H3 Hùng
Cựu chiến binh

Bài viết: 4438
Hẹn ngày trở lại Preav
|
 |
« Trả lời #208 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2009, 05:48:05 am » |
|
Hồi thứ 19. TAKUNG KRAO Sau trận phum không tên, tiểu đoàn trở về Don Thomo làm công tác cũng cố và huấn luyện quân sự hàng năm theo chương trình của Bộ quốc phòng, thời gian này không có những cuộc đụng độ quân sự nào đáng kể. Tháng 8/1981 tôi nhận quyết định bổ nhiệm chức vụ trung đội phó, cũng trong thời điểm đó chúng tôi lại kéo nhau đi đánh Tà-cuông Krao.
Tiểu đoàn xuất kích lần này có một đại đội quân K (chúng tôi gọi là lính Hunsen, do trung đoàn đào tạo) phối thuộc với chúng tôi. Lần xuất quân này không phải mang vác nặng vì chúng tôi được cấp phát cơm sấy mang theo ăn đường. Tà-cuông Krao là chổ quen biết cũ, nhiều duyên nợ với tiểu đoàn 3 từ năm 1980, nay chúng tôi nhận được tin Pôn Pốt chiếm Tà-cuông nên kéo quân đi đánh.
Chúng tôi cắt rừng, lội nước bì bõm trên những cánh đồng rộng lớn, hoang hóa của đồng bằng Battambang để tiến vào Tà-cuông. Xế trưa hôm đó, cái mục tiêu tấn công hiện ra ngay phía trước, chúng tôi dàn hàng ngang tiến vào... Có tiếng nổ súng, ngay lập tức cả tiểu đoàn hô xung phong, trọng liên 12 ly 8 đi theo đại đội chúng tôi lập tức triển khai bắn chéo cánh sẻ yểm trợ cho chúng tôi băng băng từ đồng ruộng lao vào, khí thế hung hãn.
Mỗi khi chúng ta hô xung phong, theo tiếng gọi bầy đàn, cả một đoàn quân cùng hô đáp ứng, tạo khí thế cho chúng tôi xông pha mãnh liệt, súng nẩy trong tay, lửa đạn khạt ra, mồ hôi dầm dề, chân chạy băng băng, tiến lên phía trước... Đến một bờ ruộng có thể núp được, chúng tôi dừng lại thay băng đạn, thở muốn đứt hơi. Chúng tôi điều hòa nhịp thở, rồi lại tiếp tục hò nhau xung phong, tiếp tục chạy tới, thở hào hển trên chiến trường, hít lấy mùi cay nồng của thuốc súng, rồi như say máu lại hô xung phong, chạy lên phía trước, bắn găm, bắn gần, chiếm lĩnh trận địa... Với khí thế như vậy, chúng tôi giải quyết xong trận đánh chỉ trong vòng năm phút, đám lính Pôn Pốt giữ Tà-cuông yếu thế bỏ chạy.
Hoàn thành nhiệm vụ, tiểu đoàn được lệnh rút quân, ra khỏi Tà-cuông một đoạn thì thằng Pôn Pốt nổ súng bắn đuổi vào đội hình, nhưng đạn ăn lên trời nên chẳng chết ai.
Đang giữa mùa mưa, nước mênh mông trên cái đồng bằng rộng lớn này, hoàn toàn không có chổ để ngồi nghỉ. Chúng tôi phải đi liên tục, trời đã về chiều, anh nào đói thì moi cơm sấy ra nhai, uống nước sống trừ bửa.
Phải đến tối, mới đến một địa hình có thể nghỉ, chúng tôi trải nylon ra ụ mối mà trú qua đêm hôm đó. Nằm ụ mối rất khó ngũ, độ dốc làm chúng tôi cứ bị tụt xuống. Tụt xuống đến khi chạm nước lạnh chân thì tự động trồi lên, vậy mà ngũ cũng được. Cái ưu việt của sức trẻ là dễ ăn, dễ ngũ, sức đề kháng tốt, không đau lưng, nhức mõi.
Chúng tôi đi xa vác nặng, đổ nhiều mồ hôi nên phải uống bù nước. Mùa mưa trên đường hành quân nước có sẳn dưới chân. Khát thì cứ lấy nón cối, bước ra vài bước, lựa chổ nước trong, múc một nón uống tại trận, rồi đi tiếp, không biết đau bụng, ỉa chảy là gì? Bây giờ tuổi bắt đầu cao, sức bắt đầu yếu, uống nước nấu không chín là muốn có chuyện rồi, chưa kể phong thấp, nhức mõi tay chân, đau lưng, đau bao tử...
Sáng sớm hôm sau chúng tôi đi tiếp, càng ra đến gần Cốp-tút thì địa hình càng cao, có những đoạn chúng tôi đi thong dong, nước ngang đầu gối. Không như chiều hôm qua, khi ra khỏi Tà-cuông nước sâu ngang hông, có chổ ngang ngực. Chúng tôi cứ gióng la bàn cắt đường mà đi, không theo lối mòn, sợ mìn Pôn Pốt.
Vậy mà không thoát, vào đến Cốp-tút, chúng tôi đang đi phía trước, chợt nghe ành một tiếng khô khốc ở phía sau... một anh lính Campuchia đã dẫm phải một trái mìn đạp nổ.
Đây là mìn K58 do Trung quốc chế tạo, nó lớn hơn hộp hồ dán giấy của học trò một chút. Tiếng nổ đanh gọn, uy lực không cao (nguời nào đạp người đó chịu) nhưng tác hại thì lớn, Việt Nam mình sau này có nhiều anh thương binh cụt chân, chống tó là tại cái mìn này.
Anh lính Campuchia đạp phải mìn, cái mu giày của anh bay lên trời ngay, nhìn lên cây... tôi thấy cái mu giày của anh đang máng trên cành, ở độ cao chừng 3m.
Do đại đội lính K này là con đẻ của trung đoàn, nên hôm đó chúng tôi được điều xe lên ngã ba Cốp-tut lần lượt chở quân về nhà.
Mấy ngày sau lên trận địa pháo 105 (nằm gần trung đoàn bộ ở phum Diêng) thăm đồng hương Bình Thạnh, anh bạn pháo binh tên Tâm cho biết, sau cuộc hành quân đạp mìn này, lính K dông tuốt... chỉ còn lại mỗi bộ khung của đại đội.
Tôi nói ra điều này để những người ngoài cuộc biết tại sao quân tình nguyện Việt Nam phải ở lại Campuchia mãi đến cuối năm 1989 mới rút hết về nước được... Vì lính nghĩa vụ của chính phủ Campuchia những năm đó tinh thần chiến đấu kém, không phải là đối thủ của tàn quân Pôn Pốt.
Nói là tàn quân, nhưng nhờ nhận được viện trợ thường xuyên của quan thầy, nên nó hồi phục lại, cũng có quân chủ lực mặc đồ bar-ba-din Trung quốc mới cáu, cũng có súng đạn, mìn trái đầy đủ, bày bố thiên la địa võng, giăng bẫy mìn sẳn sàng tiêu diệt đối phương... Những bãi mìn mà Pôn Pốt cài đặt đã gây tổn thất biết bao nhiêu nhân mạng của chúng tôi trong thời điểm cuối chiến dịch C81.
|