Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:47:48 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng  (Đọc 54439 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #20 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 12:08:13 am »

Quán rượu người câm (tiếp)

Dù khó khăn anh vẫn sống qua ngày, sống với quán rượu của anh. Quán rượu anh cất cạnh bờ sông. Một cái quán nhỏ lợp bằng lá dừa khô. Một cái quầy hai cái ghế dài để cho khách ngồi, một cái tấm vạc nhỏ để nhậu. Có hai con đường dẫn đến quán. Một con đường có cây cầu dừa, dành cho khách đi xuồng, hoặc ghe máy đuôi tôm, một con đường mòn nhỏ băng qua vườn mía dẫn vào con đường lớn xuyên qua xóm.

Quán nhỏ tồi tàn, nhưng lại có đủ thứ rượu ngon, toàn là rượu nổi tiếng. Người chủ quán là người biết chọn rượu. Rượu Lương Hòa tỉnh Bến Tre - Rượu nặng mà đầm và thơm... Rượu đế thì rượu kinh ông Kho, rượu ngon nhất tỉnh Long Châu Sa, rượu trong veo, sủi bọt nặng mà đầm. Rượu đậu nành nước trong xanh cay mà ngọt, uống say lúc nào chẳng biết, lúc say người như lịm đi. Rượu cất bằng mía, rượu "Rum" của Hiệp Hòa màu rượu như trái hồng quân. Đó là những thứ rượu ngon, loại mắc tiền nhưng đồ nhậu thì lại bình dân thôi. Đâu phộng rang tẩm mỡ với ngũ vị hương, tôm khô, củ kiệu, khô mực, các loại khô, và các loại cây trái, mùa nào thứ ấy xoài, ổi, mận và chùm ruột...

Ông chủ quán câm nhưng lại lịch sự, và tiền nong rất rõ ràng. Nếu cần chủ quán sẽ mời anh một ly nhỏ không lấy tiền và nếu vui chủ quán sẽ sẵn sàng chạm một ly. Trên quầy có một xấp giấy nhỏ, có khi là một xấp lịch cũ của một cuốn sổ tay nào đó và một cây viếc "bic". Khách nào đến ngồi lâu, uống nhiều ly, mua nhiều đồ nhậu, chủ quán câm không nói được, chủ quán tính tiền trong cái giấy. Khách cứ coi theo đó mà trả. Rất tiện khỏi phải cãi cọ nhiều lời. Ông chủ quán này lại có cái lạ là không tham bán nhiều, thấy khách vừa say thì một cách lịch sự, lịch sự theo người câm, nhe răng cười ú ớ mấy cái rồi đưa cho khách. Vậy là khách biết mình sắp say rồi. Chỉ phiền có một điều, có lẽ vì chủ quán ít chữ nghĩa quá, viết không được mạch lạc, hoặc nghuệch ngoạc cho nên khách phải đọc rất lâu, có khi tiền thì cứ trả mà giấy thì mang về đọc lại.

Khách rượu ở quán này thường hay ngồi lâu, có khi ngồi đến hằng giờ. Ông chủ quán câm kể loại biết điệu đời, ông xếp ghế ngồi để cho khách nhìn ra sông: sông Cửu Long. Khách có thể ngắm rặng cây xa mờ, ngắm những cánh buồm, vừa ngắm nhìn vừa nghe tiếng sóng. Sóng bạc đầu, bỏ vòi, tràn lên nhau, sóng bủa ầm ầm. Sóng lưỡi búa, lách chách từng đợt nhỏ và đều, lấp lánh khắp mặt sông. Sóng nhỏ nhưng lại thường hay nhấn chìm xuồng ghe. Xuồng ghe tấp vào bờ. Sóng vẳng rì rầm, buồn và mênh mông.

Vì rượu ngon, hay vì có chỗ ngồi nhìn ngắm cảnh hay vì cái vẻ lịch sự câm của ông chủ quán? Chẳng rõ, chẳng biết, chỉ biết trong làng, hầu như người uống rượu nào cũng đến. Trong làng, dân làng không được hội họp, ba người đàn ông gặp nhau cũng không được, những cuộc gặp gỡ từ ba người trở lên, nếu nhà cầm quyền biết sẽ bị nghi là họp cộng sản, sẽ bị đi tù. Còn ở cái quán rượu này buồn đến nỗi đàn bà cũng uống rượu nữa. Con gái thì chưa uống ghiền nhưng cũng đến mua. "Rượu vào thì lời ra !". Bọn xâm lược Mỹ và tay sai không cấm được điều đó. Thật tội nghiệp cho ông chủ quán câm, ông phải nghe chuyện của những thằng uống rượu, chuyện của những thằng say. Nhưng cũng thật hạnh phúc cho ông, ông toàn nghe những chuyện thật. Bởi vì không ai dám nói thật bằng những thằng uống rượu, những thằng say. Lúc bình thường giận đời, giận người, họ không dám chửi, uống rượu vào, họ chửi chẳng sợ ai. Lúc bình thường có những sự thật vì lẽ gì đó mà không dám nói, uống rượu vào họ nói tất. Những người khách rượu này, họ nói tất cả những sự thật của làng.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #21 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 12:09:07 am »

Quán rượu người câm (tiếp)

- Chú Hai ở cuối xóm bị bắt, bị đi tù. Thằng xếp đến bắt hiếp vợ chú.

- Nhà chị Ba một người đàn bà góa, bị lính moi hầm, dưới hầm có một anh kháng chiến cũ. Chị bị nhà cầm quyền buộc tội lấy Việt Cộng. Hai người đều bị bắt. Nó bắt hai người phải ngủ với nhau. Anh kháng chiến cũ không chịu. Nó lột quần áo cả hai người, trói lại, bắt nằm chồng lên nhau, rồi gí điện. Chị Ba chết để lại ba đứa con.

- Con Sáu có chồng đi tập kết. Bị bọn lính ép quá, chịu không nổi, nó cạo đầu rồi, định đi tu.

- Nửa đêm một chiếc tàu sắp cặp bến. Bọn lính ùa lên nhà một gia đình không có đàn ông, gí súng vào lưng đàn bà con nít, lùa xuống tàu, phóng lửa đốt nhà, rồi chở đi, chẳng biết đi đâu.

- Ông Năm, một ông già điếc hơn sáu mươi tuổi vừa bị lính bắt, người ta không hiểu sao ông bị bắt. Trong tù ông không khai. Có người bảo ông là người khảng khái, có người bảo ông có gì để khai mà không khảng khái.

- Thằng Chín có vợ có con rồi mà còn ve vãn con nhỏ gọi nó bằng chú. Nó bị phản đối, nó đâm ra thù oán người ta, nó phao tin đồn nhảm định làm hại cô ta. Cô gái đang bị bọn công an áo đen theo dõi. Đối với những thằng sa đọa như thằng Chín, cần phải cảnh giác.

- Thằng Tư nó đầu hàng rồi. Nó khai nó làm chỉ điểm cho địch. Nó mang kiếng đen, nó lảng vảng ở ngoài bến xe. Nó vừa chỉ bắt một người đàn bà.

- Nhà ông Tám bị khui hầm. Ông lấy ngực đỡ đầu súng. Anh cán bộ chạy thoát, Ngực ông bị bắn nát.

Chuyện trong làng trong huyện, trong tỉnh và chuyện của cả miền Nam toàn những chuyện đau thương, ngày nào cũng có. Mỗi ngày một chuyện, có khi hàng chục chuyện...

Ông chủ quán câm : đầu óc bùm sùm, mặt hốc hác, người gầy gò, mặc bộ bà ba rách, ngả màu cháo lòng.

Ông lắng nghe chuyện, mặt hơi nhếch lên, ngơ ngác như một người điếc. Những người khách vừa nói vừa uống, vừa chửi, vừa nắm quả đấm muốn đập nát cái vạc tre để đồ nhấm, hoặc thở dài hoặc đang nói thì bị nghẹn. Còn ông chủ quán câm, ông nghe mà cứ như điếc chẳng ai thấy ông bị xúc động, mặt cứ trơ. Hay là tạo hóa thương ông, cho ông điếc luôn? Chẳng biết nữa. Lâu lâu ông cúi xuống, rút giấy ra ghi. Ông ghi tiền rượu cho khách, hay ghi những chuyện đáng cười, đáng giận đó. Chẳng ai hiểu nổi. Mà hiểu để làm gì mới được chứ ! Từ câm đến ngớ ngẩn có khó gì. Lúc ông ta cúi cái đầu bùm sùm xuống quầy, hai tay khuỳnh ra, mặt nghiêng nghiêng, tay ghi ghi, miệng há hốc, dáng điệu của ông ta, đúng là dáng điệu của một thằng ngớ ngẩn, lúc ghi, lúc viết, miệng ông ta như không ngậm lại được.

Khi khách hàng ra về, và quán vắng, ông rót ly rượu kinh ông Kho, rót đầy, có khi rót mà không nhìn ly, rót tràn ra quầy vì ông là chủ quán nên ông không uống từng ngụm như khách, ông uống cạn một hơi. Nói cho đúng thì ông không uống mà ông đổ. Uống thì phải nhắp, phải chén, phải khà, phải thưởng thức cho hết chất cay, chất nồng của rượu. Còn ông, với cái miệng vốn há hốc của ông, ông ngước mặt rồi cầm ly rượu, đưa cao lên, đổ xuống. Hình như rượu không đụng đến lưỡi, rượu đổ ngay vào đốc họng rồi tuôn thẳng vào lòng ông. Ông uống rượu mà như uống thuốc độc vậy.

Uống xong mặt ông không đỏ, mà tái, ông ngồi im, miệng há hốc, mắt lờ đờ. Đừng thấy dòng sông lặng lẽ mà bảo dòng sông không có sóng. Sóng đang nổi lên từ dưới đáy người ta gọi đó là sóng ngầm. Nhìn sông đến chán, ông gục đầu xuống quầy. Như một ông chủ quán bán khuya đến lúc phải ngủ gục. Khách rượu đến bất ngờ thấy ông gục đầu, hai vai run run, khách rượu tưởng ông khóc. Khách rượu vỗ vai ông, ông giật mình lật đật đứng dậy, khách rượu hỏi:

- Sao ông khóc ?

Ông lắc đầu ú ớ, đưa tay chỉ vào mắt, con mắt khô quánh. Yý ông muốn nói: Tôi khóc hồi nào !

Nhưng khách rượu không tin, thấy đôi vai run của ông, khách rượu đoán là ông khóc. Có điều là người khách có thể tin. Là con mắt của ông không ướt. Con mắt khô, nhưng miệng chảy nước dãi. Khách rượu ấy kết luận : Ông khóc thật, nhưng không phải khóc bằng nước mắt mà ông khóc bằng nước miếng, đó là kiểu khóc đặc biệt của người câm.
*
* *
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #22 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 12:09:43 am »

Quán rượu người câm (tiếp)

Trong làng, trong cả miền Nam, nhà nào cũng có người bị bắt bị giết, những nhà bị tan nát. Con người sống không yên. Người ta phải đứng dậy. Từ một đến mười, từ mười đến trăm, từ trăm đến ngàn, rồi cả làng. Hầu hết đàn bà trong làng, họ kéo nhau ra đồn bót, ra huyện, ra tỉnh, kéo nhau đi cả Sài Gòn nữa. Họ bắt kẻ thù phải công nhận cho họ là con người đang sống và có quyền sống. Những cuộc biểu tình ấy, nếu đi xuồng đi ghe máy đuôi tôm hoặc đi tài thì qua bến chủ quán rượu. Cái bến của quán rượu người câm lúc nào cũng nổi sóng. Nếu đi bộ, thì đoàn người đi ngang qua con đường sau quán. Ông câm nhưng ông thấy, ông nghe và ông biết. Đi đấu tranh xong trở về, người ta lại ghé vào quán rượu của ông. Người vào quán ông bất cứ lúc nào, về lúc nào ghé lúc ấy, có khi vừa tối, có lúc nửa đêm. Người ta ghé vào để uống rượu và nói chuyện và bàn cãi. Nhờ có nhiều khách hàng, đêm đêm ông thắp đèn khí đá. Ông vừa bán vừa nghe chuyện. Địch nó bắn người ta cứ tràn lên. Một người bị bắt cả ngàn người cứ đứng vây cửa nhà tên quận, hò hét cho đến lúc nó thả ra mới chịu về. Bọn địch nó biết, khi mà đàn bà đã đứng dậy thì chẳng có sức mạnh nào bằng. Nó sợ đàn bà, nhưng nó lại biết chỗ yếu của đàn bà. Đàn bà không sợ bị bắt, không sợ tù, không sợ súng, không sợ chết, nhưng lại sợ nhục. Nó không bắn, nó sai lính đi tuột quần từng người. Ôồ! Chuyện ấy có gì khó. Đàn bà đi đấu tranh người ta không mặc quần thun hay quần lưng rút nữa, người ta mặc quần gài nút, giật quần không tuột, nó bắt từng người, lấy kéo cắt đầu tóc, mái tóc dài, và đầu tóc ở sau ót, đó là vẻ đẹp của người đàn bà Việt Nam. Những người đàn bà khi đã bước vào đấu tranh, người ta không sợ mất cái vẻ đẹp đó. Chồng họ cũng không sợ. Một hôm có một anh chồng ra quán người câm đón vợ, thấy vợ buồn vì mất cái đầu tóc, trong lúc mọi người đang ồn ào anh kêu lên:

- Sao mình buồn ? Mình sợ tôi chê mình xấu à ? Ông câm, ông cho tôi một ly rượu, "rượu" "rum" Hiệp Hòa ấy.

Anh chồng uống cạn một ly. Uống xong, anh lấy rượu làm nư, anh ôm lấy vai vợ rồi cúi hôn lên cái ót trần của vợ. Vợ anh đẩy ra, người ta cười ồ lên, người ta vỗ tay, anh chồng ấy - có rượu rồi - không lấy đó làm thẹn, anh ngả ra cười ngất. Đã lâu lắm rồi, người ta mới thấy ông chủ quán câm cười. Khi ông cười, mặt ông thảm hại làm sao. Mặt ông nghiêm, nhắm một con mắt, miệng méo. Cười xong, ông rót thêm hai ly nhỏ, đưa anh chồng ấy một ly, hai người cùng chạm và uống cạn.

Lại một lần khác, bọn địch không cắt tóc nữa, chúng gí súng vào từng người, đè họ xuống giữa chợ, cởi quần áo. Bọn địch muốn làm nhục họ. Chúng muốn cho người khác bỏ chạy. Bỗng một bà già, gọi là bà Tư Trầu - vì bà ăn trầu luôn miệng và kêu lớn. Thân thể của người đàn bà là vẻ đẹp thiêng liêng của họ, nhưng đến lúc cần phải giành lại tự do, độc lập và quyền sống họ sẵn sàng hy sinh tất cả. Khi bà Tư Trầu ra lệnh, thế là cả ngàn người đàn bà, bà già, người có chồng, người còn con gái, tất cả, liền cởi hết và họ xếp lại thành hàng, họ thành một đạo quân ngang nhiên lạ lùng diễn qua trước mặt kẻ thù. Kẻ muốn làm cho họ nhục, thì chính họ lại thấy nhục. Những thằng giặc ấy, chúng mặc áo, quần, tay cầm súng, nhưng chúng phải bỏ chạy.

Người ta nói chuyện ấy trong quán rượu. Ông chủ quán câm liền rót đầy một ly rượu màu hồng quân trịnh trọng đưa cho bà Tư Trầu và rót nhiều ly khác cho những bà, những chị, những em đang có mặt. Những bà, những chị, những em đều uống cạn những ly rượu do người câm rót ra. Rượu ấy là rượu đặc biệt do chính tay chủ quán cất bằng trái cây, rượu dành riêng cho đàn bà, rượu không cay nồng, rượu ngọt và rượu uống không say.

*
* *

Giặc lê máy chém đến. Chúng giết bà Tư Trầu và giết nhiều người khác nữa. Trong làng, có thêm những đứa bé chít khăn tang.Cái quán rượu không còn ồn ào nữa. Nhưng quán rượu của người câm không vắng khách - những người ghiền, những người say lại đến với quán rượu.

Bỗng một ngày, không một khách rượu nào đến, ngoài đường cũng chẳng thấy ai đi. Dưới bến, chẳng có một chiếc xuồng, ghe nào qua lại. Người chủ quán câm chỉ còn biết ú ớ cũng chẳng có ai để cho ông ta ú ớ nữa, trong làng chỉ còn nghe có tiếng sóng. Sự im lặng của mọi người đang nín thở ấy kéo dài gần nửa đêm. Như một hơi thở dài bị đè ép bỗng trút ra, bất thần, cả làng bỗng dấy lên. Nhà thờ kéo chuông, nhà chùa nện đại đồng chung, người ta đánh trống, người ta đánh mõ, người ta đánh thùng thiếc, người ta đánh xoong, đánh bất cứ cái gì gây ra tiếng động. Người ta hò hét, người ta vác cái gì như súng, người ta đi, người ta gọi nhau, kêu rủ nhau, người ta gọi cả ông câm chủ quán rượu. Người ta báo cho nhau một cái tin lạ " Đồng khởi". Người ở tất cả các ngả xóm, các con đường làng cứ đổ ra. Người trong làng cũng bấy nhiêu đó, nhưng đêm đó lại đông hơn, đông hơn gấp mười, gấp trăm. Người kéo đi cuồn cuộn, kéo tràn đến dồn bót giặc. Người ta cho nổ những tiếng nổ lớn.

Bọn giặc trong đồn, trong bót hoảng hốt. Nghe những tiếng nổ tiếng trống, và mọi thứ tiếng vang dội lên mỗi lúc một dữ dội, chúng thấy cái đồn, cái bót của chúng như những chiếc xuồng con đang bị sóng của một cơn bão đang bủa tới, chúng nhớ những người chúng giết, nhớ những người chúng bắt, nhớ những người chúng đánh, nhớ những gia đình do bàn tay chúng phá tan nát, chúng thấy những người đó đang tràn tới. Đông quá! Chúng không thể biết được bao nhiêu. Với súng, với đạn của chúng, chúng có thể giết được hàng trăm, nhưng khi hết cả đạn, chúng không thể sống được. Vậy là chúng nó lần lượt vứt súng đưa hai tay lên trời, có đứa vứt súng tìm cách thoát thân.

Thế là dân làng san bằng tất cả đồn bót bằng tiếng trống tiếng mõ, bằng những tiếng nổ lớn của pháo tre, của khí đá.

Sau khi san bằng hết đồn bót, dân làng đốt đuốc, kéo nhau ra đồng, dựng lên một khán đài cao.

Cả làng mỗi người một ngọn đuốc, người ta nhìn về phía lễ đài, chờ một người mà người ta muốn biết : Người chỉ huy ngày đồng khởi.

Người ta đứng im. Chỉ còn nghe có tiếng lửa cháy rần rật. Tiếng nổ đều đều của tàn đuốc. Tiếng lửa cháy nghe thật trang nghiêm. Hầu hết người làng đều không biết người chỉ huy. Khi người ta không biết thì người ta đoán và tưởng tượng. Con người trong tưởng tượng thì không thể nào giống con người thật. Người ta chờ đợi người chỉ huy theo ý tưởng tượng riêng của mình. Người ta hồi hộp chờ một người chỉ huy thật.

Người chỉ huy ấy xuất hiện, đứng trên lễ đài, hoàn toàn không giống như ý tưởng tượng của họ. Người ta kinh ngạc nhưng người ta không thất vọng. Con người thật không giống như trong tưởng tượng nhưng phong phú hơn, và gần gũi hơn. Qua một thoáng kinh ngạc, người ta liền dậy lên. Người ta hoan hô, người ta kêu nhau, người ta chen nhau tràn về phía trước. Trong ánh lửa hồng của hàng ngàn ngọn đuốc, người chỉ huy hiện lên trước khán đài. Người ấy, một con người cao, gầy gò, mặc bộ bà ba màu cháo lòng tóc bùm sùm. Đó là người câm của quán rượu. Anh Ba Hoành!.

Anh mọp đầu chào dân làng, rồi nhón chân, đưa hai tay chào, rồi đưa tay vuốt ngực và cất tiếng:

- ... Bốn năm nay tôi không nói, không phải tôi câm. Mà tôi im lặng. Đã đến lúc chúng ta không im lặng được nữa. Đã đến lúc chúng ta phải...

Tiếng nói của bốn năm câm lặng, tiếng nói không cần phải qua máy móc của các thứ loa, tiếng nói của anh vang lên đến từng người, vang dội cả trong lòng họ.

Cả làng. Mỗi người một ngọn đuốc, mỗi người một thứ giọng lại dấy lên, đáp lại lời của anh.

Làng lúc nào cũng tràn trề tiếng sóng, người ta không nghe tiếng sóng nữa. Người ta chỉ nghe tiếng vang dội của dân làng.

Dân làng quây quanh lấy khán đài, hò hét cho hả hê, và đốt thêm đuốc. Đuốc: cái đưa lên, cái đưa xuống rào rào như một đám cháy. Người ta quơ đuốc cho cháy to hơn, quơ đuốc cho lửa bốc cao và người ta phóng cả ngọn đuốc bay vọt lên không. Tưởng chừng, hàng ngàn ngọn lửa đuốc đang đốt cả trời đêm.

Tháp Mười 16-5-1967
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #23 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2024, 09:47:08 am »

hoi_ls xin được tiếp tục chủ đề này với những truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, được rút trong tập "NGUYỄN QUANG SÁNG - Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh", Nhà xuất bản Văn học - 2007.



ÔNG NĂM HẠNG


   Một đêm tháng 9 năm 1951... Tôi về đến làng thì trời đã tối rồi, và nghe nói, người làng đã tan tác đi nhiều lắm. Tôi hỏi thăm ông Năm Hạng, biết rằng ông hãy còn ở lại và hiện đang ngồi uống rượu cùng với một người khách. Đó là người cháu bộ đội ở xa về. Ông Hạng mà cũng có khách à? Tôi vừa lấy làm lạ, vừa lấy làm mừng cho ông. Vì xưa nay, ông vốn sống cô độc. Trong mấy năm cùng sống với ông, tôi không hề nghe ông nhắc đến ai là người thân, mà lúc nào cũng nghe ông rì rầm nhắc đến chuyện thằng con. Đó là đứa con trai duy nhất của ông đã bị giết chết trong những ngày đầu kháng chiến. Con ông là một tên do thám của giặc. Nhưng ông, thì ông không hề tin điều đó. Ông cho rằng người ta giết con ông là vì thù nhơ oán chạ. Rồi, ông dựng đứng lên một câu chuyện. Ông nói, hôm đó con ông nghe tin giặc sắp đi ruồng, nên con ông mới vội vàng về làng báo tin cho bộ đội. Nhưng con ông mới vừa về đến cầu Cây Dừa thì có người từ trong bụi nhảy ra, chĩa súng vào ngực, rồi bắn con ông lật nhào xuống nước. Người đó có thù riêng với con ông. Người đó là ai, ông không nói. Mỗi lần nhắc đến, xem chừng ông muốn tìm biết thủ phạm lắm. Tìm biết để làm gì, ông cũng không nói ra.

   Thực ra, người giết con ông chính là tôi. Lúc chúng tôi đóng quân ở nhà ông, con ông có về chơi mấy lần. Tôi để ý theo dõi anh ta từ đầu. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy trong hoàn cảnh đó, tôi không thể có cách xử trí nào khác hơn nữa.

   Buổi sáng hôm đó, tàu giặc cứ xình xịch lên xuống ngoài sông Cửu Long. Rồi nó neo lại, cho sà lan cặp vào bến chợ, và đổ bộ. Chúng kéo hàng ngang tiến vào làng. Đơn vị chúng tôi nằm phục sẵn. Tôi đứng gác ở đầu cầu, thấy hai tên từ phía chợ đi vào. Nó đi thom thom, mắt dáo dác nhìn vào các lùm cây. Tôi đoán biết là do thám. Hai tên ấy vừa đến vòng phục kích của đơn vị, tôi liền nhảy ra, bắt chúng. Tôi gặp lại con ông Năm Hạng. Chính con ông đã quay lại, toan giật lấy súng tôi. Và chính vì hắn mà đơn vị tôi bị lộ. Do đó, đơn vị tôi phải rút nhanh... Rồi một năm sau, trên con đường công tác, run rủi thế nào, tôi lại được phân công về đây. Người làng mà tôi gặp đầu tiên, không ngờ lại là ông. Ông là người của cơ sở đi đón cán bộ về làng. Tôi còn nhớ rõ cái đêm đó, cách đây đã bốn năm rồi. Trong bóng tối của đêm sắp qua lộ, sau khi nhận được tôi thì, ông đưa hai tay chụp xuống vai tôi và kêu lên:

   - Trọng! Trời! Từ bấy đến nay cháu đi đâu?

   Sau những tiếng kêu kinh ngạc ấy, ông đẩy người tôi ngã ra sau; còn ông, ông đứng thẳng với một vẻ sững sờ. Ông ngắm nghía tôi từ đầu đến chân một hồi lâu. Nhìn tôi, ông khẽ khẽ lắc đầu. Rồi, thật cảm động, ông kéo tôi sát vào người, úp mái tóc xuống vai tôi, lồng ngực run lên, nức nở. Tôi đứng sững đó, hai tay ôm chặt lấy ông mà tưởng người mình như đang rã tan ra. Từ đó, tôi về cùng sống với ông. Ông chăm lo cho tôi từng chút một. Ông ngồi bên hầm, gác cho tôi ngủ. Ông dọn đường cho tôi đi hoạt động. Ông lo cho tôi cả cây gậy để đi đêm... Và bất cứ việc gì giao cho ông, ông cũng làm tròn. Nhưng ông vẫn cứ thắc mắc về chuyện đứa con của ông. Nhất là buổi chiều, sau khi nốc cạn một cốc rượu, thì sắc mặt của ông sầm xuống. Đôi mắt xếch của ông vừa long lên, vừa rỉ ra hai giọt lệ, rồi ông cất giọng lè nhè trong hơi men:

   - Cháu Trọng, cháu có còn nhớ mặt mũi tay chân thằng con của bác không?

   Sau câu hỏi đó, ông bắt đầu kể lể. Ông thường nói với tôi, người giết con ông, không chỉ có giết con ông thôi, mà còn giết cả cuộc đời của ông nữa. Mấy năm trời nay, không có nó, ông đã chết mòn vì cô độc. Bà vợ ông mất từ khi nó mới mười lăm, mười sáu. Cuộc đời của ông có gì đâu? Một miếng đất cắm dùi cũng không có. Ông chỉ có nó. Nhà thì nghèo, ông thì già, nên nó mới bỏ làng ra chợ đi kiếm lấy một cái nghề buôn bán. Năm ba hôm nó về thăm ông một lần. Có khi nó về hẩm hiu với ông hàng tháng. Bây giờ, nhà của ông đây, khi ông đi, không có ai để dặn dò, khi ông về cũng không có ai chờ, ai hỏi, ai thưa...

   Có một lần, sau khi kể xong, ông đưa tay đặt lên chiếc dao găm đeo bên hông, và ngồi lặng. Người ông như chìm trong ý nghĩ đen mù. Ông ngồi lầm lầm, áo không cài cúc cổ, lồng ngực căng lên xoắn xuýt những chòm lông.

   Khi tôi tìm lời an ủi, bảo ông hãy quên đi, thì ông “hừm” lên một tiếng và nói:

   - Nói ra, cháu đừng giận bác! Cháu chưa có vợ, cháu chưa có con, cháu chưa nuôi một đứa con từ khi nó biết đi lẫm chẫm đến lúc nó trở thành người, cháu chưa làm cha - Ông khẽ lắc đầu - thì cháu lấy cái gì để biết cái khổ, cái đau của bác?...

        Nỗi đau đớn của ông cứ day dứt mãi trong người tôi. Tôi thấy cần phải nói ra sự thực đó. Có lẽ ông sẽ khổ nhiều, nhưng sự thực sẽ giúp ông hiểu rõ và quên đi.

   - Bác Năm à! Nếu rủi như ảnh là Việt gian thì bác nghĩ như thế nào?

   Tôi định bắt đầu bằng cái câu hỏi đó, đế xem thái độ của ông. Tôi vừa hỏi xong, thì ông liền vặn lại:

   - Sao?

   Ông nảy người lên và sửng sốt nhìn vào tôi:

   - Nếu nó đi làm Việt gian à? Hừ!

   Lồng ngực ông căng thẳng lên và phập phồng. Ông không nói nữa mà quát lên:

   - Nó đi làm Việt gian à?... Thì để cho cha nó! Cha nó sẽ xử tội nó!

   Nói xong, ông chồm về phía tôi, đưa bàn tay nắm lấy chòm lông ngực, run run. Hai hàm răng ông nghiến chặt, hai hốc xương hàm nổi gồng lên, mắt long lên như đang cố hết sức để rứt ra một cái gì rất đau khổ và khó khăn. Ông nhìn tôi một lúc, rồi bỗng cười gằn một tiếng, đưa mấy ngón tay mở thêm cúc, kéo xệ một manh áo. Ông nghiêng người tràn tới và cong năm ngón tay gõ vào ngực:

   - Cháu nên nhớ, bác là Trần Văn Hạng, du kích xã Mỹ Long, bác năm nay đã năm mươi tuổi rồi, đầu đội trời, chân đạp đất; từ cha sanh mẹ đẻ ra cho tới bây giờ, đầu hai thứ tóc, nghèo thì cạp đất ăn, chớ bác chưa hề làm một điều phi nghĩa. - Ông vênh mặt nhìn tôi với một vẻ tự hào, và to tiếng - Dòng máu của bác không đẻ ra một thằng con như vậy. Đời nào! - Ông nói một cách quả quyết như thế. Đôi mắt ông bỗng trở nên giận dữ và nhìn thẳng vào tôi, như soi mói, như tìm kiếm một cái gì. Tôi liền ngoảnh mặt, lánh hai luồng mắt của ông. Tôi đâm sợ và vội vàng nói chữa lại:

   - Cháu ví dụ như vậy thôi, bác à! Theo cháu, lúc đó là lúc hai bên đang giáp trận, chắc là ảnh không biết đường chạy, nên bị bắn lầm hay bị đạn lạc cũng không chừng.

   Sau câu nói đó, đôi mắt nảy lửa của ông liền dịu xuống.

   Trong đôi mắt sầu thảm của ông, tôi thấy anh ánh lên một niềm hy vọng. Ông khe khẽ gật gù, vẻ hài lòng. Ông đưa tay cài cúc áo. Nhưng rồi, không biết nghĩ thế nào, ông lại ngẩng lên, nhìn xa xăm, khẽ lắc đầu, và lầm bầm: “Lầm à! Hừ!”. Ông đưa tay vớ lấy cốc rượu. Uống xong, một lúc sau đôi mất đỏ ngầu như mắt cá chày. Thế là ông trở lại cái câu chuyện mà ông đã dựng đứng lên rồi gầm rít trong cuống họng, rồi quả quyết: “Người ta thù nhơ oán chạ cháu à!”.

   Ông lại nói thêm, nếu con ông còn sống thì ít nhất nó cũng lên đến chức đại đội tiểu đoàn rồi. Nếu đem so sánh, thì con ông đủ tài đủ trí bậc nhất trong làng. Người thì to lớn, lẫm liệt như con nhà võ, v. v... Ông ca ngợi con ông đủ mọi điều. Theo thói thường của sự đời, phàm là cha mẹ thì hình như không ai chịu nhận con mình là đứa xấu xa hư hỏng cả. Hễ là con của mình thì nhất nhất cái gì cũng tuyệt vời hết. Ông Hạng là người như thế. Tôi không biết làm sao, bèn trình bày thực ý nghĩ của mình với đồng chí đội trưởng du kích xã. Đồng chí đội trưởng liền gạt ngang:

   - Không được! Ông già đó nóng nảy lắm! Giấu! Giấu. Đừng ở nhà ông ta nữa...

   Tôi đi hỏi thăm những người thân thuộc của ông, xem ai là người thân thích, ruột thịt của ông để nhờ an ủi, khuyên lơn. Nhưng, người làng cho biết, bà con của ông không có ở đây, đã tản lạc đi đâu hết rồi, và mấy năm nay không thấy một ai về.

   Bây giờ, nghe có anh bộ đội về thăm, tôi rất mừng. Tôi hy vọng đồng chí bộ đội sẽ giúp tôi được nhiều về việc này.

   Nhưng khi tôi hỏi lại thì người làng bảo: “Cháu chắt gì của ông ấy đâu! Anh ấy trước là người ở chợ, có tới lui chơi nhà ông ta. Nay nghe anh là bộ đội, ông ta mới nhận “bừa” là cháu để được chút thơm lây đó mà!”. Tôi bật cười và nghĩ thương ông hơn. Không phải là cháu, nhưng ông chịu nhận là cháu thì cũng được lắm rồi. Tôi nghĩ như vậy. Tôi còn biết thêm, đồng chí bộ đội ấy đã về ở nhà ông được mấy hôm rồi, và đêm nào cũng chén tạc chén thù.

   Tôi khấp khởi mừng, đi ngay.

   Cái làng bị chiếm, buồn bã và tiêu điều làm sao. Những ngọn đèn của đồn giặc ở phía đầu doi, lập lòe như một bầy đom đóm. Thỉnh thoảng chó đầu trên xóm dưới tru rú lên ông ổng. Tiếng sóng của dòng sông ì ầm, nghe như những tiếng sấm xa xăm. Những cơn gió của mùa mưa hú qua các chòm cây, cuốn theo những chiếc lá khô, thổi rào rào dưới mặt đường.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #24 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2024, 09:56:09 am »

*
*      *

   Tôi đến nhà ông Năm Hạng. Một ngôi nhà con nằm dưới tàn xoài um tùm. Đất sân lành lạnh gan bàn chân, mùi lá mới hãy còn thơm. Chắc là nhà cũ đã bị giặc đốt rồi. Tôi định xô cửa bước vào thì tôi dừng lại. Tôi nghe ông đang gầm rít trong cuống họng “ngầm ngừ”. Chắc là ông đang nhắc đến con và đang giận. Tôi đưa mắt nhìn qua một kẽ vách. Ngọn đèn lù mù như cái bóng gáo. Người khách ngồi xoay lưng ra phía tôi nên tôi không nhìn thấy mặt. Còn ông Hạng, ông ngồi xếp bằng trên bộ phản, phanh áo ngực. Ông đưa cái bình rượu lên miệng, uống ừng ực một hơi dài. Rượu chảy ròng ròng theo bên mép, đọng lại dưới chòm râu. Ông đặt bình xuống, chồm tới, nắm tay người khách, kêu lên với một giọng lâm ly:

   - Cháu! Cháu có còn nhớ thằng Long con của bác không? Nó cũng khôi ngô mập mạp như cháu đây này... - Ông Hạng vừa nói vừa nắn nót hai cánh tay của người khách.

   Để cho ông đừng nhắc đến nữa, tôi liền lên tiếng:

   - Bác Năm ơi!

   - Ai đó, xô cửa vô!

   Thấy tôi, ông liền quỳ lên, đưa hai bàn tay to lớn lên khỏi đầu, run run, và kêu:

   - Trời! Thằng Trọng, cháu đi đâu một tháng trời nay, hả?

   Ông đưa tay về người khách:

   - Thằng cháu của bác ở bộ đội miền Đông mới về. - Bàn tay ông hướng qua tôi, giới thiệu tôi với một vẻ hãnh diện:

   - Thằng cháu cán bộ trên tỉnh!

   Nhìn người khách, tôi gặp lại cái bộ mặt nhọn choắt và cái mũi gầy đét của anh ta... Bụng tôi đánh thót một cái. Phút chốc, tôi mất tất cả bình tĩnh. Tôi đã nhận được người khách này là ai rồi. Và hình như hắn cũng nhận ra tôi, nên nụ cười của hắn hơi run run. Trong lúc đó, ông Hạng vừa rót rượu vừa mời tôi:

   - Uống một miếng cho ấm bụng, cháu!

   Để lấy lại sắc mặt và ra vẻ tự nhiên, tôi xoay qua, nâng cốc, nốc liền mấy ngụm. Tôi đã thoáng hiểu vì sao trong tháng này làng bị giặc bố nhiều, vì sao bọn “commăngđô” hay thọc vào nhà của cán bộ và vì sao dân làng phải đi tan tác. Người tôi nóng rừng rực. Nhưng tôi cứ giả vờ thản nhiên. Để tỏ ra mình đã quên hắn, tôi gọi hắn là “đồng chí”:

   - Đồng chí ở bộ đội nào? Xin lỗi đồng chí tên gì?

   - Tôi tên Lý! Tôi ở bộ đội miền Đông.

   Rồi tôi hỏi về tình hình miền Đông, và nói với hắn một vài sự thực tình hình ta. Xem chừng khi hắn ta đoán chắc chắn là tôi đã quên hắn, tôi mới đứng dậy cáo từ.

   - Thưa bác Năm! Cháu ghé thăm bác một chút, bây giờ cháu phải đi có chút việc. - Tôi hướng về hắn, siết chặt tay hắn:

   - Đồng chí ở chơi!

   - Cháu đêm nay ngủ đâu? - Ông Hạng hỏi.

   - Cháu ngủ ở đằng nhà đồng chí đội trưởng.

   - Ừ có việc thì cứ đi. Mai lại đây nhậu với thằng cháu một bữa nghe không?

   Tôi ra khỏi cửa, liền đến báo với đồng chí Đoàn, đội trưởng du kích xã. Cái thằng này ghê thật, dám mang giấy tờ bộ đội mò về. Chúng tôi cho du kích nằm phục sẵn xung quanh. Sau đó, tôi và Đoàn trở lại rình nghe. Tôi và Đoàn đứng bên gốc xoài sát bên vách nhà. Trong lúc tôi đi, không biết hai người đã nói gì. Khi tôi đến thì thấy ông Hạng giật nảy lên một cái, hai con mắt mở tròn và kinh ngạc:

   - Sao? Cháu biết à?

   - Để một chút nữa rồi cháu nói.

   Tên Lý bước ra ngoài, hai chúng tôi chạy núp vào bụi rậm. Hắn ta đi vòng qua nhà một lần, hắn bấm đèn rà qua lại rất cẩn thận. Ngọn đèn của hắn quét qua mặt tôi mấy lần, khiến tôi phải nhắm nghiền mắt lại. Rồi hắn trở vào, hai chúng tôi cũng trở lại chỗ cũ.

   Đèn trong nhà đã tắt. Tôi chỉ thấy hai bóng cái to và nhỏ đang xích lại gần nhau, tiếng của hắn thì thầm và hơi run:

   - Chính là cái thằng hồi nãy đó.

   - Hả? - Cái bóng đen của ông Hạng rúng lên một cái. Tôi thấy rợn qua người.

   - Không! - Ông Hạng nói - Không phải đâu cháu, cháu nhìn lầm rồi!

   Cái bóng đầu của tên Lý lắc lia lịa:

   - Không! Cháu không lầm đâu! Bác bình tĩnh, bác bình tĩnh để cháu nói cho bác nghe.

   Hắn bước xuống bộ phản, nhưng lần này hắn chỉ bước ra tới cửa, rồi trở vào:

   - Cháu nhớ chắc lắm. Cháu nhớ cái nốt ruồi ở mí mắt của nó nữa kia mà! - Cái bóng đen của ông Hạng không nhúc nhích, im lìm như một bức tượng đồng đen. Tôi chỉ nghe hơi thở “hì hì” của ông. Tên Lý tiếp:

   - Cháu nhớ không sai đâu!

   - Nó giết thằng Long của bác ở tại đâu? - Giọng ông Hạng rưng rức, nghẹn ngào.

   - Ở tại cầu Cây Dừa - Tên Lý như có vẻ chủ động hơn, giọng hắn không còn run nữa, hắn tiếp:

   - Chính là nó đưa súng bắn cháu với anh Long mà!

   - Hừ! Sao nữa?

   - Rồi nó bắn anh Long của cháu chết.

   - Sao nó không bắn cháu?

   - Nó bắn không kịp. Để cháu kể lại tỉ mỉ cho bác nghe. Nó đi sau, cháu với anh Long đi trước. Qua tới cầu Cây Dừa, cháu thấy mòi1 không xong. Cháu vừa quay lại liếc mắt thì anh Long liền quay lại chụp lấy họng súng của nó. Anh Long thật đáng là anh hùng. Bị nó bắn rồi mà ảnh còn nắm chặt lấy họng súng của nó. Cháu nhờ ảnh mà cháu mới tẩu thoát. Cháu nhảy xuống, lặn một hơi qua bờ. Nó còn định kiếm bắn cháu nữa thì, thật là phước trời, quân đội của mình nghe tiếng súng của nó, liền thổi lại như mưa bấc. Bác còn nhớ cái trận đó không? Nó chạy như là gà.

   - Quân đội của mình là quân đội nào?

   Ông Hạng như giật mình và hỏi lại. Trong câu hỏi ấy, tôi thấy ông đã bắt chợt được một cái gì khó hiểu và lạ lùng.

   Tên Lý ngồi im như muốn thu người lại. Cả hai đều ngồi lặng.

   Hai cánh tay to lớn của ông Hạng từ từ đưa lên thành hình cánh cung và run run:

   - Trời! - Ông bật lên một tiếng nấc, và hai cánh tay rụng xuống như cánh cung bỗng bị gãy làm đôi.

   Người ông oằn xuống, hai tay chống xuống bộ phản. Đầu ông rủ xuống.

   - Bác Năm! Bác Năm! - Tên Lý khe khẽ gọi. Tôi nghe hơi thở ông trút ra từng đoạn nặng nề. Ông ngoảnh nhìn lên. Đôi mắt ông lóe lên, nhoi nhói trong bóng tối.

   Sự thực đã rõ rồi. Tôi không biết ông đang thù ai? Tôi hay tên Lý, hay là con ông, mà đôi mắt ông cứ nhoi nhói? Hình như tên Lý cũng sợ cái đôi mắt ấy, nó lùi ra và lắp bắp:

   - Bác Năm! Bác Năm! Thôi chuyện đã qua rồi! Nó cũng “đằng mình” bác Năm à!

   Ông Hạng đang lừ đừ nhìn quanh, bỗng dừng lại, và hỏi với một giọng kinh ngạc:

   - “Đằng mình” à?

   - Bác định như thế nào, hả bác? - Tên Lý hỏi, giọng hắn như van lơn ông lão một điều gì.

   Ông Hạng không nói không rằng, ông bước xuống, đứng sững một hồi lâu; rồi bước tới, bước lui và đầu chúc xuống.

   Chừng như sau một lúc suy nghĩ kỹ rồi, ông mới dừng lại, và nói gằn từng tiếng:

   - Cháu nên nhớ - Ông đưa tay gõ “bồm bộp” vào ngực - bác không phải là thằng “tham sanh úy tử”! Cháu nên nhớ, làm một con người sanh ra trong trời đất thì phải biết: hễ có thù thì phải rửa thù, ai có nợ máu thì phải đền bằng máu! Thằng Long nó là con của bác!...

   Tên Lý bỗng vùng dậy, cắt lời ông và đệm vào:

   - Đúng! Bác nói đúng! Thà là bác không biết, bác Năm à!

   - Này! - Ông Hạng cúi gần mặt hắn ta và nhỏ lời - Bác hỏi thật cháu thêm điều này. Lúc đó hai cháu đi đâu mà bị nó bắt?

   Tên Lý đứng yên, có vẻ nhìn ông, dò xét. Ông Hạng lại tiếp, tâm lý lạ lùng:

   - Cháu ơi! Cháu là anh em của nó. Bác là cha của nó. Nó chết rồi, mà cháu còn tưởng nhớ đến nó mà len lỏi về đây thăm bác.... - Ông ngập ngừng - Bác coi cháu như nó. Bác nói thật với cháu, nếu mà bác biết “sự thể” nó như thế này, thì bác “tru di tam tộc” nó rồi. Cái bót nằm ngoài đầu doi kia, nó làm gì được bác, hở cháu? Cháu nói thật cho bác nghe, hai cháu đi làm gì mà bị nó bắt, hở cháu? Cháu biết nó, mà sao hồi nãy cháu còn bắt tay nó, hở cháu? Cháu không sợ vong hồn thằng Long sao cháu?

   Chợt tên Lý bước ra cửa một lần nữa. Hai chúng tôi vội lùi về bụi rậm. Hắn đi vòng qua nhà ba lần. Ngọn đèn của hắn rà qua rà lại các bụi rậm. Không thấy gì nghi ngờ, hắn quay vào.

   Chúng tôi vừa nhổm dậy thì bất thình lình, hắn lại quay ra. Hai chúng tôi phải sụp nhanh xuống. Lần này, hắn có vẻ dè dặt hơn. Vì sợ hắn trở ra bất ngờ, nên hai chúng tôi cứ nằm im. Khi nghe bên trong thầm thì một hồi lâu, xem chừng hai người đã mê chuyện, hai chúng tôi mới mò vào. Tôi cứ tiếc, không biết hai người đã nói với nhau những gì rồi. Lúc tôi trở vào, thì tên Lý đang nói giữa câu chuyện:

   - ... Nghèo lắm! - Tên Lý nói - Buôn bán thua lỗ, anh Long của cháu bị mắc nợ như là chúa Chổm. Bác còn nhớ thầy Năm Sang đòi kiện, đòi bỏ tù ảnh không? Bác còn nhớ cái lúc ảnh bán chiếc cà rá2 cho thằng cha Mười Tưng không? Cháu thấy vậy, cháu mới tiến dẫn ảnh ra khỏi con đường nguy ngặt. Cháu lên thưa với ông sếp, phát cho ảnh năm trăm đồng. Nếu ảnh còn đến bây giờ thì bác đâu có đến nông nỗi như thế này...

   - Hừ! Cháu tiến dẫn cho nó?

   - Và! - Tên Lý vội chữa lại - Lúc đó ảnh thắt ngặt lắm. Anh mới đi hỏi cháu, nhờ cháu kiếm cho một sở làm.

   - Hừ! Vậy từ đó đến nay cháu đi đâu?

   - Cháu đi trả thù cho anh Long cháu! Còn bác?

   - Bác à? Bác có biết cháu đâu mà theo. Bây giờ thì nó chết rồi, bác còn có cháu, cháu định tiến dẫn cho bác ra sao nữa?

   Tên Lý rỉ nhỏ vào tai ông Hạng “rù rì” điều gì tôi không rõ. Ông Hạng bỗng bước xuống bộ phản; lù lù và to giọng:

   - Phải bắt mạng đền mạng! Cháu phải tiếp cho bác một tay. Cháu có mang súng ống gì không? Hả?

   - Cháu mà không có thì còn ai?

   Tên Lý có vẻ dương dương tự đắc. Hắn lòn tay vào túi quần móc ra một cây súng ngắn, hắn bảo:

   - Nhưng khoan đã, bác! - Hắn cũng cúi sát vào tai ông Hạng “rù rì”. Tôi đưa tai sát vào vách mà cũng không nghe được. Ông Hạng lắc đầu:

   - Cần gì! Ngày mai thì nó đi mất. Nó là cán bộ tỉnh.

   Tên Lý chần chừ.

   - Ừ cũng được. Nhưng mà... phải kéo nó ra ngoài sông. - Tiếng của hắn nho nhỏ như hơi gió.

   - Ừ! Cháu có súng, cháu đi trước đi!

   Cái bóng của tên Lý lùi lại sau:

   - Không được! Bác phải đi trước. Nó gặp bác, nó không nghi.

   - Ừ, cháu đưa súng đây cho bác.

   Tên Lý bỗng giật tay súng lại, như giật mình và có vẻ không muốn giao vũ khí cho ông. Ông Hạng vừa nói vừa đưa tay chụp lấy súng:

   - Đưa cho bác, bác đi trước!

   Ông Hạng cầm lấy súng. Người tôi rờn rợn nổi gai. Ông Hạng đi tìm giết tôi, nhưng tôi không hề sợ, và cũng không thấy thù hằn ông. Tôi chỉ thấy xót xa và thương hại ông mà thôi. Ông đã bước chân ra khỏi hàng ngũ của chúng ta rồi! Đầu tôi bỗng nặng như đá, mặt nóng ran. Cái bóng người to lớn của ông, lầm lầm, lì lì, hai tay khuỳnh ra, ông nhích từng bước tiến ra cửa. Hình như ông đang ngập ngừng khi biết mình đang bước vào con đường tội lỗi. Tôi muốn kêu: “Bác! Đừng! Đừng! Hãy quay lại. Nó mới là kẻ thù của bác!...”.

   Đồng chí Đoàn khều tôi, ra ám hiệu: Xông vào! Nhưng tôi giữ chặt Đoàn lại. Hình như tôi chưa lấy lại được trầm tĩnh, và hình như tôi chưa muốn coi ông là kẻ thù. Tôi muốn nhìn xem ông ta một chút nữa. Đầu tôi căng thẳng như sắp vỡ tung ra. Ông Hạng vẫn bước và bước tới. Tên Lý cũng lù lù bước theo, ông lên cò súng đánh “rốp” một cái. Tim tôi nhói lên. Rồi cái bóng đen lầm lì của ông bỗng quay lại phắt, và một tiếng quát:

   - Đưa tay lên! - Tiếng quát bất ngờ của ông như vỡ tan màng tai tôi.

   - Đưa tay lên! Đưa tay lên! Chính mày... mày mới là thằng giết con tao. Đưa tay lên!

   - Bác Năm! Bác Năm! - Tên Lý kêu ríu ríu.

   - Bác Năm cái gì? Đưa tay lên!

   Đoàn và tôi liền nhảy xông vào. Đoàn bấm đèn vào mặt tên Lý. Hắn vừa run vừa đưa tay lên mặt, vừa quỵ xuống.

   Lúc đó, ông Hạng như không ngạc nhiên gì về sự có mặt của Đoàn, ông hỏi, rồi khoát tay ra lệnh:

   - Trói nó lại!

   Tôi vẫn còn đứng ở bên cửa. Ông vẫn chưa thấy tôi. Ông bước gần lại tên Lý, gặt gặt họng súng vào mặt nó:

   - Mày! Hừ! Mày tưởng mày dụ được tao à?

   Giọng của ông vừa căm hờn, vừa đau xót:

   - Mày nói ai giết con tao? Hử? Hử?... Đồng chí của tao!... Mày!... Mày mới giết con tao.

   Trước cảnh đó, tình cảm của tôi lúc bấy giờ thật lài khó tả. Và tôi cũng không còn nhớ ý nghĩ, xúc động của tôi lúc ấy ra sao. Tôi chỉ còn nhớ, tôi hành động một cách tự nhiên.Tôi bước vào và kêu lên:

   - Bác Năm!

   Ông quay phắt lại. Trong bóng tối, dáng vẻ của ông vẫn giận dữ, súng vẫn còn trong tay lăm lăm và chĩa về phía tôi. Ông đưa mặt tới trước, nhìn. Nhìn thấy họng súng, tôi đâm hốt hoảng, liền nép người vào cửa. Ông rút người lại, như sửng sốt ông bật lên một tiếng:

   - Trọng!

   Cây súng trên tay ông rơi xuống. Ông dang rộng hai tay, người trờ tới.

   - Bác Năm! - Tôi nhảy xô vào, ôm chầm lấy ông. Còn ông, ông ngã xuống vai tôi và thổn thức...

10-9-1959




-------------------------------------------------------------------
1. Thấy mòi: xem chừng
2. Cà rá: nhẫn
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #25 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2024, 10:09:29 am »

NGƯỜI LÍNH GIÀ


   Bác Huệ, một ông già Nam Bộ, tuổi đã gần bảy mươi. Người bác còm cõi và râu dài chấm đến ngực. Đi đâu, bác cũng chống gậy, người cứ lùi lũi như con cuốc. Nhưng bác hãy còn là con nhà bộ đội.

   - Không phải là con nhà bộ đội thì sao còn đội nón có sao? - Bác thường hay nói như thế với những ai không tin bác là bộ đội. Tính bác vui vẻ, khề khà, và hay trò chuyện. Anh em gọi bác là ba, ba Huệ.

   Bác xin về giữ cái vườn lê ở Ba Vì đã hơn hai tháng nay. Nơi bác ở, thật là heo hút lắm. Cái chòi tranh của bác nằm sát bên vách đá. Trước cửa chòi có con đường mòn uốn lượn trong rừng sậy lưa thưa, rồi không biết đổ về đâu. Bốn bề vách đá dựng lên sừng sững đầy rêu và lồi lõm với hình thù kỳ dị. Và ngày theo ngày, mây cứ nối nhau trôi qua, mịt mù.

   Bác ở một mình, không có ai để trò chuyện. Bất cứ lúc nào nghe một tiếng động gì, bác cũng che tay, nhìn, và tìm kiếm. Bác cứ tưởng là có người, nhưng hóa ra là lá khô chạy lông lốc dưới mặt đường, hoặc tiếng chân thú xào xạc đi ăn. Những lúc ấy, không hiểu sao, bác lại thấy buồn thấy nhớ. Người cứ đứng thẫn thờ ra. Mà nhất là đêm, nằm nghe tiếng suối xao xuyến qua khe đá rì rào bác lại càng buồn càng nhớ hơn. Bao nhiêu cảnh, bao nhiêu người cứ xoắn xuýt trong đầu bác. Nhớ đến đâu, ruột gan cứ bời bời ra đến đấy. Cho nên, trưa nào cũng vậy, sau khi tưới nước cho lê xong, là bác gõ gậy, leo lên đồi, lội qua suối, lùi lũi đến xóm Mán, tìm ông Câu để tán chuyện. Đó là ông bạn già mà bác đã kết nghĩa từ khi mới đến. Bác thích ông Câu nhất ở cái điểm là ông ấy hay hỏi về chuyện miền Nam. Người miền Bắc nào mà lại không thế, ai lại không muốn biết về miền Nam, nhất là lúc này? Nhưng vì ông Câu hỏi nhằm cái lúc bác đang nhớ (như gãi trúng vào chỗ ngứa) thì bác nhận định rằng: Ông bạn già của mình có một tinh thần thống nhất khá cao. Thật là tâm đầu ý hợp! Những lúc ấy, người bác cứ như cường tráng lên vậy. Lưng không còm nữa, bác ngồi thẳng, tay ve vuốt chòm râu, và từ dưới đáy mắt cháy sáng lên. Thôi thì, tha hồ mà nói. Người bác trở nên hoạt bát lạ, và nói ra thì lưu loát “văn chương”. Bác nói về cánh đồng miền Nam: “... Đồng ruộng miền Nam thật là mênh mông bát ngát, chạy đụng tới chân trời, cò bay thẳng cánh...”. Cái bàn tay khẳng khiu của bác đưa lên, chập chờn như cánh cò đang mỏi sức... “Còn sông thì bao la, nhất là con sông Cửu Long, có nơi rộng hàng sáu bảy cây số, nhìn không biết bến bờ là đâu, chỉ thấy trời với nước”. Cái tay của bác che mắt và nhìn ra xa.

   Bác vừa nói vừa liếc nhìn cái gương mặt của ông Câu. Ông Câu nghe say đến nghếch mặt lên. Mồm há hốc như hứng từng lời, và mắt lim dim như mơ tưởng. Và sau mỗi đoạn, ông Câu lại nhắp cốc rượu, nên bác lại càng sôi nổi hào hứng hơn. “... Quả là một xứ giàu có bậc nhất nhì trên thế giới, quả là cái đất mần chơi ăn thật, quả là cái đất tiền rừng bạc bể...”. Bác kết luận một thôi dài như vậy. Nhưng ý chừng sợ ông Câu hiểu nhầm rằng: đồng bào miền Nam hiện đang sống dưới ách Mỹ - Diệm vẫn là sung sướng, thì bác liền vội vàng đính chính ngay: “... Nhưng nhân dân mình có sướng không là do cái chế độ, ông cụ Câu ạ!”. Bác nhắc lại cái thời Pháp - Nhật, và chứng minh bằng cuộc đời của mình. Cái đất U Minh tiền rừng bạc bể như thế, vậy mà gia đình ông mặc toàn bằng cói và bố tời. Trong xóm của bác, có một người con gái đến tuổi lấy chồng, đã tự vẫn chết vì không có quần mặc... Giọng của bác trầm xuống, buồn bã. Rồi bác kể qua chuyện kháng chiến, nào chuyện đánh xe tăng bằng tầm vông vạt nhọn, nào trận Tầm Vu tóm thâu đại bác... nào chuyện đấu tranh chống tố cộng của Mỹ - Diệm bây giờ... Bác kể huyên thiên. Sau cùng, bác nói đến chuyện xây dựng của bộ đội miền Nam trên đất Bắc. “... Hồi mấy đứa nó mới về, đây chỉ toàn đồi là đồi, cứ trùng trùng, cứ điệp điệp; không nhà không cửa, đi một quãng một cái lô cốt, một cái đồn... toàn là đồi hoang... Mấy đứa nó về, nó khai hoang, nó đắp đập, nó dựng nhà, nó trồng mía, nó nuôi bò. Chà! Bò có hàng; mấy nghìn con, hàng đàn, hàng lũ kéo nhau qua đồi, coi thật là đẹp! Rồi nay mai nó mở đường lên đây, dựng nhà, nuôi cừu, trồng cây. Ba Vì này sẽ là thành phố. Nó sẽ xây thủy điện, mấy con suối này không phải là đồ bỏ đâu!... Điện sẽ móc đầy núi Ba Vì...”. Bác còn nói cụ thể, điện sẽ móc chỗ này chỗ nọ, chỗ kia, tay bác chõ về hướng này hướng khác, bác say sưa như là ông trưởng ban kế hoạch. Và còn không biết bao nhiêu là chuyện nữa. Ngày nào cũng vậy, bác ngồi kể cho đến chiều. Bước ra khỏi nhà ông Câu, buồn bực, nhớ nhung như được vơi đi, bác thấy người cứ là nhẹ nhõm. Bác hăng hái ra về, gậy không gõ cùm cụp, lùi lũi đi như con cuốc nữa. Bác đi thẳng lưng và lấy gậy đập phành phạch cây cỏ hai bên đường. Rồi, hôm sau, sau khi xong việc, bác lại sang.

   Nhưng dần dần, chuyện nói mãi rồi cũng đến hết. Chẳng lẽ ngồi nhai đi nhai lại cái chuyện cũ, bác thấy nhạt nhẽo làm sao! Sự qua lại với ông Câu, do đó mà thưa dần. Gần đây, bác lại có điều bực với ông Câu. Khi bác nói nhiều về điện khí hóa Ba Vì thì thái độ của ông Câu thay đổi ngay. Ông Câu cứ tảng lờ đi, có khi lại bĩu môi, lắc đầu, bảo không tin được. Bác cụt hứng. Rồi từ cái không tin ấy, chừng như ông Câu cho những chuyện trước của bác đều láo, láo hết. Bác tự ái. Với ông Câu thì không lý thuyết suông được, phải có cái thực tế, mà thực tế thì có đâu? Mà lạ, nói đến thống nhất thì ông ấy tin, tin lắm, còn hứa là chừng đó sẽ về Nam chơi nữa; nhưng nói đến điện về Ba Vì, thì ông lại lắc đầu. Sao thế? Bác không nghĩ ngợi nhiều, bác chỉ nhận định lại và kết luận rằng: Ông Câu hãy còn lạc hậu, chưa thấy được “cái sự tiến lên” của mình. Thế là từ đó, bác bặt đường qua lại. Và bác lại buồn, lại nhớ.

   Sáng sớm, bác lên suối, mở cản cho nước về vườn, rồi đi nhổ cỏ, bắt sâu. Công việc chỉ nhẹ nhàng có thế. Cơm nước xong, bác thu thú trong chòi, đun hết ấm nước này đến ấm nước khác, nhâm nhi với chén trà. Nghe một tiếng động, bác vội vã bước ra, nhìn ngong ngóng. Bác cứ tưởng là thằng Be. Đó là “đứa” hay mang thức ăn lên cho bác trong những ngày chủ nhật. Buồn quá, có lúc bác định trở về. Nghĩ đến đây, bác lại tự trách mình. Lửa rơm rồi, chưa gì mà đã định rút lui!

   Quả thực tình, bác có muốn xa anh em bao giờ đâu. Chỉ vì, bác muốn có được một việc làm.

   Hồi kháng chiến, bác làm anh nuôi cho một đơn vị chủ lực. Lúc nào là lúc bác không sát cánh anh em với cơm sốt canh nóng? Nhưng từ khi ra Bắc, sức của bác yếu dần theo tuổi. Bác không có đủ tiêu chuẩn là người lính nữa. Bác được đưa đi an dưỡng. Khi ba lô lên vai, bác bảo với anh em như người cha dặn dò với đàn con trước khi đi xa.

   - Ba đi ít hôm khỏe, ba về!

   Sau đó, bác phải che tay giấu mặt. Nằm an dưỡng, bác chỉ có việc ăn, nghỉ, và chơi. Nhìn anh em, người thì luyện tập, trườn, bò, bắn, người thì tăng gia, đào, cuốc, phá rừng, tay chân bác ngứa ngáy khó chịu như thế nào ấy. Vốn tính bác lại hay làm. “... Tay làm hàm nhai...” đã quen rồi, có “ăn không ngồi rồi” bao giờ đâu? Bác sốt ruột. Bác muốn đi và muốn làm. Và trong cái tuổi già, bác thấy tiếc thời giờ làm sao, bác muốn gấp rút làm nên một việc gì. Rồi bác xin về đơn vị cũ, xin nhận một nhiệm vụ. Nhưng, không ai chịu cho bác làm. Bác cầm đến cuốc, cuốc vừa được mấy nhát thì có đứa lại giật cuốc rồi: “Bác nghỉ đi, để con”. Bác lại đi qua tổ chăn, anh em cũng để bác theo “phụ hộ”, có việc gì là bọn chúng nó giành hết. Đứa nào cũng bảo: “Ba nghỉ đi, ba ở chơi với mấy con cũng là công tác rồi”. Hàng tuần, đến ngày bình công, ai cũng có điểm có công, còn bác như là một người khách xa, không thấy mình đóng góp được việc gì. Thế mà đến tháng cũng vẫn lãnh tiền theo cấp bậc trung sĩ. Bác thấy chột dạ làm sao! Bác đâm ra bực dọc. Nhất là từ khi được thư của thằng Thanh từ trong Nam gởi ra. Nó hỏi bác, từ ngày ra Bắc, bác làm được cái gì? Cả con Vân nữa, hiện đang học ở Hải Phòng, cũng gởi thư về hỏi: “... Ba còn giữ được truyền thống là chiến sĩ tích cực không?...”. Và nó thách: “... Ba với con thi đua nhá!...”. Mấy lần định gởi thư cho con, bác đều lần lữa, không muốn gởi. Chẳng nhẽ bảo với chúng nó là ba chỉ có “ăn không ngồi rồi”?

   Khi nghe đơn vị lên Ba Vì trồng lê, thấy việc giữ vườn là vừa sức, bác liền xin ở lại. Bác kết bạn với ông Câu cũng trong những ngày đó. Lần này, bác đấu tranh mạnh. Bác to nhỏ với đồng chí thủ trưởng:

   - Con nghĩ coi, ba bốn năm nay ba có làm được gì đâu. Chừng về Nam, đồng bào hỏi ba, từ ngày ra Bắc ba làm được cái gì, thì không lẽ ba lại vuốt râu cười trừ được hay sao?

   Nói thủ thỉ không được, bác đâm giận và nổi nóng, bác dọa:

   - Nếu mấy con không cho ba ở đây giữ vườn thì ba xin phục viên. Ba sẽ về xã làm ăn. Thử coi ba có làm ăn được hay không cho biết!

   Mà không phải dọa nữa, bác sẽ xin phục viên thực đấy. Ban chỉ huy bàn tán, thảo luận, và sau cùng bác được ở lại.

   Ở lại một mình, tuy buồn, nhưng bác đã có được việc làm, có được một trách nhiệm hẳn hoi. Bác liền gởi thư cho hai đứa con. “... Ba đang giữ vườn lê cho nông trường. Lê này quý lắm. Ở miền Nam mình chưa có... Vì phải trồng ở xứ mát. Đây là vườn lê xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Ba Vì, phải chăm sóc kỹ lưỡng mới được. Toàn thể đơn vị đều đưa tay ủy nhiệm cho ba giữ...”.

   Gởi thơ cho con, báo được cái tin mừng ấy, bác thấy lòng cứ phơi phới.

   Bác còn được nghe kế hoạch: Sau khi thủy điện hóa nông trường xong, đơn vị sẽ đưa quân lên núi, mở đường, và khai phá thêm ra. Chừng đó, bác sẽ vừa được gần anh em, vừa có việc làm. Bác trông mãi cái ngày ấy, nhưng không biết đến bao giờ. Cái bĩu môi của ông Câu, thế mà có lý đúng chăng? Không lẽ! Ngồi trong chòi, nhìn mây bâng khuâng qua đỉnh núi, bác cứ nghĩ vẩn vơ.

   Lại có một tiếng động. Lần này, quả đúng có người. Thằng Be! Bác muốn nhảy ra chạy xô lại thằng Be, nhưng bác cố ghìm mình lại, ngồi yên, mặc dù người cứ nhấp nhỏm, bác ló mái tóc ra cửa:

   - Lên làm gì! Sao không ở miết dưới đó đi!

   Bác gõ gậy bước ra, đỡ cái giỏ thức ăn trên tay Be.

   - Ba! - Be kêu lên, ôm chầm lấy bác, nắn nót hai cánh tay của bác, xem “ông già” của mình có khỏe không.

   - Công việc tới đâu rồi? Nhà máy sữa, nhà máy điện, nhà máy đường, chừng nào mấy con mới bắt đầu? - Bác hỏi một thôi dài, không đợi Be trả lời, rồi tiếp:

   - Vô uống miếng nước đi con! Tội nghiệp! - Vui miệng, bác văng tục một tiếng.

   Hai cha con vào chòi, uống trà và nói chuyện. Khi đã trầm tĩnh lại, bác mới mở giỏ, sắp xếp lại thức ăn. Trong giỏ chỉ có mấy quả trứng, một miếng thịt, không bằng một phần tư những lần trước, ít quá! Nhưng bác không muốn hỏi. Lúc đó, Be rỉ nhỏ vào tai bác:

   - Ba biết tại sao con đem lên ít không?

   Bác ngẩng nhìn, hỏi lại bằng mắt.

   - Thằng Long nó không cho con đem nhiều, nó bảo là để mai mốt nó đem lên, để nó có lý do mà lên thăm ba. Mấy đứa nó còn nhắn với ba là ba phải về dưới ít bữa, chửi cho mấy đứa nó mỗi đứa một tiếng, cho nó sướng cái lỗ tai rồi hãy lên. Nó nói là nó lâu nghe tiếng nói của ông già quá. Tụi nó còn nói, nếu ba không về, thì gởi cho tụi nó xin một sợi râu.

   Be liến thoắng, liền đưa tay bứt lấy một sợi.

   Ông già Huệ, nghe nói, cười mà rưng rưng nước mắt. Những “đứa” ấy đều xa nhà xa cửa. Ra miền Bắc mấy năm nay, đứa nào cũng muốn tìm lại cái gì là hình ảnh miền Nam cho đỡ nhớ. Người con gái với chiếc áo bà ba, cái búi tóc, hàng dừa... đều tìm ra được. Nhưng muốn gặp lại một cụ già người Nam Bộ, thì thật là hiếm. Vì, những cụ già người Nam Bộ tập kết ra Bắc rất ít. Cuộc sống hàng ngày của con người, không thể không có những người già. Bản thân bác, mang đến cho họ hình ảnh quý báu đó. Bác hiểu rõ điều ấy lắm. Lúc nằm an dưỡng, nói là an dưỡng, chứ bác có được yên đâu. Hết đứa này rước, đứa khác đã đến chực chờ. Bác đến, cả một đơn vị bỏ việc, chạy túa ra:

   - Ba về! Ba về! Bác như người cha đứng giữa một đàn con. Bác muốn ôm tất cả những đứa con vào lòng.

   - Có thư từ gì trong Nam không hở ba? - Anh em hỏi bác như hỏi người từ miền Nam mới ra vậy.

   - Có chứ! - Bác đáp và móc ra một xấp thư. Số là bác đi thăm nhiều đơn vị, nên bác hay góp thư của đứa này, đem đến cho đứa khác đọc. Rồi họa theo những lá thư đó, bác kể về chuyện miền Nam cho chiến sĩ nghe.Thế là chiến sĩ có thêm được một nguồn vui. Bác lại được cái nhớ, nhớ rõ hoàn cảnh của từng đứa con một - Thằng Long hơn mười hai năm rồi chưa gặp lại mẹ, mấy năm nay, cũng không được thư từ tin tức gì. Thằng Chà, vợ có mang từ khi mới tập kết, biết vợ đã đẻ rồi, nhưng không biết con mình là trai hay gái, và tên nó là gì? Thằng Phú lúc được tin cha chết, ngồi lặng hàng giờ như tượng đá. Thằng Tốt vừa được tin cho biết, người vợ chưa cưới của nó vẫn còn chờ đợi, nhưng không biết ngày nào hai đứa mới được gặp nhau, đều lớn cả rồi! Thằng Quang yêu con Vân của bác, nhưng chưa dám nói ra, hễ hè đến, là nhắc bác rước con Vân về... Mỗi đứa có mỗi tâm tư riêng, đọng lại trong lòng, nặng trĩu. Gặp bác, đứa nào cũng muốn kéo bác vào ngủ chung, để nói chuyện nhà chuyện cửa. Chính vì yêu bác, mà không có đứa nào chịu cho bác làm. Thế mà bác bỏ đi. Bác thấy mình như phụ bạc.

   Ông lão ngồi lặng một hồi lâu rồi đáp:

   - Được! Mai mốt rồi ba về. - Bác tiếp:

   - Mà cũng tại mấy con, nếu mấy con chịu phân công rạch ròi cho ba thì ba đi xa mà làm gì?

   - Ừ, thì ba về đi, mấy con sẽ phân công cho.

   - Dóc! Tụi con chỉ được có cái miệng. Ba ở trên này thôi. Chừng nào mấy con lên đây mở nông trường thì gặp ba. Mà nè, ba nói cho mấy con biết trước, chừng lên đây, mà mấy con cũng đối với ba như trước, không cho ba làm, thì ba bỏ đi nữa đó, nghe không?

   Ông lão hỏi luôn:

   - Này con! Chừng nào thủy điện, công việc mần ăn xây dựng đến đâu rồi?

   - Cũng đang bắt đầu.

   - Đang bắt đầu? - Bác đánh chách vào vế Be, vồn vã hỏi thêm.

   - Đang bắt đầu làm thủy điện rồi? Rồi sao nữa, nói cho ba nghe coi con!

   - Mấy con lúc này đi khai hoang cả ban đêm nữa. Mấy con nêu khẩu hiệu: “Thay đổi nhanh chóng mặt đồi!”. Mấy đêm nay đêm nào đêm nấy đèn đuốc đỏ đồi, thôi, vui như là ngày đi cướp chánh quyền.

   - Đốt đuốc làm đêm? - Bác mở tròn đôi mắt, hỏi lại. Vớ được cái tin đó, bác liền gõ gậy sang nhà ông Câu.

   Mới tới sân nhà, bác đã nói vọng vào:

   - Ông cụ Câu ơi! Cụ có ở nhà không? Nông trường đang bắt đầu làm thủy điện rồi. - Bác vừa lách mình vô cửa vừa tiếp:

   - Mà làm cả ban đêm nữa. Đèn đuốc sáng trưng như là hội... Này ông cụ Câu, ở đây có cái dốc nào đứng nhìn thấy ở dưới không?

   Ông Câu chỉ cho bác cái đỉnh sáu trăm. Con đường mòn ra cái đỉnh ấy, hóa ra là con đường mòn trước cửa chòi của bác. Bác gõ gậy, lùi lũi đi ngay. Đến nơi, bác thấy: quả là cái đỉnh cao. Cái đỉnh (trời) khéo đặt để, cao như pháo đài. Gió cứ lồng lộng. Leo lên đó, nhìn ra mênh mông, cảnh vật trước mặt bác đẹp đẽ và hùng vĩ lạ thường, ở phía xa mờ kia, sông Hồng và sông Đà đang bàng bạc như hai dải lụa, như cái cánh tay dang rộng ra ôm siết lấy Ba Vì. Đồi nối theo đồi, trùng điệp như sóng bể. Đứng đó, bác còn thấy rõ được các khu nhà của nông trường: từng khóm, từng khóm nằm dài theo chân núi. Tất cả đều thu nhỏ lại và xinh đẹp hơn. Những đàn bò xuôi ngược qua đồi như những bầy cừu lông vàng. Nắng! Nắng vàng như mật.

   Rồi tối, bác cũng ra đứng đó. Bác thấy đuốc đỏ rực trên một dải đồi dài. Qua một đêm, bác thấy ánh đuốc mỗi lúc mỗi tràn gần về núi, và hình như sắp đến nơi của bác rồi. Bác sướng đến rân rân cả người. Bác chống gậy, rướn người tới, tự dưng bác đưa tay vẫy, và cổ ngứa ngáy muốn kêu, muốn hú anh em. Bác có cảm tưởng như tất cả cũng đều thấy bác đang đứng, đang nhìn, đang theo dõi việc làm của họ. Gần quá, bác tưởng chừng như bỏ chân xuống là bước tới vậy.

   Thế là từ đó, khi mặt trời tráng lên dải núi phía tây một màu hồng chói, là bác khoác áo mưa, gõ gậy lũi ra đỉnh “pháo đài” N. Đêm nào, cũng như đêm nào, mặc những cơn gió thổi phanh tà áo ngực, mặc sương thấm lạnh cả đôi vai, bác vẫn đứng đó cho đến khi đuốc dưới nông trường tắt hẳn, bác mới chịu quay về.

   Sáng sớm, bác cũng lại đứng đó, để nhìn sự thay đổi dưới nông trường. Qua một đêm, màu xanh của cỏ cứ rút dần về núi. Trưa, tưới nước cho lê xong, ăn vội ba hột cơm, bác liền sang nhà ông Câu.

   - Ông cụ Câu ơi! Gần có điện rồi! Gần có điện rồi!

   Không cần ông Câu mời mọc hỏi han gì, bác cứ ngồi xuống ghế, múa tay, nói luôn một thôi dài:

   - Anh em nó làm đêm, đèn đuốc sáng trưng trưng. Hôm nào, cụ ra mà xem. Sự tiến lên bây giờ, y như là hát thuật. Chỗ này, hôm qua là cỏ, hôm nay thì thấy dựng nhà máy rồi, y như là nó vạch đất mọc lên vậy ông cụ Câu ạ! Ống khói cao ngất, phun khói cứ phì phì, cuồn cuộn như là mây.

   Trong lúc hứng, bác có tán rộng ra một ít. Ông Câu chú ý nghe, không bĩu môi nữa, nhưng cũng không say mê như buổi đầu. Nhưng đã có cái thực tế rồi nên bác cứ vẫn say sưa, cứ vẫn hào hứng...

   Cũng từ đó, ngày, bác mong cho mau tối để nhìn đuốc đêm, bác mong cho mau sáng để nhìn sự biến đổi dưới nông trường; sáng, bác làm nhanh việc, mong cho đến trưa để sang tìm ông Câu mà nói cái thành tích kiến thiết của thằng con bộ đội miền Nam.

   Nhưng mấy hôm nay, bác không đi đâu hết. Trời mưa to và gió lớn quá. Mưa quằn cả rừng, mưa lồng lộn cả những con suối. Bác đành rút vào chòi, ngồi bó gối.

   Chiều nay, sau những ngày mưa, trời cao xanh lồng lộng. Bác liền khoác dối chiếc áo mưa qua vai, gõ gậy lùi lũi với những bước dài.
   Bỗng có tiếng gọi. Bác quay lại. Một cô gái Mán đi săn về, bên vai đeo nỏ, sau lưng đeo gùi, từ trên dốc chạy đổ xuống. Đó là cô Xíu, người hàng xóm của cụ Câu. Cô Xíu bảo, mấy hôm vắng bác, cụ Câu buồn lắm. Cụ Câu nhắn bác sang chơi. Bác hỏi qua loa mấy câu, gởi cho cụ Câu và bà con trong xóm mươi viên “ký ninh” rồi quày quả đi.

   Mặt trời đã khuất xuống dải núi bên kia tự bao giờ, còn dội bừng lên, rừng rực như một đám cháy.


*
*      *


   Cô gái Mán về đến xóm thì nhà đã đỏ đèn. Cô mang thuốc đến cho ông Câu và những người bệnh. Xóm Mán xôn xao hỏi tin “ông già vườn lê”. Bỗng tất cả đều im lặng và nghiêng tai. Tiếng kẻng từ đâu dội về, mỗi lúc mỗi to, dồn dập liên hồi. Tiếng kẻng báo nguy vang động cả núi rừng. Ông Câu lắng nghe, rồi bật kêu lên thất thanh:

   - Kẻng chòi cụ Huệ!

   Ông chụp cây nỏ, chạy ra sân, rướn người cao lên, đưa tay lên miệng, kêu cả xóm, mau mau đi tiếp viện, cả xóm gọi nhau ơi ới. Họ vác nỏ mang súng, quơ đuốc, kéo nhau về hướng vườn lê.

   Đến nai, họ vây chặt quanh chòi. Bác Huệ buông dùi, chụp lấy tay ông Câu, kéo đi.

   - Cái gì? Cái gì?

   Ông Câu vừa chạy theo vừa hỏi, và cả bà con trong xóm cũng kéo nhau theo. Bác Huệ miệng cứ ấp úng, không nói rõ được câu gì, miệng cứ lắp bắp:

   - Ra đây mà coi! Ra đây mà coi! Họ đến đỉnh sáu trăm - Bác Huệ trèo lên ngọn đá cao, đưa gậy chỉ xuống nông trường, kêu to lên:

   - Đèn điện của nông trường mình kia kìa! Bà con!

   Ông Câu và hơn năm mươi người trong xóm, đứng dài dưới ngọn đá, quay mặt nhìn theo hướng chỉ của bác. Dưới mắt họ: trước đây nghìn đời là bóng tối dày đặc, bây giờ, một cái gì đang lóe lên rực rỡ như một chùm sao vừa rụng xuống, như một thành phố vừa mới mọc, như mặt trời vừa hửng dậy, như... và như... đang đốt cháy cả một mảng trời đêm. Ông Câu quơ đuốc reo lên, tất cả đều quơ đuốc, reo theo... Họ, khi thì quơ đuốc reo mừng, khi thì im lặng để ngắm nhìn.

   Nhìn cái vẻ hân hoan của ông Câu, của hơn năm mươi người trong xóm Mán, ông Huệ muốn vẫy tay gọi anh em, bảo anh em hãy nhìn lên mà xem. Và bác muốn nói rất nhiều điều với chung quanh. Nhưng bác cứ nghẹn ngào.

   Bác vẫn đứng trên đỉnh cao, người hơi rướn tới, và đưa gậy chỉ về điện nông trường. Gió về lồng lộng, thổi bay tà áo mưa của bác. Bác như con chim đại bàng đang vỗ cánh, bay lên...

1-8-1959
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #26 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2024, 10:14:58 am »

CHỊ XÃ ĐỘI TRƯỞNG


   Cô nữ giao liên trẻ khoảng hai mươi tuổi, đầu đội mũ giải phóng màu xanh lá cây ngồi dựa lưng vào cột nhà hai chân duỗi thẳng trên đệm, cây CKC gác ngang quá vế, nhìn ra dòng sông ngó mông một lúc lâu rồi nhìn lại chúng tôi và tiếp tục nói.

   - Nếu trận vừa rồi, chị xã đội của em mà có được cây CKC thì xã em được huy chương vàng rồi! Tiếc quá! Cái thằng trực thăng đó nó bay sà qua chỗ chị xã đội, cửa nó mở toác hoác, có một thằng Mỹ ló đầu ra dòm dòm, kiếm kiếm, chị xã đội của em “đế” cho nó một loạt cạc bin. Nó liền bay niểng niểng lên rồi bắn nát ngay chỗ đó. Chị xã đội của em ức lắm. Chị ôm cây cạc bin cứ cắn răng mà chịu. Chị cằn nhằn tụi em hoài. Chị nói tụi em ham diện, CKC không chịu mang, ham mang cạc bin cho gọn, cho đẹp. Mấy anh đổi cây CKC này cho xã em thiệt nhá?

   Cô vừa nói vừa xòe năm ngón tay vỗ khe khẽ vào bá súng và ngước nhìn chúng tôi. Cây CKC đó là cây súng của đồng chí bảo vệ tôi. Trên đường đi, cô cứ òn ì xin đổi. Thấy xã quá cần thiết và anh bảo vệ của tôi cũng đang thích cạc bin - cạc bin vừa nhẹ, vừa gọn, tiện việc đi đường hơn, - nên tôi đồng ý cho đối. Cô mừng lắm. Về đến trạm, cô liền sai một em nhỏ chạy đi tìm chị xã đội.

   Anh bảo vệ tôi cũng là anh bạn trẻ, khoảng hai mươi. Sắp được cạc bin, anh thích lắm, tôi biết, nhưng anh lại làm ra vẻ không thật hài lòng, anh tìm cách chọc, ghẹo cô nữ giao liên:

   - Đổi thì đồng ý đổi, nhưng còn phải xem cây cạc bin tốt mới đổi. Chị có cái gì bù thêm cho tôi không? - Anh vừa nói vừa nhìn tôi, khẽ nheo một bên mắt - Cái chàng này muốn sanh chứng rồi! Tôi thầm nghĩ và cũng thấy vui. Tôi nằm im cho hai người nói chuyện. Cô giao liên đang mê cây CKC, cô không để ý đến câu nói có ngụ ý đùa giỡn của anh, cô hỏi:

   - Anh muốn tôi bù lại cái gì?

   Anh bảo vệ của tôi lại nói lập lờ:

   - Phải cái gì xứng đáng lắm mới được!

   - Một chút nữa chị xã đội của tôi tới, anh muốn bù cái gì chị xã đội của tôi sẽ giải quyết.

   - Thiệt không đó?

   - Thiệt!

   Hình như cô nữ giao liên muốn dùng cái thành tích của chị xã đội để thuyết phục anh bạn bảo vệ tôi. Cô lại tiếp tục kể về chị xã đội. Chị xã đội của cô chẳng những chỉ huy du kích chặn càn, bắn máy bay, chị còn lãnh đạo cả việc đi cấy, đi gặt, đi đấu tranh chính trị, chuyện gì chị xã đội trưởng cũng làm.

   - Chị là xã đội nhưng chị không quân sự thuần túy đâu! - Cô giao liên kết luận như vậy và tiếp tục nói. Cô kể chuyện chị xã đội với một giọng đầy tự hào. Cô đang kể, giọng thao thao thì anh bạn của tôi chợt hỏi:

   - Chị xã đội của cô có đẹp không?

   - Đẹp chớ! - Như giật mình cô giao liên ngẩng đầu, mở tròn mắt nhìn anh bạn tôi, nói một cách tự nhiên như vậy rồi lại kể tiếp:

   - Nếu chị không đẹp là chị chết rồi.

   - Đẹp dữ vậy? - Anh bạn tôi nhướn mày hỏi lại.

   - Đẹp thiệt! Chuyện đó như vầy, hôm đó chị dẫn gần một ngàn người kéo ra chợ quận đấu tranh chính trị, bắt buộc tụi đồn không được bắn pháo vào làng. Chị lãnh đạo, nhưng lãnh đạo bên trong thôi. Người lãnh đạo công khai là má chiến sĩ. Bà má chiến sĩ đi trước. Hễ bà làm bộ xổ tóc ra bới thì phía sau cứ tiến lên. Khi bà vừa mở tóc thì thiếu úy đồn Trương Phi Hùng nó biết. Thằng Phi Hùng móc súng lục định bắn. Nó vừa móc súng ra thì chị xã đội của tôi giỏi thật, chẳng hiểu tại sao mà chị biết tên “cúng cơm” của nó. Từ trong đám đông chị chạy tuôn ra, chị hét lên - “Xê” - Thằng đồn trưởng nghe có người gọi tên cúng cơm của mình, nó giật mình, ngó lơ láo. Chị tiến thẳng, đứng ngay trước mặt nó, nhìn thẳng vào hai con mắt nó, rồi gằn giọng nói với nó: “Anh Xê, anh không được quyền bắn!” - Cái thằng đồn trưởng đó nó giương hai con mắt ếch mà nhìn chị. Thấy chị đẹp quá, nó mất hết hồn vía. Bọn lính đứng chung quanh nó, thằng nào củng ngơ ngác. Còn thằng thiếu úy thì môi cứ tái lại - Nó hỏi lập bập: “Cô... cô ở đâu mà... biết tôi”. Chị xã đội vẫn cứ nhìn thẳng hai con mắt nó mà nói: “Anh thì còn nhớ đến ai nữa, sau này rồi anh sẽ biết!”. Chị vừa nói vừa khoát tay rồi dẫn một ngàn người lướt qua mặt nó tiến vô dinh quận. Sau này, thằng đồn trưởng đó nói với bọn lính: “Tao biết nó không quen với tao - Tao có gặp nó lần nào đâu - Tao muốn bắn, nhưng cái cổ của nó trắng quá, tao không bắn được”.

   - Chị xã đội đẹp dữ vậy à?

   - Đẹp.

   - Chị có chồng chưa?

   Nghe câu hỏi đó, cô giao liên không còn giữ được cái vẻ hồn nhiên nữa, cô đâm ngượng, cô cúi nhìn xuống, đỏ mặt, cô vừa đưa tay vuốt bá súng vừa lắc đầu, nói:

   - Cái đó tôi không biết!

   Sợ anh bạn hỏi thêm những lời quá lố, và không muốn để cô giao liên trẻ thêm ngượng, tôi tìm cách ngăn câu chuyện. Tôi nói:

   - Hay là cô cứ về mang cây cạc bin lại, cần gì phải có mặt chị xã đội.

   - Như vậy cũng được, nhưng chị xã đội của tôi muốn gặp anh.

   - Gặp tôi để làm gì? - Tôi lấy làm lạ và hỏi. Cô giao liên không trả lời ngay câu hỏi của tôi, cô mỉm cười và hỏi lại:

   - Anh về đơn vị Girông, phải không?

   - Phải.

   - Tôi có nhắn với chị xã đội của tôi, thế nào chị cũng tới, chị ấy biết anh.

   - Ở làng này, tôi đâu có quen với ai.

   Anh bạn của tôi lại nói chen vào:

   - Coi chừng chị xã đội lại biết cả tên cúng cơm của anh nữa đó.

   Cô giao liên cười và nhìn ra dòng sông. Cô bật đứng dậy, reo lên:

   - Chị xã đội tới kìa.

   Trên dòng sông, nắng chan đầy, sông dài hun hút. Theo như cô giao liên nói thì trước đây, ngày cũng như đêm, xuồng gắn máy đuôi tôm lên xuống dập dìu. Từ một năm nay, bọn Mỹ thường hay cho trực thăng bắn dọc theo sông. Ban ngày, xuồng ghe không dám đi nữa. Nhà cửa hai bên bờ rời sâu vô đồng, dòng sông vắng lặng, chỉ có những giề lục bình trôi lên, trôi xuống.

   Từ xa, một chiếc xuồng hai chèo đang thẳng tới. Người đứng chèo là một cô gái, mặc bộ quần áo bà ba đen.

   Chiếc vải dù bông choàng qua vai bay phất phới. Xuồng cập lại bến, chị xã đội kéo miếng vải dù bông quấn qua cố, mang cây cạc bin qua vai, nhìn vào nhà, cúi chào chúng tôi. Không để chị bước lên nhà, cô giao liên cầm lấy cây CKC, bảo chúng tôi cùng xuống bến.

   Cô giao liên nói quả không sai - Chị xã đội quả là một cô gái đẹp. Chị khoảng độ hai mươi bốn tuổi. Chị không có cái vẻ đẹp phơi phới của một cô gái dậy thì, chị đẹp một cách chín chắn và đậm đà. Dáng chị mảnh khảnh, nhưng không có vẻ gầy yếu mà tầm thước đều đặn. Mặt trái xoan mũi thắng, mắt hơi sâu, mày rậm, nước da trắng mịn, môi mỏng và đỏ như son. Vẻ đẹp của chị không phải là vẻ đẹp lộng lẫy khiến cho người chung quanh phải vồ vập, vẻ đẹp của chị sắc sảo, nghiêm trang, khiến cho mọi người chung quanh phải kính nể. Có lẽ vì thế mà anh bạn bảo vệ của tôi cứ đứng lùi ở phía sau nhìn một cách tò mò mà không nói một lời gì. Còn cô giao liên, một chân để lên mũi xuồng, vai mang cây CKC, nhìn chị xã đội rồi nhìn lại anh bảo vệ của tôi, ý như muốn nói: “Chị xã đội của tôi đấy, anh muốn nói gì thì nói đi”.

   Chị xã đội nhìn tôi và nói, giọng nhỏ nhẹ:

   - Nghe nói đồng chí đồng ý cho tôi cây CKC, tôi mừng quá!

   - Xã chị không có CKC sao? - Tôi hỏi cho có chuyện để nói.

   - Dạ có, nhưng chỉ có hai cây thôi, toàn là cạc bin, cạc bin bắn máy bay không xuể, mà dạo này tụi nó bắn phá dữ quá.

   Chị vừa nói vừa đưa cây cạc bin cho tôi rồi nhìn cô giao liên.

   - Ánh, đưa cây CKC cho chị xem.

   Chị cầm lấy cây CKC, xòe tay chẽ cơ bẩm, lên nòng, bóp thử. Chị nhìn cây súng, mỉm cười một mình rồi nhìn tôi với vẻ cám ơn.

   Cuộc trao đổi súng ống xong, chị vừa định từ giã tôi thì cô giao liên kéo xuồng lại, rỉ nhỏ vào tai chị cái gì đó, chị bỗng đỏ mặt.

   - Thôi, đồ quỷ!

   Cô giao liên liếc nhìn tôi và nói:

   - Chị không tin thì thôi vậy - Giấy tờ tôi cầm trong tay đây nè.

   - Mầy chỉ có tài phá tao. Thôi tao về đây. - Chị vừa nói vừa xô xuồng ra. Nhưng nghĩ thế nào chị lại cầm lấy chèo, quạt ngược lại cho xuồng cập vào bến và khẽ hỏi:

   - Có người về đó thật hả?

   - Người thì người thiệt chớ người giả được à? - Cô giao liên có ý trêu chọc và nói to.

   Chị xã đội lại tỏ ra giận dỗi, đưa tay xô xuồng, có vẻ dứt khoát hơn lần trước. Cô giao liên liền nắm lấy be xuồng kéo lại và như sợ chị xã đội bỏ đi thật, cô trở giọng thật thà và nhỏ nhẹ:

   - Thiệt! Có người về thiệt - Viết thư đi!

   - Mình viết thư rồi.

   - Gởi theo đường dây còn lâu mới tới, người ta đem đến tay cho mà không sướng hơn à?

   Tôi thấy đôi mi dài của chị xã đội hạ xuống, chị nghĩ ngợi một lúc rồi giương mắt nhìn cô giao liên rồi cười, khe khẽ lắc đầu:

   - Thôi! Trước sau gì người ta cũng được.

   - Tôi hổng biết ảnh mà biết cái thư đó tôi viết giùm chị, ảnh lóc tôi không còn một miếng xương cho coi.

   - Có người về thiệt hả? - Chị xã đội lại hỏi.

   - Không tin thì hỏi thử xem.

   Chị xã đội nhìn lên chúng tôi, mặt bỗng ngượng ngùng, cười mủm mỉm một mình rồi mới hỏi được:

   - Xin lỗi, hình như anh về đơn vị Girông?

   - Dạ phải, tôi về đơn vị Girông, đơn vị chủ lực của Đồng Tháp.

   - Xin lỗi, anh công tác ở đơn vị...

   - Dạ không, tôi mới được thuyên chuyển về đó và đang trên đường về.

   - Đó, có đúng không! Viết thư đi, viết mau lên, tôi kêu khách xuống đi ngay bây giờ. - Cô giao liên nói chen vào. Thấy chị vẫn trù trừ tôi giục thêm:

   - Chị viết thư đi, tôi sẽ đưa đến tận tay cho.

   - Dạ, anh làm ơn chờ tôi một chút - Chị vừa nói vừa giở lá ngụy trang, kéo lấy cái túi nho nhỏ bằng vải hoa màu tím, rút quyển vở học trò hiệu “Hoàng tử trong rừng xinh” kê lên gối cắm cúi viết. Trong lúc đó, cô giao liên bước lên nhà, xin vài hột cơm cho chị dán bao thư. Trên chiếc xuồng của chị, lá ngụy trang là một lớp tranh tươi được trải ra một cách đều đặn, một giàn lưới ni lông trắng được cuộn lại cẩn thận, dưới khoang có một vài con cá nhảy lách chách.

   Chị viết rất nhanh, những dòng chữ ấy như bị nghẹn từ lâu, nay mới được tuôn ra, loáng một cái đã tràn đầy cả trang. Chị vừa viết xong, cô giao liên liền xòe cả bàn tay đưa ra, trong lòng bàn tay có vài hột cơm.

   Chị xã đội đưa lá thư cho tôi vẻ ngượng ngùng:

   - Anh làm ơn đưa giùm tôi.

   Chị nói rồi bỗng cúi mặt, cười một mình, rồi lại ngẩng nhìn tôi.

   - Mà anh nhớ là đừng có nói gặp tôi nhé!

   - Nếu không gặp chị thì làm sao tôi có được lá thư này? - Tôi hỏi.

   - Bộ anh không biết nói dóc à?

   Không biết trả lồi sao và chẳng hiểu sao tôi lại phì cười. Chị nhìn tôi cố nín cười, nhưng mắt cứ lấp lánh rồi đưa mắt nhìn cô giao liên.

   - Anh cứ nói là cái con Ánh này nó nhờ anh chuyển giao chớ đừng nói là gặp tôi.

   Cô giao liên lại giãy nảy lên, lắc đầu lia lịa:

   - Thôi thôi thôi, bà đừng có hại tôi nữa. Bà định gây thắc mắc để người ta về hả? Bà nhớ, bà muốn người ta về thì bà cứ nói thẳng ra không được sao?

   - Thôi đi, đồ quỷ, tao về đây! - Chị vừa nói vừa đưa tay đẩy xuồng ra và vội vàng từ giã tôi.

   - Tôi về nghen anh, anh đi mạnh giỏi nhá!

   Cô giao liên với tay chộp lấy một nắm tranh đưa lên:

   - Anh nhớ giữ nắm tranh này cho anh ấy nhé!

   Hình như cô giao liên cũng mê cái vẻ đẹp của chị. Cô có vẻ sung sướng được chọc ghẹo chị. Còn chị xã đội thì chỉ biết phản ứng bằng một câu: “Thôi, đồ quỷ”!

   Nhìn bao thư tôi biết chị tên Dung, người nhận thư là anh đại đội phó Lê Văn Khương.

   Nhìn lên tôi thấy xuồng chị đã bung ra giữa sông, chị so lại mái chèo rồi nhìn lại tôi, dặn thêm:

   - Anh nhớ là đừng nói gặp tôi nhé! Nhớ nhé!

   Như xấu hổ với điều mình vừa nói, chị quạt mạnh mái chèo, xuồng lao đi như con thoi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #27 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2024, 10:21:03 am »

        Buổi chiều, sau hai ngày, tôi về đến đơn vị. Tôi nhờ đơn vị chuyển ngay lá thư. Và ngay trong đêm đó, đang nằm trong nhà, tôi nghe bên kia con sông nhỏ, có tiếng người hỏi tên tôi. Tôi đoán biết người đó là anh Lê Văn Khương. Tôi ngồi dậy nhìn ra, qua ánh trăng thượng tuần, tôi thấy một người con trai khỏe mạnh, đang quay mũi xuồng hướng qua nhà tôi. Thấy mũi xuồng chập chờn dập sóng, tôi đoán biết anh đang sốt ruột. Nước đang dâng cao, nước lé bé 1 dưới sàn nhà. Anh cho xuồng đi thẳng vào sân. Xuồng lao nhanh quá, anh không kịp rà lại, mũi xuồng đụng vào sàn nhà đánh “cốp” một tiếng. Sóng tạt lên sàn nhà rung rinh khiến anh em trong nhà phải kêu lên. Anh rối rít xin lỗi, hỏi tôi là ai, và sốt sắng mời tôi:

   - Mời anh xuống xuồng chơi cho mát.

   Một anh trong nhà nói chen vào:

   - Thì anh lên nhà ngồi một chút không được sao?

   - Một chút nữa. Mình muốn hỏi chuyện riêng một chút mà. - Anh đáp với giọng đầy phấn khởi.

   Hình như anh ngồi không yên. Mũi xuồng cứ nhảy lên nhảy xuống như muốn giục tôi. Tôi vừa bước xuống thì anh cũng vừa rà mái dầm cho xuồng quay mũi ra sông. Anh vừa bơi vừa hỏi tôi mấy câu để làm quen, công tác, sức khỏe và chuyện đi đường. Trăng không sáng lắm, nên tôi thấy anh không được rõ, đoán anh khoảng độ hai mươi tám. Đặc biệt anh có một đôi mắt rất sáng, mày rậm, đầu hớt cao, mặt chữ điền. Qua cái vốn kinh nghiệm của tôi, tôi dám đoán anh là con người sôi nổi, dũng cảm và lòng đang rộn rã với một niềm vui.

   Anh quay lái xuồng cặp sát lại cây ô môi mà nước đã ngập đến nửa thân cây, cành lá là đà dưới mặt nước, anh buộc dây vào một cành to để chiếc xuồng lửng lơ ngoài trăng. Anh bước xuống khoang, vứt đi một cành lá ngụy trang. Đến lúc đó tôi mới để ý thấy một bình tích, hai chén chung 2 sành cỡ lớn, một phong kẹo lạc và một gói thuốc “rubi”. Anh rót nước. Thấy tôi có vẻ lớn hơn, ngại gọi tên không tiện, anh hỏi tôi thứ mấy và mời:

   - Anh Năm uống nước, ăn kẹo, hút thuốc anh Năm! - Rót nước xong, anh mở phong kẹo, xé bao thuốc, trông thật lăng xăng.

   Trong khi tôi cầm chung uống nước, anh cứ nhìn tôi với đôi mắt sáng ấy, anh nhìn tôi với mặt rạng rỡ thân thiệt như vừa gặp lại người thân. Khi tôi vừa để chung nước xuống thì anh hỏi:

   - Ghé qua nhà Dung, anh thấy Dung đang làm gì anh?

   Nhớ lại lời dặn của Dung và cũng muốn trêu anh, tôi lắc đầu:

   - Tôi không ghé qua nhà và cũng không gặp cô ấy.

   - Sao? - Khương như giật mình, hỏi cái giọng đầy kinh ngạc, vẻ rạng rỡ trên gương mặt anh liền tan biến đi, anh nhìn tôi với vẻ sững sờ. Tôi không ngờ anh có vẻ khổ sở đến như thế. Tôi hối hận, nhưng đã lỡ nói dối rồi, biết sao? Và cái tính tò mò lại kích thích tôi, tôi hỏi:

   - Có chuyện gì đấy anh?

   - Chuyện dài lắm anh ạ! - Khương nói với giọng bực dọc.

   Anh bưng chung uống ừng ực mấy ngụm liền, như cố nuốt cố đè lại cơn giận, nhưng cứ bứt rứt. Anh đưa tay mở túi áo, hai tay cầm lấy áo quạt “phành phạch” trên lồng ngực to lớn của mình, và cựa mình quay qua quay lại ngồi không yên. Xuồng tròng trành, những làn sóng nhỏ nối nhau lan dài ra mỗi lúc mỗi xa.

   - Dung là vợ chưa cưới của tôi. - Sau một lúc trù trừ nghĩ ngợi, Khương mới bắt đầu kể và mở đầu như vậy, anh tiếp:

   - Hai đứa tôi là người cùng làng. Làng tôi anh biết rồi đó. Làng bắt đầu từ ngã tư, nằm dài theo sông. Nhà tôi ở cuối làng, nằm sâu trong ruộng. Nhà Dung ở giữa làng. Hồi kháng chiến chín năm, ba của Dung là xã đội trưởng, hy sinh trong mùa nước năm năm mươi hai. Năm hòa bình lập lại, Dung được đi tập kết, nhưng Dung xin ở lại, vì Dung là con lớn, Dung còn mẹ và ba đứa em nhỏ. Gia đình Dung cũng như hầu hết dân làng đều sống bằng nghề ruộng và cá. Trong làng, hầu như ngày nào cũng có người bị bắt, bị tù đày hoặc bị giết. Người tốt còn lại ngày càng ít, còn bọn phản bội, bọn xấu, bọn gián điệp thì nổi lên loi nhoi, lúc nhúc như dòi. Một số cô gái, một số trai làng vốn sống bằng nghề ruộng, sau một vài mùa đi buôn, đi chợ thì trở nên hư hỏng. Từ chỗ ăn chơi, đàng điếm, dần dần làm tay sai cho giặc. Người ta đâm ra nghi ngờ lẫn nhau. Trong lúc đó, Dung cũng bắt đầu đổi khác. Dung làm bánh tằm xe 3 đi bán rong. Dung bắt đầu ăn diện. Dung thường mặc chiếc áo bà ba viền “đăng ten” cổ hở, đeo dây chuyền vàng và hai tai thì lại đeo bông tòn teng. Bánh tằm nước cốt dừa của Dung chẳng có gì đặc biệt, nhưng lại đắt khách, hầu như cả làng đều ăn nhất là bọn lính trong đồn và dân ăn chơi. Một số bọn mất dạy thường hay nói với nhau “bánh tằm con Dung nó xe trên bắp vế non của nó nhờ vậy mà béo”. Bọn nó thách đố nhau, đứa nào chiếm được Dung thì sẽ được thưởng một tiệc “la ve”. Tôi không phải là bạn của Dung, nhưng nghe người ta bàn tán về cô, tôi cứ thấy mình như bị xúc phạm vậy - Tôi chẳng bao giờ ăn bánh tằm của cô.

   Một hôm cũng đang mùa nước nổi như thế này, Dung đâm xuồng vào sát tận nhà tôi. Vì đang bực đang giận, tôi muốn đuổi cô ta đi. Tôi nằm trên sàn, nói vọng ra, giọng rất xẵng.

   - Tôi không ăn bánh tằm.

   - Ủa! Không ăn sao mà lại gọi.

   Tôi gọi hồi nào đâu - Rõ ràng là cô muốn trêu chọc mình. Lâu nay, tôi nghe bọn con trai bàn tán về Dung, còn Dung thì tôi chưa thấy, chưa nghe Dung có điều gì xấu, tôi hy vọng Dung hãy còn là người tốt. Nay sự thật đã quá rõ rồi, tôi đâm nổi nóng, tôi ngồi bật dậy, nhìn thẳng vào mặt Dung, gằn từng tiếng:

   - Cô Dung! Cô làm cái nghề này một ngày cô lời được bao nhiêu? Cô không nghe người ta nói gì về cô hay sao?

   Dung nhìn tôi, mặt câng câng, cười cười chế giễu tôi, khiến tôi giận đến lộn cả ruột gan, tôi tiếp:

   - Cô không nhớ cái chết của bác hay sao? - Nói đến đó, tôi bỗng giật mình và đâm ra sợ cho những điều mình nói. Nếu cô ta xấu thật rồi thì sao! Tôi không nói được nữa, cứ lập bà lập bập. Trong lúc đó, Dung cúi nhìn xuống, mắt ửng đỏ, như muốn khóc. Tôi lại thấy hối hận và muốn an ủi Dung, tôi nhỏ giọng:

   - Thôi, tôi xin lỗi cô, tôi quá giận nên lỡ lời, cô bỏ qua cho.

   Dung ngước nhìn tôi, mặt buồn rầu, mắt đỏ hoe:

   - Sao anh lại xin lỗi. Tôi thích anh chửi tôi hơn anh Khương à. Nếu tất cả người làng đều chửi tôi như anh thì tốt biết mấy.

   Nói xong, Dung khoác nước rửa tay, xếp bánh tằm vào đĩa rưới qua một gáo nước cốt dừa, chan một muỗng nước mắm đưa cho tôi. Tôi không muốn ăn, còn bụng dạ đâu mà ăn. Tôi chưa kịp từ chối thì cô bảo:

   - Anh cho tôi gởi đĩa bánh.

   - Gởi cho ai? - Tôi vặn hỏi.

   - Gởi cho người lạ mặt trong nhà anh.

   Nghe cô nói tôi đâm hoảng và mất bình tĩnh. Quả là nhà tôi đang giấu một anh kháng chiến cũ. Nếu bị lộ thì cả nhà tôi phải bị hy sinh. Trời, tại sao cô này lại biết được chuyện đó. Do thám đến nhà mình chăng? Tôi cố lấy lại bình tĩnh và xẵng giọng.

   - Cô đừng có nói giỡn. Người lạ mặt nào ở đây?

   Dung liền nghiêm nét mặt, tròn mắt nhìn thẳng vào tôi, mắt Dung như bốc cháy, luồng mắt của Dung như muốn đốt cháy người tôi. Dung nói gằn từng tiếng:

   - Anh đem cái đĩa bánh này cho đồng chí, nhanh lên!

   Cái nhìn của Dung giống cái nhìn của người có uy quyền bắt người tôi phải phục tùng. Nói xong, Dung để đĩa bánh lên sàn nhà rồi xô xuồng bơi thẳng.

   Dù muốn dù không tôi cũng phải cho đồng chí mình hay mới được - Đồng chí ấy bây giờ là Ủy viên Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Long Châu Sa, tỉnh nhà của tôi. Tôi để bánh xuống xuồng, giả đi câu, và chống băng qua ruộng, chui sâu vào một cụm đế 4 già. Đồng chí cán bộ bẻ hai cọng để làm đũa, xới xới từng cọng bánh, gắp ra một lá thư nhỏ. Xem thư xong đồng chí cán bộ liền nhờ tôi đưa qua một làng khác. Trở về, tôi nghe nói bọn biệt kích vừa ruồng qua cụm đế đó.




------------------------------------------------------------------
1. Mấp mé.
2. Chén mắt trâu.
3. Một loại bánh tằm làm bằng bột gạo, tròn và dài như con tằm.
4. Loài sậy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #28 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2024, 10:28:06 am »

        Từ đó, hầu như ngày nào tôi cũng mong Dung. Hễ nghe tiếng mái dầm “lạch bạch” của chiếc xuồng nào đó tôi cũng đều giật mình. Nhưng Dung chẳng bao giờ đến nhà tôi nữa. Chú ý nhìn những nhà mà Dung mang bánh đến, tôi đoán biết ai là người tốt, người xấu. Nhờ đó, tôi cảm thấy đỡ ngột ngạt. Hai đứa tôi thực sự quen nhau là từ đầu năm sáu mươi. Lúc ấy làng tôi đang chuẩn bị đồng khởi. Ngày nào tháng nào tôi không còn nhớ rõ nữa. Chỉ nhớ đó là mùa khô, lúa đã gặt xong. Buổi trưa, bọn chúng tôi họp trong một cụm đế già. Cuộc họp ấy có Dung. Ngoài việc trừ bọn gián điệp, bắt ác ôn, cuộc họp còn quyết định phải đánh lấy cả cái đồn đầu vàm 1 nữa. Mới nghe ai cũng hăng. Nhưng đi sâu vào kế hoạch cụ thể thì bị bế tắc. Cái đồn đó có mười hai tên lính, đầy đủ súng ống. Còn chúng tôi, cả làng chỉ có một cây súng, súng lại cũ, mười một viên đạn rỉ xanh, chẳng biết có nổ không. Càng bàn, càng thấy không lối ra. Có người đề nghị hội nghị rút cho cái quyết định ấy để chờ vào một dịp khác. Trong lúc mọi người đang bối rối thì Dung xòe cả bàn tay đưa lên xin nói.

   - Cái đồn đó cứ giao cho tôi, tôi lấy được.

   Tất cả đều dồn mắt nhìn Dung như muốn hỏi lại.

   - Được! Tôi bảo lãnh! - Dung nói rõ ràng, dứt khoát như đinh đóng cột.

   Sau đó, Dung trình bày kế hoạch. Kế hoạch của Dung có vẻ như phiêu lưu, nhưng mọi người đều thấy có lý. Tất cả đều đồng ý nhất trí bầu Dung làm chỉ huy trưởng. Dung không khiêm tốn từ chối mà trang trọng nói:

   - Tôi đồng ý nhận làm chỉ huy trưởng. Ngày nào tôi cũng vô đồn bán bánh tằm cho chúng, cho cả gia đình vợ con chúng, tôi biết rõ từng đường đi nước bước của chúng. Tôi đánh được. Nhưng tôi có một nhược điểm. Làm chỉ huy phải la, phải hét cho bọn nó nghe. Nhưng khi bọn nó nghe tiếng của tôi, biết là tiếng của cô bán bánh tằm, bọn nó không sợ.

   Nghe Dung nói, tôi vừa thương, vừa muốn bật cười. Dung tiếp:

   - Tôi đề nghị có một người bọn nó ít biết, nói tiếng cho thật to, nói như hét ra lửa vậy, đồng chí đi kèm với tôi, cái gì mà tôi nói thì đồng chí ấy phải hét lên.

   Nghe Dung nói có lý, anh em chúng tôi nhìn nhau. Đang lúc chưa biết chọn ai thì Dung nhìn thẳng vào tôi.

   - Tôi đề nghị đồng chí Khương - Dung đề nghị nhưng lại nói với giọng quyết định. Hình như chẳng ai muốn làm cái nhiệm vụ máy phát đó, nên khi nghe Dung chỉ tôi, tôi chưa kịp từ chối, thì mọi người đều đưa cả hai tay đồng tình. Tôi ngượng và khổ tâm, nhưng chẳng biết làm cách nào hơn, đành phải cười cho đỡ ngượng...

   Hội nghị giải tán, khi mọi người tản ra về, Dung bỗng reo lên:

   - Trời ơi, cờ! Đẹp quá!

   Bọn chúng tôi hết sức ngạc nhiên, liền vạch đế nhón gót xem, chúng tôi không thấy cò đâu cả. Trong lúc bọn tôi đang ngẩn ngơ, Dung lại nhìn chúng tôi nói:

   - Các anh quả không thấy màu cờ thật à?

   À! Cờ mà Dung nói đó là màu đỏ của hoa ô môi 2. Trong ánh nắng chói chang, hoa ô môi đỏ rực như những lá cờ lớn trải trên tàn cây, nối tiếp nhau từ đầu làng đến cuối làng. Làng bỗng rực rỡ, sáng đẹp lạ lùng. Màu đỏ thắm của hoa ô môi như kích thích chúng tôi khiến chúng tôi thấy yêu tha thiết cái làng của mình. Còn Dung, Dung cứ đứng lặng nhìn về làng với vẻ mặt đầy xúc động.

   Hình như tôi yêu Dung bắt đầu từ đó.

   Rồi, đêm đánh đồn đã xảy như sau. Bộ đội mình thường hay đánh đồn vào những đêm tối trời. Còn đêm đánh đồn của chúng tôi là đêm trăng, trăng rất sáng. Nhờ cái đêm trăng ấy mà chúng tôi đánh thắng.

   Đúng giờ đã định, cả làng liền nổi mõ, nổi trống, cả làng cùng la hét. Đúng là một đêm kinh thiên động địa anh ạ! Theo kế hoạch của Dung, một số anh em lấy thân đu đủ sơn bằng lọ chảo vác trên vai, nện chân, đi qua đi lại xóm nhà của bọn vợ lính. Dãy nhà của bọn vợ lính nằm rải rác chung quanh đồn. Dung vào từng nhà chỉ những cây đu đủ sơn đen ấy, bảo với vợ lính, đó là “badôka”. Dung bảo vợ lính chạy vào đồn kêu chồng ra hàng. Đang khiếp vì tiếng trống mõ và tiếng gào thét của dân làng, bọn vợ lính càng hoảng hơn. Các bà ấy vừa khóc, vừa nhờ Dung bảo với chỉ huy đừng bắn rồi lần lượt kéo nhau chạy vào đồn. Trong đồn, bọn vợ lính kêu khóc như đám ma. Nhưng bọn lính vẫn chưa chịu ra. Có một thằng hét lên:

   - Tao không đầu hàng! Bắn đi!

   Nó bắn xả vào chúng tôi. Và nó dọa bọn lính của nó:

   - Thằng nào đầu hàng, bước ra khỏi đồn, tao bắn nát óc.

   Nó chửi bới bọn vợ lính, chửi hết sức thô tục. Tiếng súng trong bót lại bắn rải ra.

   Lúc đó, Dung đâm lo. Hai đứa tôi đứng nép trong nhà của bọn vợ lính. Dung thì thào hỏi tôi:

   - Găng quá! Cái thằng đó ngoan cố lắm, nó là sếp. Làm sao bây giờ anh?

   Tôi chẳng biết tính sao, nhưng lại vẫn cứ cương quyết:

   - Phải nổ 3 nó trận nữa.

   - Ừ, phải!

   Dung lại ra lịnh và tôi lại hét lên:

   - Anh em trong đồn, tôi biết trong đó chỉ một thằng ngoan cố thôi. Chúng tôi không vì một người mà giết hết cả gia đình anh em. Anh em hãy đầu hàng đi!

   Thằng sếp chửi lại:

   - Con c...! Giỏi thì bắn đi.

   Trong lúc đó, bọn vợ lính lại kêu khóc và chửi rủa lẫn nhau. Theo lịnh của Dung, tôi lại thét lên:

   - Badôka đâu, chuẩn bị bắn!

   Nếu có bắn thì chúng tôi sẽ cho nổ khí đá, rồi nói là bắn cảnh cáo. Tôi vừa hét xong, trong đồn bỗng có tiếng đàn bà hét vang lên:

   - Khoan! Đừng bắn.

   Trong ánh trăng, tôi thấy chị ta tay cầm cây súng, tay nắm lấy áo chồng kéo ra. Kéo chồng chạy ra khỏi đồn, chị kêu:

   - Các anh ơi! Rồi! Bắn! Bắn cho chết mẹ nó đi.

   Như ong vỡ tổ, vợ lính và lính chen lấn nhau đổ tuôn ra. Theo lịnh của Dung, tôi hét:

   - Đơn vị súng máy, tước khí giới!

   Nhoáng một cái, hơn ba chục anh em mang súng bập dừa từ trong các hốc cây, thét “xung phong” chạy xổ ra.

   Trong lúc đó, tên sếp nhảy ra, vụt chạy.

   Dung quên mình là chỉ huy, Dung hét lên và đuổi theo. Tôi cũng tức tốc chạy theo Dung. Hai chúng tôi cứ đuổi theo nó. Nó quay lại, bắn liền mấy phát, Dung té nhào xuống. Tôi cúi xuống, xốc Dung dậy. Dung xô tôi ra:

   - Làm gì vậy? - Và Dung lại đuổi theo tên sếp.

   Giữa tôi và Dung như có một sợi dây buộc dính giữa hai người, tôi cứ chạy theo Dung mà chẳng biết làm gì. Tên sếp bị rượt nà 4, nó trèo lên ngọn cây ổi, định trốn. Nhưng Dung đã thấy nó. Dung đứng dưới gốc cây ổi, kêu nó:

   - Nè! Xuống. Từ nãy giờ tao không bắn là tao muốn tha cái mạng sống của mày. Tao đếm một, hai, ba, mày không xuống thì tao bắn thiệt, không tha nữa đâu.    - Đếm đi! - Dung quay lại bảo tôi.

   Tôi hét:

   - Một! Ha...a...i.

   Thằng sếp ngồi trên cây liền lập bập kêu lên:

   - Dạ... Dạ... Để em xuống!

   Tôi hét:

   - Bỏ súng xuống!

   Cây tiểu liên liền rơi xuống. Tôi lượm lên, kéo “rốp rốp”. Dung liền hét tôi:

   - Không được bắn! Đã bảo tha thì tha!

   Làng tôi được giải phóng, Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng xã được thành lập. Qua thành tích cướp đồn của Dung, Ủy ban cử Dung làm tiểu đội trưởng du kích. Dung nói, trong lúc gay go, người chỉ huy là tôi, Dung khiêm tốn nhường nhiệm vụ ấy cho tôi, Dung xin làm công tác phụ nữ. Nghe nói, có người không tin, bảo là Dung khiêm tốn, Dung sợ tôi ngượng. Bởi vì sau trận đánh, anh em hay nói đùa, tôi là cái máy phát của Dung. Bàn đi cãi lại, cuối cùng, anh em vẫn tín nhiệm Dung. Còn tôi, tôi làm công tác thanh niên.

   Bước qua đầu năm sáu mươi mốt, tôi đi tòng quân. Hai năm sau, mãi đến mùa mưa sáu mươi ba, tôi mới trở về. Nhưng không phải về phép mà về với đơn vị để đánh lấy cái đồn ở đầu vàm. Đầu năm sáu mươi hai, bọn Mỹ - ngụy mở một trận càn lớn và đóng đồn lại đó.

   Trận đánh đó, chúng tôi đánh không được gọn. Một trái bộc phá bị lép. Bọn địch còn sống sót lần lượt dồn vào công sự, bắn trả lại dữ dội. Bọn tôi, năm lần bảy lượt xông vào đều bị đánh bật trở lại. Cây đại liên của địch bắn rất ác, đạn cứ rà sát trên mặt đất, khiến chúng tôi cứ nằm dán xuống mặt đất, không sao ngóc đầu lên được. Nếu để ổ súng đó còn sống đến sáng thì rất nguy. Ban chỉ huy chúng tôi lại tổ chức xung phong liền mấy đợt, một đợt tiến thẳng, một đợt đánh tạt sườn và một đợt đánh bọc hậu. Sau khi ổ súng đó bị tiêu diệt, dân làng vác chày vồ, vác búa xông vào san đồn. Trời cũng vừa sáng, và pháo ngoài chợ quận bắt đầu nã vào. Giữa lúc đó, trung đội tôi được lịnh đứng lại chặn địch cho đại bộ phận rút lui.

   Sau trận đánh, hầu như bao giờ cũng có phút hỗn độn, dù là trận đánh thắng. Rào gai, gạch đổ, xác chết, mùi thuốc súng còn nồng nặc. Trong sương sáng, trên cái nền bót đổ nát ấy, bộ đội, dân làng, già trẻ bé lớn đều có, người cáng thương, người mang trên vai hai ba cây súng, người gánh đạn, người đội, người khiêng, người qua kẻ lại như đan vào nhau và như quấn lấy nhau, kêu, nói, cười, chửi rủa ồn lên bàng đủ thứ giọng ồn ào hơn vỡ chợ. Trong lúc tiếng pháo rít qua đầu, nổ “bùng bàng”, mảnh pháo ào ào như mưa, trong lúc mọi người đang mở đường rút, trong cái phút hỗn độn ấy, tôi đang điều quân đi chặn viện thì bỗng có tiếng thét sau lưng tôi:

   - Anh Khư... ơ... ng!

   Tôi quay lại, thấy một cô em ở làng, cô tên Ánh, chưa kịp mừng tôi, cô quay lại sau kêu to:

   - Chị Dung ơi, anh Khương đây này.

   Từ xa, tôi thấy một người đưa hai tay vẹt người xung quanh, đi ngược về phía tôi.

   Dung! Dung đang bươn bả như lao tới, thấy tôi, Dung liền đứng sựng lại. Dung không còn đeo dây chuyền, đeo bông tòn teng nữa. Dung mặc bộ quần áo bà ba đen cũ, lưng thắt băng đạn, vai đeo súng cạc bin. Dung đẹp một cách rắn rỏi và gọn gàng. Lúc đó, Ánh nhìn tôi, nheo một con mắt, bụm miệng cười rồi quay lưng chạy vụt theo đoàn người... Nếu lúc đó không có tiếng pháo nổ, không có mảnh đạn bay qua đầu, tôi không phải điều quân chặn địch, nếu không có đàn người đang xô đẩy, chen lấn lướt qua chúng tôi, chắc chúng tôi sẽ nói với nhau nhiều lắm. Dung đứng lặng, nhìn tôi với con mắt... tôi khó nói quá, anh cứ tưởng tượng ra thì hiểu. Cái nhìn của Dung làm cho tôi thấy mình như có lỗi và tôi cũng nhìn thấy hạnh phúc của tôi trong cái nhìn ấy.

   - Anh em rút lui hết rồi, sao anh còn ở đây? - Sau một lúc đứng lặng, Dung chợt hỏi tôi.

   - Anh phải đi chặn viện bây giờ đây!

   - Cho em đi theo với!

   Dung đi hòa trong đơn vị của tôi.

   Sau đó, Dung chánh thức là vợ chưa cưới của tôi. Hai đứa tôi định hết mùa nước này, sau mùa gặt, sẽ làm đám cưới. Nhưng sự đời lại không được trôi chảy như ý muốn. Cách đây ba tháng, có một người đi qua làng tôi, cho tôi biết, làng tôi vừa bị máy bay Mỹ bỏ bom na pan, nhiều nhà bị cháy. Trong trận bom, có một cô gái đã xông vào một ngôi nhà cứu trẻ em, cô đó bị cháy cả mặt và hai tay. Người ấy không biết cô đó tên là gì. Tôi hết sức lo. Tôi liền gởi thư về hỏi. Hơn một tháng sau tôi nhận được thư Dung với tuồng chữ khác lạ. Dung bảo, người bị cháy mặt, cháy tay chính là Dung. Dung đang nằm bệnh viện, tay không viết được, phải nhờ cô y tá. Dung bảo, Dung không còn như trước nữa, bảo tôi hãy quên đi. Nhận được thư, tôi vừa đau khổ, vừa buồn, vừa thương, vừa giận. Tôi liền viết lại một lá thư rất dài, có đoạn hỏi, tại sao lại bảo tôi hãy quên đi. Tôi hỏi với lời lẽ tức giận và nói Dung dù có tàn tật đến thế nào, tôi cũng vẫn yêu. Tôi đinh ninh Dung bị tàn tật thật. Nói cho thật lòng, chẳng biết anh có tin tôi không? Sau khi nhận thư, tình cảm của tôi đối với Dung chẳng có gì phai nhạt mà ngược lại tôi càng thấy yêu thương Dung hơn. Tôi nghĩ, nếu Dung bị tàn phế đến mức không còn làm gì được thì sau khi đánh Mỹ xong, tôi sẽ về làm ruộng nuôi Dung đến suốt đời. Tôi đang nghĩ như vậy thì lá thư này đến. Thư hết sức ngắn, bảo là đã gởi cho tôi một lá thư dài, lá thư đã nói rất rõ. Còn thư này... Cuối cùng, tôi chẳng rõ hư thật ra sao cả. Chẳng biết có phải thật như vậy hay không? - Tôi tưởng là anh có gặp cô ấy...

   Nói đến đấy, Khương dừng lại, rót nước, nước tràn qua cốc mà anh vẫn không hay. Thấy anh bực dọc, khó chịu, tôi muốn nói thật ngay với anh. Nhưng tôi nghĩ, chẳng vội gì. Anh khổ tâm bao nhiêu thì một lát nữa đây, khi tôi kể lại buổi sáng gặp Dung, anh sẽ vui sướng bấy nhiêu thôi. Tôi nhìn cái vẻ băn khoăn của anh một cách thú vị. Hơi ác, tôi hỏi:

   - Thư không nói rõ à?

   Khương móc túi trên, lấy lá thư đưa cho tôi:

   - Thư chẳng có gì bí mật, anh đọc thử xem.

   Tôi cầm lá thư, đưa ra ánh trăng. Nhưng trăng không sáng lắm. Tôi phải bấm đèn pin soi vào, thư viết:

   “Anh,
   Sau khi nhận được thư anh, em rất cảm động và... em viết thư lại cho anh ngay. Thư đó dài lắm, em nói rất rõ, thư đó sẽ làm anh vui lòng hơn, nhưng chắc chưa đến. Em không bị cháy gì hết, vẫn y nguyên. Hôm được thư anh hỏi ai bị cháy, em muốn trả lời ngay để anh yên lòng. Nhưng em nghĩ, làm như vậy té ra mình quá mừng vì được thoát nạn hay sao. Trong cái quá mừng đó, có ẩn cái sợ, em nghĩ như vậy. Bởi vì, nếu hôm đó, nhà cháy gần chỗ em, em cũng chạy chữa thôi, biết đâu em cũng bị cháy. Bom đạn của Mỹ nó có chừa ai, có phải không anh? - Vì nghĩ mình cũng có thể bị cháy nên em muốn thử thách một chút. Đừng giận em. Bọn Mỹ định tát dân ra vùng nó. Làng mình bị bom đạn nhiều hơn trước. Chị Hạnh bị cháy, em thương chị ấy quá. Hôm đó, bọn nữ của em nhiều cạc bin hơn súng trường, mang cạc bin gọn hơn, đẹp hơn, nhưng bắn máy bay thì không được kết quả. Máy bay rà qua đầu, ôm cạc bin, em cứ cắn răng mà chịu, ức quá. Em vừa đổi được cây CKC. Chừng về, anh nhớ nói các anh đổi cho xã mình vài cây súng trường. Nhớ nhá! Dạo này, đánh với máy bay nhiều hơn. Em không phải nhờ người la hét nữa, em chỉ cần CKC thôi. Anh yên tâm, cả nhà đều mạnh và..”


   Khi nghe anh Khương kể, tôi biết Dung bày chuyện để thử thách. Tôi thoáng hơi giận chị. Bày vẽ câu chuyện thử thách ấy làm gì cho thêm rắc rối! Nhưng sau khi xem thư, nỗi giận nho nhỏ ấy của tôi bỗng tan đi. Lá thư, tâm trạng của chị khiến tôi xúc động. Tôi không dám luận bàn về tình yêu, nhưng tôi nghĩ, điều mà chị xã đội bày ra cho thêm rắc rối đó là cái chất trẻ đẹp của tình yêu mà bom đạn của giặc Mỹ không thể nào giết chết được. Đứng trong cuộc sống chiến đấu đầy bom đạn, chẳng biết lúc nào mình hy sinh, bị tàn tật, nhưng điều đó không ám ảnh được chị. Chị vẫn sống một cách bình thường, vẫn yêu, yêu một cách rắc rối và hồn nhiên như vậy đó. Và đó là sức mạnh của chị.

   Tôi đưa thư lại cho Khương và hỏi:

   - Thư rõ quá, có gì anh phải thắc mắc!

   - Anh lật qua bên kia xem, còn một dòng nữa.

   Tôi lật lá thư lại, thấy một dòng:

   Tái bút: Chừng anh về, biết đâu em là người bị cháy thật!

   Có lẽ Khương hãy còn thắc mắc là tại cái dòng tái bút này.

   Tôi chợt nhớ, lúc chị sắp sửa dán phong thư, chị rút ra, viết thêm một dòng. Viết xong, chị đỏ mặt, hơi ngượng và mỉm cười một mình.

Tháp Mười, 11-10 -1966




-----------------------------------------------------------------
1. Cửa sông.
2. Một loại cây to như cây me, hoa có chùm đỏ như hoa đào, có nhiều ở Nam Bộ.
3. Dọa.
4. Bị đuổi sát.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #29 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2024, 10:55:09 am »

NGƯỜI ĐÀN BÀ THÁP MƯỜI


   Bữa cơm chiều, chị Bảy vừa buông đũa xuống thì tiếng pháo ở làng bên kia cánh đồng cũng vừa nổ. Đó là pháo của đồn Mỹ An bắn vào làng giải phóng. Tiếng pháo nổ xa. Những tiếng pháo đó chị nghe quen đến nỗi tưởng như đó là tiếng pháo chỉ có tác dụng báo giờ. Vậy là đã sáu giờ chiều rồi. Tháng sáu là tháng của mùa mưa và mùa cấy, có hôm trời rất mau tối. Bên ngoài, trời đã nhá nhem. Ngoài đường kinh, lác đác có một vài người qua, có tiếng cười, tiếng nói và tiếng gọi nhau í ới.

   Đứa con gái lớn của chị - con Hai, mười hai tuổi, vừa nhai cơm vừa nói:

   - Má đi đi! Con ăn rồi con dọn. Đã đến giờ đi cấy rồi.

   Nhưng chị chưa muốn đi vội. Chị muốn nhìn bữa cơm của các con. Gần ba tháng nay, bọn giặc Mỹ định tát dân làng này ra vùng quận Mỹ An, ngày nào nó cũng bắn phá, bỏ bom đêm, bom dầu, nhiều nhất là trực thăng. Làng này cũng như bao nhiêu làng khác của Tháp Mười, nhà cửa đều nằm dọc theo hai bờ kinh. Mỗi một ngôi nhà một bến nước và một bến xuồng. Hai bên kinh sau những cụm vườn là cánh đồng, cánh đồng trải dài ra đến rặng cây mờ mờ bên kia làng.

   Bọn trực thăng một bầy, khi ba chiếc, năm chiếc, quay cánh phành phạch bay từ đầu kinh đến cuối kinh, cứ con đường thẳng mà bắn, bắn những xuồng ghe đi lại trên kinh, bắn rải xuống nhà và bắn vào các cụm vườn. Nó vừa bắn vừa bắt loa kêu gọi, nó quay cả đĩa hát, nào nhạc mới, nhạc cổ có đủ, có khi nó quay cả những cái băng con nít khóc óe nữa. Nó làm đủ trò, nhưng chẳng ai bỏ làng đi. Để chống lại trực thăng, dân làng tạm bỏ con kinh, dời cả làng vào đồng sâu. Nhà cửa không ngay hàng thẳng lối nữa, nhà rải ra khắp cả cánh đồng. Bọn trực thăng muốn bắn thì phải bay ngoằn ngoèo như con rắn và phải đến tận từng nhà.

   Chị Bảy cũng dời nhà. Chị mới ba mươi sáu tuổi, nhưng con lại đông, một đàn con sáu đứa, ba trai, ba gái. Đứa lớn mười hai tuổi, đứa nhỏ hai tuổi. Chồng chị là cán bộ tỉnh, năm khi mười họa mới về qua một lần. Mọi việc nhà: nuôi con, giữ con, đều do một tay của chị. Nhà chị được hơn một mẫu đất, không trâu, không bò. Ngày mùa chị phải đi cấy đi gặt cho những gia đình khác đổi lấy công trâu. Ngoài mùa lúa, mỗi năm khi nước lên, chị làm cả nghề cá nữa: giăng câu, đặt lờ, đặt lọp. Đêm chị thức để thăm lưới, hoặc đổ lọp, đổ lờ. Ngày chị làm cá đem muối, đem phơi, rang gạo, xay thính, làm mắm. Chẳng ngày nào chị rảnh tay. Những lúc rảnh chị lo tu bô hầm hố, chị móc đất đắp hầm cho thêm chắc, rồi vét hầm. Hầm hố của chị luôn luôn được ngụy trang kỹ và chẳng bao giờ có rắn. Qua bao nhiêu trận bom rồi, nhà chị có lần bị cháy, bị đổ, nhưng hầm hố của chị vẫn vững vàng. Một đàn con của chị sáu đứa, đứa nào cũng mập mạp, cũng xinh xắn. Ai thấy cũng khen. Chị chỉ có một khuyết điểm là việc họp xóm, họp ấp chị đi rất thất thường, hoặc xin vắng mặt, hoặc đi trễ, hoặc đang họp thì xin về.

   - Nhà tôi con đông, tôi đi muộn.

   - Nhà tôi con đông, dứt đi không được!

   - Nhà tôi con đông, cho tôi xin về trước.

   Thấy chị lúc nào cũng viện lý do là con đông, có người hỏi đùa:

   - Lúc thì con đông, lúc thì đông con, vậy thì đẻ làm gì cho dữ vậy?

   Chị vui tính và cũng hay nói trây, chị nói trả lại:

   - Con tôi nó nằm ở trong bụng hàng đàn đây nè. Mỗi lần nhà tôi về, từ trong bụng tôi, nó “dạ” rân lên, nghe mà phát mệt!

   Thấy chị đông con, chồng lại đi công tác xa, bà con trong xóm ai cũng thương chị, không ai nỡ khắt khe với chị. Phần chị, như để bù lại khuyết điểm đó, mọi nghị quyết của các cuộc họp, chị đều làm tròn.

   Chị càng đẻ càng nở nang và ngày càng đẹp ra. Người ta tưởng chị là gái một con.

   Từ ngày dời nhà ra khỏi khu vườn, đã vất vả, chị càng vất vả hơn và mỗi ngày mỗi gầy đi. Trực thăng ngày nào củng bắn đôi ba đêm, bọn phản lực lại ồ đến bỏ bom trộm. Chị không dám để con ở một nhà. Ngôi nhà lớn ở bờ kinh, chị dỡ đi và cất ra thành hai cái nhỏ. Hai cái cách nhau khoảng hai tầm đất. Mỗi nhà có ba loại hầm. Một cái hầm ngay tại nhà, vách nhà là vách đất, để chống bom bỏ trộm ban đêm, một cái hầm chống trực thăng và một cái hầm chống bom của phản lực và khu trục. Hai ngôi nhà, sáu cái hầm. Một tay chị làm không xuể, chị phải nhờ bà con trong xóm mỗi người giúp cho một tay. Bà con trong xóm ai cũng phải lo đào hầm, nên không giúp được chị nhiều lắm. Bà con chỉ đào giúp, còn phần đắp đất chung quanh và nắp hầm là phần của chị. Máy bay bắn hàng ngày, việc đào hầm không thể chần chờ được. Chị huy động cả ba đứa con lớn cùng làm với chị, từ đứa thứ hai đến đứa thứ tư, chị làm cả ban đêm. Phải mất đến nửa tháng, chị mới đắp xong sáu cái hầm.

   Hai ngôi nhà, sáu cái hầm, sáu đứa con, chị chia ra làm hai. Ba đứa lớn ở cùng một nhà do đứa thứ hai coi sóc. Ba đứa nhỏ thì ở với chị. Đêm chị không dám ngủ say. Có thể nói chị vừa ngủ vừa lắng nghe tiếng máy bay. Hễ có tiếng máy bay là chị tốc dậy, gọi các con chạy ra hầm.

   Thấy chị vất vả, có lần anh Bảy muốn xin về xã công tác để cùng chị nuôi giữ con, nhưng chị không muốn.

   Chị nói:

   - Nếu mình làm nuôi được sáu đứa con như em thì cứ về, em sẽ đi thoát ly cho...

   Nghe chị Bảy bảo vậy, anh Bảy đành rút ý kiến.

   Những lúc bị bom, bị trực thăng, chị thường nghĩ, nếu có anh Bảy ở nhà, chắc chị đỡ vất vả hơn, chị đỡ lo đỡ sợ hơn. Vừa ôm đứa con nhỏ hai tuổi, chị vừa mong anh Bảy, chị tưởng như anh Bảy đang vượt qua bom đạn mà trở về với chị, với con. Trong tưởng tượng của chị, hễ có mặt anh Bảy là bọn giặc sẽ rút đi và mọi việc sẽ trở lại yên lành. Chị vừa nghĩ vừa định bụng, khi máy bay rút đi, bước ra khỏi hầm, chị sẽ viết thư gọi anh Bảy về ngay. Nhưng sau khi máy bay rút đi, đàn con chị chui ra khỏi hầm, chạy đến quấn theo chị cười nói thì những ý nghĩ ấy biến tan đi không để lại một dấu vết gì, như chị chẳng bao giờ nghĩ đến vậy. Rồi chị lại vui với con, lại bắt tay vào việc, nấu cơm, vá quần áo, đào đất tu sửa hầm hố.

   Từ ngày dời nhà, buổi cơm chiều chị mới cho các con ăn chung. Cơm sáng, cơm trưa, sợ trực thăng Mỹ đến bất ngờ, chị chia ra hai mâm, mỗi mâm ba đứa. Cơm xong, đứa con lớn dọn một mâm, chị dọn một mâm. Hai nhà cách nhau hai tầm 1 đất, mà sao chị vẫn thấy cứ nhớ con.

   Ngồi bên này một lúc chị lại sang nhà bên kia. Mấy đứa con của chị cũng vậy, đứa này đòi qua nhà kia, đứa kia đòi qua nhà nọ. Chị muốn phân tán mỏng, nhưng cuối cùng mấy thằng nhỏ cứ chạy qua chạy lại luôn và đứa nào cũng thích chạy theo chị, thích ở một nhà với chị.

   Hễ nhà bên này quá bốn đứa, chị lại bồng đứa nhỏ đi qua nhà bên kia, mấy đứa nhỏ lại ùa chạy theo chị, chị quay lại quát nó. Nghe chị hét, thấy chị quơ cây dọa đánh, nó liền quay trở lại. Yên yên một chút, nhìn lại chị thấy cả sáu đứa đang luẩn quẩn bên chị. Chị lại hét lên, chị vừa giận vừa tức cười vừa xót xa.

   Bữa cơm chiều là bữa cơm chung cho cả nhà, đã thành như một thói quen. Hình như đứa nào cũng mong đến cơm chiều, và cả chị cũng thế. Mấy thằng con trai ở nhà bên kia nghe tiếng chiên xào và nhìn khói bếp, nó đứng thập thò ở cửa, hỏi vọng qua:

   - Cơm dọn xong chưa má?

   - Má ơi, cơm chín chưa, con chạy qua nghen?

   - Con chạy qua trước nghen má.

   Cơm chiều xong chị gọi, là cả ba đứa nhà bên kia cũng vừa ào đến. Chúng chờ xong bữa cơm, nhưng chẳng đứa nào chịu ngồi ăn, mấy đứa lớn cứ bu lại hai đứa nhỏ, chúng nựng chúng hôn, chúng bồng, chúng nói đả đớt với nhau. Chơi đùa với nhau đã rồi, chúng mới chịu ăn.

   Buổi cơm chiều nay có canh chua, cá rô và cá trê kho khô, bọn nhỏ ăn rất ngon. Đứa chan, đứa gắp, đứa húp xì xụp. Nhìn các con ăn ngon lành, chị không muốn đi. Chị thắp một ngọn đèn nhỏ để gần mâm, đủ soi rõ mâm cơm cho các con và nhìn ngắm từng đứa. Sáu đứa mặt đứa nào cũng tròn đầy xinh xắn như của mẹ và đứa nào cũng giống đôi mắt sâu và hơi buồn của cha. Sáu đứa hao hao giống nhau, nhưng mỗi đứa có mỗi tính riêng. Con lớn tính điềm đạm, mới mười hai tuổi mà nói năng như người lớn, nó ăn từ tốn, biết nhường phần ngon cho em, thằng thứ ba mười tuổi, thằng liếng khỉ nhất nhà, thích làm giàn thun bắn chim, nó chan húp lia lịa. Đứa con gái thứ tư, tám tuổi, người mảnh nhảnh, mắt sáng, môi mỏng, miệng nói tía lia, nó gắp từng miếng cá nhỏ, ăn nhỏ nhẻ như mèo. Thằng năm, sáu tuổi, đầu nhiều ghẻ, cạo trọc tròn như bông gáo, thằng ít nói mà cộc, nó ăn chậm chạp nhưng đã gắp cá thì gắp nguyên con, đứa con gái thứ sáu, bốn tuổi, thì hiền như chị. Nó vừa mói tập cầm đũa, nó và cơm bằng đũa, nhưng ăn cá thì bốc bằng tay. Còn thằng thứ bảy hai tuổi thì nằm trên vế chị, vừa nằm vừa nhai.

   Thật đầm ấm!

   Ngoài kinh có tiếng gọi vọng vào:

   - Cô Bảy ơi! Đi chưa?

   Đó là tiếng gọi của cô Lành. - Chị Bảy quay mặt ra cửa nói với ra:

   - Chờ tao một chút! Vô đây chơi - Chị đưa tay đỡ lấy đầu thằng con nhỏ, vừa nựng cằm thằng con, vừa để nhẹ nó xuống đệm:

   - Con ở nhà, má đi cấy. Ở nhà ngủ với chị Hai nghen con.

   Lành, cô du kích bước vào nhà. Đó là cô gái mười tám tuổi, người mập mạp khỏe mạnh, vai mang cây CKC, khăn rằn quấn choàng qua mặt, tay cầm mọc cấy 2, lưng thắt băng đạn, bình toong và một nắm cơm gói trong ni lông xanh. Lành là cháu chồng của chị. Thấy Lành, mấy đứa nhỏ nhao lên, buông đũa chạy ùa vào người cô. Đứa nhanh chân nhất là thằng Ba, nó reo lên:

   - Chị Lành có súng! - Nó lao tới, hai tay ôm lấy báng súng, kéo trì xuống.

   - Cho em xem.

   Đứa thứ hai rầy em:

   - Ba! Mầy làm gì kéo chị dữ vậy hả? Mầy lấy súng làm gì!

   Thằng Ba như không nghe thấy tiếng rầy la của chị, nó cứ kéo lấy cây súng, khiến cô nữ du kích Lành phải rùn người xuống, mặt nhăn nhó:

   - Đau vai chị. Buông ra! Súng thiệt chớ súng cây sao mà đòi. Chị lên đạn rồi, dang ra.

   Những đứa nhỏ đều giạt ra, còn thằng Ba thì cứ đeo dính cây súng.

   Chị Bảy đang lom khom quấn dây thun túm quần để chống đỉa, quay lại nạt lớn:

   - Ba! - Và chị trừng mắt nhìn nó. Thằng Ba không trì níu cây súng nữa, nhưng cũng chưa chịu lui ra. Nó nhìn Lành, nhìn qua mấy đứa em, rồi nhìn mẹ và hỏi:

   - Sao má không lãnh súng má?

   Chị Bảy đưa mắt lườm con, rồi nạt lớn:

   - Mầy biết gì mà hỏi! Về nhà bên kia. Đi! Đi!

   Thằng bé không hiểu sao mẹ nó lại nổi giận, nó ngồi im và muốn khóc.

   Câu hỏi vô tình của con làm cho chị nhớ đến chuyện lãnh súng, chị thấy ngượng với Lành và khổ tâm. Trong tháng nay, để chống lại trực thăng, nhà nào cũng lãnh súng. Những gia đình đông người và nhiều trai tráng thì lãnh đến hai, hoặc ba cây. Cả làng, nhà nào cũng có súng. Chỉ có gia đình chị là không có. Ủy ban có hỏi chị, chị cứ phân vân. Nếu chị còn son giá thì khỏi phải nói, chị đã nhận súng ngay từ đầu rồi. Chị còn một đàn con, một đàn con nhỏ, sáu đứa. Mỗi lần nghe trực thăng bay tới, chị phải lo điều sáu đứa con vào hầm, chỉ có việc đó thôi chị cũng thấy rối lắm rồi. Điều chúng nó vào hầm xong, chị phải ngồi chung với hai đứa con nhỏ. Có chị ôm, chúng mới ngồi yên. Còn thì giờ đâu mà chiến đấu. Những đứa con của chị, lúc nào nó cũng quấn theo chân chị, chẳng lẽ chị kéo cả một đàn con đi đánh với trực thăng? Và những lúc gay go, chị cũng chẳng muốn rời con. Lãnh súng mà không chiến đấu thì lãnh làm gì? Lãnh súng cho ra vẻ và làm oai với hàng xóm chăng? Chị đã qua cái tuổi đó rồi. Nếu chị dỗ được con nằm im trong hầm rồi trườn ra bắn lại thì có khác gì chỉ điểm cho nó. Nó sẽ kéo lại từng bầy, từng lũ, nó sẽ quần, sẽ bắn, hầm hố của con chị sẽ nát tan ra thôi. Mỗi lúc nhắc đến chuyện lãnh súng là mỗi lần chị nghĩ như vậy. Ý nghĩ ấy cứ quẩn quanh trong đầu chị, dần dần như một cái bóng đen. Thôi! Thà nằm yên vậy mà hơn. Chị tự an ủi như vậy, nhưng lòng cứ bứt rứt không yên. Cái chuyện lãnh súng của chị đã thành một đề mục sôi nổi trong các cuộc họp. Cuộc họp nào cũng chia làm hai phe: Một phe muốn cho chị lãnh súng, một phe vì thấy chị con đông lại muốn miễn cho chị. Còn chị, chị cứ phân vân. Tự ý nghĩ riêng của chị, chị chưa muốn lãnh, nhưng nếu bà con nhất trí bảo chị nên lãnh thì chị sẽ không từ chối. Nhiều lần chị mong bà con bắt chị phải lãnh để chị lãnh cho rồi. Nhưng chuyện lãnh súng chiến đấu là chuyện tự giác, chẳng ai muốn ép chị. Cuối cùng chị vẫn phân vân. Chị muốn lờ cái chuyện ấy đi. Hôm nay tình cờ nghe con nhắc đến, bỗng nhiên chị nổi giận.

   Thằng Ba ngồi im, mấy đứa nhỏ nhìn nhau lơ láo.

   Quấn dây thun bó quần xong, chị lấy khăn quấn qua mặt, lấy ni lông choàng qua vai, cầm lấy mọc cấy cùng với Lành bước ra.

   Bước ra sân, xa ngôi nhà nhỏ ấm áp với mùi cơm mùi canh, mùi cá, cái không khí trong lành bên ngoài không mùi không vị đối với chị thật lạt lẽo, và chị thấy lạnh, thấy hối hận sao mình nổi giận với con. Chị quay lại, bước trở vào nhà, nhìn qua đàn con, rồi nhỏ giọng bảo:

   - Con Hai ngủ với con Sáu, thằng Bảy. Còn thằng Ba thì dẫn con Tư với thằng Năm về bên nhà. Mấy con có chơi thì chơi, nhớ đừng đốt đèn. Má đi cấy, sáng mới về.

   Trời đã mờ tối. Ra đến đường kinh, Lành đi trước, chị đi sau. Chị đi chậm từng bước, vừa đi vừa nhìn lại ngôi nhà, nhìn hai căn hầm nổi của con. Bỗng nhiên chị thấy không yên tâm. Chị dừng lại, muốn quay trở lại nhà, dặn dò thêm một vài điều, nhưng chẳng biết phải dặn gì thêm. Chị thở dài, rồi bước nhanh chạy theo Lành.




------------------------------------------------------------------
1. Đơn vị đo ở nông thôn Nam Bộ, có thứ tầm 3 mét, có thứ tầm 3 mét 5.
2. Cây cọc để cấy ruộng đất cứng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM