Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:53:22 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồ Quý Ly  (Đọc 65438 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #120 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 04:55:46 am »

- Bẩm thầy, sao lại phải thế?

Sư thở dài, lắc đầu, không trả lời. Cậu bé hay trầm tư và thường hỏi những câu hỏi nằm ngoài kinh sách. Càng lớn, cậu càng hỏi những câu hỏi mà sư khó trả lời. Gần đến tuổi thanh niên, cậu lại hỏi những câu hỏi thuộc về thời cuộc. Sư Vô Trụ bảo:

- Học đạo là để tự mình giải thoát, để tránh xa đường tục luỵ níu chân ta lại.
Sinh nói:

- Đức đệ nhất tổ Trúc Lâm (tức Trần Nhân Tôn) làm vua, đánh giặc rồi mới đi tu. Ai bảo người không mắc tục luỵ?

- Người là Bồ Tát. Còn chúng ta chỉ là kẻ thường nhân.

Sinh không cho là phải. Một bận, Sinh xin phép thầy lên đường để tìm hiểu mọi lẽ huyền ở đời. Sư Vô Trụ lắc đầu:

- Nghiệt chướng? Ta lại mắc lầm như xưa rồi.

Sinh không hiểu, gặng hỏi. Sư lặng lẽ nói:

- Con đã đọc sách của Trúc Lâm đại sĩ (tức Trần Nhân Tôn). Con hãy đi đi! Ta chỉ nhắc con nên nhớ hai câu của người:

Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên
Cơ tắc xan, hề, khốn tác miên
...
(ở cõi phàm trần, vui đạo hãy tuỳ duyên
Đói thì ăn, mệt ngủ yên
...).

Phạm Sinh lạy thầy, rồi giã từ mẹ, khăn gói lên đường. Sinh lang thang khắp đó đây, vừa để biết sự kỳ thú của núi sông, vừa có chí tìm thầy học đạo. Anh đã đến nhiều ngôi chùa, nhưng chỉ thấy ở đấy rặt những người trốn tránh cuộc đời, hoặc những ông thày chùa thân thì nương nhờ bóng Phật, hồn thì tham vọng bon chen.
Một bận, đi trong rừng, bụng đói, lại lên cơn sốt. anh hôn mê trong một căn nhà mồ. Một ông lão bán than đem anh về nhà thuốc thang mấy hôm mới tỉnh. Ông già quắc thước, râu tóc đã bạc phơ hỏi:

- Có phải anh là kẻ thư sinh ngán việc đời đi tìm Phật trong núi. Há chẳng biết câu: núi không có Phật?

- Thưa cụ, con chưa đủ cao vọng để đi tìm đức Phật...

Ông già cười:

- Vậy, chắc muốn di tìm cái lý ở đời? - Nhìn chàng thư sinh im lạng, ông ôn tồn - Nhưng xem ra anh ốm yếu quá. Chưa tìm được nó thì mình đã thân tàn, lực kiệt. Thôi, cứ tạm ở đây. Ta sẽ dậy cho anh phép dưỡng sinh. Con người ta sống ở đời, trước tiên thể xác phải cương kiện. Thân có vững vàng thì hồn mới có nơi mà nương tựa.

Phạm Sinh biết đã gặp được cao nhân, liền cúi xuống lạy tạ. Ông già dạy anh phép hít thở, sau đó dạy anh luyện võ. Được ít lâu sau, Phạm Sinh mạnh khỏe trở lại.

Nửa năm sau, ông lão càng thấy mến chàng trẻ tuổi. Thầy trò đã quấn quýt chẳng khác tình cha con. Lại được biết Phạm Sinh là con một nô tỳ bỏ trốn, và được sư Vô Trụ dạy dỗ cẩn thận, lúc đó ông già mới bảo:

- Ta tên là Sư Tề, xưa kia mở trường dạy võ ở Thăng Long. Hồi ấy, học trò ta đông lắm, trong số đó có cả Quý Ly. Ta có người con trai là Nguyễn Đa Phương. Quý Ly vụt lên, giữ ngôi cao trong triều đình, nhận Đa Phương làm nghĩa đệ. Ta bảo thằng Phương: “Triều đình là chốn hang hùm ổ rắn; chớ đắm đuối vào đó, nguy hiểm lắm”. Con ta không nghe, nó làm tướng dưới quyền Quý Ly. Trận đánh nhau với Chế Bồng Nga ở Lương Giang Thanh Hoá, Quý Ly thua chạy. Con ta là kẻ hữu dũng vô mưu, về triều nó cứ lu loa Quý Ly là kẻ bất tài quân sự. Vì lẽ đó Quý Ly đã giết Đa Phương. Ta đã già rồi, nhưng ta hiểu, nếu còn ở Thăng Long, ta cũng sẽ bị giết nốt. Ta bỏ trốn lên đây làm nghề đốt than...

Phạm Sinh nghe xong liền quỳ lạy xin cụ Sư Tề thu nhận làm học trò. Ông già đỡ dậy:

- Năm nay ta đã ngoại tám mươi, anh là người học trò cuối cùng. Thời gian còn lại của ta ngắn lắm. Ta không còn đủ thời gian để dậy nghề đao kiếm cho anh... Vả lại, anh tư chất thông minh nhưng ốm yếu, không hợp với nghề luyện võ. Hơn nữa anh còn muốn tìm hiểu cái lý ở đời, ta sẽ truyền cho anh binh thư, những mưu lược chiến trận. Binh thư học đến chỗ uyên áo, cũng sẽ vỡ ra cái lý ở đời. Bởi vì gốc của binh thư là đạo, là thiên lý...

Từ đó ông già giảng cho anh binh pháp Tôn Tủ, binh thư Trần Hưng Đạo, và nguyên lý cương nhu của Hoàng Thạch Công... Ông dạy cho học trò một cách hối hả, hình như ông đã cảm nhận được cái gì đó khác thường trong người. Một năm sau ông ngã bệnh. Có những cơn đau dữ dội đến tắc thở trong lồng ngực. Ông gọi người học trò nhỏ bé nhất của mình đến dặn dò.

- Sau khi thầy chết, không phải việc báo thù là điều chính yếu. Đất nước mới là chính yếu. Có thể kẻ thù của ta sẽ làm điên đảo đất nước... Cũng có thể kẻ thù của ta sẽ làm phồn vinh đất nước... Ta chẳng biết dạy con thế nào cho phải. Lúc đó con phải tự mình quyết định. Ở Thăng Long hiện nay còn có nhiều sư huynh của con... Hãy tìm họ...

Cụ Sư Tề trút hơi thở cuối cùng. Sau khi chôn cất thầy, Phạm Sinh quay trở về ngôi chùa núi. Sư Vô Trụ đã đi du phương. Còn mẹ anh, bà nô tỳ đang ốm và ngày đêm mỏi mắt chờ Phạm Sinh về. Người mẹ bảo:

- Đã hơn hai chục năm, mẹ dấu không cho con biết cha con là ai. Nhưng mẹ thấy mình yếu lắm rồi, mẹ không có thể dấu điều bí mật ấy ở trong lòng nữa.

- Cha con là ai?
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #121 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 04:56:46 am »

Ông ấy là Thiên Nhiên Tăng, cũng là học trò của sư cụ Vô Trụ đã cưu mang mẹ con con ta.

Phạm Sinh buồn rầu:

- Không hiểu tại sao sư cụ cũng dấu con điều ấy?

- Cụ bảo con rất giống cha. Cái mầm phản loạn cũng có trong con... Sư cụ thương con lắm. Cụ không muốn con đi theo vết cũ của đời trước. Nhưng gần đây, trước khi đi ẩn tu trong rừng sâu, cụ bảo mẹ: “Ta nghĩ kỹ rồi. Không thể bắt nó theo ý người lớn. Nghiệp thế nào, phải chịu thế ấy. Chịu cho hết nghiệp của mình mới là phải đạo. Tránh cũng chẳng được”. Cụ cho phép mẹ nói với con về cha con.

- Vậy cha con bây giờ ở đâu?

- Sau khi rời chùa. Cha đi tìm mẹ con ta mãi nhưng không gặp. Mẹ cũng chẳng biết tin gì... Mãi gần đây, người ở kinh đô về nói rằng cha con đã dấy binh chống lại triều đình. Người đã chiếm được hầu hết địa phận Quốc Oai.

Nói rồi, bà lục cái hòm gỗ lấy ra chiếc khăn vuông bốn góc có bốn cái thao ngũ sắc.

- Con hãy cầm vật này đến Quốc Oai đưa cho ông, xem ông còn nhận ra không? Hãy nhớ con chưa nên nói ngay mình là ai đối với ông. Con xem xét rồi trở về cho mẹ biết. Nhớ cho kỹ, con chỉ được gặp cha, nhưng không được nhận cha.

Người mẹ đã nghĩ thế nào lại dặn con như vậy. Bà sợ ông thay lòng đổi dạ rồi chăng? Hay bà lo cho số phận của người con nếu gắn với người cha? Hay trước khi đi ẩn tu, sư Vô Trụ đã nhìn thấy một điều gì đó trong số phận của Phạm Sinh và sư muốn tránh cho chàng...

Hôm con trai ra đi, bà thức suốt đêm không ngủ. Bà dậy sớm nấu cơm nếp gói cho con ăn đường. Cuối cùng bà nói với con một câu, có lẽ là gan ruột của bà.

- Đừng cho cha con biết là mẹ còn sống. Mẹ không muốn làm vướng chân ông ấy. Khi gặp, hỏi ông xem còn nhớ đến chiếc khăn vuông bốn quả đào phủ lồng con sáo khi xưa không. Và nhớ nói với ông câu này: “Con sáo đã sổ lồng, nhưng sáo phải khôn ngoan. Đừng để sa vào lồng lần nữa”.

Như ta đã biết, Phạm Sinh đã gặp Phạm Sư Ôn ở lộ Quốc Oai khi đội quân dấy loạn của ông thầy chùa đang đùng đùng nổi dậy, đi đến đâu quân triều đình tan rã đến đấy. Hai cha con gặp nhau rất tương đắc. Phạm Sinh hiểu ngay ra mình có một người cha anh hùng. Cảm giác cô đơn côi cút anh mang trong mình từ lúc bé đột nhiên tan biến, để nhường chỗ cho một cảm giác hào hùng, bạt núi lấp sông mà anh chưa hề biết tới. Nhưng Phạm Sinh cũng rất tỉnh táo, anh hiểu Phạm Sư Ôn có thừa dũng khí nhưng lại thiếu sự trật tự sự kỷ luật khắt khe, điều kiện rất cần cho việc lớn. Hơn nữa, cha anh còn nóng vội mà chí lớn thì cần sự bình tĩnh kiên nhẫn.

Ở với cha được nửa tháng, Phạm Sinh bỗng thấy lòng nóng như lửa đốt. Anh ra đi lúc mẹ đang ốm... Vậy nên, lúc này cha anh sắp tiến vào Thăng Long, một trận đánh hào hùng và chắc chắn, anh rất muốn tham dự, nhưng cũng phải đành lòng dứt áo, nhanh chóng trở về với mẹ. Nhất là đêm qua anh lại mơ thấy bà đầm đìa những máu đang vẫy gọi anh. Lúc chia tay, Sư Ôn ôm lấy anh và bảo:

- Về quê xong việc. cậu lên đây ngay với ta. Ta sẽ nghe lời cậu, đánh xong Thăng Long, ta lại rút đi ngay, lúc đó, thanh thế quân ta sẽ như sấm dậy. Cậu hiểu đấy, ta rất mến cậu và rất cần cậu...

Lúc đó... Phạm Sinh về đến ngôi chùa núi lúc bà mẹ đang ốm rất nặng. Bà nằm trên giường thều thào hỏi con:

- Ông ấy có nhận ra chiếc khăn bốn quả đào của ta không?

- Dạ, nhận ra ngay. Cầm lấy chiếc khăn, cha con nhỏ nước mắt.

- Ông ấy khóc ư? Tức là... Ông ấy còn nhớ đến mẹ.

- Vâng. Cha con còn nhớ đến mẹ. Ông không nói nhưng con biết, tình của cha con rất sâu nặng. Người đã luôn để chiếc khăn vuông của mẹ trong người...

Người mẹ mỉm cười, nước mắt bà trào ra. Phạm Sinh nắm lấy tay mẹ:

- Cha con đã đánh chiếm Thăng Long. Người thật oai hùng.

Người mẹ bóp chặt tay con, lắc đầu:

- Sư cụ đã đoán trước được hết cả... Người biết cha con sẽ rất kiêu hùng... nhưng rồi sẽ thất bại... Sư cụ còn bảo: sắp đến rồi đấy. Chính vì thế cụ dặn mẹ: con chỉ được gặp mặt cha rồi phải về đây ngay...

Người mẹ tắt thở, nụ cười thoả mãn còn đọng trên môi. Cùng lúc chôn cất mẹ, Phạm Sinh lại được tin, Phạm Sư Ôn đã bị triều đình bắt giải về Thăng Long.
Phạm Sinh tức tốc lên kinh đô. Anh chỉ còn được nhìn thấy mặt cha lần cuối cùng ở tháp Báo Thiên, lúc triều đình đem ông ra xử trảm.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #122 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 04:57:44 am »

Phần XI - Chương 2


Phạm Sinh ở lại Thăng Long tìm cách trả hận. Nơi ở của anh là ngôi chùa đổ làng Già. Còn việc kiếm sống hàng ngày, anh làm nghề bán chữ tại tháp Báo Thiên.
Chùa Báo Thiên là danh thắng kinh đô. Ngôi chùa nằm giữa một vườn cây rộng chừng chục mẫu Những cây đại thụ, lá xum xuê có chỗ che kín không đế lọt ánh sáng mặt trời. Lại có những vạt đất trồng hoa thơm cỏ lạ như chào đón làm say lòng khách thập phương.

Đặc biệt nhất là ngọn tháp cổ Đại thắng tư thiên mà nhân dân vẫn gọi tháp Báo Thiên, xây ngay phía trước chùa. Ngôi tháp cao ngút trời, mềm tự hào của dân Thăng Long, được đánh giá là một trong An Nam tứ khí, một trong bốn vật quý của Đại Việt. Tháp xây bằng đá, xen lẫn gạch nung có in hoa, trên một gò đất. Đứng ở tầng cao cuối cùng của tháp, có thể nhìn quang cảnh khắp Thăng Long. Tháp mười hai tầng; tầng dưới cùng to rộng bằng một ngôi chùa quê. Tháp hình tứ giác, bốn mặt có bốn cửa ra vào. Cửa chính đông nhìn ra hồ Lục Thuỷ và xa xa nhìn thấy cả bãi dâu tít tắp trải đến tận bờ sông Cái. Hai cửa bắc, nam là hai cửa phụ, cửa tây là cửa giả. Chung quanh khu tháp có tường bao bằng đá chạm trổ tinh xảo, dưới chân tường đặt những chậu hoa quý. Điều đập mạnh vào mắt khách thập phương là tám pho tượng đá bát bộ kim cương kích thước cao gấp rưỡi người thường. Mỗi cửa có hai pho đứng gác. Cửa chính đông, một pho tay trái cầm ngược thanh kiếm giơ lên, tay phải như đang đi xuống; một pho tay phải cầm thanh long đao, tay trái để ngang lồng ngực. Những pho tượng dáng vẻ nghiêm khắc đến độ hung dữ như nhắc nhở con người phải nghiêm trang giữ cái tâm của mình khi vào cửa Phật.

Qua cửa chính vào trong tháp, ta gặp ngay tượng A Di Đà tạc bằng đá trắng ngồi trên toà sen hiền từ nhìn xuống. Trước tượng là chiếc giường đá, nơi khách thập phương vẫn đặt tay lên để được nhận linh khí của đức Phật, để được nhận sự hộ niệm, an ủi của Người.

Phạm Sinh hàng ngày đi từ ngôi chùa đổ đến tháp Báo Thiên hành nghề. Anh treo mấy tờ giấy đỏ lên cây đa cổ thụ mọc ở phía hữu khu tháp, trải chiếc chiếu, ngồi xếp bằng tròn ngay ngắn, bên cạnh người chiếc bút chiếc nghiên, chờ người viết mướn. Việc anh làm là viết sớ, viết văn tự bán nhà, văn tự bán người, cả viết câu đối, hoành phi... Ngòi bút lông của anh đã vẽ nên bao cảnh thương tâm, bao cảnh lên voi xuống chó của người dân Thăng Long: cô Trịnh Thị ả bán mình làm lẽ một ông già để lấy mấy quan tiền chữa bệnh cho cha. Ông Lê Văn Mỗ bán mẫu ruộng để lo lót cho con đi lính thú tận miền Hoá Châu giáp Chiêm Thành trở về; ông huyện quan Trần được thăng hàm tứ phẩm và được chuyển vào làm việc ở Đô hộ phủ nay làm lễ ăn khao, những người có máu mặt ở kinh đô đi mua chữ về khắc câu đối mừng...

Ngoài viết tại chỗ, anh còn nhận việc mang sách về nhà chép thuê. Thời đó, sách in bản ít lắm. Những cuốn sách hiếm, muốn có cần phải thuê chép... Như vậy, nhờ nghề viết mướn, Phạm Sinh đọc được rất nhiều sách. Lại biết được nhiều việc, quen được nhiều người. Bọn lính tráng, tôi tớ nhà quan, hễ có việc đến chữ lại phải ra gốc đa Báo Thiên nhờ cậy đến anh. Bọn chúng hay bép xép nên anh biết khá nhiều chuyện chung quanh những người tai to mặt lớn.

Phạm Sinh viết chữ rất đẹp. Sư cụ Vô Trụ là người cẩn thận. Cụ bảo: chữ thế nào, người thế ấy, rèn người việc đầu tiên phải rèn chữ. Vì vậy, hồi Phạm Sinh mới học viết, cụ rèn cho anh từng nét; có khi suốt một tháng ròng cụ bắt anh chỉ viết có ba chữ. Viết nhỏ, viết to, viết chân phương, viết bay bướm... Viết đi, viết lại, viết mãi bao giờ chữ nhập vào ngòi bút, vào khối óc, thậm chí nhắm mắt lại viết chữ vân có hồn... lúc đó mới tạm được. Nhờ viết nhiều đến như vậy, dần dần Phạm hiểu ra cái đậm cái nhạt, cái nhặt cái khoan. cái xa cái gần, cái chơi vơi bay bướm của nét chữ... Và thế là những nét hoạ đầu tiên của anh ra đời. Lúc rỗi rãi, anh vẽ những cánh chim, những con trâu, rồi khói núi ban chiều, cuối cùng là những bức hoạ Phật những bức tranh thiền... Sư Vô Trụ bảo: “Con hãy tập vẽ mây bay, nước chảy, bao giờ thấy như bay thật, chẩy thật mới vẽ sang thứ khác”. Một năm sau, sư cụ bảo: “Con vẽ cho ta một bức tranh mùa thu”. Phạm Sinh loay hoay vẽ mãi, vẽ xong lại xé, xé rồi lại vẽ. Cuối cùng anh vẽ một đôi chim sẻ xù đậu trên cành đang rỉa lông cho nhau, cạnh một hốc cây, nơi đó thò ra mấy cọng rơm được nắng hanh làm cho sáng bừng lên. Cành cây đang rụng lá. Những chiếc lá lóng lánh nửa muốn rời cành, mà cành còn cố níu lại...

Sư ngắm nghía bức tranh rất lâu, rồi nói “Con đã biết dùng mực đen để vẽ một chiếc lá vàng rồi. Thu đến hơi lạnh, nhưng vẫn còn sự nồng nàn ở đó. Con đã hiểu thế nào là cái hồn của tranh”. Từ đó, phạm Sinh nổi tiếng về hoạ, nhưng càng ngày anh càng vẽ ít đi. Thi thoảng mới vẽ, nhưng đã vẽ là tranh rất đẹp.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #123 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 04:58:50 am »

Phạm Sinh không vẽ tranh bán mà chỉ bán chữ, nhưng có một lần anh đã phá lệ vẽ tranh. Lần đó Phạm không vẽ tranh trên giấy mà vẽ tranh trên gốm. Hồi đó, anh vừa mới đi dự cuộc xử trảm cha anh, nhà sư nổi loạn Phạm Sư Ôn ở tháp Báo Thiên được chừng một tháng. Anh ngụ tại ngôi chùa đổ và bắt đầu làm nghề bán chữ. Hôm ấy, người dân Thăng Long nô nức ra bến Đông để đón người anh hùng Trần Khát Chân vừa mới chém được đầu Chế Bồng Nga, nay ca khúc khải hoàn, trở lại kinh sư.

Ông vua già Nghệ Tôn sai làm lễ đón mừng Trần Khát Chân cực kỳ long trọng. Người anh hùng cứu nước ngồi trên chiếc bành son đỏ, che lọng tía, trên lưng con voi tràng khổng lồ. Đoàn nhạc cung đình, chiêng trống tưng bừng mở lối cho voi đi. Từ bến Đông, voi trắng theo đại lộ đến tháp Báo Thiên để dâng hoa cúng Phật và tế cáo trời đất, mừng thanh bình thịnh trị từ nay lại trở về với dân Đại Việt. Dân Thăng Long trẻ già trai gái mặc quần áo đẹp, nô nức đi trảy hội thanh bình. Phạm Sinh đứng dưới gốc cây đa Báo Thiên và anh đã được chiêm ngưỡng vẻ uy nghi, tràn trề hùng khí của người anh hùng. Anh thầm nghĩ: Ông cũng giống như cha ta. Có thể, con người này sẽ là một cứu tinh chăng? Có thể, ông ta sẽ mở ra được một lối đi chăng? Với ý nghĩ ấy, Phạm Sinh có cảm tình với Khát Chân ngay. Anh nghĩ cách ra mắt quan thượng tướng. Phạm đến một lò gốm cạnh kinh đô, mua ba cái xương gốm, phóng bút vẽ ba chiếc chậu hoa. Lúc gốm ra lò, ba chiếc chậu: Một chiếc vẽ hoa sen, một chiếc hoa mai, một chiếc hoa cúc. Đáng lẽ phải tặng thượng tướng hoa mai mới đúng, vì đất phong hầu của ông là Trại Mai, nhưng hoa mai mong manh quá, Phạm không muốn Khát Chân như vậy. Tặng chậu hoa sen ư? Sự từ bi hiền hậu của đức Phật cũng không phải cái cần lúc này. Còn cúc? Lúc vẽ Phạm đã nghĩ tới một bài thơ mà anh rất khoái. Lập tức Phạm đập tan hai chiếc chậu vẽ hoa sen và hoa mai, rồi bọc kín chiếc chậu vẽ hoa cúc đem dâng thượng tướng. Lúc đó, trên gò đất định xây dinh thự còn hoang sơ. Khát Châu tiếp chàng nho sĩ cạnh đôi mai già. Chàng thư sinh gầy gò có đôi mắt sáng, dáng điệu kính cẩn:

- Để mừng tướng quân thắng trận, tiểu nhân định vẽ một bức hoạ, nhưng nghĩ rằng vẽ tranh trên gốm sẽ lâu bền hơn, nên đánh bạo dâng chiếc chậu tự tay vẽ này lên thượng tướng để tỏ lòng thành kính.

Nhìn chiếc chậu men hoa lam với nét vẽ lung linh thần tình, mặt tướng quân rạng rỡ:

- Chiếc chậu thật quý! Có lẽ độc nhất...

- Thưa vâng. Tôi không vẽ chiếc thứ hai. Trên đời này chỉ có một người như tướng quân, thì chiếc chậu cũng phải độc nhất vô nhị.

Thượng tướng ngắm nghía có vẻ hài lòng, nhưng nét mặt vẫn đọng lại những băn khoăn. Hình như chàng nho sinh hiểu ý vị tướng, anh nói:

- Tiểu sinh vẽ nó theo ý một bài thơ mà hai câu cuối ý tứ thật hào hùng..

Lúc đó có người tới, thượng tướng không tiện hỏi nữa, tuy nhiên chiếc chậu hoa cúc với ba bông hoa vừa nụ vừa hàm tiếu ấy cứ ám ảnh ông mãi. Thậm chí, cho tới đêm ông còn suy nghĩ. Bài thơ nào nhỉ? Hai câu hào hùng nào nhỉ? Trong giấc ngủ, ba bông hoa như vẫn chập chờn trong mơ. Và đến gần sáng, ông bỗng choàng tỉnh giấc vì bài thơ ấy bỗng hiện ra trong óc. Sao ta tối tăm thế? Hàng ngàn bài thơ Đường chỉ có độc nhất một bài hoa cúc. Người làm ra nó chính là Hoàng Sào, một nho sĩ đã nổi loạn ở cuối triều đại nhà Đường. Hàng chục vạn dân theo ông đã làm lung lay nền móng của một triều đại. Đang đêm, ông cũng dậy, pha một ấm trà rồi độc ẩm, miệng ngâm khe khẽ:

Táp táp tây phong mãn viên tài
Nhị hàn hương lãnh điệp nan lai.
Tha niên ngã nhược vi thanh đế.
Báo dữ hoa đào nhất xứ khai

(ào ào gió tây vườn cúc hoa
Nhị tàn hương lạnh bướm khó qua
Nếu xuân năm tới ta làm chúa
Lệnh nở hoa đào khắp xứ gần xa
)

Ông cứ nghĩ mãi tới cái ý thơ hào hùng của hai câu cuối Nếu năm sau ta lên ngôi vua, ta sẽ truyền lệnh cho hoa đào khắp đất nước phải nở hoa cùng một lúc. Chà! Cái chữ “nhất xứ” dịch ra quốc âm mới khó làm sao. Rồi ông lại nhớ tới chàng thư sinh tặng chậu. Sao anh ta lại nhắc tới bài thơ Cúc của Hoàng Sào? Có ý gì đây? Từ một chậu hoa đẹp, đầu óc ông lại chuyển sang việc triều chính. Đêm ấy, ông mất ngủ.

Tới lúc Nghệ Hoàng ốm người muốn vẽ tranh tứ phụ để ban tặng và nhắc khéo thái sư Quý Ly, ông tiến cử Phạm Sinh.

Một tháng trời vẽ tranh tứ phụ tại nhà quan thượng tướng, Phạm Sinh được tiếp xúc với một số người trong trại Mai. Sinh vẽ trong một căn nhà nhỏ ở khu vườn rộng không ai lai vãng. Hàng ngày chỉ có một tráng sĩ râu rậm đến đưa cơm và chăm sóc. Anh ta trạc ngoại ba mươi, vạm vỡ, ít nói. Phạm Sinh cũng ít nói. Hình như thượng tướng cho anh ta đến thăm dò mình. Sinh nghĩ thầm. Đôi bên đối với nhau rất khách sáo.

- Đệ tên Phạm Sinh, từ miền Hải Đông tới Thăng Long, nghèo túng nên làm nghề bán chữ qua ngày.

- Tôi là Phạm Tổ Thu, vốn lưu lạc, trong trận đánh Chế Bồng Nga có chút công nhỏ, nên được thượng tướng thu nhận làm người giúp việc.

Một tối, hai người ngồi uống rượu, ngắm trăng trong vườn. Tổ Thu bảo:

- Mấy bức tranh vừa rồi thấy đã đẹp lắm, sao tiểu huynh lại xé đi?

- Hôm nọ, đệ ngồi ngắm mai với thượng tướng, ngài bảo:

- Mai đẹp cốt ở thưa, không cốt ở rậm; cốt ở gân guốc, xù xì, dãi dầu sương gió, không cất ở mập mạp trẻ tươi; cốt ở nụ, không cốt ở hoa...” Chơi hoa còn tìm đến cái thần của hoa, nữa là cầm bút vẽ. Vẽ, bao giờ tìm thấy cái thần của tranh mới được.

- Đệ nói hay lắm. Xưa kia học kiếm, thầy huynh cũng nói như vậy.

Tổ Thu hào hứng múa bài kiếm loang loáng, làm đám lá cây nhảy múa rung rinh. Phạm Sinh cũng nổi hứng theo, lấy giấy điều viết một chữ “thần” đẹp tựa rồng bay để tặng Tổ Thu. Người tráng sĩ ngắm bức hoạ, lấy làm khoái trá, anh cởi áo quần ra múa một bài quyền. Hai bàn tay Tổ Thu tựa như đang nâng niu một cái gì đó. Đường quyền mềm dẻo song tràn trề sát khí. Phạm Sinh đang ngồi bỗng ngạc nhiên đứng dậy ngắm người tráng sĩ, anh ta càng lúc múa càng nhanh. Rồi đột nhiên, chàng nho sĩ vô cùng cao hứng, chàng cũng vứt nhanh chiếc áo dài, rồi xắn tay áo nhảy vào cùng múa theo. Tổ Thu cười lên ha hả. Hai bóng người xoắn suýt với nhau. Bốn bàn tay như nâng niu một cái gì đó dâng lên trước mặt, rồi đặt vào nơi tim. Tổ Thu dừng lại mừng rỡ kêu lên:

- “Song Ngọc Trản”. Đã lâu lắm ta mới được một đêm thoả thích thế này. Té ra... ngươi là sư đệ của ta.

Nói rồi, người tráng sĩ rậm râu ôm chầm lấy chàng nho sĩ.

Ngọc Trản (cái chén ngọc) là bài quyền đặc biệt của cụ Sư Tề. Trước khi chết, cụ dặn Phạm Sinh: “Ngọc Trản là bài võ riêng của ta. Chỉ có ai là học trò của ta mới biết. Con sẽ nhờ nó mà tìm gặp được các sư huynh. Bao giờ gặp họ, con nhắc đừng làm mai một ngọc trản. Hãy gìn giữ chén ngọc”.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #124 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:00:06 am »

Phần XI - Chương 3


Như vậy, Phạm Sinh đã gặp được những người đồng chí hướng của mình, các sư huynh Phạm Tổ Thu và Phạm Ngưu Tất, hai gia tướng thân tín của quan thượng tướng Khát Chân và quan Thái bảo Nguyên Hàng. Trên vai anh bây giờ khoác ba gánh nặng thù hận: nợ nước, thù của thầy và thù nhà.

Khi Phạm vẽ xong bốn bức tranh tứ phụ dâng lên Nghệ Hoàng, ông vua già khen ngợi, ban tặng lụa và tiền bạc. Thượng tướng biết Phạm Sinh là học trò cụ Sư Tề nên có ý định tiến cử. Chàng nho sinh tạ ơn:

- Kẻ tiện dân rất cảm kích lòng rộng rãi giúp đỡ của ngài, song le vốn là kẻ ưa bay nhảy, chí chưa muốn trụ lại một nơi.. Vả lại ngày nay, Quý Ly chuyên quyền lại thâm độc. Tụ lại một nơi không có lợi. Tiểu nhân không muốn ông ta nhận ra chân tướng của mình. Tiểu nhân muốn là kẻ chìm trong bóng tối... nhưng sẽ hết lòng phụng sự ngài.

Quan Thái bảo Nguyên Hàng nghe tiếng cũng muốn thu dụng làm người tâm phúc. Ngưu Tất nói riêng với ông:

- Trước khi chết, sư phụ tôi có gửi cho tôi một lá thư nói về người sư đệ này. Thầy tôi bảo Phạm Sinh có tài lại có chí. Thu nạp được là điều tốt. Tôi đã bảo: nếu đệ không muốn ở dinh thượng tướng, thì có thể sang dinh quan Thái bảo. Chú ấy cười nói: “Đệ có cái lợi hơn các huynh, Quý Ly chẳng biết đệ là ai, đệ sẽ tìm hết cách để vào bên cạnh Quý Ly”

Quan Thái bảo gật gù:

- Nếu đã có ý ấy còn gì bằng. Làm được như vậy sẽ có lợi gấp nhiều lần. Ta không ngờ trong thiên hạ lại có người tài trí đến như vậy. Mình cũng phải tìm hết cách giúp anh ta.

Vậy là Phạm Sinh đã lộ ra ý định đến gần Quý Ly. Thực ra, tâm hồn anh đầy mâu thuẫn. Chuyện anh là con ông thày chùa nổi loạn Phạm Sư Ôn anh không hở cho ai biết. Hồi anh gặp cha ở lộ Quốc Oai, ông thày chùa nói với Phạm:

- Nhà Trần mục ruỗng rồi. Khắp nơi nhung nhúc bọn tham quan ô lại. Ngôi trời chẳng phải của riêng ai. Quý Ly định cướp ngôi cũng là lẽ thường. Chỉ tiếc rằng ông ta là người tàn nhẫn. Phải diệt ông ta nhưng cũng phải diệt nhà Trần.

Như vậy, mình sẽ đi chung với họ một quãng đường

- Phạm thầm nghĩ - Diệt xong Quý Ly chắc phải chia tay. Đến lúc đó chẳng biết rồi sẽ ra sao. Mục đích của họ chỉ là giữ lại ngôi báu cho nhà Trần.

Sau đó, Phạm Sinh lại quay về ngôi chùa đổ. Ngưu Tất và Tổ Thu trước kia làm tướng trong đội quân của Nguyễn Đa Phương, ngoài phận thủ túc, còn là sư đệ của Phương. Trong trận đánh Lương Giang Thanh Hoá, Quý Ly thua. Đa Phương đem đội quân Thánh Dực rút lui. Đa Phương cậy có công bảo vệ được lực lượng, sinh lòng kiêu ngạo, chê bai Quý Ly, nên bị thái sư giết. Lúc ấy, Khát Chân lên nắm quân thắng được Chế Bồng Nga, xoay chuyển được tình thế. Ngưu Tất và Tổ Thu tham gia trận đánh, vì vậy chuyển sang làm gia tướng tâm phúc của quan Thái bảo và thượng tướng. Cũng may, Quý Ly chỉ giết Nguyễn Đa Phương mà không cho rằng Phương còn có những người thân tín, nhờ đó hai người thoát chết.

Cũng từ đó, hai người căm thù Quý Ly đến tận xương tuỷ, nhất là từ khi được ở gần hai vị đại thần, tinh thần trung quân của Trần Khát Chân và Trần Nguyên Hàng, lòng căm thù ấy càng sâu sắc. Họ sẵn sàng xả thân vì nhà Trần.

Cứ độ một tuần trăng, họ lại mặc giả làm người đánh cá. áo rách nón mê, bơi thuyền trên Đại Hồ, đêm xuống mới lẻn vào đầm Vạc đến ngồi chùa đổ liên lạc với Phạm Sinh. Họ muốn truyền vào trong lòng người sư đệ trẻ tuổi lòng căm hận ngút trời của họ. Ngưu Tất nói:

- Quý Ly chẳng khác loài chó lợn. Đối với vua thì lăm le tiếm ngôi, đó là tội bất trung. Đối với thầy, cụ Sư Tề chẳng khác gì cha thế mà cũng tìm cách săn đuổi, đó là tội bất hiếu. Đối với Đa Phương đã nhận làm em mà cũng nỡ đang tâm giết chết, đó là tội bất nghĩa. Tàn tặc nào bằng! Trời đất cũng phải nghiến răng căm hận.

Hai người còn luôn thông tin cho Phạm Sinh biết tình hình triều chính, cho chàng đọc những bài viết phản đối Quý Ly như bài Phản Minh Đạo của Đoàn Xuân Lôi, tờ tấu ngăn việc dời đô của Sử Văn Hoa. Hôm ấy, họ mang đến cho chàng bài biểu của một tôn thất nhà Trần sau trốn sang nhà Minh xin giúp đỡ.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #125 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:00:50 am »

Cáo nạn biểu

Hạ thần là Trần Thiêm Bình cháu quan tư đồ Trần Nguyên Đĩnh đã hầu hạ vua Trần từ bé, làm quan đến hàm tứ phẩm, sau đó giúp việc cho quan tư đồ. Năm Kỷ Tỵ, đời Hồng Võ, sau khi Võ Tiết Hầu Trần Khát Chân diệt giặc Chế Bồng Nga, cha con tặc thần Lê Quý Ly âm mưu cướp ngôi đã vu oan giết hại tôn thất nhà Trần: quan tư đồ Trần Đĩnh, quan thiếu bảo Trần Tôn, sau đó là Trang Định Vương Trần Ngạc. Những bậc trung lương bị giết kể có hàng trăm. Anh em vợ con thần cũng đều bị giết hại, lại sai người đuổi bắt thần định chém đầu muối xác.

Thần phải thay hình đổi dạng, trốn lủi trong dân gian, ẩn mình trong hang núi, lưu lạc sang nước Lão qua, tìm mọi cách tới nơi cửa khuyết để phơi bày gan ruột. Phải lặn lội cực khổ mấy năm ròng mới trông thấy mặt trời.

Thần trộm nghĩ Lê Quý Ly là con của cố kinh lược sử Lê Quốc Kỳ, đời đời ăn lộc nhà Trần, thế mà một khi đắc ý đã manh tâm thoán đoạt. Nay hắn đã phế truất Trần Thuận Tôn là con rể, đưa Trần An cháu ngoại y lên ngai vàng, để dễ bề làm việc đại nghịch, không thèm kính nể gì mệnh lệnh của thiên triều, khiến cho các bậc trung thần nghĩa sĩ phải đau lòng nhức óc.

Lê Quý Ly đang dời đô. Nhà Trần sắp mất.

Mong Hoàng đế cử đội quân thăm dân, phạt tội, với danh nghĩa giúp dòng dõi sắp đứt quét sạch bọn gian hùng, thì thần đây dù chết cũng không nát.

Thần nguyện bắt chước lòng trung của Thân Bao Tư quỳ kêu xin dưới cửa khuyết, mong Hoàng đế rủ lòng xem xét
.

Chàng nho sinh đọc xong bài biểu cứ ngồi lặng im. Khó ai biết nổi lòng chàng đang nghĩ gì. Phạm Ngưu Tất nói:

- Tình hình cấp bách lắm rồi. Một nửa triều đình đã vào Tây Đô. Gia quyến quan Thái bảo, và thượng tướng cũng rục rịch rời Thăng Long. Âm mưu thoán đoạt của họ chỉ là nay mai. Các nghĩa sĩ trung thần ở địa vị nào cũng đang làm hết sức mình tận trung cứu nước. Nhà Minh cũng hứa sẽ giúp chúng ta. Tiểu đệ còn nghĩ gì nữa?

Chàng nho sinh cười:

- Đệ cũng đang làm việc của mình đấy chứ. Chỉ có khác, việc của đệ làm phải lặng lẽ. Càng lặng lẽ càng thuận lợi... Và có lẽ còn cần đến sự chậm chạp...

Phải nói, những tin tức, và lòng sốt sắng tận trung với nhà Trần, chí căm thù đối với Quý Ly của Tổ Thu và Ngưu Tất ảnh hưởng đến Phạm Sinh không phải nhỏ. Những tác động ấy cộng với hình ảnh về cái chết của người mẹ, của thầy Sư Tề cộng với tiếng kêu của Sư Ôn trước khi bị trảm quyết: “Nhớ lấy! Hãy trả thừ” làm Phạm Sinh dần dần hình thành trong óc quan niệm: chính Quý Ly là người đã gây ra tất cả mọi chuyện đau thương trên đất Đại Việt. Và bởi vì chỉ trực tiếp gặp gỡ tâm sự với Tổ Thu và Ngưu Tất nên dần dần ngọn lửa bừng bừng trong họ cũng truyền mạnh sang chàng...

Thực ra, Phạm Sinh có một điểm rất khác mà mọi người gần chàng đều không hiểu. Đó là quan niệm về thời gian mau chậm. Người chung quanh đều như hối hả cuống quýt. Người ta bảo xây dựng xong Tây Đô là mọi việc sẽ xấu hẳn đi. Người ta bảo cần diệt Quý Ly ngay, cứ như thể diệt xong con người ấy là mọi việc sẽ lại tốt đẹp. Nhanh chóng sẽ tốt ư? Chậm chạp sẽ hỏng ư? Biết đâu đấy, dòng đời tuy đủng đỉnh nhưng vẫn có cái lý riêng của nó. Nó ẩn ngầm tác động chẳng theo ý ai. Nó cuốn phăng ta cùng trôi với nó, còn ta háo hức theo dòng mà cứ tưởng như chỉ riêng mình nhìn thấy chân trời, nhưng thực ra ta làm vậy chỉ vì cái nghiệp. Ta gánh chịu số phận riêng mình bởi vì ta đã từng gieo mầm ấy...

Nói là đủng đỉnh, nhưng sự thực là sự đủng đỉnh háo hức. Con ếch trông thấy con rắn như bị thôi miên. “Quý Ly và ta, ai là rắn ai là ếch?”. Nói thực lòng, anh rất bị hấp dẫn vì con người độc đáo ấy. Cả xã hội, nhất là những con người như Khát Chân, Ngưu Tất, quan Thái bảo... đều thù hận ông ta. Còn anh, khi đọc xong cuốn Minh Đạo của Quý Ly, Phạm Sinh thấy bàng hoàng, và hình như anh thấy căm ghét ông ta hơn, đồng thời cũng bị hấp lực của sự táo bạo của ông ta cuốn hút. Nhưng liệu sự căm ghét ấy là cảm nhận của riêng anh, hay chỉ là cái bóng mơ hồ của những ý kiến đương thời? Anh chỉ là một cánh bèo trong cái biển thù hận. Và Phạm Sinh càng bị thu hút hơn, tìm mọi cách đến gần Quý Ly.

Phạm Sinh ngồi bán chữ ở gốc đa Báo Thiên, để ý thấy có một phu nhân cứ cách vài ngày lại đến lễ chùa. Bà đi kiệu sơn nâu, thường mặc áo mầu tối, nhưng dáng vẻ rất nghiêm trang và cao quý. Anh hỏi Ngưu Tất và Tổ Thu, họ cho biết người phụ nữ tôn quý ấy là ai. Phạm Sinh để ra mấy ngày ròng rã mới vẽ xong một bức tranh rất đẹp. Anh treo bức tranh độc nhất ấy lên gốc cây đa.

Người tò mò bâu đến xem. Bức tranh khổ dài vẽ một cành trúc trên cao và những chiếc lá trúc đang rủ xuống, rơi xuống thấp; những chiếc lá quấn quýt lấy nhau, điểm xuyết vào đó là một đôi chim như đang xòe cánh lượn, chúng nô đùa với nhau hay chúng đang tìm cách để nâng những chiếc lá lên ngăn cho chúng chẳng được rời cành.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #126 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:01:19 am »

Có người hỏi mua, nhưng chàng đặt giá quá cao nên không ai mua nổi. Phu nhân áo sẫm màu, một buổi sáng đến lễ, thấy đám đông xúm quanh gốc đa, sai thị tì đến hỏi xem chuyện gì. Thị tì đến, rồi quay về bẩm:

- Dạ, người ta bán tranh, nhưng đòi giá cao lắm.

Phu nhân tò mò bước đến. Đám đông vội rẽ ra.

Phạm Sinh ngẩng lên, thấy phu nhân trạc tuổi sáu mươi, da dẻ trắng xanh, tóc bạc, khuôn mặt trái xoan buồn bã có đôi mắt rất hiền từ. Phu nhân ngắm bức tranh, rồi gật đầu:

- Ta không sành về hoạ, nhưng thấy bức tranh trang nhã. Phu quân ta rất yêu tranh, nhưng phải là tranh đẹp mới được.

Phạm Sinh nói rất tự tin:

- Bẩm phu nhân, nếu là tranh không quý, kẻ hèn mọn này sao dám đặt giá cao?

- Đắt ta cũng mua. Chỉ hiềm không biết phu quân ta có ưng hay không.

Chàng nho sinh lễ phép:

- Kẻ vẽ tranh chỉ cốt gặp được người tri âm. Phu nhân cứ mang bức vẽ về. Nếu tướng công không ưng, kẻ tiểu nhân này tình nguyện sẽ xé bức hoạ, và bẻ bút không làm nghề bán tranh nữa.

Phu nhân cười, trả tiền, rồi mang bức hoạ về nhà. Phu nhân đó chính là công chúa Huy Ninh, vợ thái sư. Bà vẫn thường đến dâng hoa cúng Phật ở tháp Báo Thiên. Bà đều đặn đến chùa đọc kinh sám hối, cầu nguyện cho chồng. Gặp bức hoạ của Phạm Sinh, bà rất ưng. Bà thấy những chiếc lá trúc và đôi chim rất đẹp. Thần tình ở chỗ những chiếc lá trúc vẽ bằng mực đen, nhưng lại trong veo hình như đang ửng nàng. Đã lâu bà không mua quà tặng chồng. Bà đem về, treo bức tranh ở toà hậu đường cung Hoa Lư. Bà ngồi ngắm nghía, càng ngắm càng thấy bức tranh có duyên. Đôi chim xòe cánh rất vui, hình như mắt của chúng cũng mang mầu nắng. Tuy nhiên, bà vẫn phập phồng lo ngại, không biết bức tranh có làm thái sư vui lòng chút nào không?

Thái sư Quý Ly chiều hôm ấy đến thăm vợ. Trông thấy bức tranh trên tường, ông đến gần để ngắm. Công chúa Huy Ninh theo dõi nét mặt của chồng. Ông đến sát, rồi lại lùi ra, nghiêng đầu xem xét, rồi cuối cùng gật đầu làm phu nhân cũng vui theo. Tưởng chỉ đến thế, nhưng ông vẫn đứng nguyên tại chỗ và thốt lên “quái lạ”. Ông lại ngắm bức tranh lần thứ hai, lần này lâu hơn, kỹ lưỡng hơn. Cuối cùng ông à lên một tiếng và hỏi:

- Bà mua tranh này ở đâu?

- Của một nho sinh ở tháp Báo Thiên... Nhưng... Ông đã thấy điều gì trong đó?

- Ở đây có hai điều đặc biệt. Thứ nhất: nét vẽ của người này cũng là nét vẽ bốn bức tranh tứ phụ mà đức Nghệ Hoàng đã ban cho tôi. Thứ hai: điều này thật tài tình... bà hãy nhìn những chiếc là tre đang rơi xuống... theo hai dòng đấy... nhìn kỹ mới thấy chúng xếp thành những chữ. Đúng chưa?

- Dòng thứ nhất thành những chữ gì?

- Thiên... Thụ... Quế... Chà, khéo thật!

- Còn dòng lá thứ hai chắc chắn bà nhận ra ngay là tên bà Nhất Chi Mai... giỏi thật! Người nho sinh này đã biết hai câu đối xưa kia.

Thanh thử điện tiền thiên thụ quế

Quảng hàn cung lý nhất chi mai.

Anh ta còn nói với bà thế nào nữa?

- Anh ta còn bảo nếu tướng công không thích, anh ta tình nguyện xé tranh và bỏ bút không vẽ nữa.

Thái sư Quý Ly và bà Huy Ninh bỗng nhìn vào mắt nhau, cười to. Đã lâu lắm bà Nhất Chi Mai mới được nghe thấy tiếng cười sảng khoái của chồng, trên gương mặt buồn của bà, cũng đã lâu lắm nét hoa mới rạng rỡ hẳn lên.

Sau đó, phu nhân Nhất Chi Mai ốm rồi nằm liệt giường. Bà ốm mấy tháng liền, không đi chùa được nữa, nhưng không ngày nào bà quên dâng hoa và đọc sám kinh trước tượng phật A Di Đà thờ ngay gian giữa. Sáng hôm ấy, đột nhiên bà thấy trong người dễ chịu. Bà ra ngồi trên chiếc ghế bành. Con gái bà, hoàng hậu Thánh Ngẫu đến thăm mẹ, dâng lên một bó hoa hồng. Bà đã ngồi đúng như pho tượng của bà hiện nay, giơ hai bàn tay ngọc ngà ra phía trước, đẩy bó hoa đỏ ra xa và lắc đầu:

- Ở đây không dùng hoa đỏ. Ta chỉ xin con, sau khi ta mất, hãy hàng ngày thay ta dâng hoa cúng Phật. Có hai cây đại trắng trước cửa nhà ra hoa quanh năm. Hãy hái những bông hoa vừa trắng vừa thơm ấy dâng lên bàn thờ Phật giúp mẹ. Còn bàn thờ mẹ, con chỉ cần nhặt vài bông rụng trên sân rêu đặt lên là đủ...

Ngày hôm ấy, bà đã ra đi vĩnh viễn, sau khi dâng đĩa hoa trắng sở nguyện lên trước bàn thờ Phật A Di Đà và cúi đầu đảnh lễ.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #127 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:02:55 am »

Phần XI - Chương 4


Cũng vào khoảng thời gian ấy, một đêm, Phạm Sinh mất ngủ, đang nằm nghĩ ngợi liên miên trong ngôi chùa đổ, bỗng nghe tiếng lũ chim xáo xác ngoài vườn. Anh nghĩ; lại có bọn đi ăn sương nào xong việc về ngủ tạm ở chùa? Hay chẳng lẽ sư huynh Tổ Thu hoặc Ngưu Tất có việc gấp đến gặp ta? Phạm Sinh tập trung tinh thần lắng nghe. Lũ chim vẫn tiếp tục xáo xác. Điều này khác thường, bởi vì khi người đi qua xong, lũ chim lại im lặng ngay. Vậy đã có ai đang ngồi dưới những tán cay, ngay ở chỗ lũ chim trên cao trú ngụ. Lẫn trong tiếng xáo xác ấy hình như có chen thêm một tiếng lạ. Thoang thoảng tiếng ti tỉ - Ô hay? Có người đang khóc? Phạm Sinh mò trong bóng tối ra vườn chùa. Đúng là có người đang khóc thật. Anh lần theo tiếng khóc đến chỗ con trâu đá, và hỏi:
- Ai đấy? Làm sao lại đến đây mà khóc?

Hai mẹ con người đàn bà rách rưới ẩn trốn dưới bụng con trâu đá. Phạm Sinh dìu họ vào trong chùa. Người mẹ đã già, cô con gái mới chừng đôi tám. Cô ăn mặc rách rưới nhưng không dấu được những nét xinh đẹp khác thường. Họ bị lạnh cóng và đói lả. Phạm săn sóc nấu cháo cho ăn. Họ nhìn Phạm như e ngại, có vẻ muốn dấu diếm điều gì. Nhưng rồi thấy sự ân cần và biết Phạm cũng chỉ là một kẻ vô gia cư, bán chữ sinh nhìn, nên bà mẹ tỏ lòng tin cậy, thú nhận:

- Mẹ con tôi chỉ là những người đang chạy trốn. Chồng tôi bị quan thái sư tống giam ngục thất...

- Chồng bà là ai?

- Ông ấy là quan thái sử Sử Văn Hoa.

- Tôi hiểu rồi. Nay mẹ con cụ định đi đâu?

- Mẹ con tôi đang đêm trốn khỏi làng định đi thật xa, nhưng chẳng biết chồng tôi sống chết ra sao, nên định nấn ná tìm nơi trú tạm gần Thăng Long, để chờ biết tin của ông ấy ngã ngũ ra sao...

Phạm ngẫm nghĩ rồi nói:

- Bà cụ đừng sợ. Nếu vậy, tôi có thể thu xếp được. Khu đầm Vạc này vắng vẻ lắm. Chỉ có vài người xiêu tán dựng mấy túp lều bên hồ kiếm ăn bằng cách mò cua, đánh dậm... Người ta đến rồi lại ra đi. Gần chùa có một túp lều bỏ hoang, mẹ con cụ ở tạm nơi đó thật kín đáo. Việc dò hỏi tin tức đã có tôi lo.

Tổ Thu, Ngưu rất ban đêm bơi thuyền lẻn tới ngôi chùa đổ liên lạc với Phạm Sinh, nghe câu chuyện của mẹ con bà Sử Văn Hoa. vừa ngậm ngùi vừa bừng bừng nổi giận:

- Cụ Sử Văn Hoa là người tài cao đức trọng, đầy khí tiết, thế mà ngày nay thân phận tử tù. Nông nôi này do bởi tay ai? Việc giúp đỡ mẹ con bà là nghĩa cử phải làm của chúng ta.

Từ đó, Phạm Sinh có hai mẹ con bà Sử làm hàng xóm nên cũng đỡ hiu quạnh. Có Tổ Thu và Ngưu Tất giúp đỡ gạo nước, cộng thêm với đồng tiền viết mướn của Phạm Sinh, nhưng họ cũng không ỷ lại. Cô con gái tên là Thị Hạnh vẫn hàng ngày xuống hồ mò cua bắt ốc. Cô bận bịu làm, đi kiếm ăn xong lại về nấu cơm phụng dưỡng mẹ.

Bà mẹ, cô bán rượu làng Mơ xinh xắn thủa xưa, nghèo khó, nhưng đã truyền lại cho con gái một gia tài vô giá đó là sự duyên dáng tươi tắn. Cô Hạnh cũng có đôi mắt bồ câu của mẹ. có tiếng nói trong veo và ấm áp của mẹ, nhưng cô còn được thừa hưởng thêm sự thông minh sắc sảo của người cha. Sự thông minh bén nhậy ấy làm cho sắc đẹp của cô trở nên tinh tế hơn. Cô biết cách nói bằng ánh mắt, bằng nụ cười, bằng cái dáng vẻ không nói. Tất cả những thứ ấy, âm thầm trong con người cô, nhưng nó vẫn toát ra lặng lẽ mỗi khi ta gặp, để tạo nên một cảm giác mà người đời vẫn gọi là “có duyên”. Cô Hạnh sợ người ta chú ý, cố dấu nét duyên ấy đi bằng sự lam lũ nghèo hèn, bang cái bề ngoài nâu sồng lấm láp, bằng chiếc khăn vuông tùm hụp suốt ngày; sự kín đáo ấy ngay cả trước mặt Phạm Sinh cô vẫn giữ. Nhưng ngay từ lúc đầu mới gặp, nhìn vào mắt cô, anh đã nhận ra cái duyên ngay. Đôi mắt người nguỵ trang khó nhất. Anh học trò viết Sử Văn Hoa, ngày xưa, trong khốn khó đã tìm thấy cái duyên của cô bán rượu làng Mơ thế nào, thì ngày nay anh chàng viết mướn bơ vơ trong ngôi chùa đổ cũng nhận ra cái duyên của cô Thị Hạnh như vậy. Một mối tình thầm lặng được nhen.

Một hôm, cô Hạnh ngồi trên một phiến đá vườn chùa nói chuyện với Phạm. Cô ngồi nghiêm trang, hai tay đặt trên đầu gối. Bỗng nhiên Phạm chăm chú nhìn cô, rồi bảo cô giơ hai tay từ từ đẩy ra phía trước, những ngón tay cong lên. Anh ngắm nghía, nhìn nghiêng rồi lại nhìn thẳng nét mặt của Hạnh. Hạnh đỏ mặt lên cười khúc khích. Mấy hôm sau, anh đã vẽ được một bức tranh. Cô Hạnh nhìn bức tranh người phụ nữ nõn nà, với dáng vẻ buồn cao quý đương ngồi tay đẩy ra phía trước. Hạnh ngạc nhiên:

- Huynh vẽ em đấy ư? Sao quần áo em lại sang trọng như một bà mệnh phụ? Sao mớ tóc em lại được búi cao và trên đó có mũ vàng trâm ngọc? Sao nét mặt lại u buồn... như đức Phật?

Phạm gật đầu khe khẽ:

- Đúng! Huynh vẽ muội là đức Phật.

- Huynh điên rồi sao?

- Cả em, cả bà ấy đều giống Phật.

- “Bà ấy”? Huynh nói thế là nghĩa làm sao?

- Bà ấy là một người nhân hậu. Tôi chỉ một lần giáp mặt đã nhận ra ngay... Hàng ngày bà đến chùa dâng hoa. Dáng vẻ của bà ấy mới tôn quý làm sao, u buồn làm sao... Cả em cũng vậy, mới nhìn vào mắt em lần đầu tiên, huynh đã thấy ngay...
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #128 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:04:11 am »

- Huynh điên thật rồi Những lời nói sao em không hiểu.

- à! Bà ấy là công chúa... bà Huy Ninh... bà thái sư. Ôi. sao mắt bà ta buồn làm vậy... Đã lâu chẳng thấy bà ấy đi chùa... Rồi hôm trước, nhìn thấy em trên tảng đá chợt nghĩ, hình như em có nét hao hao... Huynh đã trộn lẫn cả hai người vào tranh. Ở bà là nét u buồn cao quý nhưng đôi mắt bà tối quá. Phải đem sự trắng trong, sự ấm áp của mắt em vào tranh... Chắc là như thế... Phải, đúng rồi Bởi vì em là tuổi trẻ... em bồn chồn... nhưng cuộc sống còn dài. Em lo lắng cho số phận của cha. nhưng vẫn còn những tia hi vọng... Nhưng ở mắt bà, chẳng thấy le lói một mảy may sự sống. Huynh thầm nghĩ chắc bà ta chết rồi, cảm thấy bà Huy Ninh đã chết rồi.

- Câu chuyện của huynh thật buồn...

- Và nếu đoán không sai, ông ta sắp đến đây.

- Ông ta là ai?

- Ông ta là thái sư, là Hồ Quý Ly.

*
*   *

Điều Phạm Sinh dự đoán đã xảy ra thật. Một buổi sáng, có người lính ở cung Hoạ Lư đến gốc đa tháp Báo Thiên, đưa giấy mời Phạm đến ngay phủ thái sư. Phải qua bao nhiêu thủ tục rườm rà, phải qua bao nhiêu toà ngang dãy dọc, Phạm mới đến được cung Hoạ Lư nổi tiếng.

Người lính dẫn đường trao Phạm cho viên lực sĩ nội vệ dẫn anh đi trên con đường đá xanh từ cổng đến toà tiền điện. Phạm liếc nhìn cái sân lát gạch đỏ mênh mông và dãy chậu đá khổng lồ, ở đó mọc đủ các thứ hoa quý hiếm. Đến trước đôi rồng đá, người lực sĩ bắt anh dừng lại, chỉnh đốn khăn áo. Hắn đi vòng quanh Phạm, ngắm nghía anh từ đầu đến chân, rồi vuốt ve quần áo, chỉnh lại chiếc khàn nhiễu tím cho anh. Phạm hiểu, hắn muốn xem anh có gài dắt thứ gì sắc nhọn trong người. Cuối cùng, sau khi đã yên tâm, hắn mới dẫn anh bước lên chín bậc thềm đá để vào nhà tiền điện.

Thái sư ngồi trên chiếc sập cao đặt chính giữa, sau lưng ông ở hai phía tả hữu là hai bức đại hoành rực rỡ “Vô dật nãi dật” và “Nhật nhật tân”.

Quý Ly cho Phạm ngồi ở chiếc đôn phía dưới, cách xa ông. Thái sư cất tiếng hỏi:

- Có phải anh chính là người vẽ bức hoạ trúc mà phu nhân ta đã mua về từ tháp Báo Thiên?

- Bẩm thái sư, đúng kẻ học trò này.

Thái sư vuốt râu, đôi mắt sáng của ông nhìn vào mặt Phạm rồi nói bằng cái giọng vang và trầm:

- Vẽ khéo đấy Nhà ngươi có thể vẽ... ngay lúc này, trước mặt ta? à, cũng chẳng cần vẽ. Viết cũng được. Chỉ cần viết một chữ đại tự. Thế nào? Có được không?

- Kẻ tiểu nhân xin viết - Phạm Sinh điềm đạm nhận lời.

- Ta cho phép tự chọn. Viết chữ gì cũng được. Tuỳ ý.

Người hầu bê ra cái nghiên mực lớn bằng đá, một bó bút các cỡ, một tờ giấy đại bạch, một tờ hồng điều, một vuông lụa lớn. Phạm chọn cái bút to nhất và tấm lụa bạch. Tấm lụa được căng lên khung. Phạm trầm ngâm đứng trước tấm lụa, mắt nhắm lại hồi lâu, tay đặt lên đầu chạm vào chiếc bút cài sau gáy.

Rồi anh choàng mở mắt, chấm chiếc bút vào nghiên đá, khẽ quay đầu bút vài vòng, rồi khoan thai như múa chiếc bút trên nền lụa.

Thái sư chằm chằm nhìn. Một chữ lớn đen nháy, khỏe khoắn, dịu dàng hiện lên trên mầu trắng ngà tinh khiết. Ông nói:

- Chữ “Thần” ư? - Thư pháp được đấy. Nhưng tại sao lại chữ thần? Ngươi nghĩ gì mà viết chữ thần?

- Tiểu nhân mạo muội xin phép được nói. Trộm nghĩ: mọi vật không có thần sẽ bất dạng. Người không có thần là kẻ thất phu. Kẻ viết chữ không có thẩn chỉ là con mọt sách. Việc làm không có thần chỉ là việc làm của phường ngu muội. Ngay cả đến sông kia, núi kia, tất thảy đều mang một chữ thần, nên mới làm cho bậc tao nhân mạc khách phải ưu tư, làm cho kẻ sĩ trong thiên hạ phải đau đáu tấm lòng...

Thái sư lặng lẽ khoanh tay trước ngực rồi gật đầu:

- Thôi được. Ta hiểu ngươi - giọng ông chợt như trầm xuống - Sở dĩ hôm nay ta gọi ngươi đến, vì muốn nhờ ngươi một việc. Từ ngày phu nhân của ta mất đi, ta muốn có một bức tranh vẽ bà. Cứ băn khoăn tìm người hoạ sĩ mãi. Đêm trước, bà về trong mộng, bảo ta sao không đến tháp Báo Thiên, tìm người viết thuê dưới gốc đa, người đã vẽ bức trúc hoạ. Vậy ngươi có nhớ được mặt bà không? Có thể vẽ lại được không? Tiểu nhân đã nhiều lần thấy phu nhân đến chùa dâng hoa cúng Phật. Tiểu nhân vẫn còn nhớ được dáng vẻ tôn quý của người. Dạ thưa đó là khuôn mặt từ bi...

- Đúng? Phu nhân ta là người nhà phật... Đúng? Ngươi đã biết tên bà là Nhất Chi Mai... chắc phải rất chú ý. Và đã chú ý chắc phải nhớ. Cũng chính vì vậy nên ta đã quyết định gọi người đến. Ta hẹn ngươi trong mười hôm, ngươi hãy về nhớ lại, vẽ bức hoạ về bà. Nhớ gắng hết sức. Ta sẽ trọng thưởng.

Phạm Sinh trở về ngôi chùa đổ, tìm cách báo tin cho Tổ Thu và Ngưu Tất biết chuyện. Một đêm, hai người lẻn đến ngôi chùa đổ. Tổ Thu nói:

- Quan thượng tướng bảo đã đến gặp được Quý Ly là điều rất tốt. Chỉ có điều ông ta đa nghi, kỹ lưỡng. Để đến gần ông ta hơn nữa không phải dễ. Đệ cần phải nhớ ngay như sư huynh Nguyễn Đa Phương đã được ông nhận làm nghĩa đệ mà ông ta vẫn nghi ngờ, khi cần vẫn giết.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #129 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:05:09 am »

Ngưu Tất truyền lại lời của quan Thái bảo Nguyên Hàng:

- Từ nay cần ít liên hệ với người bên ta. Quý Ly khi gặp có nói: đã biết tên phu nhân là Nhất Chi Mai chắc người phải rất chú ý rồi, tức là trong đầu óc ông đã muốn tìm hiểu người bán chữ này là ai, tại sao lại quá quan tâm tới gia đình thái sư như vậy.

- Đệ xin ghi lời các sư huynh. Và đệ đã có cách... Chắc chắn bức tranh của đệ vẽ bà Nhất Chi Mai phải làm ông ta ưa thích.

Khi sắp đến ngày gặp thái sư, cô Hạnh rất lo lắng.

- Hang hùm đấy? Cha em đã gặp nạn vì vào đó, đến nay còn chưa biết sống chết. Em thật không hiểu chốn hang hùm ấy có cái gì lại hấp dẫn được cả anh.

- Chính vì muốn giúp những người như cha em, nên anh phải vào đó.

Cô gái cúi đầu:

- Mẹ con em lúc này bơ vơ. Nhỡ anh có thể nào...

Phạm Sinh mang bức tranh đến gặp thái sư. Trông thấy bức tranh, Quý Ly mắt sáng hẳn lên.

- Thật tài hoa. Từ bi. đúng là từ bi như bà ấy? Mà lại giống. Nhà ngươi có trí nhớ thật tài tình... có bàn tay vàng... Thần! đúng là thần hoạ! Này lúc nhà ngươi giảng giải cái thần, ta lấy làm... sốt ruột quá... Nhưng hôm nay, xem tranh, ta mới hiểu ngươi thực lòng. Thái sư nhìn sâu vào mắt Phạm - Ta thích sự thật lòng.
Phạm Sinh nhún nhường:

- Đa tạ thái sư quá khen.

Quý Ly cầm khư khư bức tranh người đàn bà buồn rầu đang đẩy hai bàn tay ra phía trước, ngắm nghía không chán; hôm ấy ông thật cởi mở. dễ tính. Chính ông dẫn Phạm vào toà hậu điện nơi thờ Phật và thờ bà vợ Tự tay ông treo bức hoạ lên bàn thờ, thắp hương, rồi dịu dàng thì thầm trong tâm tưởng:

- Phu nhân hãy về mà xem. Phạm Sinh đấy, người thợ vẽ mà bà trân trọng đấy. Anh ta đã vẽ bà cũng trân trọng như tấm lòng của bà. Kìa? chàng thư sinh đang hái hoa đại để dâng lên bàn thờ. Ai mách bảo mà anh ta biết bà thích những bông hoa mầu trắng?

Mà kỳ lạ thật. Từ lúc vào đây, Phạm trông thấy hai cây hoa đại, và như có một hấp lực ẩn ngầm vào đó đã hướng dẫn chân anh đến cây hoa. anh cung kính hái để dâng lên cúng bà. Và anh cũng không ngờ cử chỉ tự nhiên ấy bỗng dưng tạo rất nhiều thuận lợi cho anh. Quý Ly hỏi chàng nho sĩ:

- Nhà ngươi thấy nơi đây ra sao?

- Dạ, thật tĩnh! Đúng như sự tưởng tượng của tiểu nhân về phu nhân. Nhưng lúc này, chợt thấy như còn thiếu một chút gì đó...

- Thiếu gì?

- Dạ, tiểu nhân chợt nảy ra một ý... Có lẽ một pho tượng... Vâng, đúng! Một pho tượng của phu nhân.

- Sao?

- Vâng! phải tạc một pho tượng. Bằng gỗ ư?... không!

- Tốt nhất là bằng đá... đá cẩm thạch... hay đá trắng? Tinh khiết... như Phật bà... Vâng pho tượng lớn bằng người thực... rất tinh khiết và từ bi...

- Hay? Ngươi nghĩ như thế cũng phải. Vậy thì ngày mai, ta sẽ cho ngươi thợ, cho ngươi đá.. sẽ tạc một pho tượng bằng đá trắng giống hệt như bức tranh ngươi đã vẽ... Ngươi phải đứng lên trông nom cho ta.

Câu chuyện về pho tượng đá trắng, về pho tượng người đàn bà tinh khiết như Phật bà xảy ra như vậy đó. Thái sư sai người đến làng Nhồi, Thanh Hoá, tìm một tốp thợ khéo tay nhất, tìm một tảng đá trắng đẹp nhất mà dân làng Nhồi vẫn thờ ở đình làm vật hương bảo, một tảng đá mà họ chỉ dành để tiến vua, để tạc một pho tượng quý. Nghe nói tìm đá tạc tượng công chúa Huy Ninh, một bà công chúa từ bi của dòng nhà Trần, làng Nhồi sẵn sàng cung tiến ngay.

Hôm khởi công tạc tượng, phường thợ làm lễ, ông thợ cả dâng hương hoa. Rồi ông lấy chiếc dùi gỗ gõ vào tảng đá. Tiếng đá vang vang như tiếng chuông vàng; dứt hồi gõ vẫn ngân nga kéo dài không muốn dứt. Thái sư đến dự, ông nghe tiếng đá ngân như tiếng thì thầm dịu dàng của bà Huy Ninh còn lưu lại trên đời.
Xưởng đá nằm trong hoàng cung. Hàng ngày, tốp thợ và Phạm Sinh đều đặn đến đó từ sớm. Ông thợ cả cùng Phạm Sinh nghiên cứu bức hoạ tỉ mỉ rồi mới cho đục. Khó nhất là gương mặt sao cho thật giống. Phải có nỗi buồn nhân thế nhưng không bi luỵ. Khi tạc gương mặt bà Huy Ninh chính tay ông thợ cả phải làm suốt mười lăm ngày ròng rã. Thái sư đến thăm, bắt gặp cuộc trao đổi giữa ông già và Phạm Sinh.

- Tôi đã thấy gương mặt từ bi của đức Phật - ông già nói - Mắt đã toả ra ánh dịu dàng.

Phạm Sinh lắc đầu:

- Gương mặt mới chỉ là trìu mến, hiền hậu, ánh mắt hãy còn hẹp. Gương mặt bà phải toả ra bao la rộng rãi. - Anh chau mày lại, tìm lời diễn tả - Thế nào nhỉ. dưới ánh mắt của bà, người thiện cũng như người ác đều được ân huệ, ví như một bóng mát bao la giữa mênh mông nắng. Người tốt thấy mình tốt hơn. Người xấu không thấy xấu hổ và chợt lóe nhìn thấy ánh sáng vơi nhẹ. Nghĩa là ta cảm thấy an lành... Đúng... phải cảm thấy an lành, đó là điều cần đạt tới...

Rồi Phạm hì hục dội nước để ông già lấy đá nháp mài đi những nét tục còn đọng lại đó đây trên pho tượng đá. Thái sư gật đầu:

- Ngươi hiểu đúng. Ở phu nhân chính là sự an lành. Ta thấy sự an lành trong bức hoạ của ngươi còn toả ra trên đôi bàn tay ngà.

Cụ thợ cả gãi đầu:

- Vâng. Tạc tượng khó nhất là gương mặt và đôi bàn tay. Bàn tay cũng là gương mặt của người. Bẩm thái sư hoàn thiện đôi bàn tay cho thật ưng ý có khi mất tới nửa tháng.

Cũng nhờ việc làm tượng lâu như thế. Phạm Sinh đã nhiều lần được nói chuyện với thái sư. Quý Ly dần dần thấy mến và hiểu chàng nho sinh ngoài tài viết vẽ, con có một sức học khá uyên thâm. Ông hỏi:
- Có phải nhà ngươi là người đã vẽ bốn bức tranh tứ phụ?
- Bẩm vâng.
Con trai ta, quan kiểm pháp Nguyên Trừng cũng là người vẽ tranh, rất khen nét bút của ngươi.
Đó là điều vinh hạnh cho kẻ học trò này.

- Ta nghe nói thượng tướng Khát Chân, sau khi nhìn ngươi vẽ xong, thấy mến tài, có ý định tiến cử, sao ngươi không nhận?

- Tiểu nhân là người ít gặp may, chính lúc đó lại mắc công việc, phải đi xa ít bữa.
- Ừ! Ngươi vẽ rất khéo, sao lại không vẽ tranh bán? Làm nghề bán chữ, phỏng được bao tiền?

- Bẩm thái sư tiểu nhân bán chữ là vạn bất đắc dĩ, chỉ cốt kiếm sống qua ngày là đủ. Còn nghề vẽ... kẻ học trò này từ khi cầm bút, đã có lời nguyền chỉ vẽ cho người tri âm, tri kỷ.

- à, ra thế. - Rồi ông gật gù - Tiếc thật. Tiếc thật!

- Đáng tiếc, triều đình lúc này đang bận nhiều việc, chưa có điều kiện mở khoa thi, để cho những người trai trẻ như ngươi được vẫy vùng cho thoả chí.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM