Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:59:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam  (Đọc 43604 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
donghai
Thành viên
*
Bài viết: 169


Vì nước quên thân - Vì dân quên mình


WWW
« vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2009, 06:09:38 pm »

Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
[/b]


Chữ Hán:

Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ được số hiện vật như đỉnh cổ có khắc chữ tượng hình (chữ Hán cổ). Điều này là một phần chứng minh được rằng chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghi chép và truyền thông trong người Việt kể từ những thế kỷ đầu Công nguyên trở đi. Đến thế ký VII - XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc. Do Việt Nam bị ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán. Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng chữ Hán có ảnh hưởng to lớn như thế nào đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa. Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc.

Chữ Nôm:

Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt. Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi.

Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật... xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán. Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ VI).

Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh. Theo sử sách đến nay còn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn "Thiền Tông Bản Hạnh". Đến thế kỷ XVIII - XIX chữ Nôm đã phát triển tới mức cao, át cả địa vị chữ Hán. Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm bằng chữ Nôm. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ.

Như vậy, có thể thấy chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về văn hóa.

Chữ Quốc Ngữ hiện nay:

Việc chế tác chữ Quốc Ngữ là một công việc tập thể của nhiều linh mục dòng tên người châu Âu, trong đó nổi bật lên vai trò của Francesco de Pina, Gaspar d'Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre De Rhodes. Trong công việc này có sự hợp tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu). Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ. Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức in ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt - Bồ - La (trong đó có phần về ngữ pháp tiếng Việt) và cuốn Phép giảng tám ngày. Xét về góc độ ngôn ngữ thì cuốn diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài (in chung trong từ điển) có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp. Còn cuốn Phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII.

Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt - Bồ - La đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến từ điển Việt - Bồ - La (1772), tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Behaine thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay.

                                                                              Đ.Hải
                                                                 sưu tầm từ Internet
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Bảy, 2009, 06:11:40 pm gửi bởi donghai » Logged

Đông Hải

             

                Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta.
                Tuổi ấu thơ  hùng anh cho chí tuổi già.
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #1 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 10:50:35 am »

Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam

Mời bạn vào link trên copy bài về cho nó nhanh.
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Bảy, 2009, 11:04:59 am gửi bởi lonesome » Logged
copbien51
Thành viên
*
Bài viết: 86


dragon thanh hoa


WWW
« Trả lời #2 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 02:18:55 pm »

Ngoài 3 loại chữ nói trên nước ta còn dùng loại chữ nào khác nữa không?
Logged

Từ điển nhân vật lịch sử Thanh Hoá
TiểuViệt
Thành viên

Bài viết: 2


« Trả lời #3 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 07:03:19 pm »

Nguồn gốc của tiếng Việt Nam
 
I.       SỰ XUẤT HIỆN CỦA CHỮ HÁN:

Những người đã học qua tiếng Việt đều biết, trong tiếng Việt có rất nhiều từ Hán. Rút cuộc tỉ lệ từ Hán trong tiếng Việt chiếm bao nhiêu? Rất nhiều nhà ngôn ngữ học trong ngoài Trung Quốc đều đang quan tâm đến vấn đề này, đồng thời đã làm ra những thống kê tương đối chính xác. Có người nhận thấy có hơn 75% từ Hán được mượn dùng trong tiếng Việt, có người thì cho rằng tỉ lệ từ Hán trong tiếng Việt chiếm đến 80%. Bất kể thế nào, việc số lượng lớn từ Hán được dùng trong tiếng Việt đã là một sự thực không thể tranh cãi. Hơn nữa, mỗi từ trong tiếng Việt đều có một từ âm Hán tương ứng. Đã sử dụng từ âm Hán nói ra hoặc giả viết ra thành một câu nói, thì bất cứ người Việt Nam có chút văn hóa nào cũng sẽ hiểu rõ ý nghĩa bên trong từ đó. Thế thì tiếng Việt và tiếng Hán suy cho cùng là loại quan hệ như thế nào? Đây là vấn đề mà mọi người quan tâm chú ý, cũng là vấn đề mà các nhà sử học và ngôn ngữ học trong ngoài Trung Quốc nghiên cứu lâu nay.

Vào cuối những năm đời nhà Tần, năm 207 trước công nguyên, Thái thú Quảng Châu là Triệu Đà thoát ly khỏi chính quyền nhà Tần, thành lập “nước Nam Việt”, cai quản ba quận: quận Quế Lâm, quận Tượng và quận Giao Chỉ, khu vực cai quản của ông ước tính là khu vực Lĩnh Nam cho đến châu tam giác của khu vực châu thổ sông Hồng Hà Nội ngày nay. Mà khu vực đất đai cai quản thuộc quận Giao Chỉ lại nằm ngày trên dải đất châu thổ sông Hồng. Sau khi “nước Nam Việt” thành lập, triều đình phái các quan lại đến từng nơi để nhậm chức, xây dựng chính quyền địa phương. Đồng thời, cũng đem văn hóa và phương thức sản xuất tiên tiến của trung nguyên đến quận Tượng và quận Giao Chỉ. Quận Giao Chỉ lúc đó (nay là Việt Nam) đang ở vào thời kỳ cuối của xã hội nguyên thủy và thời kỳ đầu của xã hội nô lệ, sử học Việt Nam gọi thời kỳ này là thời đại “Hùng Vương”. Lúc đó, thời đại “Hùng Vương” của khu vực châu thổ sông Hồng còn chưa hình thành văn tự--tức là ngôn ngữ văn tự ngày nay. Do đó, những quan lại được triều đình cử đến và người dân địa phương trên phương diện tiếp xúc ngôn ngữ vô cùng khó khăn, trong sách sử gọi hiện tượng này là “chín lần dịch mới thông”. Có thể thấy rằng, ngôn ngữ của hai bên lúc đó đích thị là có sự khác nhau rất lớn. Về sau, do bởi sự qua lại giữa hai bên ngày càng phồn thịnh, chế độ chính trị, kinh tế và văn hóa từ phương Bắc nảy sinh ảnh hưởng lớn lao đối với người địa phương, dần dần, khu vực châu thổ sông Hồng tiếp nhận văn hóa đến từ phương Bắc—tức văn hóa Hán. Văn hóa của hai bên (bao gồm ngôn ngữ) dần dần dung hợp thành một thể. Từ đó trở đi, văn tự mà các quan lại ở khu vực quận Giao Chỉ sử dụng là chữ Hán, còn ngôn ngữ nói dùng hằng ngày là: người Hán nói tiếng Hán, người Việt nói tiếng Việt, việc tiếp xúc qua lại giữa người Hán và người Việt thì chủ yếu dùng tiếng Hoa, sử dụng trong trường hợp chính quy là Hán ngữ. Ngay cả tên của người Việt cũng nhất loạt dùng chữ Hán, đồng thời xem việc nói tiếng Hoa và dùng chữ Hán là thời thượng. Trước thế kỷ thứ 19, nhiều cuốn sách sử của Việt Nam đều xem Triệu Đà như vị vua mở nước của Việt Nam.

Nghiên cứu của các nhà sử học và ngôn ngữ học chứng thực rằng: trước thế kỷ thứ 13, văn tự mà sách sử Việt Nam dùng toàn là chữ Hán, văn tự được dùng trong những di chỉ lịch sử cũng là chữ Hán. Chỉ có đến thế kỷ thứ 13, Việt Nam mới sáng tạo ra một thứ văn tự là chữ Nôm. Các sử gia Việt Nam lấy đó để đánh dấu  sự bắt đầu của ý nghĩa thời đại—Việt Nam cuối cùng đã có ngôn ngữ văn tự của dân tộc mình.

II.    SỰ RA ĐỜI CỦA CHỮ NÔM:

Thế kỷ thứ 13, chữ Nôm xuất hiện ở Việt Nam, mà sự xuất hiện của chữ Nôm là ra đời trong hoàn cảnh lịch sử như sau:

Theo sử liệu chép: tháng 8, niên hiệu Thiệu Bảo (năm 1282) đời vua Trần Nhân Tông, “thời có con cá sấu đến sông Lô. Vua ra lệnh cho Nguyễn Thuyên là Hình bộ thượng thư, làm văn rồi ném xuống sông, cá sấu tự bỏ đi. Qua việc này vua xem ông như Hàn Dũ, ban cho họ Hàn. Thuyên giỏi thơ phú quốc ngữ. Thơ phú nước ta, phần nhiều dùng quốc ngữ, thực là bắt đầu từ đây.” Sông Lô tức sông Hồng. Người ta lấy đoạn ghi chép này cho rằng Nguyễn Thuyên là người sáng lập ra chữ Nôm, chữ Nôm cũng bắt đầu xuất hiện từ năm đó. Sau này tại thôn Tháp Miêu, huyện An Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc tại Việt Nam, phát hiện có một bia báo ân niên hiệu Trị Bình Long Ứng năm thứ 5 (năm 1209), bia văn khắc bằng chữ Hán, trong đó có kèm thêm 24 chữ Nôm. Di vật này đã xác thực thời gian xuất hiện của chữ Nôm còn sớm hơn trong sách sử chép là 73 năm. Trước khi bia Báo Ân xuất hiện, chắc chắn còn phải có một quá trình thai nghén nữa. Nguyễn Thuyên chẳng qua chỉ là người đầu tiên dùng chữ Nôm để sáng tác thơ phú mà thôi, công lao là chỗ này vậy.

Thành phần cấu tạo của chữ Nôm có mấy loại như sau:

(1). Chữ hội ý: dùng hai chữ Hán tạo thành, biểu đạt một khái niệm chung, như: người trên: ý là người đứng đầu, người ở trên người khác; kẻ dưới: ý là kẻ nô bộc, kẻ ở dưới người khác.

(2). Chữ giả cung (giả tá): mượn dùng một chữ Hán đọc âm cổ hoặc âm Hán Việt, ý nghĩa tương đồng với chữ Hán, như chữ Tuế, Tốt, v..v…

(3). Chữ hình thanh: dùng hai chữ Hán cấu thành, một chữ biểu âm, một chữ biểu ý. Như chữ “năm”, chữ “nam” biểu âm, chữ “niên” biểu ý.

Chữ Nôm trong lịch sử Việt Nam còn được gọi là quốc ngữ hay chữ quốc ngữ. Có khi lại gọi là quốc văn. Sau khi chữ Nôm xuất hiện ở Việt Nam, được sử dụng cùng lúc với chữ Hán.

Vào đời nhà Trần ở Việt Nam (1225-1399), chiếu thư của triều đình đã bắt đầu dùng chữ Nôm, có Nguyễn Sĩ Cố--nhà thơ nổi tiếng dùng chữ Nôm sáng tác thơ phú. Thời nhà Hồ (1400-1406) cũng dùng chữ Nôm để hạ chiếu,  đồng thời cũng đem tác phẩm Vô dật và Kinh Thi của Trung Quốc dịch thành chữ Nôm để làm giáo trình dạy học. Thời nhà Lê (1418-1526) vẫn còn dùng chữ Nôm, nhất là trong niên hiệu Hồng Đức (1470-1497), thơ phú được sáng tác bằng chữ Nôm rất nhiều. Trong 100 quyển Thiên Nam dư hà tập đã có thơ phú chữ Nôm. Đến đời nhà Mạc (1527-1599) và thời kỳ tiền Hậu Lê (1522-1789), việc sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm vẫn còn rất thịnh hành. Nguyễn Du (1765-1820) dùng chữ Nôm sáng tác Kim Vân Kiều truyện, là tác phẩm hay mà bất cứ người Việt Nam nào cũng biết đến và yêu thích, khen ngợi. Thế nhưng chữ Nôm không phải là văn tự được dùng trong khoa cử và khảo thí, văn tự được dùng trong việc này vẫn là chữ Hán. Các tác phẩm chữ Nôm đại đa số đều mang nội dung lo cho nước cho dân, có khuynh hướng tư tưởng xúc phạm đến long nhan của vua. Vào năm 1662, vua Huyền Tông triều Hậu Lê hạ chiếu cấm sử dụng chữ Nôm, đồng thời đốt phá rất nhiều sách vở chữ Nôm, tạo nên sự tổn thất nặng nề cho văn hóa Việt Nam. Đến triều nhà Tây Sơn (1778-1802) và trước triều nhà Nguyễn (1802-1945) khôi phục lại việc dùng chữ Nôm. Trước mắt, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia Việt Nam có Sở nghiên cứu chữ Nôm, còn lưu giữ 1186 bộ tác phẩm chữ Nôm.

Khuyết điểm lớn nhất của chữ Nôm là: nét chữ nhiều hơn cả chữ Hán, số chữ có hơn 20 nét rất nhiều, khó viết, lại tốn nhiều thời gian. Kế đến là phải học được Hán văn trước mới có thể nắm được chữ Nôm, mà người biết Hán văn rút cuộc lại là thiểu số, điều này hạn chế sự phổ biến và mở rộng của chữ Nôm, đó là lý do thứ văn tự phiên âm Latin hóa đơn giản dễ học, xuất hiện từ cuối thế kỷ 19, được thay thế trong Việt văn.

III. SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG VĂN TỰ PHIÊN ÂM LATIN HÓA:

Bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 16, những giáo sĩ truyền giáo của châu Âu đến Viễn Đông truyền giáo, từ đây về sau số giáo sĩ ngày càng đông. Trong số những giáo sĩ này đa phần là người Bồ Đào Nha, Ý Đại Lợi và người Pháp. Muốn truyền giáo đương nhiên phải dùng ngôn ngữ của bản địa, đây chính là nhu cầu để họ học tiếng Việt trước.

Những giáo sĩ truyền giáo đến từ nhiều nước trên thế giới, họ học tiếng Việt phải nhớ âm đọc, muốn phát tán những tài liệu sách vở của Thiên Chúa giáo, thế là họ dùng ngữ âm của chính nước họ để ghi nhớ âm đọc, thảo ra những tài liệu về tôn giáo, rất không thống nhất. Sau đó, nhà truyền giáo người Pháp Alexandre de Rhodes đem tất cả những cách ghi âm khác nhau thống nhất lại, năm 1651 xuất bản cuốn Tự điển Việt-Bồ Đào Nha-Latin và một cuốn sách truyền giáo ở La Mã, Ý Đại Lợi. Hai cuốn sách này được xem như sách tiếng Việt sớm nhất (bộ tự điển này hiện còn được bảo tồn). Từ đó về sau, giáo sĩ truyền giáo người Bồ Đào Nha Mã Tang Phi Lôi La viết một bộ Tự điển Bồ Đào Nha-chữ tiếng Việt, đáng tiếc là sách này nay đã thất truyền. Nhà truyền giáo người Ý  Francesco de Pina vào năm 1783 viết cuốn Tự điển Latin-chữ tiếng Việt là bản viết tay, hiện còn được lưu giữ trong thư viện của Bộ truyền giáo La Mã. Ngoài ra, trong viện bảo tàng của Hội truyền giáo nước ngoài của Paris còn lưu giữ một số từ điển, như: Từ điển Việt-Tây Ban Nha, Từ điển Việt-Latin. Xét từ tình hình kể trên, từ thế kỷ thứ 17, 18 đến đầu thế kỷ thứ 19, phương pháp phiên âm và viết tiếng Việt trong cuốn Từ điển Việt ngữ-Bồ Đào Nha-Latin của Alexandre de Rhodes vẫn là cơ sở chính để các giáo sĩ truyền giáo của Thiên Chúa giáo học tập, nghiên cứu và sử dụng tiếng Việt. Loại văn tự trong đó rất gần gũi với Việt văn hiện nay. Từ đó xét thấy, Việt văn dùng chữ phiên âm Latin là do những giáo sĩ truyền giáo người Bồ Đào Nha, Pháp và Ý Đại Lợi cùng sáng chế ra, còn Alexandre de Rhodes là người tập đại thành, làm cơ sở xác định cho kiểu văn tự này.

Năm 1820-1833, mục sư Taberd người Pháp (Jean Louis Taberd (1794-1840)) đã viết bộ Tự điển Việt ngữ-Latin, Latin-Việt ngữ, đồng thời có cả chữ Nôm, xuất bản tại Scotland năm 1838. Chữ quốc ngữ và Việt văn hiện nay về cơ bản giống nhau, từ đây về sau không có thay đổi nào đáng kể. Từ giữa thế kỷ thứ 19 về sau, sách vở truyền giáo của Thiên Chúa giáo đều thống nhất cách viết của sách Taberd.

Thế nhưng, sự mở rộng văn tự Latin Việt Nam lại trải qua một quá trình tương đối gian nan và lâu dài. Những năm 60 của thế kỷ 19, chữ quốc ngữ Việt Nam (tức Latin, giống bên dưới) chỉ còn hạn chế dùng trong nội bộ của Thiên Chúa giáo và sách vở in ấn truyền giáo. Sau khi người Pháp xâm lược Việt Nam, họ thấy rằng chữ quốc ngữ chính là một công cụ vô cùng lợi hại của thực dân thống trị, năm 1878, tổng đốc Việt Nam quyết định sử dụng chữ quốc ngữ. Ông cho rằng “Chữ quốc ngữ dễ học hơn chữ Hán nhiều. Nó khiến cho quan hệ giữa quan lại thống trị và người dân bản địa càng thêm trực tiếp”. Thế là, thực dân Pháp tích cực cổ vũ người Việt Nam học chữ quốc ngữ. Năm 1865, tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo ra đời. Đây là tờ báo của chính phủ Pháp tại Nam Kỳ, năm 1897 thì ngưng phát hành. Tổng đốc Việt Nam ký kết một quyết định, chuẩn bị cùng điều kiện sáng tạo, xem chữ quốc ngữ là văn tự chính thức của Việt Nam. Ông đặc biệt động viện các quan lại ở phủ, huyện, hương, lý học chữ quốc ngữ, nếu người nào không biết chữ quốc ngữ thì không được thăng cấp, rồi ra lệnh cho sử dụng chữ quốc ngữ trong rất nhiều loại công văn giấy tờ. Chữ quốc ngữ được sử dụng tại Nam Kỳ trước tiên. Sau khi thực dân Pháp chiếm lĩnh Trung Kỳ và Bắc Kỳ, họ cũng dùng cách tương tự, ban hành chính sách mở rộng dùng chữ quốc ngữ. Có điều khác biệt là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, chữ quốc ngữ có thể được dùng song song với chữ Hán. Năm 1910, Tổng đốc Bắc Kỳ nói: “Sự đẩy mạnh chữ quốc ngữ càng làm cho việc mở rộng quan hệ giữa chúng tôi và dân bản địa dễ dàng hơn.” Cùng năm đó, ông lại cho ra một thông báo: “Trong tất cả các công văn, giấy tờ hành chính, thẻ chứng minh nhân dân, chữ quốc ngữ và chữ Hán được sử dụng song song. Không thể phế bỏ chữ Hán để chỉ dùng chữ quốc ngữ thay thế. Bởi vì chữ Hán trong bất kỳ thời kỳ nào cũng đều cần thiết, dùng nó để giữ gìn tiếng Việt trong gia đình xã hội, tổ chức hành chính, nhất là phong tục tập quán và các loại tư tưởng tín ngưỡng, duy trì cuộc sống tinh thần và đạo đức của dân chúng.”

Sau khi chữ quốc ngữ được đẩy mạnh, thực dân Pháp lại lo lắng nó sẽ trở thành công cụ để truyền bá tư tưởng yêu nước và tư tưởng cách mạng, do vậy, lại tìm nhiều cách để hạn chế. Tuy nhiên do chữ quốc ngữ dễ học, chỉ cần trong vòng khoảng 10 ngày là có thể học được, thế nhưng, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, có hơn 90% người Việt Nam là mù chữ.

Sau Cách mạng tháng Tám, nhất là sau giải phóng miền Bắc Việt Nam năm 1954, chữ quốc ngữ đạt được sự đẩy mạnh mà trước đây chưa từng có. Vì chữ quốc ngữ dễ học, chỉ cần biết nói sẽ có thể viết được, cho nên người xóa mù chữ của Việt Nam chỉ cần 10 ngày hay nửa tháng thì có thể học xong.

Văn tự hiện hành của Việt Nam là văn tự phiên âm Latin, tổng cộng có 29 chữ cái, có 149 âm tố, có 6 thanh điệu.


Logged
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 07:15:43 pm »

Nguồn copy, bạn TiểuViệt! Angry
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #5 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 09:16:30 pm »

Nguồn copy, bạn TiểuViệt! Angry

Nguồn gốc của tiếng Việt Nam
Thời gian phát biểu: 20/3/2008
Tác giả:Tống Phúc Toàn
Chủ nhiệm Trung tâm huấn luyện bồi dưỡng phiên dịch ngoại ngữ hiệp hội Quảng Tây, chuyên gia Việt ngữ
Vũ Xuân Bạch Dương dịch
Logged
VanKiep82
Thành viên
*
Bài viết: 63


« Trả lời #6 vào lúc: 28 Tháng Mười Hai, 2009, 10:09:20 am »

Nguồn copy, bạn TiểuViệt! Angry

Nguồn gốc của tiếng Việt Nam
Thời gian phát biểu: 20/3/2008
Tác giả:Tống Phúc Toàn
Chủ nhiệm Trung tâm huấn luyện bồi dưỡng phiên dịch ngoại ngữ hiệp hội Quảng Tây, chuyên gia Việt ngữ
Vũ Xuân Bạch Dương dịch

    Thảo nào sặc mùi chủ nghĩa Đại Hán. Hô hố..   "..đem văn hóa và phương thức sản xuất tiên tiến của trung nguyên đến quận Tượng và quận Giao Chỉ. Quận Giao Chỉ lúc đó (nay là Việt Nam)" cái câu này chắc là ý muốn nhắc rằng người Hán dạy người Việt trồng lúa nước mới có cái cho vào mồm, trồng dâu nuôi tằm dệt vải mới có cái để mặc  Huh. Hô hố, nghe mắc.... quá ông Tống Phúc Toàn ơi !
Logged
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #7 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2010, 10:35:36 am »

Việt Nam là một nước có nhiều dân tộc (hiểu dân tộc theo nghĩa là cộng đồng sắc tộc chung ngôn ngữ, tập tục...) mà trong đó các dân tộc có tiếng nói riêng và có dân tộc có chữ viết. Ví dụ chữ HMông, chữ Thái, chữ Khơ Me...Ngay chữ Nôm cũng có Nôm Dao, Nôm Tày. Do vậy nếu chủ đề là chữ viết Việt Nam thì phải bao hàm cả các loại chữ này. Như vậy có quá rộng với một diễn đàn như thế này không? Nếu vừa thì phải chú ý tới đặc điểm này.

Theo tôi nguồn gốc và quá trình xuất hiện chữ Nôm không đơn giản như các bạn đã viết. Còn nói tiếng Việt có nhiều từ nguồn gốc Hán (thực ra là Hán Việt) là đúng và sau này nó còn nhiều từ có nguồn gốc từ tiếng Bồ, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga...Điều đó là lẽ tự nhiên. Có điều cách trình bày sao cho khoa học, hợp lý và đừng quá thiên về "chính trị"!
Logged

TiểuViệt
Thành viên

Bài viết: 2


« Trả lời #8 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2010, 10:25:00 am »


---------------------------------------
 Xóa bài sau 12h, lý do: vi phạm Nội quy diễn đàn viết bài thảo luận bằng tiếng nước ngoài. Nhắc nhở thành viên vi phạm lần thứ nhất!
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Giêng, 2010, 09:32:55 pm gửi bởi dongadoan » Logged
Bodoibucket
Thành viên
*
Bài viết: 913


« Trả lời #9 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2010, 11:21:07 am »

Theo thời gian và sự phát triển của xã hội Việt Nam, càng ngày ảnh hưởng của chữ Hán sẽ càng lu mờ, đó là điều chắc chắn!

Việc này có cái hay và dở đi đôi với nhau.
1 - Càng ngày lớp trẻ càng biết ít chữ Hán, câu chữ nho nhiếc của các cụ xưa. Họ (lớp trẻ) sẽ phải thông qua các chuyên gia văn tự, văn hóa, lịch sử ... mới hiểu được cái chữ râu ria ngay cổng làng, cổng chùa mình là nói cái gì! Smiley

2 - Tuy nhiên ảnh hưởng của văn hóa Hán học (Nho học) đến đời sống người Việt sẽ theo thời gian mà giảm dần đi, đồng thời với trình độ xã hội tiến lên thì lại ngày càng có nhiều các chuyên gia làm cái công việc tìm hiểu văn tự, lịch sử, nhân chủng ... với các phương pháp mới, khoa học mà bớt dựa vào sử Tàu (sử cũ của TQ) để suy luận.
Logged
Trang: 1 2 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM