Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:44:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bạn biết gì về cộng đồng các dân tộc Việt Nam và Thế giới ?  (Đọc 197680 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
beyeu_HG
Thành viên
*
Bài viết: 7



« Trả lời #60 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 09:51:12 am »

M_T@: Chắc của nhóm người Mông-Hoa ( Ngái , Hà nhì , Mèo...) ?
 Thực tình mình ko rõ vì ít có dịp lên Tây Bắc .

Nói thật với bác, em rất máu đi tình nguyện & thêm 1 máu nữa là rất muốn tìm hiểu về phong tục tập quán của các dân tộc VN.

Những  ngày còn SV khi nghỉ hè, đa số em không về nhà mà xin phép mẹ lên Tây Bắc tình nguyện, phối hợp với bộ đội biên phòng làm chương trình 4 cùng : Cùng ăn - cùng ở - cùng làm - cùng nói tiếng dân tộc.

Muốn hiểu được họ thì phải hiểu ngôn ngữ của họ, thế nên em quyết tâm học bằng được. Học thì phải chơi nó mới vui, thế là em biết về trò chơi lảy cỏ đấy ạ.
Bà con dân tộc họ tình cảm & rất quý người, trước khi đi lên nương rẫy bao giờ họ cũng nhắc :

A Linh đi làm hấp tu - A Linh đi làm nhớ đóng cửa.

Rồi họ la con họ cũng khiếp  Cheesy : Kin lá kin, nòn lá nòn, háy cái răng mòn - Ăn không ăn, ngủ không ngủ, chỉ quấy rầy  Grin

Em sẽ cố gắng nhớ lại trò chơi để post lên đây cho bác & mọi người biết (giờ em đang bận việc chút ạ ). Nếu ai có hứng thú biết thêm về tiếng Tày - Nùng thì mỗi hôm em post vài câu theo chủ đề : tình yêu, kiếm tiền, hỏi thăm.....(nhớ đến đâu em sẽ post đến đó )  Grin

Chúc các bác vui !
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Bảy, 2009, 09:54:43 am gửi bởi beyeu_HG » Logged


Hà Giang trong trái tim tôi !
ahuuls
Thành viên
*
Bài viết: 453


Hoa hồi Xứ Lạng


« Trả lời #61 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 09:53:46 am »

Pỏm mây kháo chai nah Krab ...! Bí Bếp mờ hiểu được là ... chít liền đó.  Hình như người Tày ở xứ ta có pha âm Việt vào tiếng của họ.  Có lẽ tiếng Tày & tiếng Thái có âm giọng khác nhau (như giọng Quảng vs giọng miền Nam) thế nên ...  Roll Eyes

Chắc thai liền : Biết chết liền  Grin

Đúng rồi bác ạ, người dân tộc họ pha tiếng Việt vào tiếng của mình. Nhưng có từ họ nói lái đi để không trùng hợp với dân tộc khác đấy ạ.

 Lốp ính nứng! Kin đảy nọi thôi! Ké giá, lúc kón kin đảy ái thâng lít puốn đấy! Toàn kin pát, mí ni kin chẻn cuổn piêng !

----> Sức khỏe không tốt, uống được có vậy thôi, lúc trước uống một lít rồi đấy. Toàn uống bằng bát, không uống bằng chén đâu a.


@ Bác Mực Tàu : Nhắc đến các con số, bác có biết lày cỏ(lảy cỏ ) trò chơi  của dân tộc thiểu số trên Tây Bắc vào mỗi dịp lễ Tết hay hội? Trò chơi này có nguồn gốc từ dân tộc Choang của Trung Quốc ạ  Grin. Trò này vui hết biết luôn  Wink
................................
Khá chuẩn xác nhưng không đúng nghĩa lắm ,để em dịch chuẩn câu này cho các bác tham khảo:
(Lốp ính nứng! Kin đảy nọi thôi! Ké giá, lúc kón kin đảy ái thâng lít puốn đấy! Toàn kin pát, mí ni kin chẻn cuổn piêng ! )
...một ít!uống được ít thôi!Già rồi,lúc trước uống được gần lít rưỡi đấy! toàn uống bằng bát,không thì uống bằng chén đít bằng.
Từ (lốp) khó dịch quá có thể các bác phát âm không chuẩn nên em chịu.Chắc là tiếng Nùng gì đấy ,riêng nùng có đến 6-7 loại Nùng cơ các bác ạ nên khó biết hết tiếng của họ .Dân tộc Tày cũng tùy từng vùng ,Em là Tày chính hiệu nhưng cũng không biết hết tiếng Tày của các địa phương ví dụ như Tày Bắc sơn (Lạng sơn),Trùng khánh (Cao bằng ) họ nói ríu rít như tiếng chim vậy.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Bảy, 2009, 09:59:33 am gửi bởi ahuuls » Logged

Thư ký hỏi sếp :chữ sếp viết sờ nặng hay xờ nhẹ
sếp trả lời :Tao là xếp thích sờ gì mà chẳng được
Trungsy1
Thượng tá
*
Bài viết: 1670



« Trả lời #62 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 09:59:51 am »

Các bạn nên có những bài về văn hoá, tập tục sinh hoạt, phong tục .... của các dân tộc thôi!
Sa đà vào ngôn ngữ mà mình chỉ biết vài từ thì không nên, dễ làm người ta chán

Logged
TimeBreak
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 844



« Trả lời #63 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 10:12:52 am »

Trong các dân tộc miền núi, vùng cao phía Bắc, em thấy người Cao Lan có kinh tế nhìn chung là kém hơn, ngay như cái nhà sàn theo phong tục của họ cũng tuềnh toàng hơn ... Người Mèo là khôn ngoan, linh hoạt nhất, họ tận dụng rất tốt các cơ hội về du lịch, thương mại, một số vùng có Tây đến nhiều thì người Mèo xài tiếng Mèo và ... Tiếng Anh, Tiếng Pháp còn sõi hơn tiếng phổ thông !

Người Mường thì không tính là dân tộc nữa, vì họ sống vùng thấp hơn và phân bố quy mô rộng, đan xen, hòa lẫn với người Kinh rồi

Mạn phía Đông Bắc có người Sán rìu, cũng như người Cao lan vậy, kinh tế cũng kém hơn những tộc khác như Nùng, Dao

Logged
ahuuls
Thành viên
*
Bài viết: 453


Hoa hồi Xứ Lạng


« Trả lời #64 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 10:15:20 am »

Em xin góp 1 bài về dân tộc Tày:
2009
  Tên gọi khác: Thổ.
  Dân số: 1.190.342 người.
  Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.
  Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
  Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

  Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

  Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.



Người Tày (Pa Dí) có truyền thống làm các loại bánh bằng bột

  Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hoà Bình).



Trang phục của người Tày hầu như không thêu hoa văn

  Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

  Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

  Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng, mảng để chuyên chở.

  Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

  Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

  Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

  Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

  Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

  Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

  Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.



Thầy cúng còn gọi là thày mo là người am hiểu phong tục tập quán dân tộc và có địa vị cao trong xã hội

  Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

  Lịch: Người Tày theo âm lịch.

  Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

  Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.



Ðàn tính là nhạc cụ được sử dụng phổ biến ở người Tày

  Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng,... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

 

 In nội dung trang nàyNguồn: Congdulich (Theo Lào Cai)
Lượt xem : 79
Thông Tin Liên Quan Đến: Lào Cai
Cửa Sổ Du LịchNgười Dẫn ĐườngDọc Đường ẨmThựcVui Chơi Giải TríVăn hóa - Lễ HộiLàng NghềDi Tích Lịch SửDân TộcTin Địa Phương
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Bảy, 2009, 10:21:53 am gửi bởi ahuuls » Logged

Thư ký hỏi sếp :chữ sếp viết sờ nặng hay xờ nhẹ
sếp trả lời :Tao là xếp thích sờ gì mà chẳng được
ahuuls
Thành viên
*
Bài viết: 453


Hoa hồi Xứ Lạng


« Trả lời #65 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 10:20:17 am »

thêm cây đàn tính:
Logged

Thư ký hỏi sếp :chữ sếp viết sờ nặng hay xờ nhẹ
sếp trả lời :Tao là xếp thích sờ gì mà chẳng được
beyeu_HG
Thành viên
*
Bài viết: 7



« Trả lời #66 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 10:33:34 am »

thêm cây đàn tính:


Đàn tính này hay xuất hiện trong các lễ hội hát then của người Nùng trên Cao Bằng.
Có bác nào ở đây tham gia lễ hội lồng tồng (xuống đồng ) của bà con dân tộc chưa nhỉ?

Có 1 lần em đi vào bản Hà Xi - Hà Nê của xã Pa Ủ huyện Mường Tè - tỉnh Lai Châu, thấy cuộc sống của bà con họ khó khăn quá. Dựng nhà rồi lợp mái bằng lá chuối hoặc các loại lá rừng khác, khi lá vàng héo cũng đồng nghĩa với việc họ di cư đi nơi khác.

Thôn bản lúc nào cũng trong tình trạng 4 không : Không điện, không đường, không trường & không trạm y tế. Thế rồi được Đảng quan tâm, biên phòng giúp đỡ, xây nhà cho các hộ gia đình định cư. Họ biết ơn nhiều lắm.

http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=115936
Logged


Hà Giang trong trái tim tôi !
dksaigon
Thành viên
*
Bài viết: 1027


« Trả lời #67 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 10:45:42 am »

Tiếng Tày, Thái, Nùng, là cùng hệ ngôn ngữ Tày Thái, có giả thuyết là có cùng gốc vương quốc Nam Chiếu, lại cũng có giả thuyết dựa trên di tích khảo cổ vùng Việt bắc thì cho rằng các tộc tày thái có nguồn gốc nhánh huyền sử 50 con lên núi sau là các tộc có người đứng đầu là Thục Phán An Dương Vương mà người Tày là trung tâm. Nếu kết hợp cả hai giả thuyết thì các tộc Tày Thái có lãnh thổ xưa rộng lớn từ Nam Chiếu gồm đến cả Việt bắc thuộc Giao Chỉ ?

Các bác có dịp tiếp xúc và biết được nhiều tiếng các dân tộc Tày, Thái, Nùng, trao đổi ở đây thì thật là thú vị! nhưng nếu các bác chú thích được tiếng nào là tiếng Tày, tiếng Nùng, Thái ở khu vực nào ( và dịch qua tiếng Việt ) thì tốt! Wink bởi Tày, Thái, Nùng cũng như tiếng Việt bắc, trung , nam, phát âm có hơi khác một chút. Nếu được các bác lấy tiếng Tày làm chuẩn vì dân tộc Tày là một trong số các dân tộc anh em có số dân đông nhất trên 2 triệu người ở VN và có nền văn hóa Tam giáo đồng nguyên ( Lão, Phật, Nho ) khá là văn minh!( dung hợp được cả 3 tôn giáo lớn ), trong quá khứ, lịch sử dân tộc Tày gắn bó với dân tộc Kinh rất mật thiết nhất là trong việc chống lại các cuộc xâm lược của phong kiến phương bắc!
Từ những quan hệ lịch sử, hiểu biết mạo muội nêu trên, tôi cho rằng tiếng Tày có nhiều từ giống tiếng Kinh, có thể là mượn từ nhưng cũng có thể là trùng hợp vì có quan hệ giao lưu và không chắc là tộc nào mượn từ của tộc nào! ngay cả tiếng khmer khác hẳn hệ ngôn ngữ Việt nhưng vẫn có những từ trùng hợp đến kỳ lạ! Tiếng Việt cũng như tiếng Tày thực tế đều có chịu ảnh hưởng văn hóa Trung hoa và mượn từ từ Hán nên những từ trùng hợp nếu có nguồn gốc Hán Nôm, Hán Việt thì dễ hiểu còn lại thì có lẽ phải giải thích do sự giao lưu gắn bó với nhau nhiều!

@motthoang: he he, cháu này biết nhiều tiếng tày, nùng nhể? Wink
Từ " đảy " là đúng nhưng cháu lúc thì " đáy " , lúc thì " đảy " là không chính xác đâu nhé! Wink

" Kin khẩu " là ăn cơm theo tiếng Tày Cao Bằng nếu dịch sát là : ăn gạo!, còn Tày Lạng sơn nói là " kin ngai ", ngai mới là cơm. Ăn cháo tiếng Nùng nói là " kin chốc " còn tiếng Tày nói là " kin chảo ". Các bác thấy đấy từ " chốc " tiếng Nùng chịu ảnh hưởng của tiếng Hán, còn từ " chảo " tiếng Tày chịu ảnh hưởng của tiếng Việt! Cool
Logged
beyeu_HG
Thành viên
*
Bài viết: 7



« Trả lời #68 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 10:56:30 am »

M_T@: Chắc của nhóm người Mông-Hoa ( Ngái , Hà nhì , Mèo...) ?
 Thực tình mình ko rõ vì ít có dịp lên Tây Bắc .

Em xin giới thiệu với bác & mọi người cùng biết, 1 trò chơi của các dân tộc thiểu số, 1 nét đẹp vùng cao biên giới phía Bắc. Nhưng mà trò này vừa chơi phải vừa uống rượu, bác nào tửu lượng kém thì.......đứng xem chơi  Grin

À em cũng nói luôn, về thành phố không có người chơi cùng nên em quên 1 số chi tiết, chính vì thế nên em đã sưu tầm thêm cho đầy đủ để phục vụ các bác ạ.

Trò chơi lày cỏ (lảy cỏ )

Trò chơi lảy cỏ có nguồn gốc từ dân tộc Choang của Trung Quốc (nhắc đến dân tộc Choang em lại nhớ Tết năm kia lên mẫu Đồng Đăng - Lạng Sơn có tham gia 1 vài điệu múa với dân tộc này cũng hay phết, em sẽ kể sau ). Trò chơi này tiếng dân tộc gọi là "srại mạ". Thường người ta chỉ chơi khi đã có " chất men " thì nó mới vui, ai thua sẽ bị uống rượu gọi là phạt.

Trò chơi này chỉ có 2 người, họ chọn ra 4 cái que, đũa ...người nào thắng sẽ lấy về 1 cái đũa, dần dần như thế cho đến hết. Có 1 trọng tài chứng kiến (trọng tài bị phạt khi xử sai - có 1 lần em bị phạt vì không thuộc bài )  Grin

Bài của nó như này, khi chơi 2 người phải đồng thanh hát & giơ ngón tay ra (tương tự như trò oẳn tù tì ) :

Đoán số 1 : Nhất tiểm, nhất tình đời ...
 
Đoán số 2: Nhỉ tảu, nhì tiểm ...

Đoán số 3: Sam tiểm , sam tua sam ....

Đoán số 4:Xế tài xế, xế tua ....

Đoán số 5 : Lẳm môn lắm....

Đoán số 6: Loọc váy loọc ...

Đoán số 7: Chắt chểu chắt ...

Đoán số 8: Pát giàng pát, pét buồng pét....

Đoán số 9: Cẩu phái xoòng ....

Đoán số 10: Hồi mã, hối lồi lồi ...

Trò chơi này quan trọng là thuộc bài & nhanh tay. Ngày xưa có số 5, nhưng rồi người ta bỏ đi bởi vì " Lẳm môn lẳm - nghĩa là buồn ) âm điệu thấp & không vui. Trong khi trò này phải hò hét, nhiều người thuộc bài mà cùng đọc thì âm lượng lớn & rất vui ạ. Nếu 2 người cùng đoán đúng số thì cùng nói " thủng xính " - hòa nhau.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Bảy, 2009, 11:09:19 am gửi bởi beyeu_HG » Logged


Hà Giang trong trái tim tôi !
beyeu_HG
Thành viên
*
Bài viết: 7



« Trả lời #69 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 11:05:03 am »

@motthoang: he he, cháu này biết nhiều tiếng tày, nùng nhể? Wink
Từ " đảy " là đúng nhưng cháu lúc thì " đáy " , lúc thì " đảy " là không chính xác đâu nhé! Wink


Dạ, cháu sẽ chú ý hơn ạ.

Đâu có, cháu biết chỉ đủ để không bị " bắt nạt " thôi ạ, cháu còn phải học nhiều mà. Cheesy Cháu tính khi nào có kỳ nghỉ phép, xin phép mẹ cho lên chỗ dì ruột (Bắc Hà - Lào Cai ) đi phiên chợ tình Sapa - Bắc Hà - Simacai để học tiếng H" Mông.

Tiếng H'Mông khi lên Hà Giang họ nói rất nhiều nhưng không hiểu sao cháu thấy nó khó tiếp thu hơn tiếng Tày & Nùng hihi phải hạ quyết tâm thôi ! Grin

Cháu thấy có 1 đặc điểm chung trong chuyện mua & bán hàng của các dân tộc : KHÔNG MẶC CẢ  Wink
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Bảy, 2009, 11:07:13 am gửi bởi beyeu_HG » Logged


Hà Giang trong trái tim tôi !
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM