Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:26:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ  (Đọc 77095 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2009, 09:14:03 pm »

  Giới thiệu một số lược đồ về cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ. Ảnh và tài liệu lược trích từ cuốn "Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng" của NXB CAND.

  1, Cương vực lãnh thổ Văn Lang - Âu Lạc thời kỳ đầu dựng nước:

  Theo một số sách sử của Việt Nam như: Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi năm 1438, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sỹ Liên năm 1479,... thì: Hùng Vương lên ngôi vua, đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (nay là vùng Bạch Hạc, Phú Thọ). Chia nước làm mười lăm (15) bộ:

  - Văn Lang (Phú Thọ).

  - Châu Diên (Sơn Tây).

  - Phúc Lộc (Sơn Tây).

  - Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang).

  - Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng).

  - Vũ Ninh (Bắc Ninh).

  - Lục Hải (Lạng Sơn).

  - Ninh Hải (Quảng Ninh).

  - Dương Tuyền (Hải Dương).

  - Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình).

  - Cửu Chân (Thanh Hóa).

  - Hoài Hoan (Nghệ An).

  - Cửu Đức (Hà Tĩnh).

  - Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị).

  - Bình Văn (?).

  Theo các bộ sử Trung Quốc như: Thông Điển của Đỗ Hựu đời Đường, Cựu Đường Thư Địa Lý Chí của Lưu Hú thì nước Văn Lang ở vào huyện Mê Linh đời Hán và ở châu Phong đời Đường. Nhưng các sách này chỉ chép tên mà không chép cương vực.

  Theo bộ ĐVSKTT - bộ chính sử đầu tiên của nước ta thì nước Văn Lang "Đông giáp Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn". Nam Hải tức Biển Đông; Ba Thục là một quốc gia cổ có lãnh thổ nay là vùng Tứ Xuyên, Trung Quốc; hồ Động Đình ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc; Hồ Tôn là một quốc gia cổ của người Chăm có lãnh thổ tương ứng với vùng từ quảng Bình đến Bình Thuận của Việt Nam ngày nay.

Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #1 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 07:41:47 pm »

  2, Cương vực lãnh thổ Văn Lang - Âu Lạc thời kỳ Bắc thuộc:

  Kể từ khi Triệu Đà thôn tính Âu Lạc, chia thành hai quận và sáp nhập vào nước Nam Việt, đất nước ta bước vào thời kỳ bị Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm. Các triều đại phong kiến phương Bắc nối tiếp nhau biến lãnh thổ Âu Lạc thành những đơn vị hành chính “thuộc quốc” để cai trị.

  Nhà Triệu thống trị nước Nam Việt từ năm 208 trước Công nguyên đến năm 11 trước Công nguyên (bao gồm cả Âu Lạc từ năm 179 trước Công nguyên).

  Thời cổ đại, ở Trung Quốc có hai triều Hán khác nhau: Nhà Tây Hán, khởi đầu là Lưu Bang (Hán Cao Tổ) tồn tại từ khoảng năm 206 trước Công nguyên đến năm thứ 8 sau Công nguyên; và nhà Đông Hán, khởi đầu là Lưu Tú (Hán Quang Vũ), tồn tại từ năm 25 đến năm 220. Cả Tây Hán và Đông Hán đều coi Âu Lạc là lãnh thổ của Trung Quốc.

  Khoảng năm 111 trước Công nguyên, nhà Tây Hán diệt nhà Triệu, chiếm toàn bộ Nam Việt (bao gồm cả Âu Lạc), đổi tên thành Giao Chỉ bộ chia thành chín quận và sáp nhập vào đất đai của nhà Hán. Riêng phần lãnh thổ nước Âu Lạc cũ được chia làm ba quận là Giao Chỉ (đại thể là vùng Bắc Bộ ngày nay), Cửu Chân (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh) và Nhật Nam (từ đèo Ngang trở vào phía Nam đến khoảng Quảng Nam – Đà Nẵng).

  Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, cầm quân đánh chiếm được các quận Giao Chỉ, Cửu Châu, Nhật Nam và Hợp Phố, thống nhất đất nước. Bà Trưng Trắc lên làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh.

   Năm 42, nhà Hán sai lão tướng Mã Viện đem quân thuỷ, bộ xâm lược Âu Lạc. Năm 43, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại. Đặt lại ách xâm lược, Mã Viện cho đóng cột đồng để phân chia giới hạn giữa đất Hán và đất Giao Chỉ. Việc này chứng tỏ nhà Hán phải nhìn nhận về một sự ngăn cách nào đó giữa lãnh thổ nước ta và Trung Quốc, đồng thời cũng là ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng khởi đầu trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước của dân tộc Việt Nam.

  Năm 137, một thủ lĩnh người Chàm ở huyện Tượng Lâm (quận Nhật Nam) vận động nhân dân trong huyện nổi lên đánh đuổi quan quân nhà Hán, thành lập nước Lâm Ấp. Như vậy, phần đất phía Nam lãnh thổ nước Âu Lạc thời Bắc thuộc đã xuất hiện một quốc gia mới là Lâm Ấp.
 
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #2 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 07:49:12 pm »

  Cuối thế kỷ II, đầu thế kỉ III, vùng đất Âu Lạc nằm dưới quyền thống trị của cha con, anh em nhà Sỹ Nhiếp (người Hná bản địa hoá). Lợi dụng tình hình rối loạn ở chính quốc, Sỹ Nhiếp nắm toàn bộ quyền hành ở Giao Chỉ. Năm 203, theo đề nghị của Sỹ Nhiếp (bấy giờ là Thái thú của Giao Chỉ), nhà Hán đổi Giao Chỉ thành Giao Châu. Đến năm 213, nhà Hán lại bỏ Giao Châu và nhập ba quận của Âu Lạc cũ vào Kinh Châu.

   Nhà Hán đổ, cục diện Tam quốc chiến tranh loạn lạc dẫn đến Âu Lạc bị nhà Ngô đô hộ. Năm 226, nhà Ngô tách các quận Hợp Phố (thuộc Quảng Châu, Trung Quốc), Giao Chỉ, Cửu Châu, Nhật Nam thành lập Giao Châu.

   Năm 263, Lã Hưng, một tướng của Đông Ngô nổi dậy diệt Thái thú Giao Châu, lấy đất Giao Châu sáp nhập vào Tây Tấn. Năm 264, Ngô Vương Tôn chia Giao Châu (gồm đất Âu Lạc cũ và một phần đất Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc) thành Quảng Châu (đất Lưỡng Quảng) và Giao Châu. Giao Châu từ đó thu hẹp trong phạm vi lãnh thổ nước Âu Lạc cũ, thành Long Biên (Từ Sơn, Bắc Ninh) là châu lị. Năm 271, sau khi diệt Lã Hưng, nhà Ngô đặt thêm quận Cửu Đức (được tách từ một bộ phận ở phía nam quận Cửu Châu tương ứng với huyện Hàm Hoan cũ). Quận Cửu Đức gồm sáu huyện thuộc hầu hết đất đai hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay.

   Từ năm 280, Tây Tấn diệt hẳn Đông Ngô, đất Giao Châu lại thuộc về Tây Tấn. Nhà Tây Tấn đặt quan Thứ sử cai trị Giao Châu và quan Thái thú ở bảy quận của Giao Châu là: Hợp Phố, Vũ Bình, Tân Xương, Giao Châu, Cửu Đức, Nhật Nam (lúc này Nhật Nam chỉ còn đất từ Quảng Bình đến Quảng Trị). Nhà Tấn mở rộng thêm địa giới quận Cửu Đức đến Hoành Sơn, đặt thêm huyện Nam Lăng và huyện Đô Giao tương ứng với các huyện Hương Sơn, Nghi Xuân, Hương Khê, Thạch Hà thuộc tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.

  Sau khi nhà Tấn suy sụp, ở Trung Quốc diễn ra cục diện Nam - Bắc triều. Nước Âu Lạc bị đặt dưới ách đô hộ của Nam triều gồm các triều Tống, Tề, Lương, Trần: Khoảng đầu thế kỉ V, Giao Châu bị nhà Tống thống trị, năm 470 nhà Tống tách Hợp Phố sáp nhập vào nội địa Trung Quốc, bản đồ Giao Châu còn lại trong phạm vi vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, vùng Nghệ An, HÀ Tĩnh vẫn gọi là Cửu Đức; năm 479, nhà Tề thay thế nhà Tống; năm 505, Giao Châu thuộc nhà Lương, năm 523 nhà Lương đặt Ái Châu ở Thanh Hoá, đổi quận Cửu Đức thành Đức Châu, đặt thêm hai huyện mới là Lợi Châu và Minh Châu, năm 535 đặt thêm một châu mới là Hoàng Châu (Quảng Ninh).

   Năm 542, Lý Bí lãnh đạo nhân dân Giao Châu tấn công quân Lương, chiếm được hầu hết các quận, huyện và thành Long Biên. Năm 543, Lý Bí đánh tan quân Lương ở Hợp Phố. Cũng năm 543, quân Lâm Ấp kéo sang cướp phá quân Nhật Nam, Lý Bí sai lão tướng Phạm Tu đưa quân tiến đánh vào Cửu Đức, quân Lâm Ấp bỏ chạy. Với hai thắng lợi này, cương vực lãnh thổ nước ta bấy giờ được bảo vệ suốt từ Hoành Sơn đến Hợp Phố. Năm 544, Lý Bí xưng Nam Việt Đế (Lý Nam Đế), đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay).

   Năm 545, nhà Lương đem quân đánh Vạn Xuân. Năm 548, trước khi mất ở động Khuất Lão (vùng Tây Vĩnh Phú), Lý Nam Đế trao quyền cho Triệu Quang Phục tiếp tục kháng chiến chống quân Lương, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, xưng là Triệu Việt Vương. Năm 550, Triệu Quang Phục khôi phục lại được nền độc lập, nhưng từ đó nội bộ Vạn Xuân bị chia rẽ. Lý Thiên Bảo (anh họ của Lý Bí) và Lý Phật Tử (người cùng họ) không quy phục Triệu Việt Vương. Năm 549, Lý Thiên Bảo xưng là Đào Lang Vương. Năm 555, Đào Lang Vương chết, toang bộ binh quyền được trao cho Lý Phật Tử. Năm 571, Lý Phật Tử bất ngờ diệt Triệu Việt Vương để giành ngôi vua, tự xưng là Hậu Lý Nam Đế, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú).

Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #3 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 07:54:17 pm »

  Năm 589 nhà Trần ở Trung Quốc bị tiêu diệt, nhà Tuỳ lên thay thế, dẹp yên Nam - Bắc triều. Lúc này, mặc dù chưa xâm lược được Vạn Xuân nhưng nhà Tuỳ đã tìm mọi cách để khẳng định quyền đô hộ đối với Vạn Xuân. Năm 598, nhà Tuỳ đổi Hưng Châu làm Phong Châu, đổi Hoàng Châu làm Ngọc Châu, Đức Châu làm Hoan Châu, Lợi Châu làm Trí Châu. Năm 602, nhà Tuỳ sai mười vạn quân xâm lược Vạn Xuân, Lý Phật Tử đầu hàng, từ đó Vạn Xuân lại bị nhà Tuỳ đô hộ. Khoảng từ năm 603 – 607,óau khi đánh bại nhà nước Vạn Xuân, ổn định được nền đô hộ, nhà Tuỳ bỏ các tên châu, gọi là quận như thuở trước. Giao Châu được chia là bảy quận: Giao Chỉ (các tỉnh Bắc Bộ); Cửu Chân (Thanh Hoá); Nhật Nam (Nghệ An); ba quận Tỵ Ảnh, Hải Âm và Lâm Ấp tương đương Bình - Trị Thiên ngày nay; Ninh Việt gồm Ngọc châu và Khâm châu. Nhà Tuỳ chuyển trị sở châu từ Long Biên về Tống Bình (Hà Nội).

   Năm 618, nhà Tuỳ đổ, nhà Đường thay nhà Tuỳ trị vì Trung Hoa. Thái thú Giao Châu của nhà Tuỳ thần phục nhà Đường, từ đó đến năm 904, Giao Châu bị nhà Đường đô hộ. Nhà Đường đổi các quận thành châu như cũ. Năm 622, đổi Giao Châu thành An Nam Tổng Quản Phủ. Năm 679 lại đổi thành An Nam Đô Hộ Phủ, chia thành 12 châu:

  - Có 3 châu là Giao Châu, Phong Châu, Trường Châu (Bắc Bộ ngày nay);

  - Có 4 châu là Thang Châu, Chi Châu, Vũ Nga Châu, Vũ An Châu (Quảng Đông, Quảng Tây);

  - Có 4 châu là Ái Châu, Phúc Lộc Châu, Diễn Châu, Hoan Châu (Bắc Trung Bộ);

  - Lục Châu (thuộc đất Trung Quốc và vùng Quảng Ninh).

   Năm 757, do tình hình rối loạn ở Trung Quốc, nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân đánh phá các châu huyện, nhà Đường đã đổi An Nam Đô Hộ Phủ thành Trấn Nam Đô Hộ Phủ, đến năm 768 lại đổi thành An Nam Đô Hộ Phủ như cũ. Năm 863, nhà Đường bãi bỏ phủ đô hộ. Đến năm 866, sau khi đánh bại được quân Nam Chiếu, chiếm lại thành Tống Bình, phủ đô hộ mới được đặt lại ở đây.

 
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #4 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 10:34:28 pm »

Bác cho em hỏi từ đâu ra cái chú thích này:

  - Văn Lang (Phú Thọ).

  - Châu Diên (Sơn Tây).

  - Phúc Lộc (Sơn Tây).

  - Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang).

  - Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng).

  - Vũ Ninh (Bắc Ninh).

  - Lục Hải (Lạng Sơn).

  - Ninh Hải (Quảng Ninh).

  - Dương Tuyền (Hải Dương).

  - Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình).

  - Cửu Chân (Thanh Hóa).

  - Hoài Hoan (Nghệ An).

  - Cửu Đức (Hà Tĩnh).

  - Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị).
Logged
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #5 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 08:47:06 am »

Hì, bài đầu tiên em đã nói rõ là em lấy từ sách mà? Chính vì cần thêm các tư liệu xác định nên em mới đưa nó vào CAT Thảo luận chứ không để ở Thư viện. Bác có tài liệu khác à, post lên đi! Grin
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #6 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 12:18:59 am »

Hì, bài đầu tiên em đã nói rõ là em lấy từ sách mà? Chính vì cần thêm các tư liệu xác định nên em mới đưa nó vào CAT Thảo luận chứ không để ở Thư viện. Bác có tài liệu khác à, post lên đi! Grin

Em có thì có đưa được không? Đề tài này em cãi nhau với Trương Thái Du mấy năm nay nên cũng có ít tư liệu ...
Logged
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #7 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:02:31 pm »

Hì, đã để ở đây thì ai có tư liệu cứ đưa, việc gì phải hỏi?  Grin

Tư liệu của lonesome có nguồn online không?
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #8 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:24:31 pm »

Hì, đã để ở đây thì ai có tư liệu cứ đưa, việc gì phải hỏi?  Grin

Tư liệu của lonesome có nguồn online không?

Có và không có bác ạ. Để em lục thêm mấy topic bên LSVH nhé. 1 số bài trong kỷ yếu hội thảo HV em cũng post lên đây rồi, bản in thì bác Hồ Giáo đang giữ.
Logged
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #9 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2009, 07:36:37 pm »

  3, Cương giới lãnh thổ Đại Việt trong kỷ nguyên độc lập:

   Năm 938, Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân Văn Lang – Âu Lạc đánh bại quân Nam Hán xâm lược, chấm dứt hơn 1000 năm đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc, đưa đất nước bước vào kỉ nguyên độc lập tự chủ, cương vực lãnh thổ nước Văn Lang – Âu Lạc về cơ bản được khôi phục. Các triều đại phong kiến Việt Nam kế tiếp nhau về sau từ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ, Trịnh - Nguyễn đã không ngừng bảo vệ cương giới và phát triển mở rộng lãnh thổ của đất nước.

  a, Thời kỳ tự chủ Khúc – Ngô – Đinh - Tiền Lê
   
   Năm 905, nhân lúc nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ khởi binh đánh chiếm thành Tống Bình, quan quân đô hộ nhà Đường rút chạy về nước. Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết Độ sứ. Nhà Đường buộc phải công nhận Khúc Thừa Dụ là người đứng đầu nước Việt. Họ Khúc cai quản đất nước tự chủ từ năm 905 đến năm 938, “đóng đô” ở Đại La (Tống Bình đổi thành), lãnh thổ thuộc quyền cai quản của chính quyền mới được mở rộng hơn trước, được chia thành năm cấp hành chính là lộ, phủ, châu, giáp và xã. Năm 907, Khúc Thừa Dụ chết, Khúc Hạo lên thay. Năm 917, Khúc Hạo chết, Khúc Thừa Mỹ lên thay.

   Cũng trong năm 905, nhà Đường đổ, nhà Hậu Lương thành lập ở Trung Quốc. Năm 917, Lưu Nham không quy phục nhà Hậu Lương, thành lập tiểu quốc Nam Hán trên vùng đất Quảng Châu. Năm 923, quân Nam Hán đánh chiếm thành Đại La, bắt được Khúc Thừa Mỹ, rồi tiến quân xuống phía nam cướp phá.

   Năm 931, Dương Đình Nghệ kéo quân từ Thanh Hoá ra bao vây công phá, chiếm lại được thành Đại La, quân Nam Hán thua phải rút chạy về nước. Dương Đình Nghệ được suy tôn làm Tiết Độ Sứ, tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc.

   Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ, giành quyền Tiết Độ Sứ. Ngô Quyền là con rể của Dương Đình Nghệ (được cha giao cai quản Ái châu) đã tập hợp lực lượng, tiến quân ra Giao Châu trừng trị Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn bị giết, nhưng trước đó vì quá khiếp sợ đã sai người sang Nam Hán cầu cứu. Nhân cơ hội này, vua Nam Hán đã sai quân xâm lược nước Việt. Mùa đông năm 938, đại binh Nam Hán tiến vào sông Bạch Đằng, bị Ngô Quyền đánh tan.

   Năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Ngô Quyền làm vua được 5 năm thì mất (939 - 944), truyền ngôi vua cho con trưởng là Ngô Xương Ngập. Người em vợ Ngô Quyền là Dương Tam Kha cướp ngôi và tự xưng là Dương Bình Vương. Từ đó diễn ra sự tranh chấp giữa các con của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn với Dương Tam Kha. Năm 950, Ngô Xương Văn (em Ngô Xương Ngập) lật đổ Dương Tam Kha, giành lại ngôi vua, xưng là Nam Tấn Vương, Ngô Xương Ngập xưng là Thiên Sách Vương (lúc này nước ta có hai vua), đóng đô ở Cổ Loa.
 
   Năm 954, Ngô Xương Ngập chết. Năm 955, Ngô Xương Văn chết. Đất nước rơi vào tình trạng chia cắt, hỗn loạn. Nổi lên mười hai vùng đất biệt lập do mười hai thủ lĩnh đứng đầu, đem quân đánh chiếm lẫn nhau, sử cũ gọi là “loạn mười hai sứ quân”:

  - Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (Nông Cống, Thanh Hoá);

  - Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai, Hà Tây);

  - Trần Lãm giữ Bố Hải Khẩu (thị xã Thái Bình);

  - Kiều Công Hán giữ Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú);

  - Nguyễn Khoan giữ Tam Đái (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc);

  - Ngô Nhật Khánh giữ Đường Lâm (Phúc Thọ, Hà Tây);

  - Lý Khuê giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh);

  - Nguyễn Thủ Tiệp giữ Tiên Sơn (Bắc Ninh);

  - Lữ Đường giữ Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên);

  - Nguyễn Siêu giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội);

  - Kiều Thuận giữ Hởi Hồ (Cẩm Khê, Phú Thọ);

  - Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (Hưng Yên).

   Loạn 12 sứ quân không chỉ dẫn đến đất nước bị chia cắt mà còn gây ra rất nhiều khó khăn cho cuộc sống của nhân dân. Vì vậy, cuộc đấu tranh để thống nhất đất nước lại trở thành một nhu cầu sống còn của dân tộc. Sứ mệnh lịch sử đó được trao cho Đinh Bộ Lĩnh.

   Nổi lên ở đất Hoa Lư từ đầu những năm 50 của thế kỉ X, lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh nhanh chóng mạnh lên nhờ sự hưởng ứng của nhân dân. Đến cuối năm 967, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên làm vua, hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đổi tên nước thành Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), chia nước thành mười “Đạo”. Đất đai lãnh thổ không có gì thay đổi lớn so với thời Ngô Vương. Từ năm 970, vua Đinh đã cử sứ thần sang giao hảo với nhà Tống. Năm 973, vua Tống phong Đinh Bộ Lĩnh là Giao Chỉ Quận Vương. Trong nhiều năm, quan hệ giữa Đại Cồ Việt và nhà Tống hoà hiếu tốt đẹp.

« Sửa lần cuối: 23 Tháng Bảy, 2009, 07:42:30 pm gửi bởi dongadoan » Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM