Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #150 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:32:23 am » |
|
Chén trà truyền hơi nóng và lòng bàn tay đã nguội đi, Cẩn vẫn mải nghĩ, quên uống. Chợt giọng Thuận Tôn cất lên làm Cẩn giật mình: - Ông đang nghĩ tới lẽ sống chết ư? Ta biết lắm chứ... Ô hay? Ông ta đoán được ý nghĩ của ta. Thế là hai con người chuyển sang chơi trò nhàn phiếm luận trong hang đá lạnh. Lòng Cẩn đang bộn bề, nhưng Cẩn lại có thể bình tĩnh nói về lẽ huyền sống chết: - Hạ thần trước khi tới đây, có vào thăm chùa trên núi Đông Sơn, nghe nói có vị danh ni đắc đạo thấu được sự huyền nhiệm, coi sống chết bình đẳng, đã một mình ngồi thiền giữa núi sâu rừng rậm, không ăn uống suốt hai mươi mốt ngày đêm. Hổ lang ngồi chồm hỗm vây quanh. Thuận Tôn cười: - Vị sư nữ này ta biết. Người đời kính mộ bà ngang hàng với các bậc cao tăng. Chính cha ta Trần Nghệ Vương đã ban hiệu cho bà là “Tuệ Thông đại sư” . Lúc già bà về tu trên núi Đông Sơn gần đây. Một hôm bà nói với đệ tử rằng: “Ta muốn đem tấm thân hư ảo này bố thí cho lũ hổ lang ăn một bữa no”. Rồi bà đi một mình vào thiền định trong rừng sâu gần một tháng. Song chẳng con hổ nào dám xông vào ăn thịt bà cả. - Tuệ thông đại sư. Nghĩa là con mắt bà nhìn thấu được cả lòng người? - Ta nghe nói trong lòng ông vẫn có một giọng nói vang lên khuyên nhủ? Nguyễn Cẩn giật mình: nhà vua biết cả chuyện riêng của ta ư? Rồi Cẩn trả lời: - Vâng, tiếng nói ấy vẫn vang trong đầu óc hạ thần. Nó báo về một thời đã hết và một thời đang tới. - Chính vì thế nên ông là người cuồng nhiệt nhất. Cuồng nhiệt để dẫn đất nước đi thật hối hả, đi cho nhanh. - Hạ thần biết nói sao. Điều bí ẩn của non sông vốn là như vậy phải như vậy. - Ông là kẻ mê cuồng quá đỗi - Thuận Tôn chợt thở dài - Ta là kẻ đi theo đạo nhu mềm, thong thả. Mà này ông Cẩn! Ta biết lòng ông đang xáo động. Ta cứ tưởng lòng ông sắt đá... Hoá ra... Ông vẫn còn chút yếu mềm... Vậy nên ta chẳng thù ghét ông đâu... Ông cứ tưởng ta không biết gì khi ta uống bát canh sâm của ông? Thái sư giao việc đó cho ông. Và tay ông đã run lên khi ấy... Còn tiếng nói vẫn thường vang lên trong hồn ông... đàm thoại với ông... chỉ dẫn cho ông, đó là tiếng của ai?... Người ta vẫn bảo đó là tiếng nói Phật. Nhưng ta nghĩ đó chính là tiếng của ông. Ông tự phân thân ra thành hai: một là tiếng nói hư ảo, một là tiếng nói trần thế Hai nhưng một. Ông tự nói với mình đó thôi. Phật nào nói. Phải phân làm hai bởi vì lòng ông còn dằng xé. Phải đối thoại với chính mình để tự trấn an, để vững lòng tin, bởi vì con đường ông đang đi thật là khốc liệt. Nguyễn Cẩn ngồi im nghe ông vua đạo sĩ nói. Có bao giờ Cẩn lặng im lâu như thế? Còn Thuận Tôn cũng ngừng lại một lúc rồi mới tiếp: - Ông mới đến chùa núi Đông Sơn một lần... chắc ông chưa biết cặn kẽ về Tuệ Thông đại sư. Để ta kể nốt đoạn cuối lúc đại sư thị tịch. Ta may mắn có duyên hạnh ngộ, thủa nhỏ, được gặp bà một lần. Người từ bi, gầy guộc nét mặt giống hệt như La Hán, nhất là đôi mắt tuệ thông suốt dịu dàng. Sau khi vào rừng, hổ lang không dám ăn thịt, đại sư về chùa ngồi thiền suốt mấy tháng ròng, rồi ngồi thản nhiên mà hoá. Trước lúc thị tịch, người có dặn: “Sau khi ta đi, hãy bớt lại chút xương để chữa bệnh cho người đời”. Đám đệ tử không nỡ, cho hết xương vào hộp phong lại. Qua một đêm, lúc trở dậy, thấy có một chiếc xương cùi tay nằm trên bàn, ở ngoài hộp. Về sau, ai có bệnh đến cầu, mài xương với nước đem cho người bệnh, không ai là không khỏi... Nguyễn Cẩn ngạc nhiên khi nghe câu chuyện, ông không hiểu được Thuận Tôn định nói gì. Nhà vua chỉ bảo: - Thôi! Ông về đi, đã đến lúc ta phải ngồi tĩnh toạ. Ông cứ yên tâm... * * * Cả đêm hôm ấy Thuận Tôn ngồi diện bích. Ông quay mặt vào vách đá, quên cả cái lạnh mùa xuân từ vách núi luồn qua lần áo mỏng xuyên vào da thịt, quên cả tiếng gà rừng gáy lúc nửa đêm và tiếng chân của loài hổ lang lởn vởn trên lưng chừng núi, quên cả tiếng hú sầu muộn của những con vượn, tiếng hú buồn bã của kiếp sống nguyên thuỷ cô đơn. Ông đã sinh ra kiếp bày đàn, đã náo nức với kiếp bày đàn, rồi lại trở về nơi hoang dã với nỗi buồn nguyên thuỷ - Cái ngưỡng chăng? Vượt qua cái ngưỡng chắc là sự an nhiên hoà đồng mà sự xao động ngờ vực vẫn làm chân con người lưu luyến. Cho đến lúc cả khu rừng bỗng rộn rã tiếng gà. Mỗi quả núi có vài ba con gà trống ngự trị. Gà núi nọ gọi gà núi kia. Tiếng gà gáy bình minh bổng trầm lúc xa lúc gần; tiếng con gà tre lảnh lót, tiếng con công trầm đục, lại cả tiếng lũ gà cồ ở xóm chân núi hùng dũng và náo nhiệt, tiếng người tranh với tiếng rừng... Tất cả làm rung rinh những làn sương sớm đang trôi ngang khu cổ tự.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #151 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:33:34 am » |
|
Thuận Tôn đã tỉnh dậy sau đêm dài tĩnh toạ. Tiểu đồng pha trà. Ông vừa uống trà vừa nghe tiếng gà. Bao nhiêu tiếng gà tranh nhau báo hiệu bình minh chợt làm ông mỉm cười. Và ông thở dài. Rồi, đột nhiên ông bảo tiểu đồng:
- Khách đã đến rồi đấy. Con ra cửa quán đón vào đây!
Khách đến cửa hang, nhà vua đã hỏi:
- Ông Vĩnh đấy phải không? Ta chờ ông... chờ lâu lắm rồi...
Phạm Khả Vĩnh quỳ sụp xuống lạy:
- Bẩm, thượng hoàng nguyên quân đã biết kẻ bầy tôi hèn mọn này đến đây rồi sao?
- Ta biết chứ! Đêm qua lúc tĩnh toạ, ta đã nhìn rõ thấy ông từ chân núi đi lên. Nhưng rồi ông đã dừng chân ngồi trước cửa quán Ngọc Thanh.
Vĩnh ngạc nhiên:
- Hạ thần không có mắt: Hoá ra bệ hạ đã tu được phép thiên nhãn. Mắt đã nhìn xa được ngoài tầm mắt người trần... đã nhìn thấu lòng người.
Ông vua đạo sĩ thở dài:
- Thái sư sai Nguyễn Cẩn tới đây... Hôm qua, nhìn bát canh sâm của Cẩn, ta biết ngay trong đó có gì. Nhưng, ta thản nhiên uống. Ta không bị lừa đâu. Song, ta cứ uống vì ta đã nghĩ kỹ rồi.. Ta uống vì lòng ta lúc này đã lạnh tanh. Ta đã chán cảnh tranh đua giành giật Ta không muốn vì ta mà sinh ra cảnh nồi da nấu thịt... Lạ lùng thay! Ta lại không chết. Có lẽ vì Cẩn, trong lúc bỏ thuốc độc vào bát canh, lòng đã xáo động, thuốc độc chẳng đủ liều nên ta thoát chết. Cũng có thể, vì công phu tu luyện của ta đã đến mức, khiến thứ thuốc độc kia chẳng hại được. Lại có thể vì người pha chế, lúc ra tay, còn có chút xót thương... Nhưng, này ông Vĩnh, thái sư đã sai Nguyễn Cẩn tới đây chăm sóc cho ta; còn ông, ông đến để làm gì?
Tướng quân Phạm Khả Vĩnh vẫn quỳ mọp dưới đất.
- Hạ thần thực muôn phần đắc tội.
- Này ông Vĩnh? Chắc ông biết câu chuyện bà sư ở chùa Đông Sơn gần đây, muốn đem tấm thân hư ảo bố thí cho lũ hổ lang trong rừng. Ngồi suốt một tháng ròng giữa lũ hổ lang, mà chúng chẳng dám ăn...
- Hạ thần thực muôn phần đắc tội - Vĩnh nhắc lại câu nói cũ - Lũ chúng thần đúng là lũ hổ lang...
- ý của ông, ông chẳng nỡ nói ra chứ gì. - Thuận Tôn nhắm mắt buồn rầu - Thôi để ta nói hộ cho - Ta đọc được những ý nghĩ của ông. Thái sư sai Nguyễn Cẩn đi nhưng vẫn chẳng yên tâm. Thái sư sốt ruột sai ông đi tiếp, ông là thượng tướng quân. Giết một ông vua chân yếu tay mềm đã hết quyền như ta mà phải dùng đến tay một tướng quân!...
Phạm Khả Vĩnh như không nén nổi được nữa, ông ta ngồi bật dậy.
- Tâu đức vua, dù có thế nào, xin người cũng đừng nghi ngờ lòng trung hiếu của hạ thần. Nhà thần mấy đời nay đều ăn lộc nhà Trần.
- Ta biết. Trong trận đánh Chế Bồng Nga, cha ta chỉ ban tước hầu, và phong chức thượng tướng quân cho hai người, đó là Trần Khát Chân và ông. Ta còn biết, trước khi chết, cha ta dặn đò hai người phải là hai cây cột trụ, cầm giữ binh quyền bảo vệ cơ đồ nhà Trần... Hỡi ông xa kỵ thượng tướng quân? Người ta còn báo với ta rằng ông và Trần Khát Chân là một. Ông là kẻ phục Trần, nhưng ông nằm im...
Lúc này Phạm Khả Vĩnh vẫn ủ rũ cúi đầu. Ông như muốn nói mà không nói nổi. Thuận Tôn nhíu mày.
- Dùng một kẻ chịu ơn sâu của nhà Trần... đi giết một ông vua nhà Trần... Ông bố vợ của tôi thực là sâu hiểm... Ông không cho phép ai nằm ngoài vòng cơn lốc... Thái sư bắt ông phải nhúng chàm... tay ông phải nhúng vào máu nhà Trần... Ông lừng chừng cũng chẳng được ông phải đồng loã... hoặc là chống đối... Có đúng không? Hỡi ông xa kỵ tướng quân!... và thế là ông chịu mang tiếng nhơ nhuốc... chỉ cốt...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #152 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:34:40 am » |
|
Phạm Khả Vĩnh phủ phục dưới đất - Vâng, thần xin chịu nhơ nhuốc. Chỉ cốt ngôi nhà Trần bền vững... - Ông nói nữa đi... Ông không nỡ thốt thành lời sao?... Vậy thì ta nói tiếp cho ông nghe... Các ông đã bàn tính... cho rằng nếu Khả Vĩnh giết vua... thái sư sẽ không nghi... Vĩnh sẽ nằm im chờ thời... à, ta hiểu rồi ý của các ông còn một điều này nữa... Các ông muốn mượn cái chết của ta để làm một cái cớ... tụ hợp lòng dân... phất cờ đại nghĩa trừ kẻ đại nghịch vô đạo... Ta sống cũng được... Ta chết cũng được... Dù thế nào các ông cũng xử dụng được. Có phải vậy không? Có đúng không? Có đúng không? Có đúng không? Phạm Khả Vĩnh ròng ròng nước mắt, quỳ lạy ba lạy: - Chúng thần thật đắc tội với bệ hạ. Vĩnh lại nhắc lại câu nhận tội. Người ông rung lên từng hồi vì xúc động. Còn Thuận Tôn, sau cuộc nói chuyện bỗng rơi vào tư lự. Ông thầm nhủ: Thế đấy! tất cả đều đến để cầu xin ta chết. Quý Ly mong ta chết đã đành, nhưng cả Khát Chân cũng muốn ta chết. Ai bảo ngươi sinh vào kiếp vua! Ai bảo người là ông vua hiền. Mà hiền thực hay là hèn? Ai bảo người tôn vinh sự mềm yếu, lại coi thường sự cương cường? Hỡi ôi. Kẻ làm quan làm vua có thể chẳng ác nhưng phải làm ác. Cái ác gắn với vua quan. Cái ác làm món ăn của vua quan. Cái ác là đôi cánh của vua quan. Thiếu cái ác một ngày, ngai vàng buồn rầu. Thiếu cái ác vài tuần trăng, ngai vàng rung rinh. Thiếu cái ác một năm, ngai vàng sụp đổ Cái ác là nguồn sống của vua quan. Điều đó đã ghi rành rành trong sách sử. Ôi? Cô đơn? Ta sinh ra trong xứ sở cô đơn. Cái ác, cái cuồng nộ bao giờ cũng sống bày đàn đông đúc. Còn cái hiền hậu tốt lành, lại chỉ như những nụ hoa yếu ớt và lẻ loi. Cái hiền hoà của ta là tội lỗi ư? Vả lại cái tàn nhẫn cuồng nộ phải đâu kém phần quyến rũ? Sao mà ta thấy thương ta. Ta thương ta tức thương kiếp của vạn loài. Thôi thì... ta hãy bắt chước bà sư già Tuệ. Thông bố thí tấm thân hư ảo này cho lũ hổ lang... Thuận Tôn mỉm cười với ý nghĩ của mình. Ông mở mắt ra, dứt dòng tư lự, bảo xa kỵ tướng quân: - Ông Vĩnh. Đứng lên đi. Ta chấp nhận lời thỉnh cầu của các ông... Nhưng nên nhớ một điều: sự cuồng ngộ, dù của ai, ở đâu, cũng chẳng dẫn tới bến bờ... Ta biết các ông đều mong ta chết, muốn dùng cái chết của ta, nhưng lại chẳng ai - muốn tự mình ra tay... Thôi thì ta cũng tránh tiếng cho các ông. Ta sẽ tự chết. Đêm nay, ta sẽ hoá thân... Còn ông, ông hãy đi đi. Ta không muốn trông thấy mặt các ông cho đến khi ta chết. Buổi sáng, Trần Thuận Tôn xuống Hy lăng, thắp hương trước mộ Nghệ Hoàng và khấn: “Trước vong linh tiên tổ, con là kẻ có tội. Dù sấm sét nổi lên đùng đùng xé xác con làm muôn mảnh, cũng không đủ đền tội. Nhưng xin hãy thứ tội cho con. Con không muốn cảnh núi sông xương máu, nồi da nấu thịt. Con không đương nổi việc gánh vác chăn dắt muôn dân, vạch đường cứu nước. Nhưng con nghĩ tội với dân còn nặng hơn tội với tổ tiên. Con xin chịu muôn lời xỉ vả, chịu xuống địa ngục cho xứng tội này”. Ông quỳ phục trước mộ cha rất lâu. Sau đó, ra ao Tích Lịch. Nước trong văn vắt và lạnh buốt. Ông mặc cả quần áo trầm mình dưới nước, để cho đàn cá chép đỏ vây quanh. Tay ông cầm vắt cơm bẻ dần, vứt cho lũ cá. Ông chìa tay ra, có con cá nhỏ rúc đầu vào lòng bàn tay kiếm mồi. Ông nói với cá: “Đây là vắt cơm cuối cùng ta bố thí cho các con”. Cả Nguyễn Cẩn, cả xạ kỵ tướng quân Phạm Khả Vĩnh đều chỉ dám nấp nhìn ông từ xa, không dám lại gần. Đêm hôm ấy, họ tụ tập chầu chực suốt đêm ở quán Ngọc Thanh. Thượng hoàng nguyên quân Trần Thuận Tôn ngồi tĩnh toạ trên thạch sàng, trong hang đá lạnh. Bằng phép bí truyền, ông vua đạo sĩ trút dần hơi thở vào không gian, để cuối cùng tấm thân gầy cứng lại, lạnh toát như băng. Tiểu đồng đứng hầu ngoài cửa hang. Chỉ có con vượn nhỏ ở bên mình ông vua đạo sĩ. Nó rên rỉ, và cũng như lần trước ôm chặt lấy ông, vòng tay quanh cổ, chân quặp quanh người, tim áp vào tim. Con vượn muốn như lần trước cố dùng chút hơi nóng để sưởi ấm, làm sống lại trái tim cô đơn thoi thóp của ông, nhưng lần này không được. Quá giờ dần, thì ông vua ra đi vào cõi vĩnh hằng. * * * Lúc Hồ Nguyên Trừng và Thanh Mai cưỡi voi đến núi Đạm Thuỷ: tấn bi kịch của ông vua cuối cùng nhà Trần đã kết thúc. Cẩn nói với Nguyên Trừng: - Đức vua muốn được chôn cạnh đức Nghệ Hoàng. Hạ quan đã chôn cất ngài theo sở nguyện. Con vượn nhỏ, sau khi xác nhà vua đã nhập quan, cứ phủ phục nằm dưới quan tài, bỏ ăn bỏ uống. Lúc chôn vua, con vật chết theo. Nghĩ rằng, nhà vua chỉ có nó là kẻ gần gũi nhất; từ lúc vua hoá điên cho đến lúc đi tu, nó luôn ngày đêm ở bên ngài; vì vậy cũng cho nó một nấm mồ con cạnh mả vua. Nguyên Trừng thở dài: - Thế cũng phải - Trừng dặn dò - Sau đây, ông phải xây cất lăng mộ cho nhà vua được đẹp đẽ. Rồi ông phải nhanh chóng trở về Tây Đô. Cha ta nhắc nhở ông như vậy.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #153 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:36:05 am » |
|
Phần XII - Chương 4 Sau khi đến lỵ sở ở Bình Than kiểm tra công việc và nhắc nhở các quan chức địa phương những việc cấp thời phải làm để bảo vệ miền biển và cương giới vùng đông bắc, Hồ Nguyên Trừng và Thanh Mai cưỡi voi trắng đến Côn Sơn. Có nhiều thuyết phong thuỷ nói về địa lý Đại Việt. Một trong những thuyết ấy nói nước Việt có 72 phúc địa. Những dãy núi miền Đông Bắc có đủ hình long, ly, quy, phượng. Núi Yên Tử có con suối hình rồng gọi là Long Khê là một phúc địa. Núi Phượng Hoàng nơi Chu Văn An ở ẩn cũng là danh sơn. Núi hình rùa có nhiều, chưa hiểu nơi nào là đất vượng. Còn núi hình Kỳ Lân phúc địa chính là núi Côn Sơn. Ngày xưa, núi Côn Sơn bị mờ chìm trong hàng vạn quả núi khác, ít ai biết tới. Người đầu tiên phát hiện ra linh khí của Côn Sơn là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Dưới chân núi Côn Soạn, xưa kia, có một ngôi chùa làng nhỏ bé gọi Chùa Hun. Đệ nhị Tổ Trúc Lâm, Pháp Loa thiền sư, qua đây thấy đất lành. cảnh đẹp, bèn cho mở rộng ngôi chùa, đặt tên là Thiên tư phúc tự. Khi Pháp Loa viên tịch, đệ tam tổ Trúc Lâm, thiền sư Huyền Quang về trụ trì và mất ở dây. Thời các cụ còn sống, chùa Hun là tổ đình của phái Trúc Lâm, các thiền khách và Phật tử lui tới tấp nập. Đó là thời kỳ toả sáng của Côn Sơn. Nhà Trần dần suy vong, đạo Phật cũng suy thoái. Khách thập phương không còn được đông đúc như xưa. Cả vùng đất Côn Sơn lại trở nên heo hút. Đại tư đồ Trần Nguyên Đán đến vãn cảnh chùa. Ông là người thứ hai tái phát hiện ra cái linh khí của Côn Sơn. Ông ưa chí tiêu dao của Trang Tử. lại vốn uyên thâm Lão học. Biết thời của nhà Trần đã hết, biết mình dù tài giỏi đến đâu cũng không dựng lại được cơ đồ, biết đất nước lại phải trải qua kiếp nạn mới lột xác nổi, nên ông xin về ở ẩn. Tư đồ tâu xin vua khu đất hoang ở Côn Sơn, sắp đặt một ngôi nhà để lui về nghỉ ngơi. Hai vua lúc đó là thượng hoàng Nghệ Tôn và vua Duệ Tôn biết không thể ép được cái chí của quan tư đồ. nên đã thể theo ý nguyện của ông. Vua sai thợ thuyền, binh lính và dân chúng phát hoang dọn cỏ: phạt bụi san đồi, xây đắp không nghỉ trong mấy tháng ròng. Căn nhà khang trang được dựng nên. cầu Thấu Ngọc được bắc ngang dòng suối trong vắt chảy giữa hai quả núi. Lại xếp đá, trồng cây. trồng hoa xen kẽ, tạo nên một cảnh thanh u kỳ thú ở chốn trần gian. Côn Sơn có nhiều hoa mọc hoang. Mùa xuân những cây mai nở trắng khắp vùng. Mua hè, mùa thu, hoa mẫu đơn đỏ, hoa sim, mua tím, hoa cúc dại vàng, hoa bướm trắng, chen lẫn đá lẫn màu xanh của lá. Khi làm xong toàn bộ khu ẩn cư, hai vua Trần từ Thăng Long về thăm. Quan tư đồ dẫn khách quý đến soi bóng trên cầu Thấu Ngọc, ngồi uống trà trên Thạch Bàn, dưới bóng những cây tùng reo vi vu, rồi lên đỉnh Vãn Thuý trên núi để vừa uống rượu vừa ngắm cảnh núi rừng như gấm biếc của toàn vùng. Hai vua tấm tắc ngợi khen quan tư đồ có con mắt tinh đời, biết chọn cảnh, lại khéo xây dựng, tô điểm, để tạo thành một chốn thần tiên ở nơi trần thế. Vua Duệ Tông sai lấy giấy bút tự tay viết ba chữ “Thanh Hư Động” chữ lớn để đặt tên cho toàn bộ khu vực. Thái học sinh Nguyễn Phi Khanh, con rể quan tư đồ, người nức tiếng hay chữ, được quan tư đồ rất yêu quý, vì ngoài tình cha con, còn có tình tri kỷ văn thơ, đã làm một bài ký “Thanh Hư động” để ca ngợi nơi ở thanh cao của quan tư đồ. Có đoạn viết: “Sau khi quan tu đồ từ giã triều đình lui về nghỉ ở đây có khi rong ngựa chơi vùng Gia Lâm, có khi chèo thuyền dạo miền Bình Than. Hoặc có lúc... đầu bịt chiếc khăn lững thững bên đèo. Khói ngàn. ráng đỏ, như gấm uốn, như lụa giăng. Cỏ rừng. hoa suối, hoặc mầu biếc đung đưa, hoặc mầu hồng rực rỡ. Cảnh mát dịu trong lành, thơm đến muốn nuốt, xinh đến muốn ăn. Phàm những cái gọi là hình trạng trong mát, tiếng vi vu, xa xa và vắng không, sâu thẳm mà lặng lẽ, hợp với sự mong mỏi của tai mắt và tinh thần, đều hầu như hoà với bầu trời mênh mông mà vui chơi ra ngoài cõi vật...” Nguyên Trừng rất thích bài Thanh Hư Động ký của Phi Khanh. Trừng cứ nức nở khen câu “Cảnh mát dịu trong lành, thơm đến muốn nuốt xinh đến muốn ăn”. Kể về mối quan hệ họ hàng, Trần Nguyên Đán và Hồ Quy Ly là sui gia với nhau. Vả lại Trừng và Khanh còn mến tài học của nhau, cho nên hai người là đôi bạn khá thân thiết. Hôm cưới Trần Mộng Dữ, anh vợ Phi Khanh, lấy con gái bà Huy Ninh, Nguyên trừng đã đến Côn Sơn, Trừng và Khanh đưa nhau lên Vãn Thuý đình trên đỉnh núi ngắm cảnh uống rượu. Phi Khanh nói: - Đám cưới này đã tỏ lộ cái ý của nhạc phụ tôi rồi đó. Tôi hiểu... Huynh hiểu thế nào? - Những bậc cao nhân đi ở ẩn vẫn lo cho đời sau. - Nhạc phụ tôi vốn thích cái chí của Lão Trang. - Người ẩn sĩ khi lui về vẫn lo cho đời. Các vị biết cuộc biến thiên có lúc dài lâu. Nôn nóng chẳng được. Mình chẳng xoay chuyển nổi, thì lo đào luyện, truyền đạo cho đời sau, chuẩn bị cho đời sau, để thế hệ con cháu có đủ sức gánh vác... Phi Khanh cười: Huynh quả đã hiểu cái thâm ý của đại tư đồ. Nhạc phụ tôi bây giờ tháng ngày chỉ lo chơi bời với các cháu và dạy dỗ các cháu. Cháu Trãi nhà tôi may mắn được cụ dạy dỗ... Người nhồi nhét bắt cháu đọc sách. Nhạc phụ tôi yêu nó nhất. lắm khi quá khen nó.làm tôi lo lắng... Cháu Trãi thể tạng yếu ớt. Lắm lúc tôi muốn nói với người... song lại không dám, vì nghĩ thương cho người... Có lẽ
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #154 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:37:09 am » |
|
- Có lẽ sao? - Có lẽ - Phi Khanh trầm giọng xuống - nhạc phụ tôi thấy năm tháng của mình còn ít quá... lại thấy thằng cháu thông minh, nên cụ hối hả... như con tằm cố nhả tơ cho hết... Để truyền lại những điều tâm đắc cho một đứa trẻ mới hơn mười tuổi. Cuộc nói chuyện đó xảy ra thấm thoắt đã hơn mười năm rồi. Lúc này, Nguyễn Trãi, con trai của Phi Khanh đã chừng hai mươi tuổi. Ở kinh đô, người ta đồn rằng Trãi hiện nay là một nho sinh tài ba đang kỳ nở rộ. Được tin gia nhân báo đức ông Nguyên Trừng đến thăm Thanh Hư Động. Nguyễn Trãi tề chỉnh xuống Chân núi đón khách quý. Nguyên Trừng xuống voi mừng rỡ: - Tiểu huynh đệ đã chững chạc thế này rồi ư? Ông ngắm nghía chàng trai dong dỏng cao có đôi mắt sáng và đôi môi tựa thoa son trên khuôn mặt trái xoan thanh tú. Gương mặt như có ánh sáng, nó hơi gầy làm nổi lên đôi gò má, tạo ra những nét cương nghị, làm dịu bớt sự non tơ của dôi mắt sáng đa tình, làm chín chắn thêm sự thông minh mà toàn bộ con người chàng toát ra khi ta mới gặp. Nguyên Trừng đưa mắt nhìn quanh. Trãi hiểu ngay Trừng muốn tìm gì: - Bẩm đức ông, cha tiểu sinh mấy hôm nay đến thăm bác Đoàn Xuân Lôi. Nguyên Trừng gật đầu. Ông hiểu. Tháng trước, thái sư có gửi thư cho Phi Khanh, muốn nhờ ông thuyết phục những người đỗ đạt vùng Hải Đông. Tập hợp nhân tài ở Tây Đô. Càng nhiều người tài giỏi càng tốt. Đó là mối ưu tư của thái sư Quý Ly. Nhớ lại chuyện Đoàn Xuân Lôi viết thiên phi Minh Đạo để phản đối Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng lại chợt cười thầm. Hôm ấy, Nguyên trừng đến thăm cha, bắt gặp thái sư cứ đi đi lại lại mặt phừng phừng. Hầu như chưa bao giờ Trừng bắt gặp cha mình tức giận. Đôi mày ông già cau lại, mắt ông long lanh. Ông đưa cho Trừng đọc bài Phi Minh Đạo của Xuân Lôi. - Anh xem. Thằng cha này có xược không? Có ngu không? Thế mà cũng đỗ thái học sinh đấy? Rặt một lũ tầm chương trích cú. Rặt một lũ đạo chính văn chương. Chỉ chăm chăm bước sao cho khỏi chệch bước các vị tiên hiền. Kẻ sĩ đấy ư?... Một lũ nô bộc sĩ? Đầu óc họ ở đâu? Không dám cả gan ra khỏi lối mòn. Không dám cả gan tạo lập... Cứ nhắc đến các vị tiên hiền là đầu óc tê liệt, mặt mày dúm dó... Cứ như thể mất mật bay hồn... Hỏi như thế làm sao có thể làm rạng rỡ văn hiến cho non sông. Đức Khổng Phu tử cũng phải có lúc sai chứ... Nếu không sai thì cũng có lúc, có nơi chẳng hợp thời... Cơn giận của Thái sư Quý Ly hình như đến cực điểm. Lần đầu tiên, Trừng thấy cha mình văng tục: - Chu Hy là cái đếch gì? Trình Di cũng là cái đếch gì! Thuần một lũ ăn cắp văn mà thôi... Cả triều đình cứ tưởng thế nào Đoàn Xuân Lôi cũng phải chết. Động đến cái vẩy ngược của con rồng còn mong gì sống. Cuốn Minh Đạo là tâm huyết của Quý Ly Tất cả suy tư phục hưng đất nước của ông nằm ở đó. Cái vẩy rồng ngược của ông ai dám chạm... Thế nhưng Đoàn Xuân Lôi lại chỉ bị xử rất nhẹ, chỉ bị điều đi làm chức học quan ở trấn Hải Đông... * * * Nguyễn Trãi thu xếp chỗ ở để Nguyên Trừng và Thanh Mai nghỉ một ngày tại Thanh Hư Động. Hôm sau Trãi dẫn hai người đi vãn cảnh. Côn Sơn mùa xuân bừng lên đầy hoa. Khu rừng mai như có ức triệu con bướm trắng nhỏ đậu lốm đốm trên nền lá xanh cốm. Khu rừng trúc với muôn ngàn búp măng chĩa lên trời. Những ngọn tre non chưa mọc lá như những chiếc giáo tua tủa, hoặc như những chiếc cần câu cong cong làm chỗ đậu cho lũ chim rừng, khi thấy bóng người chúng bay túa cả lên bầu trời, biến thành một đám mây ríu rít, đám mây chim thoắt biến thành một giải lụa màu xanh, bay qua thung lũng, rồi biến mất ở khu rừng trên sườn núi Ngũ Nhạc. Tiếng suối rót rách, rừng thông vi vu, ngàn tre xào xạc, nghe khúc nhạc rừng êm ả ấy, Thanh Mai như thấy thơ trẻ lại; cô gái luôn cười giòn; tiếng cười vang trong trẻo lạ thường khiến lũ khướu rừng hót hay đến thế cũng phải ngừng hót, không dám tranh hơn. Nguyễn Trãi nhìn gương mặt sung sướng và hào hứng của Nguyên Trừng, anh hỏi: - Chắc phu nhân phải có giọng hát thật hay? Nguyên Trừng nắm tay Trãi cười ngất: - Quả là công tử có con mắt tinh đời. Nghe tiếng cười đã đoán biết ngay giọng hát. Trãi ngẫm nghĩ: - Nhìn đức ông và phu nhân, tiểu sinh lại chợt nhớ tới một đôi vợ chồng đi làm thuê ở chùa Hun. Năm ngoái, họ đến chùa. xin làm chân thợ gặt. Hai người ăn mặc, sạch sẽ, rất khôi ngô tuấn tú, không có vẻ người lam lũ. Nhà chùa mới đầu còn ngần ngừ, nhưng vì đang mùa gặt rộ nên nhận họ vào làm. Một hôm, tôi đến chùa Hun thấy họ, nhận ngay ra đó là một đôi tài tử ẩn đời, thích ngao du sơn thuỷ hơn là bị trói buộc. Tôi mời họ về nhà, rồi chuyện trò, thấy người con trai tỏ ra có tầm mắt rất xa rộng. Hết mùa gặt họ lại ra đi. Tôi hỏi tên tuổi. Họ chỉ cười chẳng nói. Và đến lúc ấy, tôi mới biết người con trai là một hoạ sĩ tuyệt vời. Để cảm ơn tấm lòng tri ngộ, anh vẽ tặng tôi cảnh một ngôi nhà tranh trên núi, ngôi nhà mà ông tôi mùa hè vẫn lên ở. Ngôi nhà nằm bên rừng trúc sau lưng lác đác mấy gốc thông già suốt ngày reo hát, những lúc trời trong đứng ở đó nhìn thấy cả dòng sông Lục Đầu như giải lụa ngoằn ngoèo trôi về phía xa xa, nhưng về mùa đông luôn luôn có những đàm mây bồng bềnh bay qua. Người hoạ sĩ gọi bức tranh đó là Hang Mây (Vân Oa).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #155 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:38:51 am » |
|
Cả ba người quay trở về nhà khách. Bức tranh Vân Oa khổ lớn treo dài trên tường. Phía trên đỉnh là ngôi nhà cỏ nằm trong rừng trúc. Khoảng giữa. lấp ló ngôi chùa cổ đìu hiu dưới những hàng tùng. Phía dưới cùng uốn khúc một dòng sông. Đẹp nhất và vẽ khó nhất là những đám mây. Những đám mây xôm xốp giăng giăng khắp đỉnh núi và sườn núi khiến cho ngôi nhà mờ mờ tỏ tỏ. Chúng phân cách ngôi lều cỏ với chân núi, với trần thế. Tức là ngay cả ngôi chùa cũng nằm trong vùng trần thế... Nguyên Trừng nhìn bức tranh nhận ngay ra nét vẽ của Phạm Sinh, nhưng ông không nói gì, chỉ thở dài và mãi lúc sau mới bâng qươ:
- Chả trách gọi là hang mây!
Phía góc trống bên phải có bài thơ “Vân Oa” của Nguyễn Trãi:
Nửa rèm hoa chiếu, sách giường đầy Khóm trúc ngoài sân reo gió lay Ở chốn Vân Oa ngày rỗi trọn Song trưa một gối giấc ngon say . Nguyên Trừng cứ tấm tắc ngâm mãi hai câu thơ đầu của Trãi: Bán liêm hoa ảnh mãn sàng thư Đình ngoại tiêu tiêu thuỷ trúc cư...
Đêm hôm ấy ba người ngồi uống trà, Nguyên Trừng bảo:
- Nguyễn Trãi công tử có tài nhìn người nông phu đã nhận ngay ra tay thần hoạ. Sáng nay nghe tiếng cười lại bảo nàng cỏ giọng hát hay. Công tử lại cho chúng ta đọc thơ Vân Oa tuyệt tác. Vậy tôi đề nghị thế này: đêm nay công từ phải làm một bài thơ, nàng Thanh Mai phải nhân thơ mà hát; còn ta cũng nhân hát mà đàn...
Mọi người vui vẻ cười. Nguyễn Trãi có vẻ tần ngần:
- Thanh Hư Động gắn bó với vãn sinh từ thủa ấu thơ. Biết bao nhiêu cảnh vật, hình bóng, kỷ niệm. Nhưng tôi mới chỉ làm bài thơ Vân Oa. Nhất định tôi sẽ làm một bài thơ Côn Sơn... Có lẽ là đến lúc tuổi già chăng... còn bây giờ...
Hồ Nguyên Trừng gật đầu:
- Cũng phải! Cái gì thật thiêng liêng ta hãy dành cho tuổi già. Còn nàng; một tài tử du khách, lẽ nào lại không thể có một khúc ngẫu hứng nhẹ nhàng để đánh dấu cuộc kỳ ngộ của chúng ta.
Thanh Mai nói:
- Được đọc thơ Hang mây của công tử. Lại được hưởng bao nhiêu cảnh kỳ thú. Tôi đánh bạo làm một khúc ca dân dã:
“Vân Oa” chót vót non cao Bông bềnh mây trắng bay vào Bồng lai Suối khuya rót rách bên tai Dưới khe nước chảy ngỡ ai đàn cầm...
Nguyên Trừng sảng khoái cầm ngay chiếc đàn nguyệt dạo một khúc lưu không. Thanh Mai lấy chiếc ống trúc đựng bút đặt nằm ngang, rồi gõ bằng hai chiếc đũa.
Nàng nói:
- Điệu hát này tôi học từ thủa bé. Xưa kia mẹ tôi vẫn gõ vào thanh tre xua cá mà hát. Còn cha tôi thì ngẫu hứng trên chiếc đàn. Đã lâu rồi, cũng có chỗ quên. Điệu hát này cốt ở thanh thản ngân nga. Và lòng không vướng bụi...
Nói rồi nàng bắt đầu gõ. Tiếng lách cách lúc khoan, lúc nhặt, lúc ngập ngừng, lúc lãng đãng phiêu du. Nguyên Trừng nhắm mắt lại nghe tiếng gõ, để dần dần hồn và xác nhập vào tiếng phách. Và những ngón tay cũng nhân đó mà ngân nga, dặt dìu tuỳ hứng. Giọng Thanh Mai chậm rãi vút lên trong vắt hát khúc Côn Sơn:
Chót vót non cao... Bồng bềnh chót vót non cao. Ta theo mây trắng bay vào Bồng Lai. Chợt nghe rót rách bên tai Suối khuya nước chảy ngỡ ai đàn cầm... Bàu đá xám rêu phong phô biếc Ngả lưng nằm ngỡ chiếc nệm êm ...Thông mọc như nêm... Rừng xanh thông mọc như nêm Như muôn chiếc lọng che trên mái đầu Cầu Thấu Ngọc, tiêu sầu vạn cổ. Động Thanh Hư, thoát luỵ trần gian Non tiên, chép một chữ nhàn...
Thanh Mai hát theo một đường. Tiếng đàn Nguyên Trừng lại lãng đãng đi theo một nẻo. Mới đầu cứ tưởng tiếng hát và tiếng đàn đã lạc lối nhau. Thậm chí có lúc cứ tưởng như chúng đối nghịch lẫn nhau, xa cách hẳn nhau. Nhưng điều kỳ lạ, tiếng đàn tiếng hát càng đi xa càng chẳng nỡ; và người nghe càng nghe thật kỹ, mới thấy sự ngỡ ngàng xa cách ấy chỉ là bề ngoài, thực chất chúng càng khác nhau lại càng xoắn xuýt lấy nhau, tựa như mối tơ vò không sao tách khỏi. Cảm giác như chúng văng ra khỏi nhau từng khúc rồi lại nhập lại với nhau từng khúc, để rồi cuối cùng là một sự đại hoà hợp. Tiếng hát, tiếng phách, tiếng đàn đã hoàn toàn chập lại với nhau, tròn đầy, hài hoà...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #156 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:39:48 am » |
|
Nguyễn Trãi tán thưởng: - Nghe nói đây là khúc hát chầu trong cung được nhặt ra từ chốn quê dân dã, tôi đã được nghe qua vài lần. Nhưng chỉ lần này mới hiểu được cái thần của nó. âm thanh rất động, nhưng cái thể lại là tĩnh lặng. Tưởng như chẳng nhịp nhàng, mỗi người mỗi ngả, hoá ra lại chung một nẻo đường. Không vội vã, không xáo xác, không âu lo, ngân nga, thoát tục... Xin lỗi phu nhân: “Non tiên chép một chữ nhàn”, hay là “Non tiên chép một chữ thiền”? Thanh Mai cúi mình cảm tạ. Gia nhân bưng rượu lên. Ba người ngồi uống; bỗng nhiên chẳng ai nói một câu. Trong chiếu rượu của các bậc tài tử thường có chuyện như vậy. Người ta hay nói nhiều, để rồi đột nhiên tất cả ngồi lạnh ngắt, như thể mỗi người theo đuổi một dòng tâm tư riêng rẽ. Nguyễn Trãi là người đầu tiên phá sự im lặng. - “Non tiên, chép một chữ nhàn!” Trước kia tôi không hiểu, tại sao tôi rất muốn làm một khúc Côn Sơn, mà hình như trong lòng lại có điều gì ngăn cản lại. Bây giờ thì tôi hiểu, chỉ những người từng trải như phu nhân mới nên làm khúc tụng ca về những chuyện sơn khê. Tôi còn trẻ quá. Chưa thể đem lời ước hẹn với núi rừng được... Câu chuyện dần dần đi vào chỗ tâm đắc. Nó đã chuyển sang hướng khác, cuối cùng đi vào những vấn đề thiết yếu của non sông. Nguyên Trừng hỏi: - Công tử thấy đất nước ta đang... vận hội ra sao? - Một thời biến động! - Công tử cô tiếc rằng mình đã sinh lỡ thời... không được gặp thời đại trị hay không? - Lỡ thời ư? Thực ra, tôi rất thích dù mình được sinh ra ở thời nào. Đại trị ư? Thì nhân lúc trời sáng, sao ta chẳng như con gà vươn cổ mà cất cao tiếng gáy. Chẳng sảng khoái lắm sao? Đại loạn ư? Sao ta chẳng nhân lúc sấm ran chớp giật, để biến thành cơn mưa rào giăng giăng trên cánh đồng, rồi biến thành dòng nước, hoà cùng muôn vật chảy, để rồi, sau cơn giông bão trời sẽ tạnh, nước lại tì tũm cùng muôn loài vươn lên xanh tươi Vẫn chẳng sảng khoái lắm sao. Nguyên Trừng cười to: - Đại loạn ư? Tại sao lại sợ? Nếu không có nó hỏi đất trời làm cách nào thay da đổi thịt. Lúc này, Trãi đã ngà ngà. Chàng công tử mắt sáng lên, nói chuyện với người mà như nói với mình: - Chỉ cốt cái tâm ta sáng... Cái trí ta sáng... lúc này đây lột xác là chính hay lòng dân là chính?... Dân theo, nhưng không lột xác... cả bầu trời vẫn là tăm tối. Lột xác, nhưng dân thờ ơ... Cái hoạ lật đắm thuyền của bao đời vẫn sờ sờ trước mắt. Nhưng biết làm sao được! Người ta vẫn phải đi vào mưa to gió lớn mới có thể tìm được lối ra... Chỉ miễn là cái tâm ta sáng... Nguyễn Trãi lại lặp lại câu nói của mình. Còn Nguyên Trừng, ông cười to sảng khoái: - Cái chí của công tử rất hợp với Trừng này - Rồi Trừng nâng chén rượu lên mời Trãi - Tiểu huynh đệ ạ, tôi đến đây mục đích có hai việc. Thứ nhất: Muốn mời bác Phi Khanh cùng các bậc danh sĩ xứ Đông đến Tây Đô dự lễ, mừng khánh thành kinh đô mới. Thứ hai: Tôi xin báo với công tử, đầu năm tới, sẽ mở khoa thi lớn tại Tây Đô để kén chọn hiền tài. Tôi đã đến trấn sở, báo cho các quan trấn phủ đều biết; nay mai sẽ thông báo việc này đến tận các làng xã. Đã lâu nay, vì tình thế chưa ổn, nên chẳng có khoa thi, vì vậy ngăn trở, không có cơ hội cho người tài xuất đầu lộ diện, giúp vua trị nước... Cuộc rượu kéo dài mãi cho đến tận khuya... * * * Tuy say, nhưng sáng hôm sau, Nguyên Trừng và Thanh Mai vẫn lên bành voi khởi hành từ sớm rời khỏi Côn Sơn. Cuộc gặp gỡ với Nguyễn Trãi làm ông rất vui. Trước mắt ông là điểm cuối của cuộc hành trình, họ nhằm thẳng hướng núi thiêng Yên Tử.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #157 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:41:18 am » |
|
Phần XII - Chương 5 Trong các ngọn núi cao của Đại Việt, núi Tản Viên và núi Yên Tử được coi là những núi thiêng. Riêng núi Yên Tử được coi là đất tổ Phật giáo của Đại Việt. Núi cao trên ba ngàn thước (thước ta = 1069 mét) ngọn núi chót vót cao nhất vùng Đông Bắc, sừng sững nằm nhìn ra vịnh Bái Tử Long, quanh năm mây phủ nên cũng gọi là Núi Mây Trắng (Bạch Vân Sơn). Người Việt tin rằng, ở những ngọn núi thiêng, khí âm trong lòng đất nhờ chóp núi cao, nên đổ dồn về tụ hợp tại đó, và khí dương trên trời thấy khí âm tụ hội, cũng nương theo những đám mây trắng bay tới, để giao hoà. Sự thái hoà nhờ đó mà được xác lập tốt lành. Cũng vì lý do đó, đạo Phật đạo Lão đều tìm cách xây chùa, quán trên các ngọn núi. Thậm chí ở Trung Hoa đạo Phật đạo Lão xẩy ra chiến tranh để tranh chiếm núi thiêng. Ở Đại Việt, đạo Lão không phải quốc giáo nên may mẩn không xẩy ra chuyện đó. Và ở Đại Việt, cũng vì lý do đó, nên các ngôi chùa nổi tiếng phần lớn đều được dựng ở các danh sơn, ví dụ chùa Thầy ở lộ Quốc Oai, chùa Phật Tích ở Lộ Bắc Giang, chùa Quỳnh Lâm và chùa Yên Tử ở vùng Đông Bắc... Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, đoạn viết về Nhạc Nghị có nói khi nước Tần thâu tóm toàn bộ Trung Nguyên, có Hà Thượng Trượng Nhân là một người rất giỏi đạo Hoàng Lão, là bậc chân nhân của một thời. Thời Nhà Tần các bậc chân nhân rất giỏi việc luyện đan, làm thuốc. Hà Thượng Trượng Nhân có học trò giỏi là An Kỳ Sinh. Sang thời nhà Hán, lúc đó nước ta còn bị nội thuộc nước Tầu, An Kỳ Sinh sang Nam Việt đến núi Mây Trắng, thấy núi nhiều linh khí đã lên đỉnh núi dựng am cỏ, ở lại luyện đan, chữa bệnh cho dân, từ đó núi có tên Yên Tử Sơn. Đến thời nội thuộc nhà Đường, Tôn Quang Đình viết bài ký “Động thiên phúc đại” có nói” Núi Yên Tử là một trong 72 phúc địa của nước Việt”. Nhưng, danh dự to lớn nhất đến với núi Yên Tử, phải kể từ khi vua Trần Nhân Tông của Đại Việt sau hai lần đánh tan giặc Nguyên, đã rời bỏ ngôi báu, mặc áo nâu sồng. đi chân đất lên núi thiêng tu Phật và thành lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đạo Phật nhà Trần phát triển rực rỡ, góp phần tạo dựng nên văn hoá hài hoà Đại Việt. Hơn một chục ngôi chùa được dựng ngay trên đất Yên Tử. Núi thiêng đã toả khí lành từ bi lên khắp đất nước. Yên Tử đã trở thành tổ đình Phật giáo là một danh sơn bậc nhất nước ta... * * * Sau khi Phạm Sinh quay trở về Thăng Long tìm cha, sư Vô Trụ cũng quay trở về núi thiêng Yên Tử. Vị du tăng đã lang thang cả một đời, đi đến đâu cũng tìm hết cách xoa dịu nỗi đau khổ của người dân khốn cùng. Ông thấy mình đã già rồi, đã thấm mệt, tuổi già không cho phép ông tiếp tục để du phương khuyến thiện, hành phật sự. Ông quay lại suối rừng để làm việc cuối cùng, niệm phật, suy ngẫm tìm về với cái chân tâm vắng lặng của mình. Về cuối đời thiền sư Huệ Quang đệ tam tổ Trúc Lâm đã gần 80, già lắm rồi, ông tu tại chùa Hun, Côn Sơn. Lúc đó Vô Trụ là một chú sa di chừng mười tuổi, suốt ngày đêm hầu hạ tổ. Lúc nào chú cũng khoanh tay trước ngực rất lễ phép, chẳng lúc nào sao nhãng công việc Hoà thượng già rất thương chú, thường gọi đùa là “Chú bé khoanh tay”. Hỏi đến chữ nghĩa kinh kệ, chú trả lời rất thông. Thiền sư Huệ Quang ngạc nhiên: - Ai dậy con học vậy? - Thưa tổ, các sư huynh dậy mặt chữ. - Thời giờ đâu con học? Thưa tổ, ban trưa, ban tối, lúc tổ mệt ngủ thiếp đi, con lấy que viết chữ lên đất. Viết mãi nên lu lu như in. - Con thử dọc một bài kệ nào cho ông nghe Chú bé lập tức đọc vanh vách: Tâm vương không tướng cũng không hình Mặt tựa ly châu vẫn chẳng minh Muốn biết đâu là “khuôn mặt thực” Ha ha! giữa trưa là nửa đêm.- Bài đó của ai? - Của ngài Tuệ Trung thượng sĩ. - Con hiểu thế nào? - Dạ, con không hiểu, nhưng con biết “Tâm” là điều quan trọng nhất của đức Phật. - Ai dậy con bài kệ? - Bẩm sư tổ, không ai dậy... Con suốt ngày đứng hầu tổ Con nghe tổ nói chuyện với khách, và con nhập tâm. Tổ Huyền Quang lấy làm lạ. Từ đó, tổ dậy cho chú bé học hành cẩn thận. Được một năm, sư Huyền Quang ốm nặng. Chú tiểu đêm ngày liền kề bên thầy. Có bận, nửa đêm sư tỉnh dậy, chợt nghe thấy bên giường có tiếng khóc sụt sùi. Nhìn ra mới biết tiếng khóc của chú tiểu. Sư nắm lấy tay chú bé bảo: - Con nín đi! Người tu hành đừng để cho tình cảm sai khiến.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #158 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2009, 09:59:43 pm » |
|
- Thưa tổ, con biết, nhưng tự nhiên nước mắt cứ chảy ra.
- Dạo trước, ta đã giảng cho con bài “Sinh tử nhàn nhi dĩ”. (Sống chết, nhàn mà thôi) của ngài Tuệ Trung, con không nhớ sao?
- Dạ, con còn nhớ.
- Con nghe dây. Sau khi ta ra đi, con hãy đến học đạo với thiền sư Lãm Sơn. Ông ta là một ẩn tăng, ít nói, nhưng là bậc đắc đạo trong rừng thiền... Chú sa di mấy tháng sau, tìm đến núi Lãm Sơn lộ Bắc Giang. Thiền sư Lãm Sơn theo thuyết “vô ngôn chi giáo”. Hôm chú bé đến, sư bảo:
- Tổ Huyền Quang là thầy ta. Ta nghe tổ nói ngươi đứng hầu mà thuộc lòng bài Tâm Vương, vậy đã có chút duyên với Phật rồi đó. Nhưng ta sẽ không giảng giải gì hết. Tự nhà ngươi phải tìm ra cái “bản lai diện mục” của mình. Sách đấy, kinh đấy, lục đấy, ngươi hãy tự đọc Đạo Phật có hàng ngàn cuốn sách, nhưng mỗi người ngộ đạo có khi chỉ nhờ vào một câu. Hãy suy ngẫm đêm ngày, cho đến lúc nào hết suy ngẫm và bừng sáng. Những lời của chư tổ thật ngược ngạo, bí hiểm, nhưng thực ra chẳng có gì bí hiểm. Chẳng qua chư tổ dùng lời khó khăn để chọn lựa người. Con đường đi đến chân giác thành Phật vốn xa lắc và đầy gian nguy, nên chi không thể thiếu chí khí và không được hèn nhát. Phải nhảy qua núi cao, thõng tay đi trên vực thẳm mới đến được bờ giác...
Từ đó, chú bé chăm chỉ làm việc, đọc kinh và suy ngẫm. Chỉ có những giờ thiền định, chú mới được ngồi lặng lẽ bên thầy. Thiền sư Lãm Sơn chẳng nói gì, nhưng chú cảm thấy ánh mắt hiền từ ấm áp của thầy như luôn luôn ở bên chú, hộ niệm cho chú.
Chú sa di cứ tự vật lộn một mình như vậy trong thời gian dài, cho đến khi thành niên, được thụ giới cụ túc (chính thức trở thành sư). Một bận, thấy đang đọc kinh, thiền sư Lãm Sơn hỏi:
- Này Vô Trụ, nhà ngươi đang đọc gì vậy? Bẩm hoà thượng, con đang đọc Phật Pháp. - Đức Phật tổ há chẳng nói, bốn mươi chín năm ta thuyết pháp song chẳng hề nói một lời nào cả...
Vô Trụ sửng người, chưa biết trả lời ra sao. Hoà thượng liền nói.
- Nhà ngươi đang mê. Thôi! Bỏ sách đấy. Hãy đến Yên Tử gặp thiền sư Vô Trước, ở đấy ít bữa, may ra đầu óc ngươi có sáng ra chút nào.
Vô Trụ vâng lời thầy, khăn gói lặn lội mấy ngày đến chùa Vân Yên trên núi thiêng. Người thủ toạ bảo thiền sư Vô Trước ở am cỏ, trên đỉnh núi. Vô Trụ phải leo những bậc đá cheo leo, nửa buổi mới tới đỉnh mây mù, tới am cỏ. Trời mù gió. Mây trắng khắp chốn, như sữa trôi ngang núi. Rừng cỏ lau trắng xoá cong mình nhận cơn gió lạnh từ ngoài biển đông thốc vào. Sư Vô Trước đang tĩnh toạ trong lều cỏ hẹp. Vô Trụ không dám làm kinh động hoà thượng, người thầy tu trẻ quỳ trước cửa lều chờ cho đến lúc xong buổi ngồi thiền. Vô Trụ đã quỳ lâu lắm. Sương mù đỉnh núi làm quần áo ướt đẫm. kéo cái lạnh vào đến xương tuỷ, song người thày chùa vẫn kiên trì quỳ đợi. Gần sẩm tối, thiền sư Vô Trước mới bừng mở mắt, và hỏi.
- Nhà ngươi từ đâu đến?
Bẩm hoà thượng, thầy con là Lãm Sơn sai con đến.
- À! Nhà ngươi đến làm gì?
- Con đi tìm Phật Pháp.
- Có đói khát lắm không?
- Bạch hoà thượng. Con vô cùng đói khát.
- Nhà có giầu có lắm không?... Có nhiều châu báu lắm không?
- Bạch hoà thượng... Vô Trụ ngỡ ngàng như còn suy nghĩ. Thiền sư liền hất tay.
- Về đi về đi! Nhà ngươi mê rồi. Nhà đầy châu báu còn đi tận đâu đâu... Về đi? Về đi?
Sư Vô Trụ chợt bừng tỉnh. Người thầy tu trẻ ngay đêm hôm đó xuống núi. quay trở về Lãm Sơn. Thấy học trò bái lạy, hoà thượng Lãm Sơn hỏi:
- Ngươi bái lạy ta cái gì?
- Con biết ơn thầy vì thầy không giảng giải cho con.
- Ngươi đã ngộ được cái gì?
- Thưa thầy, con đã trở về nhà.
Hoà thượng Lãm Sơn gật đầu.
Ít lâu sau, Vô Trụ cuốn giẻ tẩm dầu lạc vào một ngón tay đốt cho cháy thành than mà vẫn ngồi thiền điềm nhiên. Sư nguyện tu theo hạnh đầu dà, môi ngày chỉ ăn một bữa, và di du tăng khắp miền đất nước. Sư gặp gỡ các vị thiền đức để học hỏi thêm về đạo. Sư muốn giúp đỡ nhiều cho mọi người, nên đã học thêm cả võ đạo, y đạo. Gặp năm mất mùa đói khát, giặc cướp nổi lên như ong, dịch bệnh truyền lan, người chết như ngả rạ, sư đi hành cước đến một ngôi chùa làng ở lộ Quốc Oai, đã dừng chân, ngày đêm xả thân chữa bệnh cứu đói cho dân làng, chữa khỏi bệnh cho nhiều người. Xong việc, ông định ra đi, dân làng chạy theo đồng thanh xin ông ở lại. Ông bèn dừng chân ở ngôi chùa quê nhỏ bé, hẻo lánh, cạnh cái đầm lớn tên gọi đầm Thiên nhiên. Chính tại ngôi chùa làng nhỏ bé bên bờ đầm ấy, sư cụ đã ra tay cứu giúp chú bé vô thừa nhận Phạm Sư Ôn. Nhưng kỳ lạ thay? Chú bé lại không đi theo con đường mà hoà thượng vạch ra. Thiên Nhiên tăng đã đi theo con đường nổi loạn. Sư Vô Trụ lúc đó chợt hiểu thế giới này họp bởi triệu ức những cơ duyên, có những duyên hợp để làm công việc huỷ bỏ, lại có những duyên hợp khác để làm việc xây dựng; dù ta có ý muốn làm thay đổi cũng chẳng được.
Tuy nghĩ thế. nhưng khi gặp mẹ con Phạm Sinh hoà thượng lại ra tay cứu giúp cái thế hệ tiếp theo của những con người vô thừa nhận. Rồi Phạm Sinh lại cưỡng lại những thiện ý của sư cụ. Sư thở dài nghĩ: “Con đường của các bồ tát dạy ta là thế, dù có phải làm đi làm lại nhiều lần”.
Thời gian thiền sư hành cước đến Thăng Long, ông đã kết thân với Sử Văn Hoa và cụ lang Phạm. Ở kinh đô sư mới hiểu đất nước đang biến chuyển với tốc độ thiên lý. Nhất là, gần gũi cụ lang Phạm, ông biết được nhiều chuyện cung. Ông bảo cụ lang:
- Cư sĩ ạ. Chúng ta sinh ra vào thời mạt pháp. Mà lúc này, có lẽ đang vào thời hắc ám. Về thôi! Ta về với núi rừng thôi.
- Chúng ta đã già rồi. Và có lẽ tôi cũng muốn về núi để viết một cuốn sách thuốc. Thế là hai ông già dắt díu nhau trở về núi thiêng Yên Tử.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #159 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2009, 10:00:59 pm » |
|
Hai người leo lên chùa Vân Yên. được biết thiền sư Vô Trước đã thị tịch. Vô Trụ ra tháp thắp hương rồi quay về nhà tổ. Sư huynh Quốc Nhất thay thế thiền sư Vô Trước bảo Vô Trụ:
Sư đệ đã già rồi, chắc đã mỏi gót vân du, có muốn trở về làm bạn với suối rừng để dưỡng chân không? Bẩm sư huynh, cho phép đệ được về nơi càng thanh vắng càng tốt. Cư sĩ Phạm là danh y ở kinh sư cũng cùng một chí với đệ.
Thiền sư Quốc Nhất gật đầu, cho họ ra ở nơi am cỏ vùng Thác Bạc.
Cứ nhìn quang cảnh núi Yên Tử, người ta thấy ngay được sự lên xuống của Phật giáo Đại Việt. Thời vua Trần Nhân Tôn đệ nhất tổ Trúc Lâm, đây là núi tổ Phật giáo. Vua bụt tu hành ở đó nên toàn thể phật tử và nhân dân đều hướng về đó. Đệ nhất tổ tu hạnh đầu đà, không ưa xa hoa, nên chùa chiền trên núi hoàn toàn mộc mạc, nhiều chùa chỉ là am cỏ. Đến thời vua Trần Anh Tôn cùng với đệ nhị tổ Pháp Loa, Phật giáo lúc đó cực thịnh. Điều khác trước, là các chùa chiền trên núi Yên Tử đều được xây cất nguy nga đẹp đẽ, nhất là khu vực lưng chừng núi, quanh chùa Vân Yên. Mới đến trước chùa, ta đã gặp ngay ngọn tháp bằng đá, nơi để xá lị của đức Nhân Tông, cao ngất trời, chừng vài chục trượng. Sau tháp có ao nhỏ thả sen, và vườn hoa. Leo lên sân chùa, ta trông thấy toà Vân yên Tự lợp ngói lưu ly mầu xanh, tám mái. Đối xứng hai bên tả hữu là lầu chuông, lầu khánh nguy nga. Vua Trần Anh Tôn muốn phát huy công đức của vua bụt Nhân Tôn cha mình, nên đã phát tiền công khố tu bổ cho chùa chiền Yên Tử rất nhiều. Các chùa nơi khác có nguồn kinh tế do ruộng chùa cung cấp. Núi Yên Tử không có ruộng nước nên nguồn cung cấp kinh tế do nhà nước cấp. Hàng trăm sư tăng của hơn một chục ngôi chùa đều ăn gạo nhà nước, ăn muối nhà nước. Thậm chí, có cả một kho muối dự trữ trên núi, nơi trữ muối gọi là am diêm...
Tiếp đó, đến đời vua Trần Minh Tông. Vua không chú ý mấy tới đạo Phật. Thiền phái Trúc Lâm dần dần sa sút. Nhà nước cắt dần cung cấp. Sư tăng trên núi phải rau cháo tự túc. Lẽ dĩ nhiên sư tăng cũng giảm bớt, phải chuyển về các ngôi chùa làng ở khắp nơi, để có cái sống mà tu hành. Nhà nước bỏ rơi thì nhân dân cưu mang đạo Phật...
Từ thời Trần Dụ Tôn trở đi, đạo Phật rơi vào chỗ suy sụp Rồi giặc cướp nổi lên, Chế Bồng Nga đánh phá, rồi Hồ Quý Ly ra sắc lệnh bắt sư tăng đi tu để trốn lính phải hoàn tục. Đạo Nho bắt đầu lên ngôi, đạo Phật như chỉ còn thoi thóp.
Chùa chiền Yên Tử lúc này, qua thời gian gần trăm năm, kể từ khi Trần Nhân Tôn thị tịch, đã bắt đầu đổ nát. Và vì chùa to đẹp quá, lại xây dựng trên núi cao nên không tài nào có khả năng trùng tu lại được. Lầu chuông gác trống đã trông thấy cả trời; chùa cả Vân Yên vì to rộng quá nên càng nhiều chỗ dột nát; sư tăng cố co kéo, đảo mái, nhưng ngói dần dần vỡ, thiếu hụt, dù có cố dàn mỏng ra cũng không kín mái. Tường vôi lở lói. Sư tăng còn ít, lại phải lo xuống chân núi trồng sắn trồng khoai; chỉ còn sư cụ và chú tiểu thường trực tại chùa trông nom làm cho sạch sẽ gọn gàng, nhưng cũng không ngăn nổi cỏ mọc xanh kẽ gạch và rêu bò lan vách tường.
Thiền sư Quốc Nhất cho chú tiểu dẫn hai ông già ra vùng Am Dược. Hồi các tổ Trúc Lâm còn sống, vùng am Dược nhộn nhịp người đi về. Vùng Yên Tử nhiều cây thuốc quý, Trúc Lâm đại sĩ tụ hợp một số nhà sư giỏi nghề thuốc về đây, hái lá, đào rễ cây. bào chế nhiều loại thuốc để phát không cho dân nghèo. Nhưng bây giờ, am Dược từ lâu không có người ở. Chú tiểu dẫn đầu đi về hướng đông. Lối mòn xưa đã bị cây đại, cây leo xoá hết dấu vết, chú phải dùng dao quắm phát quang, mở lối dẫn vào một khu rừng già nguyên sơ. Rừng đại ngàn với những cây cao thẳng vút xòe tán rộng, cây nọ ôm bóng cây kia, toả âm u, ngăn không cho, dù một vệt nắng, lọt rơi xuống đất. Qua đoạn rừng già, họ gặp khu rừng trúc vàng. Trúc nhỏ và cao đều tăm tắp. Những cây măng dầu xuân đã kịp chui qua màu lá xanh để chĩa thẳng lên trời, rồi cong cong như hàng ngàn chiếc cần câu vàng đu đưa khi gió thổi. Họ dẫm chân trên thảm cây khô lá mục, nhắm mắt lại chợt thấy mùi ngai ngái, thoang thoảng của thứ lá ngải rừng, cũng có khi của lá tùng mục, mà biết đâu đấy có thể của một loài hoa rừng nào đó mà ta chẳng biết.
Qua khỏi ngọn thác nhỏ trắng xoá đổ xuống một vũng ao núi, trong suốt nhìn thấu đáy, là một khoảng đất rộng bằng phẳng. Một chiếc am nhỏ. tường xây đá. nằm dưới một cụm dăm cây xích tùng trồng đã trăm năm kể từ thời vua bụt đi tu, nay đã vừa người ôm. Đó là am Hoa. Vườn hoa bỏ hoang từ vài chục năm rồi nhưng vẫn còn dấu vết. Những bụi bạch trà đại. đoá mọc ngang đầu người, hoa to như những chiếc chén tống trắng muốt. Những bụi mẫu đơn đỏ, vàng, trắng. xếp hàng trước cửa am. Những bụi hoa chống cự bao năm với cỏ hoang, nên trở thành hoa dại dầy sức sống, chúng um tùm xanh tốt, gặp tiết xuân. nở hoa tưng bừng. Hai ông già đi thăm cả am Dược gần đó. với vườn thuốc bỏ hoang, nhưng thật thú vị. bởi vì cây thuốc càng hoang sơ càng quý, chúng phải chống cự mãnh liệt với khắc nghiệt thiên nhiên nên được tính của chúng càng mạnh. Họ cắt cỏ tranh, chặt tre rừng lợp lại hai chiếc am Hoa vào am Dược. Họ quét dọn bàn thờ Phật, dựng lại những pho tượng đã tróc sơn. bạc mầu vì mưa nắng. Họ lại trồng sắn trồng khoai, trồng thuốc và cả trồng hoa. Họ lại tụng kinh, viết sách. Một sư, một cư sĩ một chú tiểu thay nhau xuống các làng chân núi thăm bệnh cứu người. Cho đến mùa xuân năm nay. sư Vô Trụ đột nhiên cảm thấy bồn chồn lạ lùng. Ông thầm nghĩ: “Ta đã già quá rồi mấy tháng nay chân ta không xuống núi nổi nữa. Cả ông bạn họ Phạm của ta cũng vậy. Thời tiết đã đến rồi sao? Tất cả mọi chuyện xuống núi lúc này đều nhờ vào chú tiểu Vô Tâm...”
Đêm hôm qua, khắp người đau nhức, sư Vô Trụ cả đêm không ngủ. Quá nửa đêm, gió nổi đùng đùng. Cơn gió lạnh cuối mùa sao mà dữ dằn. Những cây xích tùng reo lên vu vu. Rồi mưa đổ xuống. Cơn mưa đầu mùa sao lắm nước vậy. Một lúc sau nghe tiếng con suối đổ xuống thác rầm rầm. Giun dế trong rừng, lũ nhái ngoài suối, những con ếch con cóc trong các hốc đá đều cất vang đủ giọng cao thấp đón mưa. Rồi cả tiếng con nai mừng cỏ mọc, tiếng con hổ gọi giao duyên, một con chim đêm to vỗ cánh phành phạch. tiếp theo là lũ khỉ nháo nhác vừa kêu vừa chạy... Sao lại vậy? Rừng đêm nay sao nhiều tiếng dộng? Cảm giác như tiếng động mỗi lúc mỗi nhiều hơn, mỗi to thêm. Trước là một tiếng của một con hổ. Sau, hình như có tiếng cả chục con. Tiếng à uôm từ mỏm đá này truyền sang mỏm khác. Có con hổ trước còn ở xa, sau tiến lại gần am. Có lẽ nó đứng ngay ở gốc cây xích tùng to nhất, gần nhất mà kêu. Tiếng kêu ngân vang rung cả mái là. Có lẽ nó vươn cổ lên trong mưa mà kêu bằng một sắc điệu trầm trầm thê thiết. Tiếng kêu hình như tức giận lại hình như khiếp hãi, không hiểu con vật khổng lồ hung dữ đó muốn báo hiệu một cái gì cho rừng sâu. Chỉ biết rằng khi con vật ấy cất lên, thì muôn vật khác đều bặt lặng. Rừng núi Yên Tử lúc đó chỉ còn tiếng mưa rơi, suối réo ầm ào, và tiếng con hổ oang oang... uôm uôm... thảm thiết. Rống lên một lúc, con vật đột nhiên ngừng kêu. Núi rừng chợt rơi tõm vào sự lặng ngắt. Chỉ còn tiếng rào rào của mưa và tiếng ầm ầm của con suối. Cả đến gió lúc này cũng yên. Trong cái nền âm thanh đều đều của nước ấy, chợt nghe thấy một tiếng động lạ soạt soạt. Nghe kỹ mới đoán ra đó là tiếng con hổ mài móng vuốt trên thân cây xích tùng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|