chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #30 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 07:57:57 pm » |
|
Cùng ngày trước khi bức điện được gửi đi, Averell đã điện thoại cho Mike Forrestal cho biết ông ta và Hilsman đã “rất thất vọng với bức điện dự thảo”. Ông ta tiếp tục miêu tả chuyến viếng thăm như đề xuất là “một thảm hoạ”, vì “hai người phản đối chính sách của chúng ta (McNamara và Taylor) cộng với một người sẽ không đứng ra thực hiện chính sách đó (phó Vụ trưởng U. Alexis Johnson) sẽ được cử đi” Forrestal đồng ý1.
Sau khi nhận được điện của Tổng thống, ngày hôm sau Lodge trả lời cho biết ông ta phản đối chuyến đi thăm của chúng tôi. Ông ta sợ chuyến đi sẽ là dấu hiệu cho Diệm thấy là chúng tôi đã quyết định “tha thứ và bỏ qua” và sẽ làm giảm những nỗ lực thay đổi chính phủ. Lodge ủng hộ chính sách giữ im lặng với Diệm và tin là chính sách đó đã bắt đầu có hiệu quả, và cho rằng phái đoàn của chúng tôi sẽ làm chính sách đó xấu đi2.
Để đáp ứng những phản bác của ông ta, tôi gợi ý với Tổng thống là Max cùng tôi sẽ gặp Lodge và Harkins ở Hawaii hơn là ở Sài Gòn. Nhưng như Mac đã nói với Dean: “Tổng thống cho rằng anh phải xem xét thì mới thấy vấn đề (tức là, McNamara phải nghiên cứu vấn đề tại chỗ)”. Kennedy đã giải thích điều này cho Lodge trong một bức điện khác vào buổi chiều hôm đó. “Tôi hoàn toàn hiểu vấn đề mà ông nhận thấy ở chuyến đi thăm của McNamara và Taylor. Nhưng đồng thời tôi cũng có nhu cầu rất lớn đối với chuyến viếng thăm này, và tôi tin là chúng ta có thế vạch ra một kế hoạch mà vẫn chú ý tới những mối lo ngại cơ bản của ngài... Trong bất cứ chuyến thăm nào, McNamara cũng cho Diệm thấy là ông ta sẽ nhấn mạnh tới những sự thật nặng nề của những hậu quả về quân sự và những khó khăn hiện nay”3.
Ngày 23/9, Tổng thống đã ký những chỉ thị được viết ra cho tôi như sau:
Có thể có ích nếu nêu trên giấy tờ về sự hiểu biết của chúng ta về mục đích chuyến thăm của ngài tới Nam Việt Nam. Tôi đề nghị ngài đi vì tôi muốn có bản thẩm định tốt nhất ngay tại chỗ về nỗ lực quân sự và bán quân sự để đánh bại Việt cộng. Chương trình được xây dựng sau phái đoàn của Tướng Taylor và được thực hiện dưới sự kiểm soát sát sao của ngài đã đem lại những kết quả phấn khởi, ít nhất là cho tới gần đây. Những sự kiện ở Nam Việt Nam từ tháng năm giờ đây đã đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về cả những triển vọng hiện nay cho việc chiến thắng Việt cộng và về cả hiệu quả trong tương lai của nỗ lực này, trừ phi có thể có được sự cải thiện chính trị quan trọng trong nước. Chính trong bối cảnh này mà lúc này tôi cần việc thẩm định tình hình của ngài. Nếu dự đoán trong bản đánh giá của ngài không khả quan, tôi muốn biết ý kiến của ngài xem Chính phủ Nam Việt Nam nên có hành động gì, và bước đi nào Chính phủ của ta phải tiến hành để dẫn dắt người Việt Nam hành động.
Đại sứ Lodge đã nhiệt tình tham gia ủng hộ phái đoàn này (!) và tôi sẽ trông đợi ở hai ngài về việc trao đổi ý kiến chân thành nhất. Rõ ràng là tình hình chính trị chung và nỗ lực quân sự và bán quân sự được liên kết chặt chẽ với nhau theo tất cả các cách, và khi thực thi trách nhiệm thẩm định vấn đề quân sự và bán quân sự của mình, tôi hy vọng là ngài sẽ tham vấn đầy đủ với Đại sứ Lodge về các vấn đề chính trị và xã hội liên quan. Tôi cũng mong ngài cùng với Đại sứ Lodge xem xét cách thức và phương tiện mà chúng ta giúp cho Nam Việt Nam để các mục tiêu của chính sách đối ngoại của chúng ta sẽ được hỗ trợ một cách chính xác hơn.
Tôi sẽ đưa riêng cho ngài bức thư của tôi gửi Tổng thống Diệm; ngài và Đại sứ Lodge nên thảo luận và ngài Đại sứ phải chuyển lên Tổng thống Diệm khi tới thăm Tổng thống sau khi bàn bạc và thông báo cho tôi, tôi kết luận là nên có một bức thư như vậy.
Theo đánh giá của tôi, vấn đề về tiến triển của cuộc đua ở Nam Việt Nam có tầm quan trọng hàng đầu và trong khi thực hiện sứ mạng này, ngài nên dành nhiều thời gian đi điều tra kỹ lưỡng cả ở Sài Gòn và thực tế.
Khi trao cho tôi những chỉ thị này. Tổng thống đã nói thêm là ông nghĩ rằng tôi cần gặp Diệm hai lần, và nếu Max và tôi đánh giá cần thiết phải có cải cách và thay đổi để có hể giành thắng lợi thì tôi phải nhấn mạnh kết luận này với Tổng thống4. ____________________________________ 1. Biên bản cuộc nói chuyện điện thoại giữa Harriman và Forrestal, 17/9/1963, sách đã dẫn, tr.251. 2. Xem Embtel 536, Lodge gửi Tổng thống, 18/9/1963, sách đã dẫn; tr 255. 3. Cuộc nói chuyện điện thoại giữa McGeorge Bundy và Rusk, sách đã dẫn, CAP 63460, Michael Forrestal gửi Tổng thống, ngày 24/8/1963, sách đã dẫn, tr.627, và Deptel 431, Tổng thống gửi Lodge, 18/9/1963, sách đã dẫn, tr.256-257. 4. Giác thư của Tổng thống gửi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, 21/9/1963, tr.278-279; và Biên bản ghi âm cuộc họp, 23/9/1963, sách đã dẫn, tr.280-282
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #31 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 07:59:33 pm » |
|
Kennedy coi bức thư là một sự chỉ dẫn cho tôi, nhưng cũng như là một bản tài liệu mà tôi có thể cho mọi người xem và nói rằng: “Đây là điều mà Tổng thống mong muốn”. Nhưng các nhà hoạt động chống Diệm ở Washington tiếp tục hành động đánh từ phía sau của họ. Mac và tôi không biết là Hilsman đã gửi Lodge một bức thư sau khi đọc những chỉ thị của Tổng thống cho tôi. Bức thư có nội dung:
Cabot thân: Tôi nhờ sự tin cậy của Mike Forrestal để chuyển bức thông điệp này... Tôi có cảm giác rằng ngày càng có nhiều người trong thành phố đồng ý với ý kiến của chúng ta (tức là Diệm phải được thay thế bằng một cuộc đảo chính) và rằng nếu các anh ở Sài Gòn và chúng tôi ở Bộ kiên quyết thì những người còn lại cũng sẽ ủng hộ. Như Mike sẽ nói với anh, nhóm những người kiên định ở đây sẽ hết lòng ủng hộ các anh...1
Chỉ thị bằng văn bản của Tổng thống Kennedy cho tôi và thư bằng kênh riêng của Hilsman cho Lodge đã làm cho Chính quyền do dự mất một tháng, trong khi đó, vấn đề quan trọng ngày càng xấu đi và đòi hỏi phải có những hành động được quyết định dứt khoát. Trước khi cho phép tiến hành một cuộc đảo chính lật Diệm, chúng tôi đã thất bại trong việc đối phó với những vấn đề cơ bản ở Việt Nam mà rút cuộc đã dẫn tới chỗ ông ta bị lật đổ, và chúng tôi tiếp tục bỏ qua các vấn đề này cả sau khi ông ta đã bị loại. Nhìn lại, tôi tin rằng mỗi người trong chúng ta đều đã mắc sai lầm:
* Đáng ra tôi phải kiên quyết yêu cầu xem xét, thảo luận và trao đổi các câu hỏi cơ bản như: liệu chúng ta có thể chiến thắng với Diệm hay không? Nếu không, liệu ông ta có thể được thay thế bởi người nào đó mà chúng ta có thể hợp tác tốt hơn? Nếu không, phải chăng chúng ta cần phải xem xét sự họp tác với Nhu và Pháp về vấn đề trung lập hoá? Hay, cách còn lại, là rút quân với lý do tình hình chính trị ở Nam Việt Nam đã rối ren tới mức mà sự có mặt của Hoa Kỳ ở đó trở nên không cần thiết?
* Max đã không thúc đẩy việc giải quyết tình trạng tiếp tục có những bất đồng xung quanh việc có hay không các tiến bộ quân sự tại Nam Việt Nam.
* Dean, một trong những người vô tư và tận tâm nhất trong số những người đã từng phục vụ Hoa Kỳ, đã thất bại trong việc điều hành Bộ Ngoại giao, và kiểm soát Lodge. Ông cũng đã không tham gia một cách tích cực trong các buổi hội đàm với Tổng thống.
* Và Tổng thống Kennedy, người mà tôi chê trách ít hơn cả, người đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề nóng bỏng từ tranh cãi quyền công dân đến tìm kiếm sự ủng hộ của Quốc hội cho hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân trong vũ trụ - đã thất bại trong việc đoàn kết một Chính phủ Mỹ đang chia rẽ. Đứng trước sự lựa chọn giữa những cái tồi tệ, ông ta đã thiếu kiên quyết trong một thời gian dài.
Tôi cần phải nói thêm rằng trong khi Chính phủ chưa bàn luận về sự thiệt hơn trong vấn đề trung lập hoá và rút quân thì vấn đề đó đã bắt đầu được báo chí đề cập tới. Mùa hè và thu 1963, các nhà bình luận Walter Lippmann và James Reston đã đề nghị xem xét vấn đề trung lập hoá. Nhưng nhà báo David Halberstam, người viết bài cho tạp chí New York Times từ Nam Việt Nam trong những năm 60 đã kịch liệt chỉ trích chính sách của chính quyền, đã chống lại cả hai cách lựa chọn trên. Anh ta viết năm 1965:
Những lựa chọn cơ bản cho Việt Nam vẫn giống như năm 1961; chúng không có gì khác nhau, không dễ chấp nhận hơn và vẫn là một cơn ác mộng.
Thứ nhất, có khá nhiều dư luận về khả năng một nước Việt Nam trung lập. Nhưng trong điều kiện hiện nay thì điều này không thành vấn đề nữa, ở đây không hề có khả năng trung lập theo kiểu Thụy Sĩ, Áo, Ấn Độ và thậm chí cả theo kiểu Lào nữa - tức là theo cách nói của các nước này, họ không muốn là bãi chiến trường cũng như không muốn là thành viên của bất cứ phe nào trong chiến tranh lạnh. Không còn nghi ngờ gì nữa, bước đầu tiên để tiến tới một nước Việt Nam trung lập là rút hết quân đội Mỹ và cắt bỏ hoàn toàn viện trợ của Mỹ; và điều này sẽ tạo ra khoảng trống để phe cộng sản, lực lượng có tổ chức duy nhất ở miền Nam có thể lật đổ chính quyền một cách dễ dàng - có thể trong vòng 6 tháng, có thể trong vòng 2 năm. Đơn giản có lẽ là không còn lực lượng nào có thể chống lại họ, và nếu Hà Nội đề nghị chúng ta và Nam Việt Nam một giải pháp trung lập, thì điều này chỉ có nghĩa là để giữ thể diện cho Mỹ.
Còn rút quân thì sao? Rất ít người Mỹ đã từng phục vụ ở Việt Natn có thể nuốt nổi ý kiến này. Điều đó có nghĩa là những người Việt Nam cống hiến hết mình cho Mỹ sẽ phải chịu đựng đau khổ nhiều nhất dưới chế độ cộng sản; trong khi chúng ta, một số ít may mắn với hộ chiếu xanh và ra đi hoàn toàn bình yên vô sự; điều này có nghĩa là một xã hội buồn tẻ, không sức sống và bị kìm kẹp, cho những người đáng lẽ xứng đáng được hưởng nhiều hơn. Rút quân cũng có nghĩa là uy tín của Hoa Kỳ bị hạ thấp trên toàn thế giới, và điều này còn có nghĩa là sức ép của chủ nghĩa cộng sản sẽ tăng lên trên phần còn lại của Đông Nam Á. Cuối cùng, rút quân có nghĩa là kẻ thù của phương Tây trên toàn thế giới sẽ được khuyến khích để thử nổi loạn như kiểu Việt Nam.
Giống như cam kết của chúng ta tại Triều Tiên từ năm 1950 đến nay đã giúp ngăn không cho cộng sản vượt qua biên giới một cách trắng trợn, một chiến thắng chống cộng sản ở Việt Nam có thể sẽ giúp chặn lại cái gọi là những cuộc chiến tranh giải phóng2.
Công bằng mà nói, với Halberstam, quan điểm diều hâu do anh ta bày tỏ đã thể hiện ý kiến chung của đa số các nhà báo thời đó. _______________________________________ 1. Thư, Hilsman gửi Lodge, 23/9/1963, sách đã dẫn, tr.282-283. 2. David Halberstam, Chế tạo một cuộc sa lầy (New York, Nhà xuất bản Random, 1965), tr. 315.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #32 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 08:10:11 pm » |
|
Ngày 25/9, trước khi tôi đi Sài Gòn, Harry Reasoner của chương trình CBS Rerports đã hỏi tôi rằng: nếu người Nam Việt Nam “với sự trợ giúp của chúng ta... có thể giành được chiến thắng trên chiến trường nhưng lại thất bại ở Sài Gòn?”. Tôi trả lời:
Giai đoạn hiện nay là khó đánh giá, hành động của Chính phủ trong mấy tuần qua đã làm tình hình mất ổn định. Hoàn toàn có thể là họ đã làm cho một số tầng lớp quan trọng trong dân chúng xa lánh, và Chính phủ chỉ có thể không thất bại khi hợp tác với dân chúng trong một nỗ lực chung để chống Việt cộng.
Tôi nói tiếp:
Điều quan trọng phải thừa nhận đây là cuộc chiến tranh của người Nam Việt Nam. Thắng hay bại phụ thuộc vào những việc họ làm. Chúng ta có thể cho họ lời khuyên và sự giúp đỡ, nhưng họ phải chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng, và hãy chờ xem họ tiếp tục cuộc chiến này như thế nào1.
Những lời này đã mang tính tiên đoán.
Trên đường tới Sài Gòn, tôi nhắc đoàn cùng đi về mục đích chuyến công tác: đánh giá hiệu quả của cuộc chiến chống Việt cộng ở Nam Việt Nam và xem xét triển vọng thắng lợi. Nếu kết quả tỏ ra không khả quan, chúng ta cần phải tìm hiểu xem Nam Việt Nam phải làm gì, và Mỹ phải làm cách nào để giúp họ làm việc đó.
Tôi nói với đoàn tôi tin là chúng ta cần phải trả lời một số câu hỏi cụ thể trước khi có các khuyến nghị:
* Giải thích ra sao về sự khác nhau trong các bản báo cáo về tình hình quân sự và sự ổn định về chính trị? Báo cáo nào là đúng
* Sự chống đối Diệm trong các giới sinh viên, quân sự, công chức và quảng đại quần chúng nghiêm trọng tới mức nào? Liệu sự chống đối này sẽ tăng lên?
* Ai là người kiểm soát chính trị tại các làng, ấp, thôn quê? Chúng ta có biết cách đánh giá và liệu có thể tin tưởng vào đánh giá đó hay không?
* Phải chăng tình hình sức khoẻ và tinh thần của Diệm và Nhu đã thay đổi? Quan hệ ngày nay của họ so với trước đây ra sao?
* Liệu Diệm có thể giữ được quyền lực chính trị một cách hiệu quả hay không? Phải chăng những thành phần chủ yếu của chính giới Nam Việt Nam đã rời bỏ ông ta?
* Nếu Diệm giữ được quyền lực, liệu các cố gắng quân sự sẽ thành công hay thất bại?
* Nếu ta cho rằng Diệm phải thay đổi, thì đòn bẩy nào - kinh tế, quân sự hay chính trị - ta cần phải dùng để thuyết phục ông ta thay đổi?
Để tìm lời đáp cho những câu hỏi này, tôi cho rằng, chúng tôi phải tiến hành tham khảo ý kiến một cách rộng rãi nhất có thể được: trong tất cả các cấp quân đội Nam Việt Nam, tất cả các cấp quân đội Mỹ, báo chí, đại sứ ngoại quốc, người Nam Việt Nam, các thương gia Pháp và Mỹ cùng các lãnh tụ công đoàn, thành viên Ủy ban kiểm soát quốc tế, các học giả, và giới tăng lữ Thiên chúa giáo. Tôi đã chỉ thị rằng mỗi buổi sáng phải họp một lần để trao đổi ý kiến và rằng sẽ chỉ có một hệ thống báo cáo duy nhất về Washington: mọi ý kiến bất đồng sẽ được trích dẫn trong điện của nhóm gửi về hàng ngày; và nếu có ý kiến bất đồng, thì sẽ được ghi trong báo cáo gửi Tổng thống2.
Trong mười ngày công tác, chúng tôi đã tới hầu khắp các vùng chiến lược ở Nam Việt Nam và đã có hàng chục cuộc gặp gỡ. Tôi thấy có ba cuộc gặp của riêng tôi là đặc biệt rõ ràng và rất đáng lo ngại. ___________________________________ 1. Phóng sự của CBS, “McNamara và Lầu Năm Góc”, 25/9/1963, PSRSM, 1963, t.5, tr. 2315-16. 2. Xem Biên bản ghi âm, 23/9/1963, FRUS, 1961-1963, t.4, tr.284-287
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #33 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 08:15:16 pm » |
|
Ngày 26/9, tôi gặp P.J. Honey, giảng viên về các vấn đề Việt Nam tại Viện nghiên cứu Phương Đông và châu Phi thuộc Trường Đại học Tổng hợp London. Anh ta nói sõi tiếng Việt và có quan hệ thân thiết với giới chức cả ở Bắc và Nam Việt Nam. Ý kiến của anh ta đã có tác động đặc biệt đối với tôi vì sự hiểu biết sâu sắc của anh ta và vì anh ta trước đây cũng đã từng ủng hộ Diệm.
Trong khi thảo luận, Honey nói rằng vài tuần trước đó, khi tới Sài Gòn, anh ta tin rằng, Mỹ, bằng cách nào đó, vẫn có thể hợp tác với Diệm, thay thế Diệm là một điều nguy hiểm. Nhưng giờ đây anh ta đã thay đổi ý kiến. Ba năm trở lại đây, Diệm già đi nhiều và trí tuệ đã không còn minh mẫn. Giới quân sự và dân sự công khai chỉ trích Diệm. Việc Diệm đàn áp Phật tử đã gây ra một làn sóng công phẫn mạnh mẽ trong nhân dân. Tất cả những sự kiện này khiến Honey tin rằng không thể tự do hoá chế độ hay thay Diệm. Do đó, theo anh ta, Mỹ phải quyết định xem có thể thắng với chế độ này hay không, ý kiến của Honey là không thể, dẫu rằng anh ta đã khẳng định chương trình ấp chiến lược đang được thực hiện tốt, và Việt cộng đã thất bại trong việc lợi dụng tình trạng bất ổn về chính trị của Sài Gòn.
Nhưng phải chăng điều đó có nghĩa là chúng ta phải thay Diệm? Honey tỏ ra lập lờ: anh ta nói mọi xu hướng rời bỏ chế độ này đều là mạo hiểm, và trong trường hợp đảo chính hay ám sát, anh ta cho rằng cơ hội đạt được một cái gì đó tốt đẹp hơn là 50/50.
Cuối cùng, Honey dự đoán nếu cộng sản nắm quyền kiểm soát Nam Việt Nam, thì không lãnh tụ chính trị nào ở châu Á còn tin tưởng vào những lời nói của phương Tây được nữa. Anh ta cho rằng, trên thực tế thì sự mất lòng tin này không chỉ giới hạn ở châu Á1.
Ngày 30/9, tôi gặp đại diện giáo hội, Tổng Giám mục Asta. Ông mở đầu bằng cách nói với tôi rằng dưới cái vẻ yên tĩnh ở Nam Việt Nam là một cuộc “xiết chặt xiềng xích”. Chính quyền đã thành lập một nhà nước cảnh sát và tiến hành đàn áp rộng rãi. Trí thức và sinh viên thấy rằng tất cả những ai đối lập với Chính phủ đều bị thủ tiêu. Một số quay sang với Việt cộng, số đông khác theo chủ nghĩa trung dung. Honey đã khẳng định rằng Hà Nội đã có những tiếp xúc với Nhu thông qua người Pháp, và Tổng Giám mục Asta còn thêm rằng: nếu Nhu nắm được quyền lực thì việc đầu tiên mà ông ta sẽ làm là yêu cầu Mỹ cuốn gói và sau đó thương lượng với cộng sản. Tổng Giám mục kết thúc buông lời chỉ trích mà tôi hoàn toàn đồng ý: Chính phủ Mỹ đã không đạt được một tiếng nói chung ở Sài Gòn; và điều này đã làm phai nhạt chính sách của Chính phủ Mỹ và làm người Nam Việt Nam lúng túng2.
Ngày 27/9 tôi tổ chức cuộc gặp gỡ thứ ba với John Richardson, trưởng phân ban CIA Sài Gòn từ năm 1962. Richardson nói với tôi rằng cuộc khủng hoảng Phật giáo là kết tinh của sự bất mãn to lớn và rộng rãi đã ấp ủ lâu nay. Những cuộc bố ráp sinh viên về đêm và bầu không khí nghi kỵ lan tràn đặc biệt khiến anh ta lo ngại. Anh ta đã mô tả Diệm là một người có lòng yêu nước và tỏ ra khâm phục phẩm chất đạo đức của ông ta, nhưng những người thân cận với ông, đặc biệt là Nhu, đã hủy hoại uy tín của Diệm và đe doạ lật đổ ông ta. Đó là một thảm hoạ.
Richardson báo cáo rằng phụ tá thân cận của Diệm lo ngại là một cuộc khủng hoảng mới nảy sinh có thể sẽ dẫn tới một cuộc đảo chính do các sĩ quan cao cấp của quân đội tiến hành, mặc dù cũng theo Richardson thì cho tới nay vẫn chưa có bộ mặt nào đủ tài, đức để thay thế Diệm. Anh ta kết luận: muốn cứu Nam Việt Nam thì Mỹ phải gây sức ép để Diệm chấm dứt các cuộc đàn áp và buộc Nhu từ chức. Trong trường hợp ngược lại, một cuộc đảo chính sẽ diễn ra và đó sẽ là một thảm hoạ. Anh ta thấy rằng, không còn con đường nào khác và nói: “Thưa Bộ trưởng, tôi xin ngài hãy tỏ ra kiên quyết với Diệm”3.
Cuối cùng, ngày 29/9, Max và tôi đến Dinh Gia Long trên đường Công Lý, cách Sứ quán Mỹ vài khu phố và có một cuộc hội đàm kéo dài ba tiếng đồng hồ với Diệm, sau đó là buổi chiêu đãi chính thức. Lodge và Harkins cùng đi với chúng tôi. Không thấy Nhu xuất hiện.
Với thứ tiếng Pháp đơn điệu và tẻ nhạt, đốt thuốc lá liên miên hết điếu này đến điếu khác, Diệm đọc một bản độc thoại kéo dài hai tiếng rưỡi đồng hồ để trình bày về sự khôn ngoan trong chính sách của ông ta và về những tiến bộ trong cuộc chiến. Trong khi nói, ông ta luôn luôn nhổm dậy chỉ vào bản đồ để minh chứng cho lời nói. Sự tự tin của ông ta làm tôi sốt ruột.
Cuối cùng, khi màn độc thoại tạm dừng, tôi bắt đầu nói. Tôi đã nói với Diệm rằng Mỹ thực sự muốn giúp Nam Việt Nam đánh bại Việt cộng. Tôi cũng nhấn mạnh rằng, về cơ bản đây là cuộc chiến của người Việt Nam và tất cả những gì mà Mỹ có thể làm được chỉ là sự giúp đỡ. Trong khi đồng ý với ông ta rằng có những tiến bộ đáng kể về mặt quân sự, tôi chuyển tới ông ta, một cách mạnh mẽ và có chủ ý; mối lo ngại của Mỹ về tình trạng chính trị bất ổn định ở Nam Việt Nam. Tôi còn nhấn mạnh rằng tình trạng bất ổn và các cuộc đàn áp đã gây ra mối đe doạ đối với các nỗ lực chung trong chiến sự và sự ủng hộ của Mỹ. Do vậy, cần phải chấm dứt đàn áp và giải quyết tình trạng bất ổn định.
Diệm thẳng thừng bác bỏ ý kiến của tôi. Ông ta nói, sự công kích xấu xa của báo chí chống lại Chính phủ và gia đình ông ta đã làm Mỹ hiểu lầm về tình hình thực sự ở Nam Việt Nam. Mặc dù thừa nhận rằng một số báo chí đã đưa tin sai lệch, nhưng tôi cũng nói rằng không thể chối cãi về sự khủng hoảng ngày càng nghiêm trọng lòng tin vào Chính phủ Diệm đang diễn ra ở cả Nam Việt Nam và Mỹ. Ông ta vẫn không đồng ý. Ông ta đã lên án sự “thiếu chín chắn, thiếu giáo dục và vô trách nhiệm” của sinh viên để bào chữa cho các cuộc bắt bớ gần đây. Ông ta còn nói thêm một cách lạnh lùng rằng mình gánh một phần trách nhiệm về các cuộc bạo loạn của giới Phật tử; ông ta đã “quá tử tế” đối với họ.
Tôi cũng nhắc ông ta về việc bà Nhu. Tôi nói với Diệm rằng một phần không nhỏ những khó khăn của Chính phủ ông ta trước dư luận công chúng Mỹ là do những lời nói đáng tiếc, thiếu cân nhắc của bà ta. Tôi lấy từ trong túi ra một mẩu báo cắt trích dẫn lời bà ta nói rằng các sĩ quan trẻ của Mỹ ở Nam Việt Nam đã “hành động như những chàng lính đánh thuê nhỏ bé”. Tôi nói với Diệm rằng những lời công kích mà ông đã đưa ra, gây nên sự mất lòng sâu sắc trong công chúng Mỹ.
Lần đầu tiên, ánh mắt và cử chỉ của ông ta tỏ ra ông ta đã hiểu ý tôi nhưng ông ta vẫn ra sức bảo vệ bà Nhu. “Điều đó là không thể chấp nhận được”, tôi nói - vấn đề hiển nhiên và nghiêm trọng, chỉ có thể thắng được cuộc chiến tranh nếu giải quyết được những vấn đề này.
Max tóm tắt lại các ý của tôi. Ông ta nhấn mạnh sự cần thiết đối với Diệm là đáp ứng sự lo ngại sâu sắc và chính đáng của Mỹ về những diễn biến gần đây ở Nam Việt Nam. Trong thư gửi cho Diệm hai ngày sau đó, Max viết: “Sau khi đã nói chuyện với hàng chục sĩ quan của cả Nam Việt Nam lẫn Mỹ, tôi tin rằng sự quấy phá của Việt cộng ở các vùng phía Bắc (miền Nam) và miền Trung sẽ giảm đáng kể, chỉ còn lẻ tẻ vào cuối năm 1964, còn vùng châu thổ có thể lâu hơn, nhưng phải xong vào cuối năm 1965. Nhưng để cho những tính toán này trở thành sự thật, thì những điều kiện cần thiết (Ngài Bộ trưởng McNamara đã rõ) phải được thực hiện”4.
Diệm đã chẳng trả lời. Ông ta hoàn toàn không đưa ra lời đảm bảo rằng ông ta sẽ tiến hành các bước đi đáp ứng những điểm mà chúng tôi đã đề nghị. Người ghi biên bản của Mỹ tại cuộc hội đàm của chúng tôi đã viết: “Cử chỉ của ông ta ít ra cũng đã biểu lộ tâm trạng bình tĩnh bề ngoài của người đã bảo vệ ý kiến của mình tới cùng và hy vọng bằng cách đó sửa chữa được những hiểu lầm”5. ______________________________________ 1. Xem Báo cáo của Bộ Quốc phòng, 26/9/1963, sách đã dẫn, tr.293-295. 2. Xem Biên bản cuộc nói chuyện của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Sài Gòn, 30/9/1963, sách đã dẫn, tr. 323-325. 3. Báo cáo của Bộ Quốc phòng, sách đã dẫn, tr. 301-303. 4. Thư của Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu liên quân gửi Tổng thống Diệm, 1/10/1963, sách đã dẫn, tr. 328-330. 5. Biên bản cuộc nói chuyện, Dinh Gia Long, 29/9/1963, sách đã dẫn, tr. 310-321.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #34 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2009, 10:31:00 pm » |
|
Trên đường về Washington, Max và tôi đã cùng nhau phác thảo bản báo cáo gửi Tổng thống, với sự giúp đỡ của Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng về các vấn đề an ninh quốc tế, William P. Bundy. Vì tính chất quan trọng của bản báo cáo và các sự kiện diễn ra sau đó, những trích dẫn dưới đây là tôi rút ra một cách đầy đủ từ bản báo cáo. Phần tóm lược các kết luận và khuyến nghị của chúng tôi tốt hơn bất kỳ tuyên bố lại nào sau đó:*
Kết luận
* Hoạt động quân sự đã tạo ra tiến bộ lớn và sẽ còn tiếp tục.
* Có sự căng thẳng nghiêm trọng về chính trị ở Sài Gòn (và có lẽ trên khắp Nam Việt Nam) nơi mà Chính phủ Diệm-Nhu đang ngày càng mất uy tín.
* Hoạt động đàn áp vẫn đang được tiếp tục của Diệm và Nhu có thể thay đổi chiều hướng quân sự đang tối đẹp hiện nay. Mặt khác, việc trở lại chính sách ôn hoà hơn trong kiểm soát và chính quyền, dù không thể xảy ra, chắc chắn sẽ làm giảm đáng kể tình hình khủng hoảng về chính trị.
* Chưa rõ các sức ép của Mỹ có làm cho Diệm và Nhu trở nên ôn hoà hơn hay không. Trên thực tế, việc gây sức ép có thể sẽ làm họ ngoan cố hơn. Nhưng nếu không có sức ép thì chắc chắn họ vẫn sẽ tiếp tục các hành động của mình.
* Khả năng thay đổi Chính phủ sẽ làm tình hình tốt đẹp lên có vẻ là vào khoảng 50/50. Ban đầu, chỉ có chế độ độc tài có sức mạnh mới có đủ khả năng để tập hợp Chính phủ và giữ gìn an ninh trật tự. Trong bối cảnh như ngày nay, khi quân đội có sức mạnh chỉ đạo ở Việt Nam, khả năng nhiều nhất là vai trò này sẽ thuộc về một sĩ quan trong quân đội, nắm quyền sau tiến trình chọn lựa của xung đột giữa các đảng phái. Một chế độ quân phiệt như vậy, sau buổi ban đầu mừng vui vì sự ra đi của Diệm/Nhu, sẽ rất có thể theo chiều hướng tiếp tục đàn áp ít ra là như Diệm đã từng làm, tiếp tục tham nhũng như trước thời Diệm, và nhấn mạnh vào chiến tranh hơn là có những cân nhắc trong chính sách xã hội, kinh tế và chính trị, ít ra thì cũng tương tự như chủ nghĩa dân tộc bài ngoại.
Kiến nghị:
Chúng tôi kiến nghị rằng:
* Tướng Harkin bàn với Diệm về những biện pháp quân sự cần thiết để kết thúc chiến dịch ở các vùng Bắc và Trung trong cuối năm 1964, và tại vùng châu thổ vào cuối năng 1965.
* Lập chương trình đào tạo sĩ quan Việt Nam để tới cuối năm 1965 họ có thể đảm nhiệm các trọng trách mà hiện nay phần lớn do sĩ quan Mỹ thi hành. Có khả năng vào thời gian đó, có thể rút phần lớn cố vấn quân sự của Mỹ.
* Để phù họp với chương trình đào tạo gấp rút sĩ quan của quân đội Việt Nam, Bộ Quốc phòng phải sớm lập kế hoạch rút 1.000 cố vấn quân sự của Mỹ vào cuối năm 1963.
* Để Diệm thấy được chúng ta không đồng tình với chính sách của ông, chúng ta sẽ:
+ Ngừng tài trợ cho các chương trình phát triển quan trọng của ông ta.
+ Duy trì mối quan hệ “phải chăng” như hiện nay với giới lãnh đạo cao cấp của Nam Việt Nam.
+ Theo dõi chặt chẽ tình hình để xem Diệm sẽ áp dụng những biện pháp gì nhằm giảm bớt các hoạt động đàn áp và tăng cường hiệu lực của các cố gắng về quân sự. Chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta có thể giải quyết được trong thời gian từ hai đến bốn tháng để chuyển sang những hành động mạnh mẽ hơn.
+ Chúng ta sẽ không chủ động khuyến khích một cách tích cực việc thay đổi Chính phủ. ______________________________________ * Tôi đã thông báo với Tổng thống rằng các thành viên trong nhóm cộng tác của chúng tôi đã có ý kiến trùng hợp, trừ một ngoại lệ duy nhất quan trọng: Trợ lý của Averell Harriman, Bill Sulivan tỏ ý tin rằng “một sự thay đổi chế độ mà không phải chịu nguy hiểm bởi tham vọng to lớn của Nhu để thành lập một chế độ chuyên quyền... chắc chắn sẽ tốt hơn chế độ hiện nay”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #35 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2009, 10:32:59 pm » |
|
Chúng tôi cũng đặc biệt nhấn mạnh rằng chúng tôi không tin trong thời gian đó sẽ có hành động chuẩn bị đảo chính1.
Chúng tôi về tới Washington sáng sớm ngày 2/10. Và ngay trong buổi sáng hôm đó Max và tôi đã tới Nhà Trắng để báo cáo vắn tắt trong một giờ với Tổng thống về chuyến đi của mình. Chủ đề thảo luận chính là khuyến nghị giảm bớt 1.000 cố vấn quân sự của chúng ta. “Thưa Tổng thống, tôi nghĩ, chúng ta phải có cách rút khỏi khu vực và tỏ rõ cho đất nước ta về điều này”2.
Tối hôm đó, Tổng thống Kennedy đã triệu tập một cuộc họp của Hội đồng An ninh quốc gia để thảo luận về báo cáo của chúng tôi. Ám ảnh bởi sự chia rẽ sâu sắc của những tuần trước, Tổng thống đã trình bày tóm tắt về thế đứng của chúng ta hiện nay. Ông nói chúng ta phải tìm cách thuyết phục Diệm để thay đổi bầu không khí chính trị tại Sài Gòn, nhưng ông còn nhấn mạnh rằng, cuối cùng thì cũng đã có sự thông nhất để đạt được một chính sách của Chính phủ trong vấn đề Việt Nam. Ông nói chúng ta đã có một chính sách và một bản báo cáo được mọi người cùng tán thành.
Mọi người đều nhất trí cho rằng, đây là cuộc chiến tranh của người Nam Việt Nam, và chúng ta có mặt ở đó chỉ là những cố vấn để giúp họ tự bảo vệ mình, và rằng nếu họ không đủ khả năng tự bảo vệ thì cuộc chiến này không thể có chiến thắng. Nhưng đã có một cuộc tranh luận gay gắt xung quanh kiến nghị của chúng tôi về việc Bộ Quốc phòng thông báo kế hoạch rút lực lượng quân sự Mỹ vào cuối năm 1965, bắt đầu của kế hoạch này là rút 1.000 cố vấn quân sự vào cuối năm này. Mặc dù mọi thành viên trong đoàn đều nhất trí về lời lẽ trong bản báo cáo, nhưng khi bắt đầu thảo luận, chúng tôi đã tranh cãi gay gắt về bản kiến nghị. Cuộc tranh cãi đã thể hiện rõ ràng sự thiếu nhất trí hoàn toàn của chúng tôi trong vấn đề chúng tôi đang đứng ở đâu khi tìm cách đạt mục đích của mình.
Một phái tin rằng các tiến bộ quân sự đạt được là tốt và quá trình đào tạo đã đạt kết quả tới mức mà chúng ta đã có thể bắt đầu rút. Phái thứ hai lại không cho rằng chiến tranh đang đạt những tiến bộ tốt đẹp và người Nam Việt Nam đã chứng tỏ sự thành công trong việc học tập. Nhưng họ cũng đã đồng ý rằng chúng ta đã tới lúc phải rút quân, bởi nếu người Nam Việt Nam là “có thể huấn luyện được” thì chúng ta đã ở đó quá lâu để đạt được kết quả, và nếu kết quả đạt được không rõ ràng thì có nghĩa đó là do sự bất ổn định về chính trị. Nhóm thứ ba - đại diện cho ý kiến của đa số - cho rằng người Nam Việt Nam là có thể huấn luyện được, nhưng tin rằng công việc huấn luyện của chúng ta là chưa đủ thời gian để đạt kết quả và do đó nó phải được tiếp tục với mức độ như hiện nay.
Sau cuộc thảo luận dài, Tổng thống thông qua khuyến nghị của chúng tôi về việc rút 1.000 cố vấn cho tới ngày 31/12/1963. Tôi nhớ rằng ông ta làm như vậy mà không có lời giải thích nào. Đề phòng bất trắc, bởi sự chống đối gay gắt và bởi tôi sợ rằng những người khác đang tìm cách để Tổng thống thay đổi quyết định, tôi đã yêu cầu ông tuyên bố công khai quyết định của mình. Đó sẽ là một việc đã rồi.
Không nghi ngờ gì nữa, điều đó đã gây ra một cuộc tranh cãi. Nhưng cuối cùng thì Tổng thống cũng đã đồng ý dù rằng không đồng ý với câu “vào cuối năm”. Ông ta sợ rằng nếu chúng tôi tuyên bố và sau đó không làm được trong vòng 90 ngày, chúng tôi sẽ bị người ta lên án là quá lạc quan. Tôi nói: “Cái lợi của việc rút họ về là chúng ta có thể nói với Quốc hội và dân chúng rằng chúng ta đã có được một kế hoạch giảm bớt sự đối mặt của lực lượng chiến đấu Mỹ với các hoạt động du kích ở Nam Việt Nam - những hoại động mà người Nam Việt Nam phải tạo ra khả năng tự mình dập tắt. Và tôi nghĩ điều này có giá trị lớn đối với chúng ta để đương đầu với các quan điểm mạnh mẽ của Fullbright và những người khác rằng chúng ta đang bị sa lầy ở châu Á và sẽ ở đó hàng thập kỷ (trích dẫn trong nguyên bản)”3.
Cuối cùng Tổng thống đã đồng ý, sau buổi hội đàm, Bộ trưởng Báo chí Pierre Salinger đã đọc bản tuyên bố. Bản thông cáo báo chí của Nhà Trắng có tuyên bố sau:
Bộ trưởng McNamara và tướng Taylor... báo cáo rằng vào cuối năm nay chương trình đào tạo người Việt Nam của Mỹ phải tiến triển tới mức có thể rút 1.000 cố vấn Mỹ tại Nam Việt Nam. Tình hình chính trị ở Nam Việt Nam còn nghiêm trọng... Trong khi đó hành động (đàn áp ở đất nước này) vẫn chưa gây ảnh hưởng lớn tới các nỗ lực chiến đấu, điều đó sẽ làm trong tương lai4. _____________________________________ 1. Xem Báo cáo của Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu liên quân và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gửi Tổng thống, 2/10/1963, sách đã dẫn, tr. 336-346. 2. PR, JFKL. 3. Sách đã dẫn. 4. Biên bản nội dung cuộc họp lần thứ 519 của Hội đồng An ninh quốc gia, 2/10/1963, sách đã dẫn, tr. 350-352; Thông cáo báo chí của Nhà Trắng, 6 giờ 52 chiều, 2/10/1963, “Các cuộc họp của Hội đồng An ninh quốc gia,1963”, NSF, hộp số 314, JFKL và PR, JFKL.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #36 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2009, 10:34:50 pm » |
|
Cuộc thảo luận xung quanh bản báo cáo đệ trình Tổng thống của chúng tôi được tiếp tục vào sáng 5/10. Tranh cãi gay gắt hơn, nhưng cuối cùng Tổng thống tuyên bố rõ ràng chấp thuận đoạn nói về kế hoạch đảo chính trong bản báo cáo của chúng tôi. Chúng tôi đã viết: “Trong lúc này, không nên có hành động khuyến khích việc nhanh chóng thay đổi chính phủ. Chính sách của chúng ta là phải gấp rút tìm ra và xây dựng mối quan hệ với giới lãnh đạo sẽ thay thế, nếu có và vào lúc họ xuất hiện”. Tổng thống ra lệnh chỉ thị về vấn đề này gửi cho Sài Gòn theo kênh CIA1.
Quyết định của Tổng thống về việc Mỹ “không nên chủ động khuyến khích nhanh chóng thay đổi chính phủ” được tiết lộ trong vòng vài tuần lễ. Trong điện gửi Mac ngày 25/10, Lodge nài nỉ rằng kế hoạch của các tướng lĩnh Nam Việt Nam đã rất cụ thể, “chúng ta không nên ngăn cản cuộc đảo chính”. Lý do thuyết phục của ông ta là: “Ít ra điều đó giống như một cuộc cá cược thẳng thắn rằng Chính phủ mới sẽ không lộn xộn và vấp váp như Chính phủ hiện tại”. Thay mặt Tổng thống, Mac trả lời rằng tuy không ngăn cản cuộc đảo chính, chúng ta phải giữ quyền được xem xét kế hoạch của các tướng lĩnh và can ngăn mọi hành động ít có triển vọng dẫn tới thành công2.
Trong cuộc hội đàm với tổng thống bốn ngày sau đó, tôi hỏi ai trong số các quan chức của chúng ta ở Sài Gòn chỉ huy kế hoạch đảo chính và nhận thấy rằng Harkins có thể không hay biết những gì mà toà Đại sứ và CIA đang làm. Bobby, với việc xác nhận anh ta đã không đọc hết các điện, nói rằng tình hình hiện nay đối với anh ta không còn nghĩa lý gì cả. Ủng hộ đảo chính có nghĩa là đặt tương lai Nam Việt Nam - thực tế là tương lai của cả Đông Nam Á - trong tay những người mà chúng ta vẫn chưa hay biết gì về lai lịch và ý định của họ. Max đồng ý và nói thêm, thậm chí một cuộc đảo chính thành công cũng vẫn có thể gây ảnh hưởng xấu tới nỗ lực chiến đấu, bởi lẽ một chính phủ mới còn thiếu kinh nghiệm và đang dò dẫm bước đi. McCone đồng tình. Trước đó, ông ta nói “Thưa Tổng thống, nếu tôi là người quản lý một đội bóng chày và có một cầu thủ giao bóng, tôi sẽ không để cho anh ta biết liệu anh ta có là một cầu thủ giỏi hay không”. Dean có cảm tưởng là về lâu dài, nếu Chính phủ Diệm tiếp tục tồn tại thì các nỗ lực chiến đấu sẽ xấu đi. Cuộc họp kết thúc nhưng không đi tới quyết định nào và Tổng thống đề nghị chúng tôi họp lại vào tối hôm đó3.
Tại cuộc họp lúc 6 giờ tối, Tổng thống người chưa bao giờ chia sẽ sự tin tưởng và nhiệt thành của Lodge đối với kế hoạch đảo chính lật Diệm, cho là các tướng lĩnh phải chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc đảm bảo thành công nhanh chóng. Sau cuộc họp, Mac gửi Lodge một bức điện về việc này và chỉ thị cho ông ta đưa cho Harkins xem các bức điện về kế hoạch của tướng lĩnh Sài Gòn và yêu cầu anh ta cũng như cơ quan CIA ở đó đánh giá xem cần phải có hành động gì4.
Sau khi đọc các bức điện, Harkins gửi ngay một bức điện với lời lẽ giận dữ cho Max ở Washington. Anh ta ca thán về việc Lodge đã không thông báo cho anh ta kế hoạch đảo chính và nói anh ta không thấy một lãnh tụ nào có thể thay thế được tính cách mạnh mẽ của Diệm - đặc biệt là trong hàng ngũ tướng lĩnh mà anh ta rất quen biết. Harkins đề nghị: “Chúng ta không nên tìm cách luôn thay ngựa, mà chúng ta nên có hành động thuyết phục làm cho ngựa thay đổi bước đi và hành động của mình”.
Lodge lo sợ với ý nghĩ về ý định của Mỹ ngăn cản cuộc đảo chính. Anh ta trả lời với sự thật vọng rõ rệt: “Đừng có nghĩ rằng chúng ta có thể làm chậm hay ngăn cản một cuộc đảo chính xảy ra”. Tôi hỏi một cách nghiêm chỉnh liệu các tướng lĩnh Nam Việt Nam có tiến hành cuộc đảo chính hay không nếu họ biết rằng Chính phủ Mỹ không đồng tình. Rõ ràng là Mac chia sẻ ý nghĩ của tôi. Vào cuối ngày hôm đó, anh ta điện cho Lodge: “Chúng tôi không chấp nhận lập luận cho chính sách của Mỹ là chúng ta không thể làm chậm hoặc ngăn cản cuộc đảo chính nổ ra... Chúng tôi cho rằng... anh hãy có hành động và thuyết phục các lãnh tụ phe đảo chính dừng lại hay tạm hoãn mọi hành động mà... rõ ràng không có nhiều triển vọng thành công”5.
Lodge có kế hoạch rời Sài Gòn về tham khảo ý kiến ở Wasington vào ngày 1/11. Ngay trước khi lên máy bay, anh ta đi cùng Đô đốc Felt đến chào xã giao Diệm. Trước đó, Diệm gửi công hàm nói rằng ông ta muốn Lodge lưu lại thêm 15 phút sau khi Felt rời khỏi. Lodge đã làm như vậy. Sau cuộc gặp, anh ta đã điện về Washington: “Khi tôi đứng dậy ra về, ông ta nói: Xin nói với Tổng thống Kennedy rằng tôi là một đồng minh tin cậy và ngay thẳng, và rằng thà tôi ngay thẳng và giải quyết vấn đề ngay bây giờ còn hơn là để nói về chuyện đó sau khi chúng ta đã đánh mất tất cả... Xin nói với Tổng thống Kennedy rằng tôi chấp nhận tất cả lời đề nghị của Tổng thống một cách nghiêm chỉnh và thực sự mong muốn thực hiện điều đó, nhưng vấn đề là thời gian”. Lodge bình luận thêm: “Tôi có cảm giác đây là một cử chỉ nữa trong thảo luận mà... Diệm đã bắt đầu tại cuộc gặp với chúng ta tại Đà Lạt ngày chủ nhật (27/10). Nếu Mỹ muốn có một thoả thuận trọn gói, tôi cho là chúng tôi có khả năng làm được điều đó. Thực ra ông ta nói: “Hãy nói cho chúng tôi, các ngài muốn gì và chúng tôi sẽ thực hiện”. Hy vọng thảo luận về vấn đề này ở Washington (nhấn mạnh thêm)6.
Bức điện được chuyển qua kênh thường lệ và cuối cùng đến Bộ Ngoại giao hồi 9 giờ 18 phút sáng (giờ Washington) ngày 1/11. Bức điện tới Nhà Trắng hồi 9 giờ 37 phút sáng. Ở đó chúng tôi đang họp với Tổng thống để tiếp tục thảo luận các diễn biến ở Sài Gòn. Đến lúc đó đã quá muộn rồi - cuộc đảo chính đã nổ ra. _______________________________________ 1. Xem Biên bản cuộc họp với Tổng thống, 5/10/1963, FRUS, 1961-1963, t.4, tr. 368-370. 2. Lodge gửi George Bundy, 25/10/1963, sách đã dẫn, tr. 434-436; và George Bundy gửi Lodge, 25/10/1963, sách đã dẫn, tr. 437. 3. Xem Biên bản cuộc họp với Tổng thống, 29/10/1963, 4 giờ 20 chiều, sách đã dẫn, tr. 468-471; đoạn trích McCone lấy từ Ủy ban Chọn lọc Thượng nghị viện để nghiên cứu các chiến dịch của Chính phủ, Mưu đồ ám sát được khẳng định lôi kéo theo các nhà lãnh đạo nước ngoài (Washington: Văn phòng in ấn của Chính phủ Mỹ, 1975), tr. 221. 4. Xem Biên bản cuộc họp với Tổng thống, 29/10/1963, 6 giờ chiều, FRUS, 1961-1963, t.4, tr. 472-473; và McGeorge Bundy gửi Lodge, 29/10/1963, sách đã dẫn, tr. 473-475. 5. MACV 2028, Harkins gửi Taylor, 30/10/1963, sách đã dẫn, tr. 479-482; Điện của Bộ phận CIA 2063, Lodge gửi Rusk, 30/10/1963, sách đã dẫn, tr. 484-488; và McGeorge Bundy gửi Lodge, 30/10/1963, sách đã dẫn, tr. 500-502 6. Embtel 841, Lodge gửi Rusk, 1/11/1963, sách đã dẫn, tr. 516- 517.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #37 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2009, 10:36:21 pm » |
|
Hồi 9 giờ 30 phút sáng ngày 2/11, chúng tôi gặp lại Tổng thống để thảo luận thêm về diễn biến ở Sài Gòn. Khi cuộc họp bắt đầu thì chưa ai rõ số phận của Diệm và Nhu ra sao. Vào khoảng giữa cuộc họp, Mike Forrestal xộc vào phòng mang theo bức điện từ Phòng Tình hình. Cơ quan CIA Sài Gòn cho biết họ được các đồng nghiệp Nam Việt Nam thông báo chính thức rằng anh em Diệm, Nhu đã tự sát “trên đường từ thành phố tới trụ sở Bộ Tổng tham mưu liên quân”1.
Thật ra thì sau khi bày tỏ sự sẵn sàng đầu hàng, Diệm và Nhu đã tới chờ tại một Nhà thờ Công giáo trong Chợ Lớn, khu người Hoa nằm ở phía Nam trung tâm Sài Gòn. Tướng Minh, người trở thành Tổng thống sau đó, đã cho hai xe Jeep và một xe bọc thép tới đón họ, Diệm và Nhu bị đẩy vào xe bọc thép, hai tay bị còng sau lưng. Khi đoàn xe đến trụ sở Bộ Tổng tham mưu và cửa xe được mở ra thì Diệm và Nhu đã chết. Cả hai đều đã bị bắn, riêng Nhu còn bị đâm nhiều nhát bằng dao. Tướng Đôn, một trong những người cầm đầu cuộc đảo chính hỏi: “Tại sao họ chết?”
- “Chết thì sao nào?”, Minh trả lời.
Mấy tháng sau hai cái chết này, ông ta đã nói với một người Mỹ: “Chúng tôi đã không có sự lựa chọn nào khác. Họ phải bị giết. Không thể để Diệm sống vì ông ta được những người dân bình thường, cả tin ở nông thôn rất kính trọng”. Trần Văn Hương, một quan chức dân sự, từng là người chỉ trích Diệm và đã bị tù vì can tội chống đối chế độ, nói: “Các tướng lĩnh chóp bu, những người đã quyết định ám sát Diệm và em ông ta, đã sợ chết đi được. Các tướng lĩnh biết rõ rằng không một tài năng nào, không một phẩm chất đạo đức nào, không một sự ủng hộ chính trị nào, có thể giúp họ ngăn cản sự trở về đầy kịch tính của Tổng thống và ông Nhu nếu họ còn sống sót”2.
Khi Tổng thống Kennedy nhận được tin về cái chết này. Ông đã tái người đi một cách thật sự, tôi chưa bao giờ thấy ông xúc động như vậy. Sau này Forrestal đã nhớ lại rằng cái chết này “đã làm cá nhân Tổng thống bàng hoàng”, “ám ảnh ông ta như một vấn đề đạo đức và tín ngưỡng... tác động cả đến lòng tin của ông... về những ý kiến góp ý mà ông nhận được về Nam Việt Nam”. Arthur Schelinger (Jr.) nhận thấy Tổng thống đã “buồn rầu và sửng sốt” và tỏ ra phiền muộn một cách sâu sắc nhất kể từ sự kiện Vịnh Con Lợn3.
Ngay khi có được các tin tức cần thiết, Tổng thống đã bình luận về những tác động nghiêm trọng mà cái chết của anh em Diệm có thể gây ra cho tình hình trong và ngoài nước. Ông tỏ ra nghi ngờ hai người này có thể tự sát vì họ là người Công giáo. Hilsman thì cho rằng, không có gì khó hiểu trong việc Diệm và Nhu tự sát dù rằng họ là người Công giáo - theo tinh thần “đây là trận huyết chiến cuối cùng”, Mac bình luận một cách ngắn gọn rằng điều không bình thường là người ta có thể tự bắn và đâm bản thân mình với hai tay bị trói chặt sau lưng4.
Rõ ràng Tổng thống đã cho rằng sau hai mươi năm cống hiến cho Việt Nam, lẽ ra cuộc đời của Diệm không đến nỗi kết thúc như vậy. Có vẻ như Mao Trạch Đông cũng chia sẻ đánh giá này của Tống thống. Trong cuộc trả lời phỏng vấn với phóng viên Edgar Snow đầu năm 1965, Mao đã đưa ra giả thiết là người Mỹ đã không tin Diệm. Mao còn đi tới chỗ nói rằng cả Hồ Chí Minh lẫn ông ta (Mao) đều nghĩ rằng Ngô Đình Diệm không đến nỗi tồi. Mao nói: xét cho cùng, sau khi ông ta bị sát hại thì chẳng hiểu tất cả mọi sự trong Trời và Đất này có trở nên hoà bình hơn hay không? Tất cả ngụ ý trong đánh giá của Mao về các sự kiện ở Việt Nam nếu Diệm còn sống, thì không thể hiểu hết cho đến khi nào Trung Quốc và Việt Nam tiết lộ các kho lưu trữ hồ sơ của mình nhưng điều đó đã gây ra một loạt các câu hỏi5.
Việc Diệm bị giết hại đã tác động mạnh đến Tổng thống Kennedy; nhưng đó không phải là điều sửng sốt nhất. Điều đáng ngạc nhiên nhất là chúng ta đang đứng trước một khoảng trống về chính trị ở Nam Việt Nam và không có cơ sở để tiếp tục bất cứ một tiến trình nào thích hợp với các mục tiêu của Mỹ. __________________________________ 1. Điện của Bộ phận CIA 22, DTG 020410Z, 2/11/1963, sách đã dẫn, tr. 527, Điện tín của Bộ Ngoại giao (viết tắt là Deptel) 243, của Ball gửi Lodge, 24/8/1963, FRUS, 1961-1963, t.3, tr. 628-629. 2. Trích đoạn trong Cuộc chiến không có kết thúc của chúng ta, Trần Văn Đôn (San Rafael: Nhà xuất bản Presidio, 1978), tr. 111, và Marguerite Higgins, Cơn ác mộng Việt Nam của chúng ta (New York: Harper và Row), tr. 215. 3. Phỏng vấn trước của (chương trình) Giấy trắng NBC, “Cái chết của Diệm”, 22/12/1971; và Arthur M. Schlesinger (Jr.), Một nghìn ngày: John F. Kennedy trong Nhà Trắng (Boston: Houghton Mifflin, 1965), tr. 997-998. 4. Xem Biên bản cuộc họp với Tổng thống, 2/11/1963, NSF, JFKL. 5. Xem Thời báo Chủ nhật (Luân đôn), 14/2/1965.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #38 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2009, 10:37:50 pm » |
|
Cái chết của Diệm không làm mất đi những mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộ chính quyền Mỹ về vấn đề Việt Nam. Trong một kiệt tác báo cáo láo, Lodge báo cáo về Washington ngày 4/11 như sau:
Có sự khác biệt giữa chúng tôi và các ngài về ý nghĩa và giá trị của cuộc đảo chính. Sau đây là cách nhìn nhận của chúng tôi:
a) Đối với bất cứ ai đã từng tham gia vào các chiến dịch quân sự hay vận động chính trị, cuộc đảo chính này thể hiện sự thành công đặc biệt có thể trên cả hai khía cạnh...
b) Các nhà nghiên cứu đã từng có ác cảm với đảo chính và đã từng hô hào “với Diệm sẽ thắng” bây giờ lại nói rằng cuộc đảo chính này có nghĩa là chiến tranh có thể rút ngắn đi nhiều (nhấn mạnh của tác giả).
Lodge kết luận, chính ông ta cũng tin rằng đảo chính có thể rút ngắn được chiến tranh và đẩy nhanh đến thời điểm người Mỹ có thể về nước1. Max và tôi đã tỏ ý nghi ngờ. Trước cuộc đảo chính, chúng tôi đã thấy ít có khả năng có được một chính phủ mạnh và có hiệu quả thay thế Diệm, và sau đảo chính chúng tôi cũng chẳng thấy điều đó.
Để cố gắng đạt được sự thật, Tổng thống yêu cầu tôi chủ trì cuộc họp tất cả các bên ở Honolulu vào ngày 20/11. Đó là cuộc họp cuối cùng của chúng tôi về Việt Nam trước khi chúng tôi gặp gỡ với Lyndon Johnson khi ông ta trở thành Tổng thống bốn ngày sau đó.
Cuộc họp này cũng giống như các cuộc họp trước đó và chúng tôi không hề có ấn tượng gì đặc biệt về nó. Nhưng nó có một ấn tượng mạnh đối với Mac Bundy, người chưa bao giờ tham dự các cuộc họp ở Hawaii trước đây. Trước khi chúng tôi giải tán để ra về, anh nói với cuộc họp: “Các cuộc họp của McNamara giống như nơi người ta lừa gạt ông và ông ta cố gắng thuyết phục họ là họ không thể”. Có lẽ điều này là không công bằng đối với giới quân sự, nhưng dù sao nó cũng phản ánh khó khăn mà chúng tôi gặp phải để có được một bức tranh rõ ràng về tình hình và triển vọng của chúng ta ở Việt Nam.
Mac đã rút ra từ cuộc họp một đánh giá rất đúng như điều đã xảy ra. Phát biểu về bức tranh chính trị ở Nam Việt Nam, ông ta nói với những người tham dự rằng trong khi còn quá sớm để biết những người làm đảo chính sẽ đi theo đường hướng nào, điều rõ ràng là liên minh các tướng lĩnh không tồn tại được lâu. Anh ta quả là một nhà tiên tri! Chính phủ quân sự giống như cánh cửa xoay quay tròn với tốc độ chóng mặt trong suốt 18 tháng với nhóm lãnh đạo nọ tiếp theo nhóm lãnh đạo kia2.
Bình luận công khai cuối cùng của Tổng thống Kennedy về Việt Nam là tại cuộc họp báo ngày 14/11, tại đó Tổng thống đã hỏi một cách cường điệu rằng: “Phải chăng chúng ta bất lực ở Nam Việt Nam?”. Tổng thống tự trả lời câu hỏi của mình rằng: “Tất nhiên vấn đề quan trọng nhất là an ninh quốc gia của chúng ta, nhưng tôi không muốn Mỹ phải có quân đội ở đó”.
Trước đó, cũng tại cuộc họp báo này, trả lời câu hỏi: “Ngài có thể cho chúng tôi biết về sự đánh giá của Ngài về tình hình ở Nam Việt Nam hiện nay, sau cuộc đảo chính và mục đích của cuộc họp ở Honolulu?” Tổng thống nói: “Mục đích của cuộc họp tại Honolulu... là nhằm đánh giá tình hình: chính sách của Mỹ phải như thế nào, và chính sách viện trợ của chúng ta ra sao, chúng ta có thể đẩy mạnh sức chiến đấu như thế nào, làm sao chúng ta có thể đem người Mỹ ra khỏi đó. Hiện tại, đó là mục tiêu của chúng ta, đưa người Mỹ về nước, để người Nam Việt Nam tự bảo vệ lấy mình như một đất nước tự do và độc lập (nhấn mạnh của tác giả)”3...
Hai lời bình luận chứa đựng nội dung Tổng thống trả lời Walter Cronkite mười tuần trước đó. Lúc đó Tổng thống nói, theo sự phán xét cuối cùng, đó là cuộc chiến của họ - họ là người sẽ quyết định cuộc chiến thắng hay bại. Kennedy đã không rõ ràng trong vấn đề này. Tuy vậy một tuần sau ông ta nới với Chet Huntley và David Brinkley: “Tôi nghĩ chúng ta phải ở lại. Chúng ta phải sử dụng ảnh hưởng của chúng ta một cách có hiệu quả nhất mà chúng ta có thể... Chúng ta không được rút”4. Nhưng điểm nổi bật trong ý kiến của Tổng thống Kennedy - cả trước và sau cuộc phỏng vấn này, cả công khai lẫn bí mật - là cuối cùng người Nam Việt Nam phải tự mình tiến hành cuộc chiến; Mỹ không thể làm việc đó thay họ. _______________________________________ 1. Embtel 917, Lodge gửi Rusk, 4/11/1963, FRUS, 1961-1963, t.4, tr. 560-562. 2. Xem Báo cáo để ghi âm các cuộc nói chuyện ngày 13 và ngày 22/11/1963, Giao ban hàng ngày của các nhân viên Nhà Trắng, sách đã dẫn, tr. 593-594 và 625-626. 3. Tài liệu công khai, John F. Kennedy, 1963, tr. 846,848. 4. Sách đã dẫn, tr. 652,660.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #39 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2009, 10:55:35 pm » |
|
4 THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP NGÀY 23/11/1963 - 29/7/1964 Thời kỳ quá độ thường mang theo sự bất chắc, lúng túng và sai lầm. Điều này càng đúng hơn bao giờ hết trong giai đoạn sáu tháng sau khi Tổng thống Kennedy bị ám sát. Tổng thống Johnson, với cách đề cập vấn đề Việt Nam hoàn toàn khác với người tiền nhiệm của ông, đã thừa kế một loạt những câu hỏi chưa có trả lời và những vấn đề còn chưa được giải quyết. Những điều này ngày càng trở nên rõ ràng và phiền nhiễu hơn khi chúng ta ngày càng dính líu sâu hơn vào Việt Nam. Chiều thứ sáu, ngày 22/11/1963, khi Tổng thống Kennedy đi nói chuyện tại Dallas, tôi gặp các cộng sự cao cấp của mình, Mac Bundy, Kermit Gordon của Văn phòng ngân sách và cố vấn khoa học Jerome Wiesner tại phòng họp gần phòng làm việc của tôi tại Lầu Năm Góc. Chúng tôi đang xem xét lại ngân sách quốc phòng mà Nhà Trắng dự định đệ trình lên Quốc hội vào tháng giêng. Xem xét lại ngân sách là một phần trong cố gắng của tôi nhằm xác định các mục tiêu của Bộ Quốc phòng và bảo đảm để chúng hoà hợp với các mục tiêu đối ngoại của Tổng thống. Sau cuộc họp, tôi dự định sẽ bay đi Hyannis Port cùng với Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân Max Taylor để trình bày với Tổng thống những đề nghị của tôi trong những ngày cuối tuần Lễ Tạ ơn Chúa. Vào giữa buổi thảo luận của chúng tôi - khoảng 2 giờ chiều - thư ký báo tôi có một cú điện thoại riêng khẩn cấp. Tôi rời phòng họp và đi vào phòng riêng của tôi để nghe điện thoại. Đó là Bobby Kennedy, giọng nói nghe xa xăm và đơn độc hơn bình thường. Đơn giản và trầm tĩnh, ông thông báo cho tôi rằng Tổng thống vừa bị bắn. Tôi sửng sốt. Chậm chạp bước trở về phòng họp và cố kiềm chế giọng nói, tôi thông báo tin trên cho cả nhóm. Thật lạ, không ai giải tán: chúng tôi đều bị sốc và hoàn toàn không biết mình phải làm gì. Sau đó, bằng hết sức mình, chúng tôi cố quay trở lại việc trao đổi. Cú điện thoại thứ hai từ Bobby vào khoảng 45 phút sau. Tống thống đã chết. Cuộc họp của chúng tôi lập tức được kết thúc trong nước mắt và im lặng bàng hoàng. Không hiểu được động cơ của cuộc ám sát và điều gì có thể xảy ra tiếp theo, tôi gặp ngay các Tham mưu trưởng liên quân. Chúng tôi thoả thuận đặt quân lực Mỹ trên toàn thế giới vào tình trạng báo động, một hành động thường được tiến hành trong giai đoạn khủng hoảng. Ít phút sau, Bobby lại gọi lại. Ông đề nghị vào cuối buổi chiều Max và tôi đi cùng ông đến Căn cứ không quân Andrews gần đó để đón chiếc máy bay chở thi hài anh ông trở về. Khi Bobby đến Lầu Năm Góc, cả ba chúng tôi lên trực thăng và bay đến sân bay Andrews. Chúng tôi bay ngang qua sông Potomac. Và lặng lẽ nhìn qua cửa sổ. Tất cả đều trầm ngâm hồi tưởng. Chẳng biết nói với nhau điều gì. Ít phút sau khi chúng tôi đến sân bay Andrews, chiếc phi cơ Tổng thống màu trắng xanh cũng từ từ lăn bánh đến chỗ đậu, đèn hạ cánh của nó vẫn bật sáng. Bobby quay lại bảo tôi cùng lên máy bay với ông. Cảm thấy đây là một giây phút hoàn toàn riêng tư của gia đình đang trong cơn sốc và đau buồn, tôi từ chối. Sau khi thi hài được chở đi, tôi trở về nhà, nghĩ ngợi về những điều vừa xảy ra và không chắc chắn về những gì sắp tới. Anh em nhà Kennedy và tôi khởi đầu vốn xa lạ với nhau nhưng dần dần đã trở nên rất gần gũi. Không giống như nhiều chính quyền sau này. gia đình Kennedy đã tạo nên một số cộng sự cho họ, chuyển họ từ đồng nghiệp sang bạn bè. Chúng tôi có thể cười với nhau. Và chúng tôi cũng có thể cùng khóc với nhau. Quan hệ như vậy nên cái chết của Tổng thống càng trở nên đau đớn hơn đối với tôi. Ở nhà, tôi cố gượng ăn cho xong cơm tối với Marg. Khi vừa ăn xong thì Bobby gọi từ Bệnh viện Hải quân Bethesda nói là Jackie muốn tôi ở bên cạnh bà khi bà đang phải chờ đợi việc khám nghiệm tử thi kết thúc. Tôi đi xe đến ngay bệnh viện và ngồi cạnh Jackie, Bobby và các thành viên, bè bạn khác của gia đình. Sáng sớm, chúng tôi hộ tống thi thể của Tổng thống trở về Nhà Trắng. Chiếc quan tài được đưa vào đặt trên bệ đỡ tại căn phòng trang nhã phía Đông, phủ bởi lá cờ mà Tổng thống đã yêu mến và phục vụ. Những ngọn nến dìu dịu toả sáng cả căn phòng. Đến lúc này, có bất đồng xảy ra về địa điểm mai táng Tổng thống. Một số khăng khăng rằng đó phải là bang quê hương của Tổng thống ở Massachusetts. Tôi phát biểu rằng Kennedy không phải là Tổng thống của Massachusetts, mà đúng hơn là của 50 bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và do vậy phải được yên nghỉ tại thủ đô. Tôi đi một vòng để tìm một vị trí thích hợp. Nghĩa trang quốc gia Arlington nằm dưới sự quản lý của Bộ Quốc phòng và tôi bắt đầu từ đó. Đó là một buổi sáng mưa phùn ảm đạm và nghĩa trang bị che phủ bởi một làn sương mỏng. Người quản lý nghĩa trang đến chào tôi và chúng tôi cùng đi cạnh nhau qua những khoảng đất tuyệt đẹp được trang điểm bởi những nấm mộ đá trắng đơn giản, đánh dấu nơi yên nghỉ của vô số các quân nhân Mỹ đã phục vụ Tổ quốc trong chiến tranh và thời bình như Tống thống Kennedy. Tôi dừng lại khi chúng tôi đi đến một điểm ngay dưới chân nhà tưởng niệm. Từ đó tôi có thể nhìn qua Cầu Tưởng niệm tới chân tượng đài Lincoln ở phía xa, ngay cả lúc này, khi trời đang mưa và mù sương. “Đây chính là địa điểm chôn cất”, tôi khẽ nói. Cuối ngày, người ta giới thiệu với tôi một nhân viên trẻ của Công ty công viên, người đã tháp tùng Kennedy khi ông thăm Arlington vài tuần trước đó. Khi tôi nói với anh ta địa điểm tôi đã chọn, anh ta gật đầu: “Khi Tổng thống Kennedy thăm nơi đây vài tuần trước, ông đã dừng lại ở đúng chỗ đó. Ông nhìn ra phía các tượng đài và tôi nghe ông nói rằng đây là một cảnh đẹp nhất ở Washington”. Quyết định chọn địa điểm cuối cùng được Jackie đưa ra khi bà đi cùng với tôi đến nghĩa trang vào cuối buổi chiều. Thời tiết vẫn ảm đạm khi chúng tôi đi ngang qua mênh mông những nấm mồ. Khi chúng tôi tới địa điểm tôi đã chọn, Jackie chấp thuận ngay lập tức. Bà cũng được mai táng tại nơi này vào năm 1994.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|