H3 Hùng
Cựu chiến binh

Bài viết: 4438
Hẹn ngày trở lại Preav
|
 |
« Trả lời #82 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 09:01:02 pm » |
|
Xin gởi các bác xem thêm hồi 9: Don Thomo 9. DON THOMO Thượng tuần tháng 12/79 tôi trở về Nimith, đêm đó tại bãi tập kết quân giữa phum Sophia trăng sáng vằng vặt, tôi viết thư về nhà mà không cần dùng tới ánh đèn. Lính tráng đốt lửa để sinh hoạt, còn tôi thì tận dụng ánh lửa đó để viết thư. Tôi đang nằm chờ tại đây để hội quân với đơn vị của mình đang trở về từ Cao Mê-lai. Đại đội chúng tôi trở về Sophia cũng trong đêm đó, đợt xuất kích này không có tử sỉ, nhưng quân binh tàn tạ vì sơn lam chướng khí, hầu hết quân số đều mang bệnh sốt rét mãn tính. Chỉ còn tôi và một số đồng chí đi học về là mạnh khỏe, là nòng cốt của đơn vị lúc này Đội quân bệnh hoạn này không tự hành quân được, xe GMC của trung đoàn đưa chúng tôi tiến vào Don Thomo từ hướng Bắc phum Diêng.. Don Thonmo, nghĩa tiếng Việt có nghĩa là Giếng Đá (don là giếng, thomo là đá). Đây là địa điểm mà thời trước, người ta đã cho khai thác đá để làm quốc lộ số 5 và đường sắt đi Poipet. Đơn vị bạn để lại căn cứ Don Thomo cho chúng tôi cũng đầy đủ nhà ở, công sự, giao thông hào nên chúng tôi cũng không vất vả lắm về việc cũng cố doanh trại... Đại đội ngày càng thưa thớt, các bệnh binh lần lượt được chuyển lên tuyến trên điều trị, có người vào trạm xá trung đoàn, những người nặng hơn thì chuyển về bệnh xá sư đoàn ở Sisophon, nặng hơn nửa thì đi bệnh viện 7E ở Xiêm Riệp. Cả tiểu đoàn vào đợt cũng cố, ban ngày đào hào cũng cố công sự, tối đến thắp đèn tập bài bắn ban đêm với mục tiêu là bia mẹ bồng con, tượng trưng cho hai thằng xạ thủ đang bắn đại liên. Đêm đêm chúng tôi ngồi canh gát trước đội hình, nhìn về phía Tây thấy sáng rực một góc trời, đó là ánh sáng đô thành... của một thị trấn Thái Lan yên bình, chúng tôi đang ở rất gần cửa khẩu Poipet và cái thị trấn đó, không tới 10km đường chim bay. Chúng tôi sinh hoạt ở Don Thomo vào mùa khô khá thoải mái nhờ vào các giếng đá tích trữ đầy nước mùa mưa, vào mùa khô mọc đầy bông súng, chúng tôi bứt bông súng làm nộm ăn cải thiện trong những tháng mùa khô hiếm hoi rau cỏ này. Các bệnh binh được đưa đi điều trị rồi cũng lần lượt trở về. Doanh trại ngày càng được hoàn thiện hơn, các tuyến giao thông hào được nối mạng thông suốt. Khu rừng dầu nơi chúng tôi đóng quân, thỉnh thoảng lại có heo rừng đến viếng, nửa đêm nó theo đường mòn, chạy vào đội hình, vướng mìn nổ oành một tiếng. Chúng tôi xách súng ra thăm chừng, đôi khi lại có thịt rừng mà xơi. Có 1 lần nghe tiếng mểnh kêu tát tát, tôi leo lên cây mà coi, thấy rõ ràng một con mểnh to khoảng 30, 40 kg lông vàng lườm, tướng tá giống như con nai. Tôi xuống, xách súng, leo lên cây... thì nó chạy đâu mất rồi! Trong đơn vị tôi có đồng chi Vi, đại đội phó quân sự, dân tộc Tày, người Thái Nguyên giỏi săn bắn. Một chiều nọ anh vác súng vào rừng săn được một con mểnh to, anh lắt bỏ hai hòn dái của nó (cho thịt khỏi hôi) rồi về đơn vị kêu anh em đi khiêng xác con vật về cải thiện. Cuối năm 1979, với nhiều chiến công đạt được trong chiến tranh biên giới Tây Nam, trung đoàn 4 của chúng tôi cùng với trung đoàn 174 và sư đoàn 5 được tuyên dương danh hiệu đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang lần thứ hai.
Những cơn gió lạnh kéo về từng đợt, từng đợt báo hiệu năm hết tết đến. Năm nay chúng tôi ăn Tết lớn, một cái tết đầu tiên sau ngày Campuchia hoàn toàn giải phóng khỏi họa diệt chủng. Các thương bệnh binh đã trở về đơn vị đông đủ, quân số toàn đai đội lúc này khoảng trên 50 người, tất cả phấn khởi hồ hởi đón Tết. Heo, bò, gà, trà, rượu, thuốc đủ cả. Năm đó chúng tôi đã ăn một cái Tết hoành tráng nhất trong đời lính. Bếp đại đội, bếp trung đội rộn ràng, rồi lính tráng các đơn vị qua lại ồn ào thăm viếng lẩn nhau, vui thì thật vui, nhưng vui lắm thì buồn nhiều... Xa quê hương nhớ mẹ hiền, cái buồn nhớ làm những người lính làm liều chơi ngông. Đầu têu cuộc chơi là cái anh pháo cao xạ 37 ly: Anh nhậu đã đời, rồi anh buồn tình, anh kéo pháo ra, anh nạp đạn vào, anh bắn đạn lửa, đạn vạch đỏ trời... trong cái đêm giao thừa 30 tết năm 1980.
Sáng ngày mùng 1, theo chương trình chúng tôi lên đại đội chúc tết. Chúc tết xong, rượu mới ngà ngà, chúng tôi trở về trung đội ăn tết tiếp... bổng dưng súng nổ thay pháo. Đầu tiên là nổ ở hướng trung đoàn bộ, rồi tiểu đoàn, rồi các đại đội, rồi các trung đội... Vui quá, tôi cũng chơi luôn! Tôi xách cây trung liên RPD ra, dựng chân chống trên nóc chiến hào, chơi luôn nguyên nồi đạn 100 viên. Súng nổ, giật cành cành, cành cành liên tu bất tận, hết dây đạn 25 viên này thì súng tự động xả dây ra, kéo tiếp dây mới. Tôi say sưa bắn, hết dây thứ hai, sang dây thứ ba, thứ tư, tiếng đạn nổ liên thanh làm tôi cực kỳ phấn khích, nổi buồn nhớ cha, nhớ mẹ tan biến đâu mất! Máu chảy rần rần, mặt đỏ bừng bừng, mồ hôi ròng ròng, nòng súng đỏ rực, tôi còn muốn bắn tiếp nửa, tiếp mãi... thì đại đội trưởng Tý chạy xuống la: -Ngưng bắn, ngưng bắn, tiểu đoàn nó chửi tôi! Phục tùng mệnh lệnh người chỉ huy gương mẫu của mình, tôi lật đật xách súng chạy vô, trong lúc vội vàng phần da non cánh tay phải của tôi chạm vào cái nòng súng cháy đỏ, lập tức nó lột da tay ngay tức khắc, để lại lớp mỡ trăng trắng, mấy năm sau vẫn còn thấy thẹo. Chúng tôi đã ăn cái Tết chiến thắng đầu tiên trên đất bạn vào cái năm đó với rất nhiều rượu thịt và tiếng nổ của đại bác, pháo cao xạ, đạn tiểu liên... một cái tết huy hoàng, ồn ào và mất trật tự. Đang là thời chiến và trước mắt chúng tôi là quãng đời lính dài vằng vặc phía trước, chúng tôi đi không biết ngày về. Tất cả sĩ quan binh sĩ trên chiến trường đều hiểu như vậy và thấm thía nổi nhớ nhà... nên dù cái Tết năm ấy lính tráng chúng tôi bắn phá hao tốn như vậy, nhưng tất cả chúng tôi đều bình an vô sự, không ai bị kỹ luật gì, còn khiển trách rút kinh nghiệm thì đương nhiên là có, rồi thôi. Năm 1981 chúng tôi cũng ăn một cái tết hoành tráng như vậy, hậu phương và nước bạn Campuchia chung sức chăm sóc cho những người lính xa nhà chúng tôi ăn một cái tết đầy đủ rượu thịt, nhưng cái tết đó bình an, yên tỉnh, không một tiếng nổ mất trật tự. Chúng tôi chỉ được ăn 2 cái tết ở Don Thomo thôi, rồi phải đột ngột rời xa nó tức tưởi! Để rồi không biết đến cái tết thứ ba, bởi vì cái tết năm đó toàn bộ tiểu đoàn chúng tôi đã luồn sâu vào Nam Cao Mê-lai rồi.
|