Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:52:08 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam  (Đọc 109338 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #120 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:29:55 pm »


Mối quan hệ của chính quyền với Quốc hội đã lạnh nhạt sau một sự cố đáng tiếc có liên quan đến Bobby Kennedy, vào thời điểm này là Thượng nghị sĩ của New York và là một người phái bồ câu trong vấn đề Việt Nam. Đầu tháng 2/1967, Bobby từ Paris trở về và người ta ngờ rằng ông có vẻ có một gợi ý thăm dò hoà bình chính đáng của Bắc Việt Nam. Chuyện đã lọt ra ngoài tới tạp chí Newsweek và câu chuyện đã được in trong số phát hành ngày 5/2. Tổng thống Johnson chồm lên tức giận vì tin rằng Bobby đã để lọt tin này ra ngoài nhằm tạo thế cho bản thân. Bobby đã không làm điều đó. Ngày 6/2, Tổng thống đã gặp Bobby và có tin nói ông bảo Bobby: “Năm nay chiến tranh sẽ kết thúc và khi đã kết thúc rồi thì tôi sẽ tiêu diệt ông và bất cứ ai trong đám bạn bồ câu của ông. Sáu tháng nữa ông sẽ đi đứt về chính trị”1.

Tổng thống Johnson không khi nào hướng sự tức giận và nghi ngờ vào tôi như ông ta đã làm đối với Bobby. Nhưng sự thù hằn của họ đặt tôi vào thế khó xử. Johnson biết là tôi và Bobby vẫn thường xuyên nói chuyện và thường thì chủ đề bao giờ cũng là Việt Nam. Tôi hết sức thận trọng để không phản bội sự tin tưởng của Tổng thống, và không đề cập bất cứ chuyện gì để Bobby có thể sử dụng để chống Tổng thống về mặt chính trị. Tôi không bao giờ do dự nói cho Tổng thống biết tôi nghĩ gì và tôi cũng hoàn toàn cởi mở với Bobby những cảm nghĩ của tôi về Việt Nam.

Những căng thẳng và sức ép tích tụ đã ảnh hưởng tới tất cả chúng tôi những người phải đưa ra các quyết định, và tôi cũng không đứng ngoài số đó. Trong năm 1967, đã vài đêm tôi phải uống thuốc ngủ mới ngủ được. Bạn tôi, David Lilienthal, cựu Chủ tịch Ủy ban năng lượng nguyên tử, đã tâm sự trong nhật ký của mình trong thời kỳ này rằng anh ta nhận thấy “vẻ mệt mỏi, ưu phiền và không còn hoạt bát nữa ở vị Bộ trưởng Quốc phòng”. Tờ The Washington Post ngày 21/5/1967 đã đưa tin là cả tôi và Dean đã bắt đầu lộ vẻ căng thẳng của chiến tranh. Dean viết trong hồi ký của mình là sang năm sau ông ta đã “mệt bã người” và hàng ngày sống bằng “aspirin, rượu scotch và bốn gói Larks”. Trong năm 1967 ông ta đã dần dần rơi vào tình trạng đó2.

Phần vì những bản tin trên báo và vì tôi tin là sẽ có thể có lợi hơn cho Tổng thống về chính trị nếu thay thế tôi và Dean, nên mùa xuân năm 1967 tôi đã nói với ông ta: “Chúng ta không nên... loại trừ... việc thay thế những phụ tá chủ chốt trong chính phủ Mỹ để đáp lại lời chỉ trích rằng Washington đang mệt mỏi và úa tàn”3.
_______________________________________
1. Robert Kennedy đã kể lại câu chuyện này với tôi. Xem cả Robert Kennedy và thời ông ta, Arthur M. Schlesinger (Jr.) (Boston: Houghton Mifflin, 1978), tr. 768-769.
2. Biên bản của David Lilienthal (New York: Harper và Row, 1964 - 1983), t.6, tr. 418; Như tôi đã thấy nó, Rusk, tr. 417.
3. Bản nháp Báo cáo cho Tổng thống, 19/5/1967, tr. 19, RSMP.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #121 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:30:50 pm »


Vì mỗi ngày lại có một sáng kiến ngoại giao mới nên nỗi thất vọng, vỡ mộng và đau khổ của tôi ngày càng sâu sắc thêm. Tôi không thấy có cách nào khả dĩ để chiến thắng hay chấm dứt được cuộc chiến tranh tàn phá và ngày càng tốn kém này.

Nỗi lo lắng của tôi càng tăng lên, có thêm nhiều cuộc nổi dậy của Phật tử ở Nam Việt Nam. Vào mùa xuân năm 1966, việc giết hại lẫn nhau này đã khẳng định sự mỏng manh và thiếu tính hấp dẫn đối với công chúng của chính quyền Sài Gòn. Tôi buồn phiền vì người Nam Việt Nam đánh lẫn nhau trong khi đối phương ngấp nghé ngoài cửa. Đỉnh cao của cuộc khủng hoảng là vào đầu tháng 4 khi tôi và John McNaughton chuẩn bị cho cái mà chúng tôi gọi là một “Kế hoạch rút lui có thể” dựa trên cơ sở tin rằng “mặc dù tình hình quân sự diễn ra không tồi, nhưng tình hình chính trị lại đang trong cơn “hấp hối” và thậm chí, triển vọng dự đoán về quân sự là sự bế tắc đang leo thang”. Chúng tôi kết luận là chúng tôi cần xem xét, nhân thời cơ có những rắc rối này, để Mỹ giảm cam kết1.

Trong cuộc họp ngày 2/4/1966, Tổng thống đã có lời phát biểu khó hiểu về “việc sẵn sàng có một lựa chọn khủng khiếp - có thể lấy một chỗ đứng ở Thái Lan”. Điều này cho thấy Tổng thống cũng có hướng tương tự2. Nhưng Tổng thống, tôi và những người khác vẫn sợ về những chi phí quốc tế và trong nước có thể nảy sinh từ việc rút lui. Cuộc khủng hoảng ngay sau đó đã kéo dài một thời gian ngắn nữa khi chính phủ Nam Việt Nam sử dụng vũ lực để dẹp những vụ lộn xộn.

Nhìn lại, tôi vô cùng ân hận vì tôi đã không tiến hành một cuộc tranh luận với mục đích thăm dò xem liệu có thể thắng một đòn quân sự ngay trên nền của bãi lầy chính trị hay không. Sau này, một điều trở nên rõ ràng là sức mạnh quân sự, đặc biệt khi được một cường quốc bên ngoài sử dụng, không thể đem lại trật tự trên một đất nước không tự quản nổi chính mình. Hôm nay tôi vẫn tin như vậy.

Hầu hết các đồng nghiệp của tôi nhìn tình hình khác tôi. Họ thấy (hay họ muốn thấy) tiến bộ chính trị và quân sự vững chắc. Mùa hè năm 1966, Dean nhận xét rằng “tình thế đã đến độ Bắc Việt Nam không thể thành công”. Walter viết: “Thưa Tổng thống, ngài có thể nhận thấy khắp nơi: hoạt động của Hà Nội được sự ủng hộ của Trung cộng không còn được coi là làn sóng của tương lai nữa... Chúng ta không chỉ đứng đó thôi mà đang tiến lên”. Lodge điện về “khía cạnh quân sự của cuộc chiến tranh này đang tiến triển tốt đẹp... Điều này có nghĩa là thực sự và cũng là nguy cơ duy nhất nếu nhân dân Mỹ mất lòng tin và quyết định “đưa các chàng trai về nước”. Thực sự, đây sẽ là quân cờ Domino đầu tiên bị đổ”. Và trợ lý về Việt Nam của Nhà Trắng Robert W. Komer đã báo cáo sau chuyến đi Nam Việt Nam là ông ta “vừa là người lạc quan và vừa là người thực tế”. Trong số những cố vấn cấp cao của Tổng thống, có ít sự ủng hộ đối với quan điểm tôi đã trình bày với Averell Harriman ngày 23/6/1966 là không thể có một giải pháp quân sự có thể chấp nhận được và do vậy, chúng ta nên “tiếp xúc trực tiếp” với Bắc Việt Nam và Việt cộng để tìm ra giải pháp tối ưu có thể đạt được3.
___________________________________
1. Văn bản kèm theo (đề ngày 5/4/1966) của “Vài suy nghĩ về Việt Nam”, 4/4/1966, Bộ Ngoại giao, Hồ sơ của Lot 70D 207.
2. Xem Ghi chép của Jack Valenty ngày 2/4/1966, cuộc họp tại MNF, LBJL.
3. Rusk, Báo cáo về cuộc Hội đàm với Trần Văn Độ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nam Việt Nam, 28/6/1966, Bộ Ngoại giao, Hồ sơ Trung tâm, Pol -7 Viet S; Rostow gửi Tổng thống, 25/6/1966, Báo cáo gửi Tổng thống, NSF, LBJL; Embtel 5830 (Sài Gòn), Lodge gửi Rusk, 29/6/1966, Bộ Ngoại giao, Hồ sơ Trung tâm, Pol 27 Viet S; Báo cáo của Komer gửi Tổng thống, 1/7/1966, PPW, LBJL; và Tốc ký của Harriman báo cáo về cuộc hội đàm với McNamara, 23/6/1966, Tài liệu của W. Averell Harriman, Vụ Văn bản viết tay, Thư viện Quốc hội.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #122 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:31:31 pm »


Năm 1966 trôi qua và mối bất đồng của tôi với các cố vấn cấp cao khác của Tổng thống ngày càng sâu thêm. Sự bất đồng ngày càng thêm sâu sắc rõ rệt. Tại một cuộc họp mùa thu năm ấy, Lodge báo cáo rằng, nước Mỹ đã thành công trong “cuộc chiến tranh quân sự” và ông ta hy vọng đến mùa xuân sang năm sẽ có “một tình hình quân sự rất khác”. Westmoreland cũng nhất trí1. Sau khi một lần nữa đi thăm Nam Việt Nam vào giữa tháng 10, tôi đã không thấy như vậy.

Trong một bản báo cáo dài tôi đã cho Tổng thống biết tôi đã thấy “không có cách nào hợp lý để sớm chấm dứt chiến tranh”. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới suy nghĩ của tôi và tôi đã nêu chi tiết và không giấu diếm điều gì:

Tinh thần chiến đấu của kẻ địch đã không bị bẻ gãy. Rõ ràng họ đã điều chỉnh để thích ứng với việc chúng ta muốn chặn đứng nỗ lực giành thắng lợi quân sự của họ và họ đã áp dụng chiến lược quấy rối chúng ta cho đến khi chúng ta phải rút ra (một chiến lược làm mệt mỏi tinh thần dân tộc của chúng ta). Họ biết là chúng ta đã không thể, và họ tin là chúng ta chắc chắn sẽ không thể chuyển hoá những chiến công của chúng ta ra “những thành phẩm”, đó là nhuệ khí của kẻ thù bị bẻ gẫy và những thắng lợi chính trị của Chính phủ Nam Việt Nam.

Một điều khích lệ đối với chúng ta ở Việt Nam trong năm qua là số lượng lớn quân địch bị chết trận, đó là kết quả của những chiến dịch quân sự lớn. Dù có sự phóng đại trong các báo cáo thì số tổn thất của địch là hơn 60.000 một năm. Nhưng tuyến xâm nhập dường như sẽ là những con đường một chiều đi đến cõi chết cho quân Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, không có dấu hiệu tinh thần của kẻ địch đang bị bẻ gẫy và có vẻ họ có thể bù đắp những mất mát của mình bằng việc xâm nhập từ ngoài miền Bắc vào và tuyển mộ thêm ở miền Nam.

… Chiến dịch Bình định dù gì cũng đã không tiến lên được. Khi so sánh với hai hay bốn năm về trước thì các lực lượng quân địa phương và quân du kích của đối phương hiện lớn hơn; các cuộc tấn công, khủng bố và phá hoại đã tăng lên về quy mô và mức độ;... chúng ta chỉ kiểm soát thêm được chút ít dân cư; cơ sở chính trị của Việt cộng phát triển mạnh ở hầu khắp đất nước, đem lại cho đối phương thuận lợi lớn về thông tin tình báo; không đâu có được an ninh đầy đủ (thậm chí ngay ở sau phòng tuyến của lính thuỷ đánh bộ Mỹ); ở nông thôn, địch gần như hoàn toàn kiểm soát về ban đêm.

Chương trình Sấm Rền ném bom miền Bắc cũng không ảnh hưởng mấy đến việc xâm nhập hay bẻ gãy tinh thần của Hà Nội. Giới tình báo tán thành về những hiện thực này.

Về bản chất, nhìn từ góc độ của cuộc chiến có tầm quan trọng, chúng ta thấy mình trong tình thế chẳng tốt đẹp hơn chút nào (trong tình cảm và lý trí của người dân). Cuộc chiến quan trọng này phải do chính người Việt Nam chiến đấu và chiến thắng và họ tự quyết định số phận của cuộc chiến. Ngay từ đầu, chúng ta đã biết điều này. Nhưng sự thật đáng buồn là trong các năm 1961, 1963 và 1965 chúng ta đã không tìm ra được công thức, chất xúc tác, để huấn luyện và khích lệ họ có những hành động hữu hiệu.

Chúng tôi phải làm gì trong tình huống bất hạnh này? Tôi thấy không nên và cũng không thể đưa ra được câu trả lời “khả dĩ” nào cả. Tôi chỉ có thể khuyên Tổng thống về lâu dài nên giữ ổn định ở mức dính líu quân sự của Mỹ, trong khi vẫn đẩy mạnh tìm kiếm đàm phán với hy vọng là những nỗ lực tổng hợp này sẽ ngăn chặn phía bên kia làm cho chúng tôi mệt mỏi, tránh được sự leo thang vô tận của các cuộc triển khai quân của Mỹ, tránh nguy cơ của một cuộc chiến tranh lớn hơn và tăng triển vọng của một giải pháp thương lượng bằng cách tiếp tục gây sức ép.
______________________________________
1. Báo cáo của Lodge, 3/10/1966, Tài liệu của Henry Cabot Lodge (Jr.), Hiệp hội Lịch sử Massachusets; và “Các luận điểm chính trị của COMUSMACV”, 3/10/1966, Tài liệu của Westmoreland, Trung tâm Lịch sử quân sự Mỹ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #123 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:33:05 pm »


Dù hy vọng gì đi nữa, tôi cũng đã thừa nhận “triển vọng xấu” là trong vòng hai năm tới, cuộc chiến tranh sẽ đi đến một kết cục thoả đáng. Các chiến dịch quy mô lớn chắc chắn sẽ không đem lại kết quả đó; các cuộc đàm phán cũng vậy. Trong khi chúng tôi tiếp tục theo đuổi cả hai hướng trên để có được một giải pháp trong thời gian ngắn thì chúng tôi cũng nên nhận thấy rằng thắng lợi từ các hướng này chỉ là một khả năng chứ không phải là một điều chắc chắn (nhấn mạnh trong nguyên bản)*.1

Đó là một bức tranh ảm đạm, đau đớn đến tột cùng. Nhưng khi đó tôi không thấy cách gì tốt hơn.

Nói chung, Trợ lý Ngoại trưởng Nick Katzenbach có cùng quan điểm với tôi. Nick trước đây là Tổng Chưởng lý, nhưng đã được chuyển sang Bộ Ngoại giao, vì Tổng thống không hài lòng với cách điều hành của Dean ở Bộ Ngoại giao. CIA mô tả lời đánh giá tình hình của tôi là “sâu sắc, dễ hiểu và rất giống với đánh giá của chúng ta”. Nhưng các Tham mưu trưởng liên quân không nghĩ như vậy. Tờ Pentagon Papers nhận xét về phản ứng của họ là “nhanh chóng và quyết liệt như dự đoán” - một sự tổng hợp chính xác về tâm trạng của các Tham mưu trưởng. Họ đã phản ứng mạnh mẽ trước nhận định của tôi về tình hình quân sự, kiến nghị của tôi về việc không triển khai thêm quân Mỹ và lời khuyên của tôi là chúng ta hãy gây sức ép mạnh hơn nữa để đàm phán trong khi chú trọng hàng đầu vào việc bình định và tự ổn định chính trị ở miền Nam. Thái độ khó chịu của họ mạnh đến mức họ đã yêu cầu tôi chuyển cho Tổng thống các quan điểm của họ và tôi đã làm như vậy2.

Mâu thuẫn giữa tôi và các Tham mưu trưởng liên quân là công khai nhưng cũng không ai nói ra điều đó. Tại sao? Vì hầu hết mọi người đều muốn tránh đối đầu. Họ thích làm êm các mâu thuẫn này hơn là bộc lộ chúng một cách công khai. Đồng thời, tôi nghĩ rằng Lindon B. Johnson, giống như mọi Tổng thống khác, muốn tránh một sự chia rẽ công khai giữa các thuộc hạ của mình, đặc biệt là trong lúc đang có chiến tranh. Do vậy, chúng tôi đã gạt các bất đồng quan điểm sang một bên. Đó là hành động đầy nhân bản. Nhưng, tôi lấy làm tiếc là Tổng thống, Dean và tôi đã không trực tiếp giải quyết được mối bất đồng giữa chúng tôi với các Tham mưu trưởng và thảo luận với họ một cách thẳng thắn và đầy đủ.
_____________________________________
* Để đạt được những mục tiêu này, tôi đã kiến nghị một hướng hành động nhiều gọng kìm: ổn định số lính bộ binh ở miền Nam ở mức 470.000 quân; dựng một hàng rào chống xâm nhập dọc Đường mòn Hồ Chí Minh; giữ ổn định các cuộc không kích Sấm Rền chống miền Bắc; đẩy mạnh kế hoạch bình định.
1. Xem Báo cáo của R. W. Komer gửi Tổng thống, 13/9/1966, NSF, LBIL; và báo cáo cho Tổng thống, chủ đề: Đề nghị các hoạt động tại Việt Nam, 14/10/1966, RSMP.
2. George A. Carver (Jr.) gửi Richard Helms, 15/10/1966, chủ đề: Bình luận về Báo cáo chuyến đi của Bộ trưởng McNamara, “McNaughton V.III - Muộn hơn ở Việt Nam... (2)” PPW, Hộp số 3, LBJL, PP, t.4, tr, 356; và JCSM-672-66, Wheeler gửi McNamara, 14/10/1966, “Việt Nam, Báo cáo JCS, T. II”, CF, VN, Hộp số 193, NSF, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #124 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:34:03 pm »


Sự bất đồng và mâu thuẫn tiếp tục kéo dài, thậm chí đã trở thành giữa các cá nhân với nhau. Tháng 12, Lodge nói với Tổng thống rằng ông hy vọng “tình hình quân sự sẽ sáng sủa trong năm 1967” và tình hình chính trị cũng sẽ được cải thiện, nhưng ông nói thêm: “Phải mất tới 5 năm mới hoàn thành được công việc đó”. Sau khi đi thăm Sài Gòn vào đầu tháng 2/1967, Bus báo cáo “Việt cộng/quân đội Bắc Việt Nam không có hy vọng chiến thắng ở miền Nam được nữa”. Và chưa đầy 6 tuần sau đó, vào ngày 18/3/1967, Westy yêu cầu tăng thêm 200.000 quân (nâng tổng số từ 470.000 lên 670.000); kêu gọi mở rộng các chiến dịch trên bộ tại Lào và Campuchia; chủ trương ném bom và thả mìn Bắc Việt Nam mạnh hơn nữa; và tính đến khả năng tấn công bằng không quân và bộ binh vào phía bắc khu phi quân sự. Điều này có nghĩa là huy động lực lượng dự bị, tăng cường quân chính quy lên 500.000 quân và chi thêm 10 tỷ đôla mỗi năm vào cuộc chiến - một khoản tăng thêm cho chi phí 25 tỷ đôla đã trực tiếp rót vào Đông Nam Á trong toàn bộ ngân sách quốc phòng của Lầu Năm Góc là 71 tỷ đôla1.

Chúng tôi thảo luận về các đề nghị này tại Nhà Trắng ngày 27/4. Trong hồi ký của Westy, ông ta nói rằng tôi đã “moi” từ ông ta xem phải mất bao nhiêu thời gian để “giảm dần sự dính líu của Mỹ”, nếu lực lượng của Mỹ được tăng thêm 200.000, 100.000 hoặc giữ ở mức 470.000. Ông ta đã trả lời, thời gian tương ứng là 2 năm, 3 năm và 5 năm. Tại một thời điểm của cuộc họp, Tổng thống Johnson hỏi ông ta: “Khi chúng ta tăng thêm quân thì quân địch không biết tăng thêm quân của họ à? Nếu vậy thì bao giờ mới kết thúc được?”2.

Tại cuộc họp này, Bus nhận xét “chiến dịch ném bom đang tiến tới chỗ mà chúng ta phải tiến công các mục tiêu cố định quan trọng, trừ các cảng”. Để phù hợp với tình hình này, tại buổi tiệc trưa ngày thứ ba mùng 2/5/1967, tôi khuyên Tổng thống không những bác bỏ đề nghị của các Tham mưu trưởng mở rộng các cuộc ném bom (trừ các nhà máy điện còn lại), mà chỉ hạn chế các cuộc ném bom vào các khu vực nằm dưới vĩ tuyến 20 (“eo đất” phía nam của Hà Nội và Hải Phòng, nơi quân đội và hàng tiếp tế đều phải qua đây để vào miền Nam).

Tôi hiểu và thông cảm với nỗi lo lắng của giới quân sự trong việc kiềm chế các cuộc phản công của đối thủ. Nhưng tôi đã đưa ra khuyến nghị căn cứ vào một số nhân tố như: nhận xét của Bus ngày 27/4; tôi tin rằng ném bom và rải mìn các cảng sẽ có nguy cơ phải đối đầu với Liên Xô; các kết luận của Edmund Rice. Tổng lãnh sự Mỹ tại Hồng Công và Ngài Robert Thompson ở Malaixia rằng chiến dịch ném bom Sấm Rền làm ý chí của Hà Nội tăng thêm hơn là bị tiêu diệt; con số thiệt hại về phi công Mỹ tính trung bình trên mỗi phi vụ ném bom ở phía Bắc vĩ tuyến 20 gấp 6 lần con số thiệt hại ở dưới vĩ tuyến này; luận điểm của tôi là kết quả ném bom phía Bắc vĩ tuyến này không biện minh được cho sự thiệt hại nhiều hơn sinh mạng Mỹ. Cy Vance, Nick Katzenbach, Dick Helms, Walt Rostow, Bill Bundy và cả Mac Bundy ủng hộ kiến nghị của tôi là gửi cho Tổng thống một bản phúc trình riêng vào ngày 3/5, nằm ngoài báo cáo của chính phủ nhưng vẫn giữ liên hệ với Tổng thống. Phân tích của CIA ủng hộ quan điểm này3.
___________________________________
1. Xem Ghi chép của Rostow về cuộc họp với Tổng thống, Thứ Sáu, 17/12/1966, Austin, Texas (đề ngày 19/12/1966), Hồ sơ của Walt W. Rostow, Hộp số 3, NSF, LBJL; Tài liệu kèm theo Bản tóm lược về cuộc họp thứ 568 NSC, 8/2/1966, NSCMF, LBJL; và COMUSMACV 09101 gửi CINCPAC, “Yêu cầu của Quân đội” 18/3/1967, PPW, LBJL.
2. Trích dẫn trong Báo cáo của một quân nhân, Westmoreland, tr. 299; đánh giá của Westy và nhận xét của Johnson trong “Ghi chép tại các cuộc hội đàm với Tổng thống, ngày 27/4/1967”, PPW, LBJL.
3. Báo cáo gửi Tổng thống, chủ đề: Dự thảo chương trình ném bom đánh phá Bắc Việt Nam, ngày 9/5/1967; William Bundy, “Các nét đại cương cho chiến dịch ném bom trong thời gian còn lại của năm 1967”, 9/5/1967; George Bundy gửi Tổng thống, Báo cáo về chính sách Việt Nam, 3/5/1967; Báo cáo tình báo của CIA 0642/67, “Tình trạng tinh thần hiện nay ở Bắc Việt Nam”, 12/5/1967; Báo cáo tình báo của CIA 0643/67, “Đòn tiến công bằng ném bom trên đất Bắc Việt Nam trong tháng 4/1967; 12/5/67; và Báo cáo tình báo của CIA 0649/67, 23/5/1967, tất cả trong CF, VN, NSF, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #125 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:34:45 pm »


Cuối tháng đó, những lo lắng và mối ngờ vực của tôi được thể hiện trong một bản phúc trình dài và đầy mâu thuẫn gửi cho Tổng thống ngày 19/5/1967. Đưa ra những quan điểm mà sau này tờ Pentagon Papers mô tả là “cấp tiến”, bản phúc trình nói rõ mối nghi ngờ của tôi về chiều hướng phát triển của các sự kiện và bản phúc trình này đã mở màn cho một cuộc tranh cãi gay gắt hơn nữa. Vì tầm quan trọng của nó, tôi xin trích nhiều đoạn ra đây. Tôi mở đầu:

“Bản phúc trình này được viết vào thời điểm không còn giải pháp hợp lý nào. Điều chắc chắn là Hà Nội đã quyết định không ngồi vào bàn đàm phán cho đến khi kết thúc cuộc bầu cử ở Mỹ vào tháng 11/1968. Tiếp tục chính sách ôn hoà hiện nay của chúng ta, trong khi tránh một cuộc chiến tranh lớn hơn, sẽ không làm thay đổi quyết tâm của Hà Nội và cũng không được nhân dân Mỹ đồng tình; tăng cường lực lượng và chiến tranh chống miền Bắc xem ra không làm thay đổi ý chí của Hà Nội và rất dễ kéo sâu chúng ta vào Đông Nam Á và vào sự đối đầu nguy hiểm, nếu không phải là chiến tranh, với Trung Quốc và Liên Xô; và chúng ta không sẵn sàng đương đầu với điều đó. Vì vậy, chúng ta phải chọn lựa giữa các giải pháp không hoàn hảo”.

Tôi tiếp tục trình bày về tình hình tại nước Mỹ:

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam ít được người dân ở Mỹ quan tâm đến. Nó càng trở nên ít được quan tâm khi đang leo thang - cuộc leo thang gây ra nhiều thương vong cho Mỹ, làm tăng thêm mối lo ngại rằng nó sẽ phát triển thành một cuộc chiến tranh lớn hơn, sự thiệt hại càng lớn đối với trong nước, và làm cho dân thường ở miền Nam và Bắc Việt Nam ngày càng kiệt sức do phải chịu đựng quá nhiều. Hầu hết người Mỹ không hiểu tại sao chúng ta lại có mặt ở đất nước đó và hầu hết, mặc dù không biết tại sao, nhưng với nhận thức muộn màng, đều tin rằng dù sao chúng ta cũng không nên dính sâu vào đó. Tất cả đều mong muốn chấm dứt cuộc chiến tranh và trông đợi Tổng thống chấm dứt nó. Thắng lợi. Hay là bằng cách nào đó.

Tâm trạng này làm nền chính trị Mỹ mất đi tính kiên nhẫn. Tiếc là nó lại làm cho Hà Nội thêm kiên nhẫn (dư luận chung cho rằng Hà Nội sẽ chờ đợi cho tới khi có kết quả cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ tháng 11/1968).

Tại Nam Việt Nam:

(Ở Việt Nam) cuộc “chiến lớn” ở miền Nam giữa Mỹ và các đơn vị vũ trang Bắc Việt Nam (NVA) đang tiến triển tốt. Chúng ta đã tránh được thất bại quân sự năm 1965; chúng ta đã giành được thế chủ động quân sự năm 1966; và từ đó chúng ta đã gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề, bẻ gãy được một số khả năng tiến công nào đó của họ... (Nhưng) trên toàn Nam Việt Nam, sự tiếp tế vẫn tiếp tục được đổ vào ở quy mô lớn. Đối phương vẫn duy trì được khả năng phản công cả trên quy mô lớn và nhỏ...

Rất tiếc là, cuộc “chiến khác” chống Việt cộng vẫn không có tiến triển gì. Tham nhũng tràn lan. Một nhóm người nước ngoài đang nắm trong tay quyền kiểm soát chính quyền. Chế độ mục ruỗng... Dân chúng tỏ ra thờ ơ... Mặt trận Dân tộc giải phóng (NLF) tiếp tục kiểm soát những phần đất rộng lớn ở Nam Việt Nam và chương trình bình định tỏ ra ít có được kết quả. Quân đội của Chính quyền Nam Việt Nam (ARVN) thì mệt mỏi, thụ động, có xu hướng thoả hiệp và chậm chạp trong việc thực hiện các kế hoạch bình định.

Tại Bắc Việt Nam:

“Quan điểm của Hà Nội về việc thương lượng chưa bao giờ tỏ ra là mềm mỏng và cởi mở... Họ tỏ ra không quan tâm đến một giải pháp chính trị và quyết tâm đọ sức với Mỹ trong một cuộc chiến tranh mở rộng... Vẫn không có những dấu hiệu là chiến dịch ném bom làm suy giảm ý chí kháng cự hoặc khả năng của họ vận chuyển hàng tiếp tế cho miền Nam. Hà Nội không có biểu hiệu chấm dứt chiến tranh quy mô lớn và khuyên Việt cộng rút lui vào rừng. Người Bắc Việt Nam tin rằng họ đúng; họ coi chế độ của Kỳ là bù nhìn; họ tin thế giới đứng về phía họ và rằng nhân dân Mỹ không chống lại họ. Do đó mặc dầu họ cũng có thể có các phe phái chủ trương các bước đi khác nhau, song họ tin rằng trong cuộc chiến trường kỳ này, họ là người có mục tiêu hơn chúng ta”.

Và trong khối cộng sản:

“Mục tiêu chủ đạo của Liên Xô là tiếp tục tránh dính líu trực tiếp vào cuộc chiến tranh và ngăn ngừa không để vấn đề Việt Nam gây ảnh hưởng đến các khía cạnh khác trong quan hệ Xô - Mỹ, đồng thời ủng hộ Hà Nội ở mức vừa đủ để giữ uy tín của Liên Xô trong thế giới cộng sản quốc tế.

Trung Quốc vẫn còn đang quá bận rộn với cuộc Cách mạng văn hoá của mình. Chính quyền Bắc Kinh vẫn khuyên Hà Nội không đàm phán và tiếp tục chống lại cố gắng của Liên Xô hình thành một mặt trận thống nhất bảo vệ Bắc Việt Nam. Chẳng có lý do gì để nghi ngờ rằng Trung Quốc giữ cam kết của họ về việc sẽ can thiệp nếu Hà Nội yêu cầu và rất có vẻ là Bắc Kinh sẽ can thiệp theo cách riêng của họ nếu họ tin rằng sự tồn tại của chế độ Hà Nội là có lợi cho họ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #126 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:37:15 pm »


Tiếp đó, tôi trình bày một cách cẩn thận và khá dài về tính hợp lý trong phương án hành động do Westy đưa ra:

“Những người chủ trương triển khai thêm quân ở miền Nam tin rằng cùng với sự triển khai quân đó, chiến tranh sẽ sớm chấm dứt. Không ai trong số họ cho rằng lực lượng bổ sung là cần thiết để tránh thất bại; một số ít cho rằng lực lượng bổ sung là đúng lúc; tất cả những người có chủ trương này đều tin rằng nếu muốn kết thúc chiến tranh nhanh hơn thì phải đưa thêm quân vào. Họ lập luận rằng chúng ta đã tránh được thất bại quân sự năm 1965; chúng ta đã giành thế chủ động quân sự vào năm 1966 và từ đó làm thiệt hại nặng nề đối phương, làm tê liệt phần lớn khả năng tiến công của họ và do đó phá được quyền kiểm soát dân cư của họ; và thậm chí chiếm được thế chủ động về quân sự lớn hơn đối với quân chủ lực và các khu căn cứ của đối phương sẽ làm cho đối phương thiệt hại nặng nề hơn, đánh bại các cố gắng của họ và loại bỏ được nhiều hơn nữa quyền kiểm soát dân cư của họ, nhiều hơn mức mà với số quân hiện nay chúng ta đã làm được. Điều này, họ lập luận tiếp, sẽ nhanh chóng tạo ra một tình hình mới ở Nam Việt Nam mà các nỗ lực bình định của chúng ta có thể bắt rễ và tiến triển; đồng thời - do tiến bộ của chúng ta ở miền Nam và do thất bại nặng nề của đối phương - nó sẽ nhanh chóng buộc Hà Nội phải suy nghĩ theo hướng có lợi cho việc kết thúc chiến tranh với những điều kiện hợp lý.

Nhưng biện pháp này chứa đựng những nguy cơ và tác động ngược trở lại cần phải được lưu ý đến:

Việc tăng thêm 200.000 quân có liên quan đến việc huy động quân dự bị và việc tăng thêm 500.000 quân... đương nhiên sẽ phải đưa ra Quốc hội thảo luận và những sức ép trong nước không thể tránh khỏi đòi phải hành động mạnh hơn nữa ở ngoài Nam Việt Nam. Những tiếng khóc than vốn đã nhiều sẽ càng nhiều hơn vì “những thương vong của binh sĩ trên chiến trường”. Hành động của chúng ta sẽ bao gồm ném bom ồ ạt - không chỉ ở phạm vi các mục tiêu đã được thông qua mà cả các mục tiêu chiến lược (mục tiêu dân sự) như đê điều, cầu cống và thả mìn các cảng ngăn tàu bè Liên Xô và các nước khác. Các hành động liên quan khác do sức ép của tình hình sẽ là các hoạt động quân sự lớn trên đất liền ở Lào, Campuchia và rất có thể cả ở Bắc Việt Nam. Vũ khí hạt nhân chiến thuật và các loại vũ khí hoá học, vi trùng, tia phóng xạ có sức phá huỷ hạn hẹp có thể được sử dụng nếu như Trung Quốc nhảy vào cuộc chiến ở Việt Nam hoặc Triều Tiên hay nếu Mỹ gặp thiệt hại quá lớn trong việc sử dụng các loại vũ khí thông thường không đem lại kết quả như mong muốn.

Điều đơn giản là, sự leo thang chiến tranh có nguy cơ đẩy cuộc chiến tranh hoàn toàn thoát ra ngoài vòng kiểm soát. Tôi cảm thấy rằng cần phải ngăn chặn hiểm hoạ này. Tôi nói với Tổng thống:

Có lẽ có một giới hạn mà nhiều người Mỹ và phần lớn cộng đồng quốc tế không cho phép Mỹ vượt qua. Thật chẳng đẹp đẽ gì hình ảnh một cường quốc lớn nhất thế giới hàng tuần giết hại và gây thương tích cho 1.000 dân lành nhằm buộc một dân tộc nhỏ bé và lạc hậu phải khuất phục trong một vấn đề mà các giá trị của nó đang gây tranh cãi gay gắt. Có thể tưởng tượng được là nó sẽ dẫn đến lệch lạc trong ý thức dân tộc của người Mỹ với cái giá phải trả rất đắt và bóp méo hình ảnh nước Mỹ trên thế giới - nhất là khi Mỹ muốn Bắc Việt Nam phải chịu những thiệt hại đủ để gọi là “chiến thắng”.

Vì tất cả những điều đó mà tôi hết sức chống lại đề nghị của Westy. Tôi nhấn mạnh rằng cần phải xem xét Việt Nam trong một khung cảnh châu Á rộng hơn. Trong khi thể hiện quan điểm khác xa với quan điểm những năm trước đây của mình, tôi lấy dẫn chứng về thất bại của chủ nghĩa cộng sản ở Inđônêxia cùng với cuộc Cách mạng Văn hoá đang diễn ra ở Trung Quốc và chỉ ra rằng xu thế ở châu Á giờ đây là có lợi cho Mỹ, do vậy, tầm quan trọng của Nam Việt Nam giảm đi. Tôi kêu gọi chúng ta “hãy loại bỏ những điểm mơ hồ trong các mục tiêu căn bản của chúng ta” và đặt chính sách của chúng ta dựa trên hai nguyên tắc:

1. Cam kết của chúng ta chỉ nhằm để cho nhân dân Nam Việt Nam được quyết định tương lai của họ.

2. Cam kết này sẽ chấm dứt nếu đất nước này không tự cứu lấy mình.

Theo đó, tôi đề nghị một chiến lược chính trị - quân sự với khả năng thoả hiệp: chỉ ném bom ngăn chặn sự tiếp tế bằng đường bộ qua khu vực “yết hầu” ở dưới vĩ tuyến 20; chỉ giới hạn tăng thêm 30.000 quân và sau đó phải ấn định mức quân tối đa; và thông qua một lập trường mặc cả linh hoạt, đồng thời tích cực tìm kiếm một giải pháp chính trị.

Tôi thẳng thắn thừa nhận những khó khăn của giải pháp này:

Một số người sẽ khăng khăng cho rằng gây sức ép, một sức ép vừa đủ đối với Bắc Việt Nam, có thể đem lại kết quả hoặc chúng ta sẽ đạt được một thắng lợi mà không phải trả một cái giá cụ thể nào trong việc tập trung đánh phá con đường tiếp tế, nhiều người sẽ lập luận rằng không có một lực lượng quân sự lớn hơn sẽ làm kéo dài cuộc chiến tranh, nguy cơ thất bại trong cuộc chiến và làm cho con số thương vong của lính Mỹ đang chiến đấu ở đó tăng lên; một số khác cho rằng... Hà Nội sẽ phản công một cách hung hăng và đòi hỏi nhiều hơn;... và sẽ có những người đưa ra khả năng là một sự thay đổi trong luận điệu của Mỹ có thể gây ra “một cuộc tháo chạy” qua lối Thái Lan, Lào và đặc biệt tại Nam Việt Nam, có thể đe doạ sự vững mạnh của chính quyền, tinh thần của quân đội, mất sự ủng hộ trong dân chúng. Uy tín của nước Mỹ và Tổng thống sẽ bị tổn hại phần nào.

Nhưng tôi đánh giá giải pháp này có những khó khăn và rủi ro ít hơn so với bất kỳ giải pháp nào khác. Sau khi suy nghĩ rất nhiều, đấu tranh tư tưởng và nghiên cứu tìm hiểu, tôi rút ra kết luận - và tôi nói thẳng với Tổng thống Johnson là “cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang giành được một động lực thúc đẩy của riêng nó là phải chấm dứt” và giải pháp của Westy “sẽ dẫn đến một tai hoạ lớn cho dân tộc”.

Mặt khác, tôi tin rằng giải pháp do tôi đề nghị “tạo ra những lợi thế tổng hợp là một đòn bẩy cho thương lượng và tiến tới kết thúc chiến tranh theo những điều kiện vừa ý chúng ta, hỗ trợ cho vị thế chung của chúng ta đối với Liên Xô, cải thiện hình ảnh của chúng ta trong cộng đồng quốc tế, giảm nguy cơ đối đầu với Trung Quốc, với Liên Xô và giảm thiệt hại của Mỹ”1.

Walt Rostow đã không đúng khi mô tả các phản ứng của tôi là làm nổi lên “những cảm giác mạnh mẽ đến mức nguy hiểm” trong Chính phủ. Phải chăng tôi có thể giải quyết những vấn đề đặt ra cho chúng ta với ít tổn hại tới Tổng thống, và trên hết, rút ngắn cuộc chiến? Bây giờ tôi tin là tôi đã có thể và lẽ ra đã phải làm được. Hồi đó, tôi không biết làm thế nào để đạt được điều này. Ngày nay, đối với tôi rõ ràng là bản tường trình của tôi đã trực tiếp hướng tới kết luận rằng dù thông qua đàm phán hay chiến tranh trực tiếp đi chăng nữa, thì lẽ ra chúng tôi đã phải bắt đầu rút ra khỏi Nam Việt Nam. Rất có khả năng là chúng tôi đã có thể làm được như vậy với những điều kiện không kém gì các điều kiện mà gần 6 năm sau chúng ta phải chấp nhận, mà không gây thiệt hại nhiều hơn cho an ninh của Mỹ, và cái giá phải trả về người, về chính trị và xã hội cho cả nước Mỹ và Việt Nam sẽ thấp hơn nhiều.
_______________________________________
1. Phác thảo Báo cáo cho Tổng thống, chủ đề: Những hoạt động trong thời gian tới tại Việt Nam, 19/5/1967, CF, VN, NSF, LBJL.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #127 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:30:49 pm »


10

BẤT HÒA VÀ RA ĐI
NGÀY 20/5/1967 - 29/2/1968


Bản tường trình ngày 19/5/1967 của tôi gửi cho Tổng thống gây ra một cuộc tranh luận lớn. Nó làm cho cuộc cãi vã vốn đã gay gắt càng gay gắt thêm trong chính quyền. Bản tường trình này đã dẫn đến một cuộc điều trần căng thẳng và gay gắt tại Quốc hội và đặt tôi vào thế đối chọi với các Tham mưu trưởng liên quân và có những lời đồn đại rằng họ dự định sẽ từ chức tập thể. Nó làm tăng nhanh tiến trình chia rẽ giữa Tổng thống Johnson và tôi, và đẩy nhanh hơn việc tôi rời khỏi Lầu Năm Góc.

Một loạt các sự kiện vào mùa hè và mùa thu năm đó buộc Tổng thống và các quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Hội đồng An ninh quốc gia phải tập trung vào vấn đề Việt Nam. Chúng tôi phải đối mặt với một trận đại hồng thủy các cuộc khủng hoảng và các vấn đề khác: cuộc chiến tranh Trung Đông dẫn đến việc lần đầu tiên lập đường dây nóng giữa Washington và Matxcơva, chương trình chống tên lửa đạn đạo của Liên Xô để doạ phá vỡ thế cân bằng hạt nhân giữa Đông và Tây; đám mây đen của một cuộc xung đột giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ về vấn đề Síp đe doạ sườn phía đông của NATO; các cuộc bạo động về sắc tộc tại các thành phố lớn của Mỹ; và tất nhiên, các cuộc biểu tình chống chiến tranh, kể cả một nỗ lực lớn nhằm đóng cửa Lầu Năm Góc. Báo chí bắt đầu đưa tin về những hội chứng trầm uất của các quan chức cấp cao, trong đó có cả tôi. Tổng thống Johnson bắt đầu đưa ra những ám chỉ là ông sẽ không ra tái tranh cử vào năm 1968.

Bốn tuần sau khi bản tường trình của tôi được đưa ra, các Tham mưu trưởng liên quân đã đáp lại không dưới bảy bản tường trình khác gửi cho Tổng thống và tôi. Như tờ Pentagon Papers về sau nhận xét là “ngành công nghiệp giấy của Washington đã phá vỡ mọi kỷ lục sản xuất của mình từ trước đến nay”1.

Các Tham mưu trưởng đặc biệt phản đối khuyến nghị của tôi là chúng ta “phải xoá bỏ sự không rõ ràng trong các mục tiêu tối thiểu của chúng ta” ở Việt Nam. Như tôi đã nói, tôi đã yêu cầu là chính sách của chúng ta phải dựa trên hai nguyên tắc: “(1) Cam kết của chúng ta chỉ để nhằm bảo đảm là nhân dân Nam Việt Nam được tự quyết định tương lai của họ”, và “(2) Cam kết này sẽ chấm dứt nếu bản thân họ không tự cứu lấy mình”. Công thức này - theo các Tham mưu trưởng - “không hỗ trợ cho chính sách quốc gia đúng đắn của Mỹ và mục tiêu của Mỹ ở Việt Nam và không nên xem xét thêm nữa”. Họ nói rằng phát biểu của tôi mâu thuẫn với chính sách và mục tiêu hiện nay của Mỹ như đã được vạch ra trong NSAM 288 (Bị vong lục về Đạo luật an ninh quốc gia số 288) mà họ vẫn xem là một tài liệu hướng dẫn về chính sách đối với cuộc chiến.

Trên thực tế, NSAM 288 là bản thông báo tóm tắt đề ngày 17/3/1964 của Mac Bundy gửi cho Dean Rusk, tôi, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân và một số người khác, trong đó nêu rõ Tổng thống đã quyết định thực hiện những lời khuyên mà tôi đệ trình lên trong một báo cáo vào ngày hôm trước. Bản báo cáo đó nói rằng: “Tôi khuyến nghị Ngài thông báo rõ cho các cơ quan của chính phủ rằng chúng ta sẵn sàng cấp viện trợ và giúp đỡ cho Nam Việt Nam chừng nào mà họ còn kiểm soát được các cuộc nổi dậy”. Nhưng bản báo cáo còn có phần quan trọng là: “Đã có và hiện đang có những lý do có cơ sở về những hạn chế trong chính sách hiện nay của chúng ta – người Nam Việt Nam phải giành chiến thắng trong cuộc chiến của chính họ”2. Các Tham mưu trưởng đã nhầm lẫn: chính sách của chúng ta vẫn chưa thay đổi. Nhưng họ cũng đúng: trong những năm vừa qua, chính sách của chúng ta không được thực hiện đúng.

Câu hỏi chính yếu nhất vẫn còn đó: nếu Chính quyền Nam Việt Nam không giành và giữ được sự ủng hộ của dân chúng và đánh bại quân nổi dậy - như sự việc đã diễn ra như vậy - liệu chúng ta có làm thay cho họ không?

Các Tham mưu trưởng cũng kêu gọi mở các cuộc tấn công mạnh hơn nữa của Mỹ bằng lục quân, hải quân và không quân chống miền Bắc. Ý nghĩ của họ về điều này mạnh tới mức họ yêu cầu tôi chuyển các khuyến nghị của họ lên Tổng thống và tất nhiên, tôi đã làm như vậy. Ngày 20/5, họ gửi cho tôi một bản ghi nhớ khác nhắc lại quan điểm của họ là xâm lược Bắc Việt Nam, Lào và Campuchia là cần thiết, kể cả việc triển khai quân Mỹ ở Thái Lan và hoàn toàn có thể sử dụng vũ khí hạt nhân ở phía nam Trung Quốc. Họ nhấn mạnh: tất cả những điều này nói lên nhu cầu cần phải huy động lực lượng dự bị của Mỹ3. Việc họ sẵn sàng mạo hiểm sử dụng lực lượng hạt nhân làm tôi khiếp đảm.
____________________________________
1. PP t.4, tr. 177.
2. Xem FRUS, 1964-1968, t.1, tr. 172-173 và 153-167.
3. Xem JCSM-286-67, Báo cáo cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, chủ đề: Các chiến dịch chống lại Bắc Việt Nam, 20/5/1967; và JCSM-288-67, Báo cáo cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, chủ đề: Tư thế của quân đội Mỹ trên thế giới, 20/5/1967, CF, VN, NSF, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #128 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:38:46 pm »


Để giải quyết mối bất đồng của tôi với các tướng lĩnh về việc ném bom, tôi yêu cầu Giám đốc CIA Dick Helms cho các chuyên gia phân tích của Cục tình báo CIA đánh giá về các khả năng. Bản báo cáo của họ khẳng định dứt khoát: “Chúng tôi không tin bất cứ một kế hoạch nào trong các kế hoạch đó... có thể làm giảm khối lượng vũ khí quân sự và hàng hoá thiết yếu đủ sức tác động đến cuộc chiến tranh ở miền Nam hoặc có thể làm nhụt quyết tâm của Hà Nội tiếp tục cuộc chiến tranh”. Theo CIA, kết luận này dựa trên những thực tế rõ ràng là “khả năng trội hơn hẳn của họ trên hệ thống giao thông... tạo cho họ một cơ sở vững chắc là hầu như không một chiến dịch đánh phá nào có thể vô hiệu hoá được hệ thống hậu cần đến mức có thể làm giảm dòng người và của từ miền Bắc vào Nam Việt Nam”1.

Các tướng lĩnh phản bác lập luận này và tiếp tục gây sức ép đòi mở chiến dịch ném bom leo thang từng bước.

Mâu thuẫn sâu sắc không chỉ giữa các quan chức dân sự với quân sự mà cả trong nội bộ giới quân sự với nhau. Ví dụ, khoảng thời gian này, Tư lệnh Hải quân Paul Nitze và tôi nhận được một báo cáo ngắn từ một đơn vị có tên là Nhóm đánh giá về Việt Nam của Hải quân. Tôi nhớ lại, vào khoảng thời gian gần đây, khi ông Eugene Carrol, một Chuẩn đô đốc về hưu, đã gửi cho tôi một tập hồi ký của một người trước đây phụ trách nhóm này là Chuẩn đô đốc Gene R. La Rocque. Nội dung của nó:

Khoảng năm 1967, Paul Nitze, Tư lệnh Hải quân, gọi tôi đến văn phòng của ông và nói rằng sau cuộc hội kiến với Bộ trưởng MacNamara, ông ta, Paul Nitze muốn tôi thành lập một nhóm khoảng 10 Đô đốc và một Tướng hải quân để đánh giá tình hình ở Việt Nam và kiến nghị những biện pháp quân sự của Mỹ.

Nitze nói rõ ràng ông ta và ông MacNamara không quan tâm các sự kiện đã xảy ra vì họ đã biết rất rõ các sự kiện ấy. Thay vì đó, ông yêu cầu nhóm tập trung đánh giá tình hình từ năm 1967 và các phương án mà Mỹ có thể thực hiện.

Căn cứ vào chỉ thị của Tư lệnh Hải quân, tôi đã lập một nhóm gồm 10 Đô đốc và một Chuẩn tướng Hải quân để bắt tay vào công việc. Trong thời gian thăm Việt Nam, chúng tôi đã thảo luận với các Tướng Westmoreland, Momyer, Cushman và với các Đô đốc và phụ tá của họ. Chúng tôi đã đặt nhiều câu hỏi cho các sỹ quan ở mọi cấp bậc, binh sĩ trên chiến trường cũng như các sĩ quan, binh lính trên tàu ngoài khơi Việt Nam và tại các cửa sông.

Trong vòng sáu tháng, nhóm đã lên được một loạt các phương án bao gồm việc xây dựng một bức tường dọc theo đường giới tuyến bắc và biên giới phía tây của Nam Việt Nam, thả mìn các hải cảng, oanh kích ồ ạt và đánh phá tuyến giao thông trên sông Hồng. Các phương án này và các phương án khác bị xem là kém hiệu quả để có thể giành một thắng lợi về quân sự.

Một phương án khác nữa là đưa quân Mỹ đến Bắc Việt Nam, mà theo đánh giá của Hải quân, đòi hỏi phải có thêm ít nhất 500.000 quân Mỹ nữa ở khu vực này. Nhóm của tôi quả quyết rằng điều này chắc chắn sẽ dẫn đến việc Trung Quốc can thiệp vào Bắc Việt Nam...

Đánh giá của nhóm chúng tôi cho thấy rằng khó có thể đạt được một thắng lợi quân sự ở Việt Nam và chúng tôi dự định báo cáo chính thức điều này cho Tư lệnh Hải quân, Bộ trưởng Quốc phòng và các quan chức của Lầu Năm Góc. Do tính chất không chính thức của nhóm, do thiếu sự chỉ đạo chính thức để thành lập nhóm và do tình hình chính trị hiện tại liên quan đến Nhà Trắng, đã cản trở việc giới thiệu đánh giá của nhóm. Phó Tham mưu tác chiến, Đô đốc Horacio Rivero nói với tôi với tư cách cá nhân là việc phân phát bản báo cáo này sẽ phương hại đến cuộc chiến tranh mà Mỹ đang tiến hành và tương lai của tôi trong lực lượng hải quân. Do sự phản đối cương quyết của ông, tôi đã không gửi báo cáo này đi các nơi.

Trong lá thư kín của mình, Đô đốc Carrol nói với tôi: “Chính đầu óc độc lập và quyết định báo cáo các sự thật liên quan đến tình hình ở Việt Nam của tướng La Rocque, chứ không phải quan điểm chính trị, đã dẫn đến việc ông sớm ra khỏi Hải quân sau một quãng đời binh nghiệp thăng tiến nhanh của ông ta. Carroll và La Rocque trở thành những người chỉ trích có tiếng về quan điểm quân sự của Mỹ2.
___________________________________
1. Richard Helms gửi Robert S. McNamara, 1/6/1967 và Tài liệu kèm theo, Báo cáo của CIA số 196752/67, chủ đề: Đánh giá các chương trình được lựa chọn để ném bom Bắc Việt Nam, 1/6/1967, sách đã dẫn.
2. Eugene J. Carroll (Jr.), Chuẩn Đô đốc Hải quân Mỹ (đã về hưu), gửi Jane Moore, 24/9/1993 và các tài liệu kèm theo, RSMP.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #129 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:44:56 pm »


Sự chỉ trích dữ dội của các tướng lĩnh đối với các bản ghi nhớ không làm tôi lay chuyển. Ngày 13/6, Cy Vance và tôi lại đề nghị Tổng thống bác bỏ kế hoạch của họ. Chúng tôi viện dẫn bản phân tích của CIA và nói rằng, chúng tôi tin chắc rằng một cuộc leo thang quy mô lớn sẽ dẫn đến thảm hoạ: Không một kiểu phá hoại lật đổ nào ở Hà Nội lại có thể ép được Bắc Việt Nam xuống thang, chừng nào họ còn tin tưởng rằng họ có cơ hội thắng được “cuộc chiến tranh tiêu hao” ở Nam Việt Nam... Những hành động để lật đổ Hà Nội sẽ đẩy chúng ta vào cuộc chiến tranh với Liên Xô và Trung Quốc”. Chúng tôi còn lập luận rằng kế hoạch của các Tham mưu trưởng sẽ phải trả giá bằng rất nhiều sinh mạng Mỹ: rất nhiều mục tiêu mà họ đề nghị đánh phá được bảo vệ rất chắc chắn và đánh vào đó sẽ bị thiệt hại, qua mỗi trận đánh, số thiệt hại sẽ gấp nhiều lần nếu thực hiện theo kế hoạch của chúng tôi. Ngày 13/6 Tổng thống chấp thuận các khuyến nghị của chúng tôi1.

Giờ đây bạn đọc chắc phải phân vân – nếu như trước đây các bạn không bị lừa dối - là làm thế nào mà các quan chức dân sự và quân sự vốn có kiến thức, cần cù và dày dạn kinh nghiệm lại thất bại trong việc trình bày một cách có hệ thống và thấu đáo các câu hỏi, mà câu trả lời của chúng đã tác động một cách sâu sắc đến sinh mạng của các công dân của chúng ta và sự thịnh vượng của đất nước chúng ta. Nói một cách đơn giản, một cách đề cập hợp lý và có trình tự như vậy đã bị gạt bỏ do có “quá nhiều vấn đề”, kết quả của thực tế là Việt Nam chỉ là một trong vô số vấn đề chúng ta phải đối phó.

Mỗi một vấn đề mà Washington phải đối phó trong những năm 60 đã lý giải mối quan tâm sâu sắc của Tổng thống và các cộng sự của ông. Cuối tháng 5/1967, chúng tôi nhận được các báo cáo của CIA về khả năng một cuộc xâm lăng của Ai Cập vào Israel. Rất có thể các nước Arập khác như Gioócđani và Xiry sẽ ủng hộ Ai Cập. Và chúng tôi sợ rằng nếu cần đạt mục tiêu của mình là tiêu diệt Nhà nước Do Thái thì Ai Cập sẽ nhận được sự ủng hộ của Liên Xô. Israel tất nhiên cũng nhận được thông tin tương tự.

Cuộc gặp đã được chuẩn bị từ lâu giữa Tổng thống Johnson và Thủ tướng Anh Harold Wilson, dự kiến tiến hành vào ngày 2/6 để xem xét những lợi ích chung trên thế giới giữa hai nước. Đúng ngày gặp gỡ đó, bóng ma cuộc chiến tranh Arập - Israel đã chiếm hết chương trình nghị sự cuộc họp. Chúng tôi đã trao đổi tin tình báo và kết luận của chúng tôi về kết quả của cuộc xung đột. Chúng tôi đã nhất trí về mọi vấn đề, kể cả kết luận không một chút nghi ngờ gì là Israel sẽ thắng. Tôi nhớ là một bên đoán rằng Israel sẽ thắng trong 10 ngày; bên kia cho là chỉ trong vòng 7 ngày. Nhưng chúng tôi cũng cho rằng hậu quả của một cuộc chiến tranh như vậy thì khó mà đoán trước được và khó mà kiểm soát được, và do đó chúng tôi phải làm tất cả để ngăn chặn nó.

Tình báo CIA rất tuyệt vời song cũng rất lo ngại. Họ báo cáo rằng Israel có kế hoạch đánh phủ đầu Ai Cập. Xét từ một góc độ, đòn đánh chặn trước của Israel sẽ làm Israel ít thiệt hại hơn. Tuy nhiên, quan điểm của chúng tôi là nếu Israel đánh trước, thì họ sẽ có nguy cơ bị một sự ủng hộ công khai của Mỹ, nếu như sự can thiệp của Mỹ là cần thiết để ngăn chặn Liên Xô nhảy vào.

Cuối tháng 5, Ngoại trưởng Israel Abba Eban đã đi thăm Washington và Tổng thống Johnson đã mời ông ta về khu nhà nghỉ ở Nhà Trắng. Tại đây, Tổng thống đã yêu cầu Dean và tôi cùng đề nghị Eban thuyết phục. Nội các Israel huỷ bỏ kế hoạch đánh phủ đầu. Chúng tôi nghĩ là mình đã thành công. Trái lại, Israel đã tiến công Ai Cập ngày 5/6. Cuộc chiến kéo dài sáu ngày, và trong vòng sáu ngày, Ai Cập, Gioócđani và Xiry đã chịu thất hại nặng nề, để mất bán đảo Sinai, dải Gada, bờ Tây sông Gioócđan và cao nguyên Gôlan.

Ngày 5/6, như thường lệ, tôi đến Lầu Năm Góc lúc 7 giờ sáng. Khoảng một tiếng sau, điện thoại của tôi đổ chuông và một giọng nói vang lên. “Tôi là tướng Smith tại phòng Chiến tranh (Chúng tôi có một đô đốc hoặc một viên tướng trực 24 giờ trong ngày và bảy ngày trong tuần). Smith nói: “Thủ tướng Kosygin đang ở đầu “dây nóng” và yêu cầu được nói chuyện với Tổng thống. Tôi phải trả lời ông ta như thế nào?”

Tôi hỏi: “Tại sao anh lại gọi cho tôi?”.

Anh ta trả lời: “Vì đường “dây nóng” kết thúc ở Lầu Năm Góc”.
________________________________________
1. Phác thảo Báo cáo cho Tổng thống, chủ đề: Nội dung và các phương án lựa chọn cho các hoạt động quân sự chống lại Bắc Việt Nam, 12/6/1967, CF, VN, NSF, LBJL.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM