Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:07:04 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 100951 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #20 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:14:46 pm »

QUỐC TRIỀU CHÍNH BIÊN TOÁT YẾU

Quyển thứ II 
-----------------------

Thế  Tổ  Cao  Hoàng  Đế

Năm Nhâm Tuất, Gia Long thứ 1 (1802), tháng 5, ngày mồng 1 Canh Ngọ, lập đàn tại xã An Ninh, hiệp tế trời đất, cáo việc đặt niên hiệu. Ngày Tân Vị, kính cáo Liệt Thánh; lễ rồi, Ngài ngự trên đền, cho quần thần làm lễ tế triều hạ, đặt niên hiệu Gia Long, đại xá trong nước, ban ân điển 6 điều. Từ lúc ấy, cáo, dụ, mạng, lạnh điều dùng chữ "chiếu"; chương sở dùng chữ "tấu".

Ngài dùng các quan bàn việc thông sứ qua Tàu, cho Trịnh Hoài Đức làm Thượng thơ bộ Hộ sung Chánh sứ, Ngô Nhơn Tĩnh làm Hữu Tham Tri Bộ Binh, Hoàng Ngọc Uẩn làm Hữu Tham Tri Bộ Hình đều sung Phó sứ qua Tàu; sai đem quốc thơ, phẩm vật, sách ấn Tàu phong cho Tây Sơn và giải giặc Tàu Ô là bọn Mạc Quan Phò, Lương Văn Canh, Phan Văn Tài đi hai chiếc thuyền hiệu Bạch Yến và hiệu Huyền Hạc vào cửa ải Hổ Môn tỉnh Quảng Đông, giao thơ cho Tổng đốc Quảng Đông là Giác La Cát chuyển đệ. Vua Tàu vẫn ghét Tây Sơn vô đạo, lại chiêu nạp bọn Mạc Quan Phò, làm ngạnh trở ngoài biển đã lâu ngày; lúc ấy được tin, mừng lắm, liền sai quan tỉnh Quảng Đông giết Mạc Quan Phò, Văn Canh và Văn Tài; lưu bọn Trịnh Hoài Đức ở trong tỉnh thành, cung cấp hậu lắm.

Ngài toan cử binh ra đánh ngoài Bắc, truyền dụ Bắc Hà quân dân cả thảy 5 điều. Ngài duyệt thủy binh, bộ binh, thần sức 8 điều quân chánh.
Sai Nguyễn Văn Trương lãnh thủy binh, Lê Văn Duyệt, Lê Chất lãnh bộ binh đi trước.

Sai Quốc Thúc Quận Công Tôn Thất Thăng, Đô thống Nguyễn Văn Khiêm, Tham Tri Nguyễn Đăng Hựu ở giữ Kinh, cho phép tùy tiện làm việc.

Ngài giá từ Kinh sư ra đi, ông Hoàng Tử thứ 4 theo hầu. Tháng 6, ngày Canh Tý, ngự trú tất tại dinh Hà Trung.
Thủy binh ta vào cửa biển Hội Thống đánh phá Đổng Lý giặc là Nguyễn Văn Thận, bộ binh ta ra đến Nghệ An, bắt được con Nhạc là Lân, thừa thắng đi thẳng đến đồn Tiền Lý (thuộc phủ Diễn Châu), Đô đốc Ý đem quân ra hàng; cả tỉnh Nghệ An không còn tên giặc nào kháng cự vương sư.

Ngày Quý Mão, trú tất ở trấn Nghệ An, Thiếu úy giặc là Đặng Văn Đằng, Đô đốc Đào Văn Hổ đem 7 con voi đến hàng ở Hành tại. Quân tiền đạo ra lấy Thanh Hóa, bắt được con Nguyễn Văn Huệ là Đô đốc trấn Nguyễn Quang Bàn, Đổng lý Nguyễn Văn Thận và quân sĩ. Phó đô thống chế Võ Doãn Văn lại bắt được Trần Quang Diệu ở thượng đạo Nghệ An.

Ngày Canh Tuất, Ngự giá từ tỉnh Nghệ An ra đi, sai Đặng Trần Thường ở lại giữ đó.

Đánh thuế đinh, thuế điền, thuế cửa biển, thuế đò và thuế sản vật, để cấp quân lương.

Ngày Quý Sửu, Ngự giá đến Thanh Hóa, xem tình thế núi sông, đòi mấy người hương lão làng Bố Vệ hỏi việc miếu nhà Lê; tôn tộc nhà Lê đem trầu rượu ra bái tạ, Ngài ủy dụ rồi cho lui.

Người xã Ngọ Xá (thuộc huyện Nông Cống) là Phạm Ngọc Phát, Phạm Ngọc Thụy bắt Võ Văn Dõng và ba người bộ hạ, giải đến Hành tại, Ngài truyền đóng xiềng nghiêm giam.
 
Khoan binh, diêu, tô thuế cho tỉnh Thanh. Dụ rằng: "Thanh Hóa là chỗ "Thang Mộc Ấp (1), phải nên phủ dưỡng nơi căn bản trước, vậy chuẩn khoan thuế cho dân".
Ngày Bính Thìn, Ngự giá đến Thanh Hóa ngoại trấn (2), phát tiền kho cho quân lính; rồi sai Phạm Văn Nhơn ở lại giữ đó.

Ngày Đinh Tỵ, Ngự giá đến Sơn Nam Thượng Trấn (tỉnh Hà Nội bây giờ) sai Phó tướng Nguyễn Đình Đắc ở lại giữ đó.

Ngày Canh Thân, Ngự giá đến thành Thăng Long (thành phố Hà Nội bây giờ) Nguyễn Quang Toản bỏ thành chạy cùng với em là bọn Quang Thụy qua sông Nhị Hà, đến sông Xương Giang (thuộc Bắc Ninh) trú trong chùa Thọ Xương, dân toan bắt, Quang Thụy thắt cổ chết, Quang Toản và Quang Duy, Quang Thiệu, Văn Dụng, Văn Tứ đều bị dân bắt, bỏ cũi đem nạp tại thành Thăng Long. Khi ấy mới dẹp hết giặc Tây Sơn, nhất thống cả Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Ngài trú tất ở Thăng Long, ngự đền Kính Thiên, các quan làm lễ triều hạ.

Bố cáo trong ngoài biết rằng Bắc Hà đã đại định rồi.

Bàn việc sai các quan văn võ làm quan các trấn ngoài Bắc; mỗi trấn đặt một quan Trấn thủ, một quan Hiệp Trấn, một quan Tham Tán.

Đòi Nguyễn Văn Thành đến Hành tại. Thành tuy ở trong cung mà thông sách vở và hiểu phép chính trị, cho nên đòi đến.

Tháng 7, ban ấn đồng cho các trấn từ Nghệ An ra Bắc. Đòi Đặng Trần Thường đến Hành tại, cho Hoàng Văn Toản làm Trấn thủ Nghệ An.

Dụ cựu thần nhà Lê và bọn Hương cống, học trò rằng: "Lâu nay ngụy tặc trái đạo cương thường, vận hội suy đốn; nhiều người ở ẩn, không chịu ra làm ngụy quan, giữ đức dấu tài, để chờ minh chúa. Nay đảng giặc đã bình, việc binh điền đã xong, buổi này là buổi dấy điều giáo hóa và sửa việc chánh trị, nhơn tài ở đời, lẽ nào cả đời bạn cùng cây cỏ? Vậy nên chuyển báo với nhau đến nơi Hành tại, trình Tiền quân Nguyễn Văn Thành; Lễ Bộ Đặng Đức Siêu, Tán Lý Đặng Trần Thường, Tham Tri Phạm Như Đăng, Học sĩ Nguyễn Huân đem vào yết kiến; Trẫm sẽ xét lời nói, thử công việc, tùy tài bổ dụng; để cho người hiền kẻ tài có chức vị, hiệp ý bày mưu, giúp nên chánh đạo". Từ đó các người ẩn dật ở ngoài Bắc đều ra hiệu dụng nhiều lắm.

Lục các quan trung nghĩa ở ngoài Bắc Hà. Lúc trước có ai tuẩn nghĩa bỏ mình, nay cho con cháu đem việc tâu lên; Ngài sẽ lượng cho tuất điển.

Khiến lựa con cháu họ Trịnh để coi việc tế tự.

Tha thuế mùa Hạ cho Bắc thành, Nghệ An, Thanh Hóa ngoại trấn. Ngài nghĩ võ công mới định, dân chưa khỏi cực, cho nên tha thuế mùa Hạ; như làng nào đã nạp rồi, thời cho khấu trừ thuế mùa Đông. Chỉ có dân Hải Dương bị tàn hại quá, thuế mùa Đông cũng tha luôn.

Quan trấn Hải Dương tâu rằng: "Văn miếu nguyên trước có 40 mẫu tự điền, xin tha thuế để cúng việc tế tự". Ngài cho.

Ngài thân yết miếu vua Lê Thái Tổ.

Tống Phúc Lương và bọn Nguyễn Văn Vân phá tan giặc Tàu ở châu Vạn Ninh, chém và bắt sống được nhiều lắm. Ngài sai quan tỉnh An Quảng đem những tên bắt được trả cho Tàu.

Ngài nghĩ rằng: giặc Tây Sơn đã dẹp yên rồi, liền đưa thơ cho Lưỡng Quảng Tống đốc nước Tàu hỏi việc bang giao; sai Thiêm sự Lê Chánh Lược, Trần Minh Nghĩa quan Nam Quan chờ Tàu trả lời.

-----------------------------
(1) Thang Mộc Ấp là quê hương của vua.
(2) Thanh Hóa ngoại trấn tức nay là tỉnh Ninh Bình.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Bảy, 2009, 06:10:45 am gửi bởi Midaxudavo » Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #21 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:20:13 pm »

Truyền lập miếu Công thần ở Bình Định và Phú Yên. Bình Định 2 miếu; một miếu ở trong thành đàng trước lầu bát giác, thờ Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, và 260 người tử trận; một miếu ở cửa Thi Nại núi Độc Sơn, thờ Võ Di Nguy, Tống Viết Phúc và 619 người lính tử trận tại tỉnh Quảng Nghĩa; Phú Yên; lập miếu ở hòn Na cửa Cù Mông, thờ Mai Đức Nghị và 526 người tử trận ở Gò Thị.

Con cháu Lê, Trịnh, văn võ cựu thần nhà Lê và bọn quan Mường dâng biểu xin Ngài lên ngôi Hoàng Đế, Ngài còn chưa chịu.

Nguyễn Văn Thành dâng 10 quyển Trinh Quán Chánh Yếu (1). Ngài ham coi sách sử xưa, thường khen vua Văn Hoàng nhà Đường làm cho nước thạnh trị, phép chánh trị, đáng xem. Cho nên Thành dâng sách ấy.

Săc đình thần tham chước hình luật đời Hồng Đức nhà Lê định làm 15 điều luật lệ nói về việc từ tụng.
Định phép giản binh: Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam Dương-Sơn Nam Hạ và Thanh Hóa ngoại, cứ 7 suất đinh lựa một tên lính; Tuyên, Hưng, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên thời cứ 10 suất đinh lựa một tên lính; còn thành Thăng Long thời nhiều tạp dịch, tha cho khỏi cấp lính giản.

Tháng 9, phong cho con cháu nhà Lê là Lê Duy Hoán làm Diên Tự Công, cấp 1.016 tên từ phu, 10.000 mẫu tự điền, lại tha binh diêu và thuế thân cho con cháu nhà Lê; cấp 500 mẫu tự điền cho họ Trịnh, khiến Trịnh Tư coi việc tế tự, lại tha binh diêu thuế thân cho 240 người con cháu họ Trịnh.

Cho con cháu mấy ông Khai quốc công thần và Trung hưng công thần nhà Lê đều được dự vào hàng Nhiêu Ấm(2).

Đặt Đốc học các trấn Bắc thành.

Ngài toan ngự về Phú Xuân, cho Văn Thành làm Tổng trấn, ban cho sắc ấn, trong ngoài 10 trấn thuộc về Bắc thành, đều thuộc quyền ông kiêm quản, lại đặt 3 tào (Hộ, Binh, Hình) ở Bắc thành cho Hộ Bộ Nguyễn Văn Khiêm, Binh bộ Đặng Trần Thường, Hình bộ Phạm Như Đăng, theo quan Tổng trấn mà coi việc 3 tào ấy.

Ngài ngự giá từ thành Thăng Long về, dụ Nguyễn Văn Thành rằng: "Việc Bắc thành nầy giao cho ngươi, ngươi phải gắng sức". Thành lạy thọ mạng.
Tháng 10, mồng 1 ngày Kỷ Hợi, Ngài ngự tới Thanh Hóa yết lăng miếu ở Thiên Tôn Sơn (3). Ngày Quý Sửu đến Kinh sư. Ngày Đinh Mão thân yết Thái Miếu, rồi vào Từ cung (4) làm lễ khánh an (5).

Mở mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ kẽm, mỏ đồng ở tỉnh Tuyên Quang và Hưng Hóa; khiến Thổ mục là ma Doãn Điền, Hoàng Phong Bút, Cầm Nhơn coi việc ấy, định năm sau sẽ đánh thuế.

Gia Định đói lắm, sai quan trấn phát gạo kho cho dân mượn.

Tháng 11, cáo việc Võ thành (6), ngày Quý Dậu tế Trời, Đất, Thần Kỳ; ngày Giáp Tuất đem tù cáo trước Thái Miếu, rồi đem anh em Nguyễn Quang Toản và bọn Diêu xử trị hết phép.

Ban thưởng cho các quân thủy và quân bộ, hậu cấp lương tiền cho các công thần về hưu và các công thần Vọng Các; xét những người theo Ngài từ năm Mậu Thân trở xuống, năm Canh Thân trở lên, chia làm ba hạng, tùy hạng phân cấp.

-----------------------------
(1) Trinh quán chánh yếu là sách vua Văn Hoàng nhà Đường làm ra.
(2) Nhiêu Ấm là tha việc quan và đi lính.
(3) Thiên Tôn là núi Triệu Tường lăng đức Triệu tổ ở đó (huyện Tống Sơn tỉnh Thanh Hóa).
(4) Từ cung là cung đức Quốc mẫu ở.
(5) Khánh an là lễ chúc mừng bình an.
(6) Võ thành là việc đánh giặc đã thành công rồi.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Bảy, 2009, 06:11:16 am gửi bởi Midaxudavo » Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #22 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:22:23 pm »

Cho Tham tri Lê Quang Định làm Thượng Thơ Bộ Binh sung chức Chánh sứ, Thiêm sự Lê Chánh Lộ và Đông Các Học Sĩ Nguyễn Gia Cát sung chức Giáp Ất Phó Sứ, sai qua sứ Tàu. Nguyên lúc ấy được Bắc thành rồi, ta đã đưa thơ cho Tổng đốc Lưỡng Quảng nhờ chuyển đạt việc ban giao với vua Tàu; vua nhà Thanh sai phúc thơ rằng: "Nước ta đã thống nhất toàn hạt An Nam, nên làm biểu sai sứ sang cầu phong; còn sứ bộ trước là bọn Trịnh Hoài Đức thời phải sang tỉnh Quảng Tây ở chờ sứ cầu phong đến, rồi sẽ vào Yên Kinh (1)  một lần cho luôn". Bọn Chánh Lộ tâu lên, Ngài sai Quang Định đem quốc thơ và phẩm vật sang Tàu xin phong, lại xin đổi quốc hiệu là nước Nam Việt.
Sắc quan Bắc thành sửa sang Hàng cung và Sứ quán (2).

Giảm thuế ruộng cho tỉnh Gia Định, giảm 5 năm thuế thân cho Bình Thuận, Bình Hòa, 10 phần giảm 2 phần.

Bắc thành tâu: "Các trấn ẩn lậu ruộng đất và đất bãi cát nhiều quá, xin cho dân cứ thiệt khai trưng cho hết, xã nào còn ẩn lậu, thời xin cho xã gần đó nhận trưng". Ngài y theo lời tâu.

Tháng 12, quan Bắc thành tâu rằng: "Bắc Hà bị loạn đã lâu, dân xiêu tán nhiều lắm, lâu nay như có làng nào thiếu lính, thời quan quân lại trách cứ làng gần một bên phải cấp cho đủ, vậy nên những làng gần thường cày chiếm ruộng đất của mấy làng xiêu lưu; xin trừ tệ ấy". Ngài sắc quan địa phương lập giới hạn cho phân minh, chia cấp ruộng cho dân canh trưng mà tha thuế.

Năm Quý Hợi thứ II (1803), tháng giêng, sắc thủy quân tập chèo thuyền, Ngài ngự xem. Từ lúc ấy hễ đến đầu năm thời đem quân ra tập (đến năm Minh Mạng thứ X, đổi làm lễ tế cờ).

Đúc 9 khẩu súng đồng (đặt tên là: xuân, hạ, thu đông, kim, thủy, mộc, hỏa, thổ). Khi đúc xong rồi, làm bài minh để ghi cho nhớ (năm Gia Long XV Ngài mạng danh là "thần oai vô địch thượng tướng quân").

Làm phép duyệt tuyển từ Quảng Bình trở vào. Dụ rằng:"phép duyệt tuyển là thải người già mà đem người mạnh thế vào và để cho phân biệt dân nào là trù mật, dân nào điêu hao. Nhà nước đã có phép cũ rồi. Bọn mầy phải giữ phép công bằng để cho xứng công việc ta đã ủy thác".

Đắp đàn ở xã An Ninh, hiệp tế Trời Đất; sai bộ Lễ xét lễ tế Giao, châm chước mà làm.

Bài lễ làm chay. Xưa nay cứ mỗi năm đến tiết xuân thời lập đàn làm chay, đến bây giờ Ngài truyền rằng: "làm chay vô vị quá, việc hủ lậu nên bỏ".

Đắp thành Thăng Long. Sắc các trấn lập Văn Miếu.
Tháng 2, giải ngụy Thượng Thơ Ngô Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Phan đem về Bắc thành. Quan Bắc thành tâu rằng: "Ngụy quan ra thú thời tha, đã có minh chiếu rồi, xin tha cho bọn Ngô Nhậm khỏi giết, nhưng phải đánh đòn để cho biết xấu". Truyền chỉ đem bọn ấy đến trường học phủ Phụng Thiên, kể tội mà đánh; Nhậm bị đánh chết.

Định phép đánh thuế tô và thuế dung. Ban chiếu rằng: "Không phải trốn thuế mà nhà mới đủ, cũng không phải lấy thuế nặng mà nước mới giàu. Từ đức Thái Vương ta gầy cơ nghiệp đến bây giờ, phép thâu thuế không nặng cũng không nhẹ; ruộng thời có ba bậc, dinh thời có chánh hộ và khách hộ khác nhau; bởi vì đất có chỗ xấu, chỗ tốt không đồng, dân có nhà giàu nhà nghèo không cân; nên phải tuỳ hạng đánh thuế. Lúc trước Tây Sơn dấy loạn, bỏ hết phép cũ, nó cho là dân gian ít ruộng nhất đẳng, nhị đẳng, mà ruộng tam đẳng thời nhiều, nên không chia hạng, cứ thâu mỗi mẫu 35 thăng lúa làm thường, còn như thuế thân cũng kông chi người chánh người ngụ, bắt nạp một hạng. Lúc ấy đánh thuế nặng quá, dân bị hại đã gần vài mươi năm rồi. Trẫm khôi phục dư đồ, thiên hạ nhất thống; đã biết các việc hại dân, nên phải bỏ hết tệ đoan. Vậy truyền Đình thần định thuế lại cho nhẹ, để dân gian biết ngạch thuế chánh cung, Nhà nước có ngạch thuế nhất định; từ rày về sau dùng làm phép thường".

------------------
(1) Yên Kinh là Kinh đô nhà Thanh nước Tàu, tức Bắc Kinh.
(2) Sứ quán là chỗ tiếp sứ Tàu.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #23 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:24:00 pm »

Giảm thuế điền năm ấy cho các trấn từ Nghệ An trở ra Bắc thành, thời mỗi mẫu giảm 5 bát lúa; còn 6 trấn phía ngoài Bắc thành thời mỗi mẫu giảm 2 bát rưỡi.

Tháng 3, đắp Kinh thành lại. Ngài sai Giám thành Nguyễn Văn Yến tiêu đạt bốn bề thành Phú Xuân, làm cho rộng thêm; rồi Ngài thân chế kiểu xây thành, ban ra bắt quân lính làm.

Quan Bắc thành là Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Khiêm, Đặng Trần Thường, Phạm Như Đăng dâng sớ tâu: "Làm nhơn chánh, trước phải chia ruộng cho dân và định bổng lộc các quan; bởi vì phép chia ruộng làm thành, thời quan mới có lộc, mà dân cũng mới có của, không lo hào cường chiếm đoạt. Nhưng chúng tôi xin trước hãy hạ chiếu dụ cho dân biết rằng: bây giờ đổi cũ làm mới, cũng muốn ích lợi cho dân; lại xin giảm thuế điền thuế thân làm ơn cho dân, khiến dân ai cũng đẹp lòng, rồi sẽ thi hành phép chia ruộng. Chúng tôi có điều trần 3 việc sau nầy xin lượng Thánh xét: 10 sửa sổ ruộng cho tiện quân cấp; 20 xét sổ đinh cho biết số dân; 30 lựa người hiền tài bổ quan". Ngài hạ chiếu rằng: "Các ngươi điều trần cũng phải, nhưng việc binh mới xong, việc nước đang gấp, triều đình định làm việc gì phải có thứ tự mới được; ta sẽ làm dần dần".

Tháng 4, định lệ cấm những thâu thuế ngoài Bắc thành. Vì quan Bắc thành có tâu rằng: "Lâu nay trường thâu thuế thường có mấy tên Nha lại làm gian, thời dân bị hại, mà thuế Nhà nước vẫn thiếu; xin ban lệ cấm rõ ràng để bỏ lệ cũ. Chúng tôi xin mỗi năm Đông, Hạ hai kỳ thâu thuế, hạn trong hai tháng thâu cho rồi; dân nạp thuế thời cho 20 ngày làm một kỳ, cấm bọn lại dịch không được thâu quá lệ vàkhông được sách nhiễu dân; nếu mấy tên coi kho còn dám làm gian, nhận riêng thuế dân và thác cớ khác không chịu thâu liền cho dân, thời sẽ trị tội". Ngài y theo lời tâu.

Nước Nam Chưởng xin làm tôi nước ta. Nguyên lúc trước tatrấn Hưng Hóa dịch thơ Nam Chưởng rằng: "Nam Chưởng ước với Vạn Tượng cử binh đánh Man Hãn để chiêu dụ 12 châu thuộc về Hưng Hóa hiệp sức với chúng nó". Bắc thành tâu rằng: "Nam Chưởng ở xa cách nước ta, còn Vạn Tượng thần phục bổn triều, không nên theo lời dịch mà sanh sự; xin sai quan trấn Hưng Hóa cho người dò thám và đưa thơ qua Nam Chưởng tỏ oai đức Triều đình, để xem nó động tĩnh thế nào". Ngài y theo. Đến bây giờ Nam Chưởng sai tên Nại Khai đem thơ xin đi đàng Châu Ninh Biên vào cống; Ngài hạ chiếu truyền Bắc thành hậu đãi sứ Nam Chưởng và viết thơ trả lời cho vua nước nó rằng: "cho như lời nó xin".

Lê Văn Duyệt phá tan mọi Đá Vách. Ngài hạ chiếu khen thưởng.

Tháng 5, định lệ các quan Đình thần hiệp nghị: Võ từ Phó tướng sắp lên, Văn từ Tham tri sắp lên, hễ ngày 1, ngày 8, ngày 15, ngày 23, phải hội tại Hữu Vu (1); phàm việc gì chưa quyết đoán, phải thương đồng xử quyết cho xong, còn như sự quan trọng cũng nên châm chước bàn định, rồi sẽ tâu lên, để Ngài định đoán.

Định điều lệ cấm mua bán công điền, công thổ. Phép cũ thời công điền, công thổ quân cấp cho dân; ai mà dám đem bán tư thời phải tội; thiệt là lợi ích cho dân lắm. Từ khi gặp loạn Tây Sơn, phép cũ bỏ hết, dân gian thường đổi ruộng công làm ruộng tư, hoặc nhơn việc công mà cho mướn ruộng đất công để làm công tiêu trong làng, thời hạn cho 3 năm, quá hạn thời trọng trị; có ai phát giác được thiệt trạng thời thưởng cho cày một mẫu ruộng nhất đẳng ba năm, hết hạn giao lại cho dân.

Các quan Bắc thành tâu: "Nước sông Nhĩ Hà chảy mạnh quá, đàng đê vỡ nhiều lắm, xin thuê dân đắp lại để phòng nước lụt mùa Thu". Ngài y cho.

Quan coi việc Hộ ngoài Bắc thành là Nguyễn Văn Khiêm vào chầu, nhơn tâu: "bạc đời Tây Sơn đúc có pha trộn kẽm và thiếc nhiều lắm; vậy nên phân lượng không đủ; bây giờ đúc bạc xin phải khắc chữ làm tin". Ngài cho là phải, sắc Nhà đổ (2) ở Bắc thành là Trần Bình Phủ làm dấu "Trung bình", phàm đính vàng đính bạc của công hay của tư có in dấu Trung bình mới được thông dụng, ai làm đồ gian sẽ phải trị tội.

---------------------------
(1) Hữu Vu là nhà bên hữu điện Cần Chánh.
(2) Nhà đồ là sở đúc bạc, đính bạc nén.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #24 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:25:56 pm »

Tháng 6, nước Hồng Mao sai sứ tới dâng đồ phương vật, xin lập phố buôn ở núi Trà Sơn tỉnh Quảng Nam. Ngài sắc trả đồ lại và bảo họ trở về, đến sau quan Hội Thương Trọng (1) hai ba lần đem thơ sang xin. Ngài cũng không cho.

Tháng 7, Bắc thành lụt, vỡ đàng đê. Ngài sắc các quan Bắc thành phải thân hành phát chẩn; lại phải khám xét lú ruộng tổn thương hết mấy phần, tâu lên Ngài biết.

Tháng 8, thân phụ ông Duyệt là Lê Văn Toại vào chầu, Ngài hỏi rằng: "Duyệt có mấy người em?- Tâu rằng: 5 người. - Ngài hỏi: đã có con chưa? - Tâu rằng: em Duyệt là Phong có 2 đứa con, đứa đầu tên là Yên, Duyệt nhận làm con thừa tự. -Ngài nói: con anh em như con mình, Duyệt có người thừa tự rồi!". -Ngài nhân nói chuyện cũ hồi lâu, rồi ban khăn áo cho ông Toại về (Em Duyệt là Văn Phong có võ công, mất tại năm Minh Mạng thứ 5, tặng Thiếu Bảo, thụy là Tráng Nghị).

Ngài bàn việc ngự Bắc Tuần. Lúc ấy nước Tàu sai quan Án sát tỉnh Quảng Tây là Tề Bố Sum sang tuyên phong.

Ngài ngự đến tỉnh Quảng Bình, xét thấy châu Bố Chánh đói, truyền phát gạo kho cho dân.

Ngự giá đến địa đầu tỉnh Nghệ, trú tất trong Hành cung Hà Trung, sắc cho dân sở tại đắp đàng quan, mỗi 15.000 trượng cấp cho 10.000 phương gạo.
Truyền phát chẩn cho dân tỉnh Nghệ, lại cho thuế biệt nạp năm ấy trong 10 phần hoãn 5 phần. Truyền sắc các dân xã từ Nghệ An ra Bắc ai có điều gì oan uổng cho đến Hành tại mà tâu, cấm mấy tên điêu hoạt, ức chế mấy tên hào cường và cấm đặt các danh sắc riêng, như là Thông huyện, Thông xứ.

Ngài trú tất ở Hành cung tỉnh Nghệ. Người huyện Nghi Xuân là Nguyễn Công Trứ dâng 10 việc điều trần, Ngài giao cho bộ Lại xét rồi tâu lên.

Đổi thuế biệt nạp gỗ lim cho tỉnh Nghệ. Lệ cũ thời 24 xã thôn chịu thuế biệt nạp gỗ lim, mỗi năm mỗi người nạp một phiến ván lim dài 30 thước. Đến bây giờ dân kêu thuế nặng xin giảm; Ngài định lại cho nạp cả cây gỗ lim và trước còn thiếu thuế ván lim bao nhiêu, bây giờ tha hết.

Ngự giá từ tỉnh Nghệ An ra trú tất ở Hành cung tỉnh Thanh, sai Đặng Đức Siêu yết cáo Nguyên Miếu (2), đổi làng Gia Miêu ngoại trang làm Quý Hương, huyện Tống Sơn làm Quý Huyện, cho dân thuộc hạt canh giữ Nguyên Miếu.

Tháng 10, ngày Canh Ngọ, thuyền ngự từ Lương Giang ngự ra, ngày Quý Dậu lên núi Dục Thúy (thuộc tỉnh Ninh Bình) ngự xem hình thế. Truyền đem huyện Vọng Dinh và huyện Đại An ở trấn Sơn Nam Hạ cho thuộc về trấn Thanh Hóa ngoại.

Ngày Đinh Sửu, Ngự giá đến Hành cung Thăng Long; cho quan, lại, sĩ, thứ Bắc thành đều được phép điều trần lợi hại về việc đàng đê. Ngài ban chiếu chỉ rằng: "Làm điều lợi bỏ điều hại là việc chánh trị nên làm trước nhất, xét việc đời xưa mà tham với việc đời nay, chẳng qua lẽ thời thôi. Các huyện ở gần sông nầy lúc trước đắp đê phòng nước lụt, nhân tuần đã lâu, mỗi khi gặp nước lụt thời đê lại vỡ, đến nỗi đồng lúa và nhơn vật cũng bị hại. Chúng mầy hoặc sanh ở chổ nầy, hoặc làm quan đất này, địa thế nhơn tình cũng đã hiểu rõ. Vậy thời đàng đê nên đắp hay là nên phá? Lợi hay là hại?. Cho phép điều trần ý kiến; nói ra mà dùng được, thời sẽ có thưởng".

Ngài ngự sang Thanh Trúc (thuộc về huyện Thanh Trì) xem đàng đê. Quan và dân dâng sớ, hoặc người nói nên đắp, hoặc người nói nên phá, phân vân chưa định. Ngài sai bộ Hộ Nguyễn Văn Khiêm đi khám mấy con đàng đê, phải xem chỗ nào nước chảy quanh co và thủy thế phân hiệp thế nào, vẽ đồ dâng lên.



-------------------------
(1) Hội Thượng Trọng là tên quan nước Hồng Mao.
(2) Nguyên miếu là miếu thờ đức Triệu Tổ ở núi Triệu Tường thuộc về tỉnh Thanh.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #25 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:29:15 pm »

Mở cuộc đúc tiền ở Bắc thành, cho Chánh cơ Nguyễn Văn An làm giám đốc, Lê Duy Đạt làm phó. Cho mấy tên thợ kiếm đồng riêng làm lò, y theo thức tiền mới mà đúc, cấm không được đúc tư và đúc trộm; tiền mỏng hay là pha chế nhiều thời sẽ bị trị tội. Ngài truyền các quan rằng: "bây giờ đúc tiền mà giá đồng cao, vì dân ham lợi mua sỉ hết đồng, nên chi giá cao, muốn cấm tệ ấy, phải xét đến gốc mới đặng, Trẫm nghĩ rằng mua đồng ở dân thời giá đồng cao, thâu đồng ở quan thời giá đồng rẻ, ấy là lẽ tất nhiên". Liền sắc cho từ rày về sau ai có đồng đỏ, đồng linh tinh, cho đem bán tại sở đúc tiền, không được mua bán riêng. Lại sai Giám đốc xét mấy tên chủ lò đúc ở sở công, nếu không có tư bản thời cho lãnh tiền công mua đồng, đúc thành tiền nạp vào kho, được lãnh tiền ngoại phụ.

Tháng 11, đặt miếu phu để coi sóc trong đền Lịch Đại đế vương ngạch miếu phu ấy l ấy về dân sở tại.
 
Sai các quan trấn từ Nghệ An ra Bắc, phải xét tình thế ở trấn ly, vẽ đồ dâng lên Ngài xem.
Tháng 12, tên Chiêu Nội (1) ở Trấn Ninh xin làm tôi nước ta, đem bộ hạ chạy sang xứ Trà Lân (tức là phủ Tương Dương; lúc ấy tên Xà Cương tranh lập, Nội là con Chiêu Xanh, thấy vậy không phục cho nên chạy qua nước ta). Truyền chỉ quan trấn Nghệ An phát gạo cho.

Năm Giáp Tý thứ III (1804), tháng giêng, Ngài trú tất ở Hành cung Thăng Long.

Sứ Tàu là Tề Bố Sâm đến cửa Nam Quan. Lúc trước Ngài sai bọn Lê Quang Định sang cầu phong, lại xin đổi quốc hiệu. Trong quốc thơ nói: "Mấy đời trước mở đất Viêm Giao, càng ngày càng rộng, gồm cả nước Việt Thường và nước Chân Lạp, đặt quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối hơn 200 năm. Nay tôi lấy hết cõi Nam, có toàn cả đất Việt, nên theo hiệu cũ để chánh quốc danh". Vua Tàu nghĩ rằng hiệu Nam Việt cũng giống như Việt Đông, Việt Tây (là Quảng Đông, Quảng Tây bây giờ) ý không ưng cho. Ngài đưa thơ bài bác hai ba lần; lại nói: nếu không cho đổi quốc hiệu, thời không thọ phong, vua Tàu sợ mất lòng nước ta, mới cho đặt hiệu Việt Nam. Trong thơ Tàu trả lời rằng: "Lúc trước có đất Việt Thường, đã xưng là nước Nam Việt; nay lại có toàn cõi đất An Nam, xét ra cho kỹ, thời nên gồm cả đất đai mở mang trước sau mà đặt danh hiệu tốt. Vậy thời định lấy chữ "Việt" để trên, nghĩa là tỏ nước ta giữ đất cũ mà nối nghiệp trước; lấy chữ "Nam" đặt dưới, nghĩa là tỏ nước ta mở cõi Nam Giao mà chịu quyến mạng mới (2), như thế thời danh xưng chánh đại, nghĩa chữ tốt lành, so với hai đất Việt nước Tàu khác nhau xa lắm". Lúc ấy vua Tàu sai Bố Sâm đem cáo sắc và Quốc ấn sang tuyên phong, lại cho gấm đoạn và các phẩm vật, Ngài nghe tin, cho Trương Tấn Bửu, Đặng Trần Thường sung chức quan thượng hầu mạng sứ, lại sai đình thần lựa người đẹp tiếp sứ.
Ngày Quý Mão, Ngài ngự cửa Châu Tước (3)  Hoàng Thân và các quan theo sứ Tàu vào đền Kính
Thiên làm lễ tuyên phong; lễ rồi, đãi sứ uống trà; Sâm trở về, Ngài sai quan hậu mạng hộ tống ra cửa ải.
Cho Lê Bá Phẩm sung chức Chánh sứ, Trần Minh Nghĩa và Nguyễn Đăng Đệ sung chức Giáp Aát phó sứ, đem thơ và phẩm vật sang tạ vua Tàu (200 lượng vàng, 1.000 lượng bạc, lụa và the mỗi thứ 100 cây, 2 cái sừng tê ngu, ngà voi và quế tốt mỗi thứ 100 cân). Lại dâng 2 lễ cống năm Quý Hợi và năm Ất Sửu luôn.
Ngày Tân Hợi, Ngài từ Thăng Long ngự về.
Ngày Ất Mão, ngự về tỉnh Thanh, yết Nguyên miếu.
Truyền chiếu các trấn ngoài Bắc Hà làm sổ điền. Chiếu rằng: "Ruộng thời theo sổ mà định ngạch, thuế thời tùy ruộng mà chia hạng; nếu sổ không định thời thuế không cân, không phải ý Tiên vương chia điền thổ và định cống phú như thế đâu. Các người phải biểu dân khai ruộng thu, ruộng hạ được mấy mẫu, sào, thước, tấc, tọa lạc ở nơi nào, kê khai cho thiệt để biên vào sổ".

----------------------
(1) Mường phủ Tương, phủ Quỳ tỉnh Nghệ thường gọi mấy tên đầu mục là Chiêu.
(2) Quyến mạng là mạng trời.
(3) Cửu Châu Tước, đền Kinh Thiên nguyên ở trong thành Hà Nội, đời nhà Lê làm ra.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #26 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:32:00 pm »

Định điều lệ trong hương đảng, ban cho các xã dân ngoài Bắc Hà. Chiếu rằng: "nhiều làng nhóm lại thành ra một nước, từ làng rồi mới đến nước; vậy nên Vương chánh phải lấy sự dạy dân thành phong tục tốt làm trước. Lâu nay việc dạy trễ nải, việc chánh suy đồi, cho nên trong làng không có tục tốt, theo thói  đã lâu, lại càng bại hoại lắm, như là khi yến ẩm, lễ cưới hỏi, việc táng tế, việc thờ thần phật, đều làm phá phép và tiếm lễ; mấy tên hào mục nhơn đó làm hại dân cùng, đến nỗi dân phải phiêu lưu  là vì cớ ấy. Bây giờ phải châm chước sửa lại, bớt những điều thái quá, cho hiệp đạo trung bằng, để làm lệ thường trong hương đảng. Aáy là ý ta muốn trừ bỏ điều lệ mà dắt dân lên đàng văn minh đó. Những  sự lễ tang tế thờ thần, phụng phật đều có điều cấm rõ ràng".

Khiến Chiêu Nội về Trấn Ninh. Vì Vạn Tượng đưa thơ qua nói rằng: "Người Thổ không chịu theo Xà Cương mà muốn lập Chiêu Nội" cho nên Ngài sai quan trấn Nghệ An cấp lương cho Chiêu Nội về.

Tháng 2, ngày Mậu Thình, ngự về Kinh sư. Ngài yết Thái miếu rồi vào Từ cung làm lễ khánh an.
Đặt hiệu nước là Việt Nam, lấy việc ấy cáo Thái miếu.
Đúc ấn 6 Bộ (1).
Tháng 3, từ Quảng Bình trở vào Nam trời đại hạn, truyền chỉ giảm thuế năm ấy. Sai quan Bắc thành chế cân, thước, thăng, hộc, phương; đều khắc chữ làm tin. Nứơc  Lữ Tống đói, xin đong gạo Gia Định, Ngài cho đong 500.000 cân gạo.
Dời miếu nhà Lê vào Thanh Hóa. Nguyên miếu trước ở Thăng Long; bây giờ con cháu Lê xin dời về làng Bố Vệ (2). Ngài truyền quan trấn Thanh Hóa bắt dân làm miếu lại; rồi cho 100 dân làng Bố Vệ làm miếu phu.

Ban chương trình về việc học cho các dinh, các trấn. Sai Tham tri Nguyễn Thế Trực, Quốc tử giám guyễn Viết Ưng lựa thể thưc mới về kinh nghĩa, văn sách, ban cho các trấn.

Cấp cho Thái úy quốc công Võ Tánh 200 từ phu và 300 mẫu điền, cho con là Võ Khánh coi việc tế tự.
Tháng 4, xây Cung thành và Hoàng thành, giao cho Ngài Văn Trương, Lê Chất coi việc ấy.

Sắc cầu các hiệu sách còn cất ở dân gian. Con Lê Quý Đôn là Lê Duy Thanh (Đôn người làng Diên Hà, đậu Bảng nhã đời Lê, học rộng lắm, làm nhiều sách) đem dâng 6 quyển Tạp lục và 2 quyển Quần thơ khảo bợn của Đôn làm ra.

Định lệ quân cấp công điền, công thổ (vì mấy tên hào cường chiếm đoạt phần ruộng của dân, vậy nên định từ nhất phẩm cho đến cửu phẩm và cô nhi, quả phụ phần ruộng có khác nhau cả).

Sai Lê Văn Duyệt, Lê Quang Định thúc binh dân Quảng Nghĩa làm cơ Thập kiên, dùng người Thổ trước để phòng ngự giặc Mọi.

Tháng 6, sắc bộ Lễ bàn định về việc 1015 người tử tiết được dự tế trong đền Hiển trung, giao ra các quan trấn chế bàn vị mà thờ.

Dời thành tỉnh Thanh, tỉnh Nghệ. Khi Ngài ngự Bắc tuần, xem địa thế, lựa xã Thọ Hạc thuộc huyện Đông Sơn làm tỉnh lỵ Thanh Hóa; xã An Trường làm tỉnh lỵ Nghệ An; bây giờ truyền chỉ bắt dâ làm dinh xây thành, dời tỉnh lỵ tới đó (thành tỉnh Thanh nguyên trước ở làng Dương Xá, thành tỉnh Nghệ An nguyên trước ở làng Dũng Quyết).

Tháng 8, quan tài vua Lê Chiêu Thống ở Tàu về, Ngài sai quan Bắc thành sửa sang quan tài, cấp tiền gạo cho lính hộ tống về táng tại tỉnh Thanh; quan tài các người vong thần đưa về, cũng truyền phát tiền vải cấp cho gia quyến.

---------------------
(1) 6 Bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công.
(2) Bố Vệ thuộc về huyện Đông Sơn, tỉnhThanh Hóa.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #27 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:33:14 pm »

Tinh biểu Cung nhơn vua Lê là bà Nguyễn Thị Kim. Bà Thị Kim là người huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, nghe quan tài vua Lê ở Tàu về, ba ra đưa, khóc thương lắm, rồi uống thuốc độc tự tử. Ngài sắc cho bức điển; dựng bia đá ở trong làng, trong bia có khắc 10 chữ rằng: "Khâm tứ an trinh tuẫn tiết Nguyễn Thị chi môn", nghĩa là: ban cho Nguyễn Thị Kim là người an trinh tử tiết theo vua Lê; lại cho 2 người mộ phu, 20 mẫu ruộng, giao họ Lê coi việc tế tự.

Tháng 11, Ngài nghĩ rằng: Gia Định là nơi hệ trọng miền Nam Kỳ, sai quan tỉnh phải trữ lúa thuế vào kho cho nhiều, nhưng mỗi năm chở về dâng 1.000 phương lúa ngự.

Tháng 12, truyền dụ rằng: "Các trấn đều đã đặt học thần, chỉ Quy Nhơn chưa có, nay phải lựa người mà bổ, dạy cho được nhiều học trò giỏi để chấn chỉnh văn phong". Bèn cho Đặng Đức Huy làm Đốc học Quy Nhơn, kiêm coi việc khóa hạch học trò Quảng Nghĩa và Phú Yên.

Cấp 50 tên từ phu, 75 mẫu tự điền cho con nuôi con Lễ bộ thượng thơ Ngô Tùng Châu là Tùng Quang giám thủ việc tế tự.

Quản tàu Phi long là Nguyễn Văn Thắng dâng 1 quyển toán tây và một quyển Thiên chỉ minh yếu luận.
 
Cấp tự điền cho Đinh Bạt Biểu (Thanh Hóa Chiêu thảo sứ), và Võ Nguyên Lượng (Nghệ An Chiêu thảo sứ). Lại cấp riêng tự điền 10 mẫu cho vợ ông Lượng là Hoàng Thị Hân.

Năm Ất Sửu thứ IV (1805), tháng giêng, định lệ thuế chánh hộ, khách hộ từ Quảng Bình đến Phú Yên. Chiếu rằng: "Từ khi loạn đến bây giờ, dân các địa phương đi xiêu tán khắp các nơi, mấy tên phụ hộ chịu thuế cũng như người chánh hộ, mà xã dân sở tại lại cho là khách hộ, thế là trái nghĩa: đều ở đất vua, đều làm dân vua. Nay thiên hạ đã định rồi, sổ đinh nên phải sửa lại; phàm mấy tên ở ngụ mà đã biên vào sổ tuyển năm Quý Hợi, thời cho làm chánh hộ, ruộng đất khẩu phần ngạch thuế thân thuế dung, cũng như lệ chánh hộ; còn mấy tên mới ngụ từ năm Giáp Tý về sau, thời theo lệ khách hộ mà nạp thuế".

Định lệ khám báo lúa ruộng bị tổn thương: Hễ gặp năm đại hạn, nước lụt, hoàng trùng, thời khi chưa tới mùa gặt, phụ huyện phải thân hành đi khám, quan tỉnh cũng phải ủy người tới khám, hạn trong
10 ngày, làm sách tâu tổn thương hết mấy phần cho thiệt, Ngài sẽ lượng giảm thuế cho dân. Như báo không thiệt và giấu thiên tai không báo, thời tội đồng nhau.

Tháng 2, đòi cựu thần nhà Lê là bọn Lê Duy An, Trịnh Hiến, Lý Bỉnh Đạo, Nguyễn Hữu Cung về Kinh. Bọn ấy theo vua Lê quan Tàu đã 16 năm, lắm lúc cực khổ, Ngài khen là có nghĩa, đòi vào yết kiến, cho ngồi, Ngài hỏi thăm và hậu đãi; rồi cho Hiến và Bỉnh Đạo làm Thị trung học sĩ, Cung làm Chánh cơ.

Tháng 4, đắp Kinh thành; bắt lính Kinh và binh dân các tỉnh làm việc, ban cấp tiền gạo rất hậu, tên nào có bệnh thời cho thuốc.

Định trình hạn thâu thuế: từ Quảng Bình đến Bình Thuận mỗi năm thâu 1 lần, tháng 4 khởi thâu, tháng 7 hết hạn; từ Nghệ An đến Thanh Hóa ngoại mỗi năm thâu hai lần, thuế mùa hạ thâu từ tháng 4 đến tháng 6 hết hạn; thuế mùa đông thâu từ tháng 10 đến tháng 11 hết hạn; lại sắc cho mấy người đốc trưng không được thâu ngoài lệ, trái phép thời có tội.

Tháng 5, định lệ lãnh trưng đất ruộng cho mấy tên lưu dân mới phục hồi từ Nghệ An trở ra Bắc. Chiếu rằng: "Dân các địa phương khổ vì Tây Sơn hà khắc đã lâu, nay việc binh mới xong, chưa kịp vỗ yên dân, dân đi lưu tán chưa về làng cho hết, tình cũng nên thương! Bây giờ định rằng: dân nào lưu tán từ năm Nhân Tuất về trước mà điền thổ đã cho quân lính nhận canh rồi, thời nay không cho lính cày nữa, phải để cho nó mà chờ lưu dân trở về cho nó cày, lại tha thuế và tha kén lính; nếu từ năm nay đến năm Đinh Mão lưu dân chưa về, thời điền thổ ấy cho dân làng khác ai xin lãnh trưng trước thời được, nhưng hễ năm nay vào sổ nhận trưng thời sang năm phải nạp thuế và đi lính; còn dân nào lưu tán từ năm Quý Hợi về sau, thời điền thổ hãy cho quan quân cày, chờ khi n ào dân về sẽ cấp lại, đến như sự nạp thuế và lính cũng phải chờ qua năm sau khởi hành; không được theo lệ tha co 3 năm".
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #28 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:39:17 pm »

Tháng 6, giảm biệt nạp sản vật (1) cho Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Nghĩa và Bình Định. Chiếu rằng: "xây đắp Kinh thành, dân hạng biệt nạp cũng ra làm việc. Vậy cho ngạch thuế năm nay 10 phần giảm 5, để tỏ ơn trên dồi dào, không ai không dự".

Tháng 7, truyền chỉ các quan địa phương mỗi năm đến tháng 4 phải làm sổ Chấp bằng quan lại binh đinh, cuối năm phải làm sổ Đinh điền tiêu tống, mỗi sổ làm một bản giáp và một và bản ất, y kỳ hạn đệ về Bộ duyệt (sổ chấp bằng thuộc về Bộ binh, sổ tiêu tống thuộc về Bộ hộ).

Ngài bàn việc dân với các quan rằng: "Từ Gia Định đến Kinh, đàng sá xa xôi, từ năm về sau như có mấm mùa, cho quan tỉnh phát lúa kho chẩn cấp cho dân, rồi sẽ tâu lên".

Tháng 8, truy thụy Đông cung nguyên soái quận công Cảnh làm Anh duệ Hoàng Thái Tử, lập tẩm viên tại xã Vỹ Dạ.

Cấp mộ phu, tự điền cho các ông quốc sơ công thần (Tôn Thất Khê, Tôn Thất Thiệp, Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Cảnh, đều là thượng đẵng công thần. Triều đình cho mỗi ông một tên cháu ấm thọ đội trưởng, cấp 6 tên mộ phu, 15 mẫu tử điền nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng).

Sắc Bộ Hình phải xét những án còn đồi tích lại cho đặng mau xong. Khiến các quan bàn định luật lệnh.
Tháng 9, đình thần xin lập Thái tử, Ngài dụ rằng: "Hoàng tử, Hoàng tôn còn nhỏ, ta đương giao cho Sư phó dạy biểu cho đặng thành đức, rồi sẽ lựa người hiền lập làm Thái tử, cũng chưa lấy gì làm muộn".

Tháng 10, sắc các trấn thông sức cho dân gian biết rằng: Vay nợ hạn cho một vốn một lời mà thôi, nếu người cho vay trái phép và người vay gạt nợ đều có tội.

Tháng 12, cho công thần tùng tự Thái miếu (Tôn Thất 7 người, công thần 6 người).

Năm Bính Dần thứ V (1806), tháng giêng, các quan lại xin Ngài lên ngôi Hoàng Đế. Ngài y theo, sắc Bộ Lễ lựa ngày đúc sách vàng.

Tháng 2, lập đàn Nam Giao.
Tháng 3, lập đàn Xã Tắc. Định lệ hễ đến ngày Mậu tháng 2 và tháng 8 thời tế Xã Tắc (2).

Tháng 4, truyền lựa các hệ Tôn Thất từ 8 tuổi trở lên, 12 tuổi trở xuống, ai mà chăm học, cho gia cấp lương vào trường Quốc Tử Giám học tập.

Định phẩm phục các quan văn, võ.

Ngài nghe các quan phủ, huyện bị dân kiện thời quan trên thường bắt giam lại mà hỏi, nên Ngài dụ rằng: "Phủ, huyện có chức trách trị xã dân, nếu bị dân kiện chưa phân biệt việc nhẹ, việc nặng mà đã gông cùm, làm cho nhục, vậy thời làm sao biểu suất lại dân được? Từ nay phủ, huyện như có bị kiện, quan trên đòi lên chất vấn mà thôi, hễ tình lý nhẹ thời phát lạc cho rồi, tình lý nặng thời tâu tham, không được gông trói. Nếu việc phải đòi đến, thời cấm người đi đòi không được ỷ thế lăng mạ".

Tháng 5, ngày Ất Vị, Ngài lên ngôi Hoàng Đế ở điện Thái Hòa; chuộng sắc vàng, hạ chiếu cáo khắp trong ngoài đều biết và ban 8 điều ân xá.

Định ngày triều: ngày sóc, ngày vọng thiết đại triều tại điện Thái Hòa; ngày 5, ngày 10, 22, 25 thiết thường triều tại điện Cần Chánh.

------------------
(1) Sản thuế: như thuế gỗ, thuế quế, thuế đường, thuế tơ, thuế sắt v.v...
(2) Tế thần Thái xã và thần Thái tắc. Trong sách Lễ thơ Trần Thi nói rằng: "xã tắc thần lớn trong 5 thổ thần, 5 thổ thần không có thể tế hết, cho nên tế thần Xã; Tắc là quý hơn trong ngũ cốc, ngũ cốc không có thể tế hết, cho nên tế thần Tắc. Tắc mà không có Xã thời không sinh trưởng được, Xã mà không có tắc thời không thành hiệu gì, cho nên hiệp tế Xã, Tắc là vì công lợi ngang nhau".
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:43:18 pm gửi bởi Midaxudavo » Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #29 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:42:47 pm »

Bàn đổi sổ thường hành (1) các trấn ngoài Bắc thành. Khi trước Ngài muốn làm lại sổ đinh, có bàn hỏi cựu thần nhà Lê là Nguyễn Đàng, Đàng tâu chưa có thê làm được. Đặng Trần Thường vào chầu,

Ngài lại hỏi Thường, Thường tâu rằng: "Thánh nhơn trị dân, chỉ có thể khiến nó noi theo khi việc đã thành hiệu, không có thể cùng nó bàn định khi việc mới khởi đầu; phong tục phải đổi dần dần, ấy là cội gốc trong việc chánh trị". Ngài cho là phải.

Tháng 6, truy tôn huy hiệu các Liệt Thánh và Đế Hậu.

Tháng 7, cải định lệ tha thuế cho lưu dân phục hồi từ Nghệ ra Bắc. Chiếu rằng: "Trong số lưu dân mới về đó, hễ dân nào lưu tán từ Nhâm Tuất về trước, thời tha thuế 3 năm; dân nào lưu tán từ năm Quý Hợi về sau, thời không được theo lệ ấy; vẫn trước ta đã định lệ như vậy. Nhưng lại nghĩ dân khổ vì Tây Sơn hà khắc, đến nỗi điêu hao; lại gặp tai biến nước lụt, đại hạn, dân phải phiêu lưu, thiệt là thế bất đắc dĩ! Vậy cho từ năm nay về trước bao nhiêu lưu dân đã thành ngạch, phải chiêu dụ chúng nó về nhà làm ăn; như về tại năm Aát Sửu hoặc năm Bính Dần thời thuế từ năm ấy đến năm Kỷ Tỵ đều cho tha cả; như đến năm Đinh Mão mới về, cũng tha thuế từ năm Đinh Mão đến năm Kỷ Tỵ; chớ không cần nệ theo niên hạn mà năm ngoái đã định".

Tháng 8, Xiêm La sai sứ sang dâng 3 chiếc thuyền chiến, quan trấn Gia Định tâu lên, Ngài sai sứ Xiêm về Kinh chiêm bái, rồi cấp tiền cho về.

Tháng 9, định lệ thử lúa nạp thuế: lấy một thăng lúa đổ vào nước, lúa nổi hạn trong 2 thược (2) mà thôi, hễ quá 2 thược thời không thâu, lúa ướt cũng không thâu; còn lúa thử trả lại cho dân.

Tháng 11, tha thuế thiếu cho lưu dân ngoài Bắc, khiến quan sở tại phải phủ ủy chúng nó.

Làm xong sách Nhất thống địa dư chí. Lúc trước Ngài giao cho Binh bộ thượng thơ Lê Quang Định tra xét sách sổ trong nước, từ Kinh sư phía Nam đến Hà Tiên, phía Bắc đến Lạng Sơn, bao nhiêu núi sông hiểm gì, đàng xá xa gần, giới hạn, nguồn sông, cửa biển, cho đến cầu sông, chợ, phố, phong tục, thổ sản, phải biên chép cho hết, đóng 10 quyền. Nay sách ấy thành rồi, Quang Định dâng lên Ngài xem.

Năm Đinh Mão thứ VI (1807), tháng giêng, mới bói ngày tế Giao, Khâm thiên giám phải lựa tâu 3 ngày tốt trong tháng 2; trung tuần tháng giêng Ngài sai quan sát bói trong 3 ngày ấy lựa một ngày tốt hơn (dùng tiền bạch kim thần giao, bói được một chữ sấp, một chữ ngửa là tốt): trước khi tế Giao 3 ngày và ngày chánh lễ, cấm không được làm việc hình và giết trâu bò bán thịt; từ rày định làm lệ thường.

Mấy người công thần ngày trước hầu Ngài qua Vọng Các, đến nay hoặc người chết trận, hoặc người chết bệnh, Ngài truyền chia làm 5 hạng, tùy hạng mà cấp mộ phu và tiền gạo cho vợ con, nếu con đã lớn thời cho ấm thọ một chức nhàn tản.

Tháng 2, sắc quân Bắc thành lựa hơn 100 người thợ trong các công xưởng đưa vào Kinh làm việc.
 
Truyền làm thêm 100 chiếc thuyền chiến.

Định lệ thi hương, thi hội (tháng 10 năm nay thi hương, năm sau thi hội, nhưng vì người văn học còn ít, rồi lại bàn định việc thi hội).

Quan trấn Nghệ tâu rằng: "Dân biệt nạp gỗ lim cũng có nạp long hiếp cốt, nhưng không ý thức, xin thâu giá tiền cho tiện dân Ngài cho.

Ngày Tân Mão, tế Nam Giao, thăng phối đức Thái tổ  Gia Dũ hoàng đế (3). Lễ rồi, ngự về, lại cáo trong Thái miếu như trước.

-------------------
(1) Sổ đinh nhà Lê thời người sanh thêm không kể, người chết rồi cũng không trừ, cho nên gọi là sổ thường hành.
(2) Trong một thăng chia làm 10 cáp, 1 cáp chia làm 10 thược, đem thử một thăng lúa mà chỉ có hai thược lúa nổi, thời biết lúa ấy trong 100 phần chỉ có hai phần lúa xép.
(3) Thăng phối nghĩa là rước đức Thái tổ phối hưởng cùng Trời, Đất.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Bảy, 2009, 06:13:23 am gửi bởi Midaxudavo » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM