang trang sạch sẽ và các vật dụng đầy đủ, đẹp đẽ. Nói cho công bằng thì tất cả cơ ngơi đó đều do công sức của hai vợ chồng chàng, còn chức quan nhỏ cũng không mang lại bổng lộc nhiều. Nếu thỉnh thoảng có ban thưởng cho chàng, thì đó là kết quả của công việc chứ không phải kết quả của phẩm tước. Nhiều người vui mừng cho hạnh phúc của chàng, nhưng cũng không ít kẻ đã đem lòng ghen ghét đố kỵ. Trong con mắt của những người này, việc một người nô lệ không biết từ đâu tới chẳng những không bị đối xử khinh miệt mà còn được nhận quan chức, lại có nhà cửa vợ con đề huề, thì họ cảm thấy hết sức khó chịu và tìm mọi cách để chà đạp ... Một hôm, nhân trong nhà có công việc, vợ chồng Mai An Tiêm làm thêm mấy mâm cổ để mời quan khách và bạn bè thân hữu đến dự. Nói là quan khách nhưng thực ra chỉ là những người cùng có địa vị thấp như chàng. Trong số quan khách này, có những người Mai An Tiêm không thích nhưng chẳng lẽ lại thiếu người này người kia nên buộc lòng phải mời cho đầy đủ, và thế là tai họa đã nảy sinh. Đứng trước gia tư của chàng, các quan khách đều không ngớt lời ca ngợi. Đáp lại tấm thịnh tình của mọi người, Mai An Tiêm đã đặt cả hai tay lên ngực mà thưa: - Đa tạ các quan bác quá khen. Những thứ này có đáng gì đâu, chẳng qua đấy là những vật truyền kiếp thôi mà. Do không ai hiểu tôn giáo cũ của chàng thế nào nên nghe câu nói ấy, mọi người hết sức ngạc nhiên. Tuy vậy trong bữa cỗ, không ai nói gì thêm về điều này và mọi người ăn uống vui vẻ. Ấy thế mà, sau khi từ nhà Mai An Tiêm ra về, lại có một vài vị quan khách xấu bụng đã để ý đến câu nói của chàng. Tuy saÜn có định kiến lại ghen ghét, nên họ cho rằng như thế là Mai An Tiêm đã vô ơn, bởi vì không có nhà vua thì dẫu khéo tay hay tài giỏi thế nào, cơ ngơi của chàng cũng không thể khang trang như thế được. Thế là mấy ngày sau, câu nói của An Tiêm đa được họ bẩm báo đến tận tai nhà vua, lại được thêm thắt ra rất nhiều. Nhà vua, mặc dù đại lượng nhưng nghe thấy thế trong lòng cũng tức giận, Ngài hạ lệnh tống giam Mai An Tiêm để chờ xét hỏi. Ngay ngày hôm sau, đình thần được triều họp. Mai An Tiêm bị dẫn ra trước sân rồng, đích thân nhà vua xét xử và các quan đại thần tham kiến. Khi Mai An Tiêm quỳ xuống rồi ngẩng mặt lên, người ta thấy cử chỉ của chàng thận điềm đạm và nét mặt cũng thật bình thản. Điều đó khiến cho những người saÜn có ác cảm với chàng cảm thấy tức tối. Sau khi nhân chứng trình bày lại lời của chàng khi trước thì cử chỉ và nét mặt ấy vẫn không thay đổi. Một vị đại thần thấy thế, kìm lòng không được, vội đứng dậy buộc tội: - Khởi bẩm Bệ hạ. Mai An Tiêm vốn xuất thân là tên nô lệ, được ân sủng mà dám quên ơn. Hơn nữa, thái độ của y cũng thật bất kính. Nay tội đã rõ ràng, xin Bệ hạ nghiêm trị để giữ gìn phép nước. Một vị đại thần khác cũng vào hùa, luận tội thêm: - Khởi bẩm Bệ hạ. Theo ý thần, Mai An Tiêm như vậy đã mắc vào tội khi quân, đáng phải chém đầu để thị chúng. Nét mặt nhà vua trầm ngâm, Ngài chưa nói năng gì, cũng chưa có động thái nào. Không khí buổi xét xử có phần như lắng xuống. Các quan đưa mắt nhìn nhau, thăm dò. Một vị đại thần vốn khảng khái, không có ác cảm với Mai An Tiêm bao giờ, đứng dậy nói: - Khởi bẩm Bệ hạ. Mai An Tiêm tuy trước kia là nô lệ, nhưng từ ngày được Bệ hạ trọng dụng, cũng đã chăm chỉ siêng năng, có nhiều công lao. Nay y nói năng như vậy chắc là có ẩn ý gì khác, chưa nên khép tội vội. Xin Bệ hạ minh xét. Nhà vua vừa lắng nghe vừa gật gật đầu suy nghĩ, sau đó Ngài thong thả phán về phía tội phạm: - An Tiêm. Ta vốn trọng tài, nên đối xử với nhà ngươi cũng chẳng hẹp hòi gì, mọi người đều biết cả. Nhưng chẳng lẽ từ bấy đến nay ngươi vẫn chưa cam lòng, nên đã coi thường cả phép nước? Mai An Tiêm từ nãy vẫn quỳ, kính cẩn thưa lên: - Muôn tâu Bệ hạ. Kẻ hạ thần nhờ ân sủng của Bệ hạ, được như ngày nay, có lẽ nào lại dám quên ơn và khinh nhờn phép nước. Hạ thần nói vật truyền kiếp là muốn nói rằng người ta thu được quả nào ở kiếp này là do đã gieo nhân từ kiếp trước. Ở xứ sở của hạ thần trước kia, từ nhỏ đến lớn, ai ai cũng được học hành và tâm niệm như vậy, dám mong Bệ hạ soi xét.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đông Hải
Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta. Tuổi ấu thơ hùng anh cho chí tuổi già.
|
|
|
donghai
Thành viên

Bài viết: 169
Vì nước quên thân - Vì dân quên mình
|
 |
« Trả lời #36 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2009, 06:17:41 pm » |
|
Quả Dưa Hấu Mai An Tiêm Phần 2 Nghe những lời này từ chính miệng Mai An Tiêm, nhà vua cũng lộ vẻ băn khoăn: "Chẳng lẽ lại có chuyện như thế ư?", tuy nhiên là người quyết án, Ngài còn muốn nghe thêm những lời tham kiến. Hai vị đại thần khi nãy đã khép Mai An Tiêm vào tội chết đã đứng lên, xin nhà vua bắt Mai An Tiêm phải tự xử bằng kiếm trước mặt mọi người. Cái lý mà họ đưa ra là: "Ở đâu thì phải theo phong tục ở đấy". Nhà vua lơ đãng lắng nghe, rồi bất thình lình truyền lệnh thị vệ mang ra một thanh kiếm thật. Trong lúc nhiều vị đại thần còn đang ngơ ngác nhìn nhà vua cầm ngang thanh kiếm ngắm nghía thì bỗng nhiên đã nghe thấy tiếng Ngài phán: - Từ nãy ta đã nghe các khanh tham kiến, nhưng pháp luật vốn nghiêm minh với tất cả mọi người. Nếu An Tiêm từ bé sinh ra trên đất Văn Lang thì thanh kiếm này ta sẽ giao cho y phải tự xử trước mặt mọi người. Nhưng nay An Tiêm lại sinh ra từ xứ sở khác, làm như thế ta e là đã phạm vào điều hiếu sát. Vậy bây giờ ta xử thế này: An Tiêm nhận thanh kiếm đến tận miền hoang đảo, ở đó nhà ngươi sẽ được tự xử lấy. Rủi có chết hay phải tự chết thì ngươi cũng đừng oán trách ta, còn nếu sống sót thì sẽ có ngày ta cho người đến đón. Các vị đại thần thở phào, còn Mai An Tiêm thì gập đầu xuống lạy tạ. Đọan, chàng ngẩng mặt đứng dậy, rồi bước lên nhận thanh kiếm cử chỉ vừa cung kính lại vừa thật ung dung, đ àng hoàng. Quả thật, từ trước đến nay chưa bao giờ Mai An Tiêm biết sợ, cũng như chưa bao giờ biết xung xoe nịnh nọt. Khi bị bán làm nô lệ, khi được phong chức, khi tiếp khách trong nhà hay khi bị tống giam rồi dẫn ra đây, lúc nào chàng cũng thật bình tĩnh, thản nhiên, như chẳng hề xảy ra chuyên gì. Và các vị đại thần có mặt, lần đầu tiên đã được chứng kiến một người có phong thái như vậy! Theo lệnh của nhà vua, ba ngày sau nội cung phải chuẩn bị một thuyền lớn để đưa An Tiêm tới hoang đảo ở nơi tận cùng của đất nước do một viên bộ tướng chỉ huy và quân lính đi kèm.An Tiêm có mang vợ đi hay không là tùy, còn lương thực chỉ cấp vừa đủ ba tháng, một số nồi niêu bát đĩa và tư trang, ngoài ra lệnh không được mang theo một thứ gì, ngoại trừ thanh kiếm để tự xử hay để tùy thân, như lời nhà vua đã phán quyết. An Tiêm khuyên nàng Ba hãy ở lại nuôi con rồi đi bước nữa, chứ chẳng nên theo chàng làm gì, vì sống ở hoang đảo một mình đã khó, làm sao lại đ èo bòng thêm cả vợ con, nhưng nàng Ba nhất định không nghe, nói rằng vợ chồng ăn ở với nhau thuận hòa, đã gần chục năm lại có hai mặt con, sống chết cũng phải có nhau chứ không tể kẻ đi người ở được. Bất đắc dĩ, An Tiêm cũng phải nghe theo, rồi vợ chồng con cái bước xuống thuyền để đến nơi biệt xứ. Thuyền lênh đ ênh trên mặt sông rồi lại lênh đ ênh trên mặt biển trọn nửa tháng trời, đã cập bến tại một hoang đảo ở vùng biển thuộc Nga Sơn - Thanh Hóa bây giờ. Đúng là hoang đảo thật! Khi thuyền quay mũi vào đất liền và vợ chồng con cái An Tiêm bước lên bãi cát, thì trước mặt họ thực sự là một cõi hoang vu mịt mùng. Chỉ có những vách đá nhô ra và cây cối rậm rạp, um tùm. Tiếng sóng biển ì ầm không lúc nào ngớt, rồi tiếng vượn hú từ các lùm cây thỉnh thoảng lại cất lên đến rợn người. Hai đứa trẻ bấu riết lấy bố mẹ. Nàng Ba tần ngần nhìn chồng, còn Mai An Tiêm thì thản nhiên nhìn bao quát khung cảnh một lượt, rồi lựa lời khuyên nhủ vợ con: - Ông trời luôn luôn có mắt. Phụ vương và triều đình rồi cũng sẽ hiểu cho tấm lòng của chúng ta. Mọi sự rồi sẽ đâu vào đấy cả thôi. Chàng cầm kiếm tiến lên phía trước. Nàng Ba ôm đồ đạc. Hai đứa trẻ lũn cũn theo sau. Mai An Tiêm phát cây, mở lối đến chân một vách đá dựng đứng, ở đó có thể làm tạm một chiếc lều dựa vào. Thế rồi ngay ngày hôm ấy, chiếc lều đã dựng xong, bên trong chàng lại còn làm thêm cả một chiếc giường bằng cành cây. Nàng Ba đi tìm nguồn nước ngọt rồi đem về lều, kê đá, nấu bữa cơm đầu tiên. An Tiêm bỏ ra hẳn ba ngày liền để tìm hiểu hoang đảo. Chàng đi một vòng xung quanh rồi phát cây mở lối tiến sâu vào bên trong. Vẫn chỉ có cây cối và dây leo chằng chịt, và ở bên ngoài có mấy bãi sỏi và vách đá dựng đứng. Tuy nhiên, ở chỗ giáp ranh giữa rừng cây và bãi sỏi cũng có mấy vạt đất, lại có dấu chân rùa, vích và hang chuột đ ào. trong rừng sâu, tiếng khỉ vượn thỉnh thoảng xen lẫn với tiếng chim hót. An Tiêm tự nhủ: Ở đây có thể dung thân lâu dài được, nhưng cái chính là phải thật kiên trì. An Tiêm chẳng hề phàn nàn điều gì, cũng chẳng oán trách một ai. Mấy ngày sau, chàng cùng vợ con củng cố nơi ăn chốn ở cho thật chu đáo rồi bắt tay vào việc đan lờ, đan rọ, làm bẫy ... để bắt cá và bắt chim, thú. Cuộc sống lại có phần tươi ra, do ngày cũng có thịt cá, duy chỉ có điều cơm ăn phải thật dè sẻn. Cùng vợ con làm lụng và cười nói chuyện trò, An Tiêm cảm thấy trong lòng thật ấm áp. Nhớ lại lúc lại vợ khăng khăng đòi đi theo, chàng càng thêm yêu mến quý trọng nàng bội phần. Nhìn thanh kiếm mà nhà vua trao cho, chàng cảm thấy mình không tự xử mà dùng nó để mở mang, khơi dậy cuộc sống, là một việc làm hoàn toàn đúng, hoàn toàn hợp danh dự và hợp lý, cho chàng, và cho cả vợ con chàng. Tuy giữ vẻ mặt bên ngoài hoàn toàn thản nhiên, nhưng trong lòng An Tiêm lúc nào cũng âm ỉ một câu hỏi: Phải tìm ra hạt giống, bởi vì đó mới là sinh kế lâu dài. Vốn bẩm sinh linh lợi, thông minh, nên bằng suy luận, An Tiêm đã tự hiểu rằng: Cây cối trên đảo có được một phần nữa là do chính có từ đời nảo đời nào, còn phần nữa là do chim chóc đã mang hạt giống từ nơi khác đến. Trên đất liền trước kia là thế, thì bây giờ trên đảo cũng phải như thế cả thôi. Chàng liền giảng giải điều ấy với vợ con và dặn dò kỹ lưỡng: Dù có làm gì cũng thỉnh thoảng nhìn ngó lên trời, khi thấy chim bay từ đâu tới thì hãy để ý xem chúng có đánh rơi vật gì xuống hay không? Ấy thế mà chàng, cũng như vợ con chàng, vừa làm lụng vừa ngó lên bầu trời có đến cả trăm, cả ngàn, thậm chí cả vạn lần, mà tuyệt nhiên vẫn chẳng thấy chim choác mang hạt giống tới. Nhiều lần hai đứa con nản chí thì chàng lại lựa lời khuyên nhủ, rồi bày ra trò chơi cho chúng vui lên. Cuộc sống của Mai An Tiêm và gia đình trên hoang đảo cứ thế mà trôi đi, có vui có buồn, nhưng chưa bao giờ thấy tuyệt vọng. Một tháng trôi qua. Hai tháng trôi qua. Rồi ba tháng nữa cũng trôi qua. Số lương thực mà gia đình chàng được phép mang đi cũng chỉ vơi mất một phần, do hết sức dè sẻn, và như vậy vẫn còn nhiều thời cơ để hy vọng. Và quả nhiên thời cơ hy vọng ấy cuối cùng cũng đã đến! Một hôm, gia đình Mai An Tiêm ăn cơm xong, đang ngồi uống nước thì bỗng nhiên có một đ àn chim lớn từ phía tây bay tới, rồi đỗ xuống bãi biển trước mặt. Lũ chim vừa kêu vừa thi nhau mổ những vật gì đó. Không lỡ thời cơ, từ trong nhà, An Tiêm nhặt vội mấy khúc củi rồi lao thẳng ra, vừa chạy vừavung ném củi. Lũ chim hoảng sợ vội bay hoảng lên. Đến nơi, An Tiêm thấy còn xót trên bãi cát mấy mẫu trái quả do chúng bỏ lại. Chàng nhặt lên ngắm nghía. Đấy là những mãnh tựa như những mảnh dưa chuột ở miền Phong Châu, nhưng vỏ ngoài xanh thẫm và trong ruột thì đỏ, lại có những hàng hạt đen nhức. "Đây có lẽ là một loại dưa mới", Mai An Tiêm thầm nghĩ. Cho rằng chim ăn được thì người cũng ăn được, nên An Tiêm đưa một miếng quả ấy lên miệng nhấm thử, sau khi đã lau chùi sạch. Quả nhiên, chàng thấy một vị ngọt thanh, lan ra từ nơi đầu lưỡi. Chàng ăn hết miếng quả, không quên nhằn hạt lại, và cảm thấy trong lòng khoan khoái dễ chịu. Thế là chàng đi nhặt cho kỳ hết những mảnh quả còn lại và những hạt đang vương vãi trên bãi cát, cho vào vạt áo, túm lại, rồi đưa về nhà. Nàng Ba và hai đứa con, sau khi nêm thử, cũng đều nhận ra cảm giác như An Tiêm. Ngay chiều hôm ấy, An Tiêm cùng vợ con dùng kiếm phát cây, đ ào rễ rồi rào dậu một vạt đất nhỏ trước nhà để trồng giống dưa lạ, sau khi hạt đã được phơi khô cẩn thận. Những ngày sau, sớm chiều hai lượt, vợ chồng con cái lại đi xach nước ngọt tưới lên những luống hạt cho vừa độ ẩm. Được bảy ngày, từ những luống đất, những hạt tách vỏ nhô lên. Bảy ngày nữa, từ hai lá mầm thành những cây dưa non mơn mởn. Lại bảy ngày tiếp, những cây dưa đã trưởng thành, lan ra trên mặt đất nhiều lớp ngọn, và từ nách mỗi cuống lá, những quả non nhỏ bé cũng nhú ra. Trong những ngày này, gia đình Mai An Tiêm thường xuyên tưới nước ngọt và thu dọn phân đem bón vào luống. Những quả dưa lớn dần, mỗi ngày mỗi khác. Thoạt đầu chỉ như hạt ngô, rồi đã bằng quả ổi nhưng hơi dài. Chẳng mấy chốc đã lại như quả muỗm tròn trịa, và cuối cùng thì như quả dừa cực lớn và đầy đặn, có lớp vỏ bao quanh màu xanh sẫm. Đến lúc đó, dưa thôi không lớn nữa, lớp vỏ cũng xanh thẫm màu hơn, và đồng thời, cũng hiện lên rõ hơn những khía màu xanh nhạt. Lớp lông bên ngoài vỏ, có từ lúc quả còn nhỏ, nay cũng đã lụi đi, và thay vào đó là một vài mảnh phấn trắng. An Tiêm hiểu rằng dưa đã tới độ chín. Chàng hái một quả già nhất, rồi lấy kiếm bổ ra, đưa cho mỗi người một miếng. Đưa miếng dưa lên miệng, ai cũng ngửi thấy mùi thơm ngon, rồi ăn vào, thấy cái ngọt cái mát thấm sâu vào trong dạ. Cái ngọt, cái mát, sự khoan khoái ..., nếu lần trước ăn chỗ quả còn sót lại của chi, mới là sự khởi đầu, thì bây giờ đây, những cảm giác ấy mới đạt đến mức tràn đầy, viên mãn. Cả nhà Mai An Tiêm đều sung sướng, tuy nhiên, ai cũng vẫn nhớ là phải chừa hạt lại. Ôi! những hạt giống mơ ước bấy lâu nay! Chúng đen nhaÜn và tựa tựa như những hạt na, hứa hẹn rồi sẽ có đầy dưa trong nhà, ngoài bãi, và có thể dùng ăn thay cơm được! Mai An Tiêm tin tưởng điều ấy nhất định sẽ xảy ra, bởi vì sau khi ăn xong miếng dưa lớn, chàng cảm thấy trong người khỏe khoắn, tựa như vừa được bồi bổ thêm một nguồn sinh lực mới. "Từ những quả hạt dưa lạ này, gia đình ta rồi sẽ có thêm lúa gạo, thêm quần áo và các vật dụng khác", Mai An Tiêm thầm nghĩ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đông Hải
Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta. Tuổi ấu thơ hùng anh cho chí tuổi già.
|
|
|
donghai
Thành viên

Bài viết: 169
Vì nước quên thân - Vì dân quên mình
|
 |
« Trả lời #37 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2009, 06:19:34 pm » |
|
Quả Dưa Hấu Mai An Tiêm Phần cuối Chàng vẫn đinh ninh nhớ khi ra đảo, gia đình chàng đã đi từ hướng Tây tới. Bấy lâu quan sát thật kỹ, Mai An Tiêm thấy rằng, dù trời yên biển lặng hay nổi phong ba bão táp, thì sóng biển bao giờ cũng vỗ về phía tây, hoặc thẳng hướng, hoặc chếch lên chếch xuống tùy theo từng mùa. Điều khám phá này, tuy đơn giản nhưng lại vô cùng hệ trọng, bởi vì từ đây An Tiêm có thể liên hệ được với đất liền, nơi có nhiều người sing sống, có đầy đủ lúa gạo, vải vóc và các vật dụng, bằng những quả dưa do chính bàn tay gia đình chàng làm ra. Thế là, ngay vụ dưa đầu tiên, chàng chọn lấy ba quả, đánh dấu bằng cách vạch lên lớp vỏ bên ngoài bốn hình người, rồi thả xuống biển, cho trôi vào đất liền. Những ngày những tháng tiếp theo, gia đình Mai An Tiêm luôn bận rộn với việc trồng dưa, hết vụ này đến vụ khác. Tất cả các hạt chắc đều được chừa lại, phơi khô. Các vạt đất xung quanh nhà, qua thanh kiếm đều được phát cây, khai khẩn để trở thàng ruộng trồng. Và đúng như Mai An Tiêm đã dự đoán, lúc nào trong nha ngòi bãi cũng đều có dưa cả. Dưa ăn no nê, thỏa thích, mỗi ngày chỉ cần một lưng cơm mà ai cũng thấy trong người mạnh khỏe. Và vẫn đều đặn, An Tiêm đem thả những quả dưa già có vạch hình bốn người cho trôi vào đất liền như thường lệ. Quả nhiên, cũng đúng như An Tiêm dự đoán, một ngày kia có chiếc thuyền từ phía đất liền đã nhận ra tín hiệu của chàng và mang gạo mang vải ra đổi lấy dưa. Thế là từ đó trở đi, qua trao đổi, cuộc sống của gia đình chàng đã hoàn toàn sung túc, chẳng còn phải lo thiếu gạo và các thứ cần thiết nữa. Về phần vua Hùng thứ 17, từ ngày lúc trao kiếm để Mai An Tiêm đi tự xử ở miền hoang đảo đến nay, những khi nhớ lại, nhà vua cảm thấy buồn người trong dạ. Nếu không có mấy vị đại thần cứ khăng khăng đòi khép Mai An TIêm vào tội chết kia thì chắc chắn Ngài cũng xử chàng nặng đến như thế. Một đằng là con nuôi nhưng một đằng lại là phép nước, nên buộc lòng Ngài phải thật công minh. Tuy nhiên, tin ở tài trí của An Tiêm nhà vua vẫn hy vọng sẽ có ngày được đón chàng về. Trước kia nhà vua chỉ giao cho gia đình An Tiêm ba tháng gạo là có ý để chàng, phải tự lo liệu từ tháng thứ tư, chứ không phải ngay từ đầu đã triệt đường sinh kế. Trong thâm tâm, Ngài định đúng ba năm sẽ cho người hỏi tin tức, nếu An Tiêm còn sống thì se được đón về, còn nếu không coi như chàng cũng đ ành phải chấp nhận trả giá cho lời nói và niềm tin của mình. Ba năm sau, kể từ ngày An Tiêm ra đi, nhà vua sai chuẩn bị một thuyền lớn gồm đầy đủ lương thực, quần áo, vật dụng, cũng do viên bộ tướng ngày trước chỉ huy, dông buồm thẳng tới miền hoang đảo, để thi hành công vụ này. Khi thuyền đến vùng ven biển, đỗ lại để lấy sức để ngày mai ra đảo thì quân lính lên bờ thấy bày bán ở chợ đầy một giống dưa lạ mà trước kia chưa hề có thì viên bộ tướng cho lính đến mua và hỏi han gốc tích ra sao thì được biết đấy là giống dưa đổi được của vợ chồng An Tiêm ở ngoài đảo vắng. Cả tướng lẫn quân đều hết sưa vui mừng, ngay ngày hôm sau, dong buồm bẻ lái cho thuyền đi ra hướng đảo đến nơi, được chứng kiến cơ ngơi của vợ chồng An Tiêm, lại được tha hồ ăn dưa thỏa thích, nên ai nấy đều vui mừng vùa hết lòng cảm phục. Tuy nhiên, về phần Mai An Tiêm thái độ của chàng vẫn cứ thản nhiên như bao giờ. Quan quân truyền lệnh của nhà vua rồi giúp An Tiêm thu dọn đồ đạc và trảy dưa mang xuống thuyền. Muời ngày sau, tất cả mọi người đều đã có mặt ở Kinh đô Phong Châu và ra mắt nhà vua. Khi được hỏi về những ngày sinh sống trên hoang đảo, An Tiêm thưa gửi nhà vua rất mực từ tốn, thuật lại các việc từ đầu đến cuối và trong khi nói không hề tỏ ra oán hận nhưng cũng không mảy may tỏ ý vui mừng. Nhà vua nhìn người con nuôi vừa mến phục lại cũng vừa thầm nghĩ: "Đúng. Trước kia nơi An Tiêm đã nói thật, chứ không hề có ý coi thường quân vương. Có vật truyền kiếp tức là có ở hiền gặp lành, ở bạc gặp ác, ngẫm ra xưa nay mọi sự đều là như thế cả. Nhưng tiếc thay thiên hạ lại không mấy người có thể hiểu và tin theo điều đó!" Trong buổi thiết triều đầu tiên, kể từ khi An Tiêm về lại đất Phong Châu, có đông đủ văn võ bá quan tham dự. Nhà vua sai bổ dưa đem chia đều cho mọi người. Số còn lại cũng đưa chia hết cho các gia đình không có người dự họp. Ý định của nhà vua và cũng là nguyện vọng của An Tiêm: Để cho ai ai cũng được thưởng thức thứ dưa quý, lạ, sau đó, mọi người đều có hạt giống để trồng sau này. Trong khi vừa ăn dưa, mọi người vừa tấm tắt khen ngon. Nhà vua hỏi An Tiêm đây là giống dưagì, thì chàng đứng dậy: - Tâu Bệ hạ. Hạ thần tự đặt tên là dưa tây, khi có những người mang hàng hóa đến đổi hỏi thần. Sở dĩ như vậy là do lúc đầu, thần thấy bầy chim đưa hạt từ phía tây tới. Nhà vua ngẫm nghĩ giây lát, rồi nói: - Từ phía tây tức là từ trong đất liền, nhưng từ trước đến nay ta có nghe nói ở vùng ấy có giống dưa nào đâu? Nếu giống ấy từ nước nào khác ở phía tây đến, thì chẳng lẽ ta lại gọi cây mọc trên đất của ta, bằng tên của nước người hay sao? Các quan có mặt ngồi suy nghĩ hồi lâu và đưa mắt nhìn nhau. Một vị đại thần vốn thật thà trực tiếp đã đứng dậy: - Tâu Bệ hạ. Theo thiển ý của thần chi bằng cứ có sao thì gọi như vậy. Giống dưa này vừa ngọt vừa mát là do ruột xốp nên chứa được nhiều nước, vậy nên gọi là dưa hẩu cho tiện. Nhà vua lắc đầu: - Tên ấy cũng đúng một phần, nhưng nghe ra thì bạc bẽo quá. Theo ý ta nên chữa lại là dưa thấu. Thấu là ăn vào cái ngọt cái mát thấm vào đến tận gan ruột. Thấu cũng là từ nay mọi người hãy thấu tỏ cho nỗi oan của An Tiêm. Ngoài ra, thấu còn là khi nói hay làm điều gì, mọi người đều phải suy trước ngẫm sau cho thật thấu suốt. Nghe nhà vua nói vậy, tất cả văn võ bá quan đều như có vẻ lặng hẳn người. Trong thâm tâm, ai ai cũng thầm cảm phục nhà vua là bậc cao minh, bởi vì họ nhớ lại ba năm trước đây, chính tay Ngài sau khi phán quyết, đa trao thanh kiếm tự xử cho An Tiêm như thế nào. Từ đấy giống dưa Mai An Tiêm đưa về Kinh đô đã được gieo trồng ở khắp mọi nơi, với tên gọi là "dưa thấu". Nhưng về sau có lẽ do biến âm, nên trở thành "dưa hấu". Cũng có thể, "dưa hấu" là biến âm của cả "dưa thấu" lẫn "dưa hẩu" chăng? Còn mọi người ở vùng biển thuộc Nga Sơn (Thanh Hóa) thì trước đến nay, vẫn quen gọi đó là dưa tây, như một cách ghi công ơn của người đầu tiên đã trồng và đặt tên cho giống dưa lạ ấy. Nơi hoang đảo, chỗ lần đầu tiên Mai An Tiêm nhận được giống dưa, được các đời sau truyền nhau gọi là bãi An Tiêm. Tại nền nhà cũ mà thuở trước An Tiêm cùng gia đình lập nghiệp, sau đó, được mọi người lặp ngôi đền thờ để đời đời tưởng nhớ "ông bà tổ của dưa tây". Tại hoang đảo, sau khi gia đình Mai An Tiêm rời đi, đã có nhiều người khác đến ở. Họ lập thành làng xóm và tiếp tục nghề trồng dưa của Mai An Tiêm để lại. Trải thời gian, làng xóm ấy càng ngày càng thêm đông vui trù mật, và được gọi là làng Mai An Tiêm, còn lại đến ngày nay. Nhưng vì để kiêng tên gọi của vị thủy tổ, nên mọi người chỉ gọi đó là làng Mai An. Đ.Hải Sưu tầm từ Internet
|
|
|
|
|
Logged
|
Đông Hải
Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta. Tuổi ấu thơ hùng anh cho chí tuổi già.
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #38 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2009, 07:54:37 pm » |
|
Tớ thì thấy quai quái cái chuyện nguồn gốc dân ta! - Lạc Long quân thấy Âu Cơ đẻ ra bọc 100 trứng bèn phán "yêu quái" rồi đem vứt ra cánh đồng Tương. Mưa nắng, chúng nở thành trăm người con. Cả đám chạy về kêu: "Cha ơi, mẹ ơi!"
Bác nào giải thích cho nhà em cái niềm tự hào "đồng bào" cái đi!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
donghai
Thành viên

Bài viết: 169
Vì nước quên thân - Vì dân quên mình
|
 |
« Trả lời #39 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2009, 10:33:14 am » |
|
Tớ thì thấy quai quái cái chuyện nguồn gốc dân ta! - Lạc Long quân thấy Âu Cơ đẻ ra bọc 100 trứng bèn phán "yêu quái" rồi đem vứt ra cánh đồng Tương. Mưa nắng, chúng nở thành trăm người con. Cả đám chạy về kêu: "Cha ơi, mẹ ơi!"
Bác nào giải thích cho nhà em cái niềm tự hào "đồng bào" cái đi!
Ông tuaans có cách suy luận hay thật! Đã là truyền thuyết thì phải mang yếu tố thần kì, thư ảo chứ. Nếu suy luận như ông anh thì truyện Tiên Dung và Chữ Đồng Tử gặp nhau sẽ thành kiểu này à: "Ngày xưa ở nàng Chử Xá có hai cha con Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử, nghèo khổ, mò cua bắt ốc, chỉ có một chiếc khố chung nhau, hễ ai đi đâu thì đóng: Chử Cù Vân ốm sắp chết dặn con cứ táng trần cho cha. Nhưng khi Chử Cù Vân qua đời thì Chử Đồng Tử đã lấy khố đóng cho cha rồi mới chôn cất. Ngày ngày Chử Đồng Tử vẫn xuống sông mò cua bắt cá kiếm sống. Thuở ấy có nàng Tiên Dung, công chúa của vua Hùng thứ ba, nhan sắc tuyệt trần, đã 17, 18 tuổi mà không chịu lấy chồng, chỉ thích chèo thuyền đi xem sông núi. Một hôm, thuyền của nàng đến khúc sông làng Chử Xá, thấy cảnh sông nước bờ bãi xinh đẹp, nàng bèn ra lệnh cho thị nữ vây màn tứ vi vào một nơi có bóng mát để tắm. Không ngờ nơi đó Chử Đồng Tử đang náu mình dưới cát. Tiên Dung giội nước một lúc, nàng giật mình thấy một chàng trai trồi lên. Cả hai người đều trong tình trạng không quần không áo, có khi cảm phục Chử Đồng Tử công chúa tiên Dung đã dâng trọn tấm thân mình cho Chử Đồng Tử rồi khi về sợ vua tra trách phạt bèn bịa ra truyện được trời se duyên "Tôi đã nguyện không lấy chồng, nay duyên trời run rủi, lại gặp chàng chốn này mới biết cưỡng không được với trời". Nhưng không nên nghĩ nhiều phân tích quá sâu vào truyện mà báng bổ thần thánh....
|
|
|
|
|
Logged
|
Đông Hải
Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta. Tuổi ấu thơ hùng anh cho chí tuổi già.
|
|
|
|