Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:07:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 101070 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #30 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:46:11 pm »

Truyền 5 trấn phía trong Bắc thành và phủ Hoài Đức sửa lại sổ đinh: hễ đinh khẩu từ 18 tuổi trở lên, 59 tuổi trở xuống cho vào hạng thiệt nạp.

Tháng 6, gặp lễ Thánh tuần khánh tiết đức Hoàng thái hậu, mỗi trấn một ông quan văn, và một ông quan võ về chúc mừng. Con cháu Lê, Trịnh cũng xin về Kinh chầu khánh tiết. Ngài cho.

Định phép thi hương: trúng 4 trường gọi là Hương cống, trúng 3 trường gọi là Sanh đồ, đều tha thuế thân; nhưng Hương cống được ban áo, mão và ăn yến, gọi là Lộc minh yến.

Tháng 9, nước Chân Lạp tới xin thọ phong, Ngài phong Nặc Chân làm Cao Man quốc vương, định lệ 3 năm cống một lần, bắt đầu từ năm nay.

Tháng 10 mới mở khoa thi Hương, từ Nghệ An trở ra Bắc, lấy đậu Hương cống tất cả được 62 người.
 
Năm Mậu Thìn thứ VII (1808), tháng giêng, Ngài nghĩ trấn Gia Định địa thế rộng quá, giao đình
 
thần bàn việc sửa sang để cho vững vàng bờ cõi. Rồi đổi Gia Định trấn làm Gia Định thành, Phiên trấn dinh làm Phiên An trấn, Trấn Biên dinh làm Biên Hòa trấn, Trấn Vĩnh dinh làm Vĩnh Thanh trấn, Trấn Định dinh làm Định Tường trấn.

Lại sai Lê Văn Duyệt đánh giặc mọi. Lúc ấy mọi khổ vì Phó quản cơ Lê Quốc Huy nhiễu hại quá, cho nên làm phản, Duyệt xét được việc ấy, bắt Quốc Huy tâu xin chém, quân mọi liền ra đầu hàng.

Tháng 2, làm lại Văn miếu. Miếu cũ ở làng Long Hồ chật hẹp quá, bây giờ dời về làm tại xã An Ninh, để miếu cũ làm Khải thánh từ.

Tháng 5, Quảng Đức, Bình Định, Phú Yên đại hạn, ruộng tổn thương nhiều; các quan dinh đem bản án khám tâu lên, Đình thần bàn rằng; "trong 10 phần tổn 4 phần xin cho giảm thuế 2 phần, tổn 5 phần giảm thuế 3phần, tổn 6 phần giảm thuế 4 phầ, tổn 7 phần giảm thuế 5 phần, tổn 8 phần giảm thuế 6 phần, tổn 9 phần giảm thuế 7 phần, nếu tổn thương hết, thời xin tha cả". Ngài cho tổn 7 trở lên cũng tha thuế hết thảy, còn thời y như  lời đề nghị.

Các trộm cướp ngoài Bắc thành đã được bình rồi. Quan Tổng trấn xét các đạo quan quân đánh giặc trước sau hơn 30 trận, chia công trạng làm 4 hạng, làm sách tâu lên. Ngài thưởng 30.000 quan tiền, khiến quan Tổng trấn tùy hạng cấp phát, còn mà ai chết tại trận thời theo lệ cấp tiền tuất (1). Quan Tổng trấn lại tâu rằng: "Khi giặc khởi loạn, trong tỉnh Sơn Nam Hạ có 4 xã Cổ Tiết, Đồng Kỷ, An Vị, Lệ Bửu; trong tỉnh Hải Dương có 6 tổng: Cổ Trai, Kỳ Vỹ, Cẩm Khê, Phú Khê, Kinh Khê, Tử Đôi; hoặc có người thám tình thế giặc mà báo quan, hoặc có người đem lúa để giúp quân, đều có lòng hiếu nghĩa; xin gia ân thưởng để khuyên người khác". Ngài cho là phải. Lúc trước mấy bọn trộm cướp ngoài Bắc thành giả danh tôn nhà Lê, ngu dân mắc lầm cũng nhiều, Nguyễn Văn Thành sai Trần Hựu làm khúc "điểm mẽ" bằng tiếng nôm để hiểu thị cho dân, dân Bắc thành lại làm bài hát "tố khuất", trong bài ấy nói quan lại tham nhũng, đến nỗi sanh ra trộm cướp, ông Thành lại sai quan sở tại đi khắp hiểu dụ, dân tình mới an.

Tháng 6 nhuận, Ngài truyền từ nay về sau, hễ ngày sóc, ngày vọng tháng nhuận đều tha thiết triều.
 
Ngài ngự xem đào sông Dương Xuân, thưởng tiền cho biền binh.

Tháng 7, đắp đập Hà Trữ (thuộc huyện Phú Lộc), bởi vì đất ruộng gần biển, nước mặn thường trào vào ruộng, nên đắp đập để giữ, các nhà làm ruộng đều lấy làm tiện lợi.

Tháng 9, quan trấn Nghệ tâu rằng: "Trong kho những muối và cây mây còn chứa để nhiều, từ rày cho dân nạp tiền hay là vải, để thay các hạng thuế ấy". Ngài cho y.

Quan dinh Quảng Nam tâu rằng: "Dân nguồn Hữu bang, lệ cũ mỗi năm nạp 1.000 cân dầu rái; nay xin theo như lệ nguồn Ô Gia mỗi 100 cân  nạp thuế 5 quan tiền". Ngài cho.

--------------
(1) Chết tại trận, hoặc đương làm quan mà chết, thời nhà nước có cấp tiền gọi là tiền tuất.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #31 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:49:00 pm »

Tháng 10, sắc cho Hương cống được bổ Tri huyện. Lại đem những ý chỉ triều đình dùng người truyền dụ cho biết, khiến cho ai nấy đều giữ phép quan, trọng danh phận. Nhưng ban cho phẩm phục, sai lính đưa đến lỵ sở. Từ đó chức huyện lại càng được trọng lắm.

Chuẩn định cho các nha coi việc hình: từ nay về sau, phàm trọng án mà phủ, huyện kết nghĩa rồi, quan địa phương xét lại, bộ Hình thẩm duyệt, nếu ý kiến khác nhau đều cho tâu lên, Ngài sẽ xét; còn án nào tình tội hơi nhẹ, thời cho sở tại nha môn xử đoán mau phát lạc cho rồi, không được làm lôi thôi phiền dân.

Tháng 11, trấn Nghệ đói, quan trấn xin hoãn những việc bắt linh đào, xét tạp tụng và hỏi nợ tư. Ngài cho y cả, lại cho hoãn thuế ruộng thuế thân năm ấy.

Bộ Lễ tâu rằng: "Lâu nay hễ qua đầu năm thời khai bửu (1) duyệt binh; đến cuối năm thời yết lặng, lạp tế (2), hạp bửu (3); đều phải lựa ngày tốt; nay xin định ngày nào cho rõ". Ngài chuẩn định ngày 7 tháng giêng khai bửu, duyệt binh, ngày 13 tháng 12 yết lăng; ngày 24 lạp tế, ngày 25 hạp bửu. Kể từ năm sau (Kỷ Tỵ) làm đầu.

Năm Kỷ Tỵ thứ VIII (1809), tháng giêng, đặt nha Bắc thành đề chánh, cho Hộ bộ Đặng Trần Thường làm Tổng lý, tham tri Nguyễn Khắc Thiệu làm Tham lý. Nguyên khi trước Đề chánh thuộc vê tào hộ, quan Tổng trấn nghĩ rằng việc nào hộ nhiều quá, thế không kiêm có cho xiết, tâu xin đặt quan coi việc Đề chánh, nên Ngài cho Thường và Thiệu lãnh chức ấy.

Lập miếu vua Lê Thánh Tôn. Dụ rằng: "Vua Thánh Tôn phá Chiêm Thành, mở đất đến Phú Yên, đem dân vào ở, công khai thác từ đó làm đầu; lúc trước tế trong miếu các Đế vương đời xưa, là nhớ công đức Ngài vậy. Nay nên lập miếu làm nơi sùng tự, cho 18 tên dân làng Phú Xuân làm miếu phu, hễ đến ngày Nhâm mùa xuân, mùa thu, sai quan đến tế".

Bắc thành tâu: "Văm miếu ngoài Bắc, từ đời nhà Lê trở lên thời Sĩ Vương, Châu An đều được tùng tự, bây giờ xin định thế nào?". Đình thần bàn rằng: Châu An, Sĩ Vương chưa được tùng tự Văn miếu ở Kinh, các trấn nên theo như Kinh sư mới phải. Ngài y. Lại khiến bộ Lễ kê cứu việc tế tự, thời Châu An, Sĩ Vương đều đã có nhà thờ, bèn truyền chỉ chuẩn cho dân sở  tại 61 điều tên miễn diêu coi việc tế tự hai ông ấy.

Lập miếu Đô Thành Hoàng ở bên hữu Kinh thành (Chánh vị thờ Đô Thành Hoàng, bên tả thờ các vị Thành Hoàng từ núi Hoàng Sơn trở vô, bên hữu thờ các vị Thành Hoàng từ Nghệ An trở ra), cho 15 tên dân Phú Xuân làm miếu phu.

Tháng 3, cho Tham tri bộ lại Nguyễn Hữu Thận làm Chánh sứ, sang Tàu dâng hai lễ cống năm Đinh Mão và năm Kỷ Tỵ.

Tháng 4, đắp đàng quan các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận và Khánh Hòa. Ngài nghĩ đàng cũ quanh co, khiến Nguyễn Hoàng Đức, Lê Chất giăng dây cho thẳng, bắt dân sửa lại; nhưng hoãn việc trưng binh, đình việc tạp tụng; chỗ nào có mồ mả thời cấp tiền cho dân dời đi chỗ khác, và trồng cây hai bên đàng.

Phạm Như Đăng vào chầu, dâng sớ nói hết việc lợi hại ngoài dân, xin theo phép tuần thú ngày xưa, nhơn việc ấy mà xét địa phương, xem phong tục, dấy việc lợi, bỏ việc hại, để làm cho sĩ dân tai nghe mắt thấy oai nghi trên Triều đình, dốc chí bền lòng trung nghĩa với Nhà nước, khiến trong thiên hạ ai cũng biết lượng Thánh Hoàng thương dân trong ngoài như một. Đăng đã tâu việc ấy rồi, lại nhơn điều trần 12 việc: 10 mở tòa Kinh diên (4) để giảng sách; 20 mở khoa thi để lựa nhơn tài; 30 bàn việc hình ngục;
40  xử trọng án; 50  đặt Đô sát viện ngự sử xét việc ngoài Bắc thành; 60  cấp ruộng lương cho lính giản


--------------------
(1) Ấn vua gọi là bửu, khai bửu là đóng ấn.
(2) Lạp tế là tề về tiết tháng Chạp.
(3) Hạp bửu là niêm ấn lại.
(4) Kinh Diên là nơi Hoàng Đế đọc sách
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Bảy, 2009, 06:14:22 am gửi bởi Midaxudavo » Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #32 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:51:30 pm »

ngoài Bắc; 70 lựa nghĩa binh; 80 trọng dân lực; 90 trưng tô thuế; 100 khám xét lưu dân; 110 chiêu tập lưu dân; 120 nghiêm phòng các bến tàu và các cửa ải. Sớ dâng lên, Ngài khen lắm.

Rước Tử cung (1) đức Duệ Tôn hoàng đế ở Gia Định về. Ngài toan ngự vào Quảng Nam đi đón, cho nên truyền dụ dân Quảng Nam rằng: "Quảng Nam gần Kinh đô, Triều đình cho là quận chân tay (2), từ lúc khôi phục Kinh thành đến bây giờ, ta chưa đi tuần hành, nên dân tình u uẩn, chưa biết cho hết; nay Tử cung đức Duệ Tôn ở Gia Định về, ta sẽ đem các quan đi rước; vậy nên sai quan Đại thần đi trước vào xứ chúng mầy, dân có điều gì oan uổng, cho làm đơn kêu, Đại thần sẽ duyệt tâu lên, để cho biết rõ tình ngoài dân gian. Khi nào ta ngự tới, quan quân và dân không được dâng đồ chi hết".

Tháng 6, ninh thổ Tử cung đức Duệ Tôn tại lăng Trường Thiệu (ở núi La Khê).

Định trình hạn nạp thuế sản vật ngoài Bắc thành: mỗi năm 2 hạn, từ tháng 2 đến tháng 6 làm một hạn, tháng 7 đến tháng 12 làm một hạn. Lại cấp mộc triện cho Tổng trưởng và Xã trưởng để làm việc quan lấy đó mà chất nghiệm.

Tháng 7, ba huyện thuộc về Quảng Trị thường có hổ hoạn, truyền chỉ đem 200 dân làng Phú Bài và làng Thủy Ba ra đó bắt cọp.

Tháng 8, định điều lệ thuế buôn Hà Tiên, Xiêm La, Hạ Châu.

Tháng 9, ban điều lệ Đề chánh ra Bắc thành. Ngài lưu ý về việc phòng giữ nước lụt, nên khi trước đã truyền chỉ quan Tổng trấn tham chước việc cũ tâu lên, rồi lại sai Đình thần phúc nghĩ; nay mới định thành điều lệ ban ra thi hành.

Bắc thành bị bão, nước biển tràn lên, Hai Dương, An Quảng và Sơn Nam Hạ lại càng hại lắm; quanTổng trấn tâu lên và xin phái người khám sát sẽ bàn việc chẩn cấp. Ngài xuống chiếu rằng: "Chờ khám rồi mới phát chẩn, lấy gì mà cứu cấp nạn cho dân!". Bèn sai Đặng Trần Thường, Phạm Như Đăng xét tai nạn nhẹ nặng thế nào, truyền quan trấn sở tại phải đem lúa kho phát chẩn cho mau.

Tháng 11, định điều lệ trị tội kẻ cướp: phàm hai lần ăn cướp đều lấy được của, hoặc trong hai lần chỉ có một lần lấy được của, thế là cố phạm, cho quan trấn lập tức đem chánh pháp rồi sẽ tâu lên, nếu hai lần đều chưa lấy được của và mới ăn cướp một lần mà lấy được của, thời phải tâu lên chờ chỉ.

Mới đặt Thượng thơ 6 Bộ: Lê Quang Định làm Thượng thơ bộ Hộ, Trần Văn Trạc Thượng thơ bộ Lại, Đặng Đức Siêu Thượng thơ bộ Lễ, Đặng Trần Thường Thượng thơ bộ Binh, Nguyễn Tử Châu Thượng thơ bộ Hình, Trần Văn Thái Thượng thơ bộ Công; còn Phạm Như Đăng làm Thượng thơ bộ Hình nhưng lãnh việc tào hình Bắc thành.

Tháng 12, quan Trấn thủ Hà Tiên là Mạc Tử Thiêm mất. Tự khi Mạc Tử Thiêm dâng đất Hà Tiên đến bây giờ, triều đình nhớ đến công lao, cho con cháu đời đời làm trấn thủ Hà Tiên. Đến khi Thiêm mất rồi, con là Công Tài, Công Thê còn nhỏ, cháu là Công Du vì tội bắt vợ hầu Thống chế Phạm Văn Triệu bán cho người Xiêm, bị giao đình nghị; Ngài bèn truyền chỉ Chánh đội Ngô Y Nghiễm, Tham luận Lê Tấn Giảng quyền lãnh trấn Hà Tiên; Âm thọ Công thê làm Chánh đội để coi việc tế tự và cho 53 tên mộ phu. Ngài lại truyền quan Tổng trấn Gia Định đem việc Công Du báo với Xiêm, Xiêm xin tha tội Công Du, mà cho tập chức Trấn thủ, Ngài không cho, truyền bộ Lại viết thơ trả lời cho Xiêm, Xiêm tiếp được thơ, không dám xin nữa.

Giảm thuế điền mùa thu cho 5 trấn phía trong Bắc thành. Vì các trấn ấy bị đại hạn hoặc bị gió bão, nên giao bộ Hộ chiếu lệ tổn thương mà giảm thuế điền.

Năm Canh Ngọ thứ IX (1810), tháng giêng, dân Bắc thành đói. Khi trước quan Tổng trấn báo đại hạn và nước lụt, Ngài truyền đình việc bắt lính và tạp tụng, bãi việc làm xâu; lại giao quan Tổng trấn bàn


---------------
(1) Tử cung là quan tài.
(2) Quận chân tay nghĩa là gần Kinh thành.
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #33 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:53:16 pm »

việc cứu  hoang (1). Nguyễn Văn Thành dâng sớ xin cho dân vay hoặc phát chẩn để cứu dân đương lúc tai biến; lại xin cấm không được lựa tiền tốt, xấu, để cho thông dụng. Ngài y cho.

Định ngôi thứ các công thần: 4 người Khai quốc công thần; 114 người Trung tiết, công thần; 258 người Trung hưng công thần.

Tháng 2, đắp đập Kim Đôi và đập An Xuân, vì nước biển hay trào vào ruộng.

Lập lại ngạch lính cũ trong Gia Định, tha thuế thân cũng như mấy người đương ở lính. Dụ rằng: "lính cũ Gia Định, đi trận khó nhọc đã lâu, nay tuy về làm dân, mà có việc lại ra làm lính, không nên đãi chún nó như hạng dân mới phải".

Tháng 3, phát chẩn thêm cho dân đói Bắc thành 50.000 phương lúa. Quang Tổng trấn lại tâu: "Cửa sông Thiên Đức ngăn lấp, hay bị nước ngập; đàng đi sứ qua tỉnh Lạng Sơn, thời thú rừng rậm rạp, xin bắt dân đói đào sông dọn đàng, mỗi ngày phát cơm cho ăn". Ngài y cho.

Đặt thêm lính trạm từ Quảng Bình đến Bình Thuận, mỗi trạm 100 tên, tha khỏi đi lính giản, khỏi làm việc quan và tha thuế thân, cũng như quân hạng.

Nguyễn Văn Thành ở Bắc thành vào chầu, nhơn có tang mẹ, xin táng ở Bắc Hòa. Ngài ban rằng: "con cáo lúc chết, trở đầu vào gò, thế là lễ vậy. Tổ quán của khanh ở Bác Vọng phủ Triệu Phong, sao mà không táng ở đó?". Văn Thành lạy xin thọ mạng.

Tháng 4, Nguyễn Hữu Thận ở Tàu về, dâng một quyển Đại lịch tượng khảo thành thơ và tâu rằng: "lịch vạn toàn nước ta  và sách Đại Thanh thời hiến bên Tàu, đều theo lịch đại thống nhà Minh (2), hơn 300 năm chưa hề sửa lại, càng lâu lại càng sai lắm; đời Khương Hy nước Tàu, mới tham dùng phép lịch Thái Tây, làm ra quyển lịch nầy, mà sách nầy tuy xét sổ tinh tường hơn sách Đại thống, phép tam tuyến bát giác lại tinh xảo lắm. Xin giao học trò Khâm thiên theo lịch nầy để khảo cứu làm phép lịch, thời biết đúng độ số trời mà nhằm tiết hậu". Ngài cho là phải.

Tháng 5, Ngài nghĩ các trấn ngoài Bắc, năm nào cũng đói, truyền chỉ hoãn thi Hương năm nầy. Từ đó rồi cứ 6 năm thi một khoa.

Định thuế người Tàu mua gỗ lim. Lúc trước cấm người Tàu mua gỗ lim, có một tên thuyền trưởng Quảng Đông vào cửa Hội (Nghệ An) xin buôn bán, quan trấn tâu lên, Ngài truyền chỉ cho thông thương không cấm, nhưng tăng thuế xấp hai; sừng tê, ngà voi thời 20 phần đánh thuế một, gỗ lim 10 phần đánh thuế một.

Giặc Tàu ô trốn ngoài biển thuộc hạt phủ Cao, phủ Liêm, phủ Quỳnh và phủ Lôi (đều về hải phận Tàu); quan Khâm Châu đưa thơ qua Bắc thành xin nhờ đem quân đón đánh. Việc tâu lên, Ngài sai Nguyễn Văn Hạnh đem binh thuyền đến Châu Vạn Ninh, đảng giặc tới xin đầu hàng quân ta; Ngài truyền quan Bắc thành đem quân giặc giao cho quan Khâm châu.

Tháng 6, Trung quân Nguyễn Văn Trương mất, Văn Trương là Khai quốc nguyên huân, tặng chức Thái bảo, Thụy Trung dõng, ban cho một cái quan tài gỗ giáng hương và 1.000 quan tiền. Ngày táng ông Trương, Ngài ngự thuyền rồng đi đưa tại sông Hương Giang. Lại cấp cho 10 tên mộ phu (năm Minh Mạng thứ 5 cho tùng tự Thái miếu, phong Đoan Hùng quận công).

Tha tạp thuế cho trấn Hà Tiên. Lúc trước Hà Tiên không có ngạch thuế, Mạc Tử Thiêm mới thâu thuế mổ heo, thuế nha phiến và thuế cờ bạc; Ngô Y Nhiễm lại chia thuyền buôn làm 3 hạng mà đánh thuế. Đến lúc Tống Phúc Ngoạn ở Xiêm về, tâu nói tệ đánh thuế trong Hà Tiên, Ngài liền xuống chiếu tha hết các thuế, dân vui mừng lắm.

-------------------
(1) Cứu hoang là cứu dân khi mất mùa.
(2) Minh là tên nước Tàu.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #34 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:54:38 pm »

Lựa thêm 600 lính huyện Tống Sơn bổ vào vệ Thị nội Tín oai, để làm việc trong Nguyên miếu (1) hoặc đòi về Kinh chầu chực.

Tháng 8, ban thước Kinh đạc điền cho các trấn trong ngoài. Thước ấy nhà Lê chế ra, dân gian thường dùng đã lâu. Đến năm Gia Long thứ 5, mới dùng thước trung bình; thước trung bình nầy hơi dài, vì thế số ruộn sai nhiều. Ngài sai tìm thước Kinh, tìm được tại dân làng Cổ Linh, huyện Gia Lâm; rồi theo thức chế ra thước đồng, ban cho các dinh trấn. Mấy sở ruộng công, ruộng tư trước đã đo đạc bằng thước trung bình rồi, thời nay phải làm sổ để lại mà tra cứu; từ nay về sau, nếu có việc tranh địa phận, cáo giác ẩn lậu điền thổ và báo khai khẩn ruộng đất, đều phải dùng thước Kinh mà đo.

Ban sắc thần. Bộ Lễ bàn nên gia tặng cho Đế vương và Hậu phi ngày xưa. Ngài truyền rằng: "lịch đại Đế vương đã định danh vị rồi, nếu lại ban tặng thêm thiệt là trần độc quá. Truyền các xã dân cứ thờ như cũ; còn như thần Thượng đẳng, Trung đẳng, Hạ đẳng thời gia tặng ban sắc".

Tháng 9, khiến các trấn trong Gia Định phải lập hương binh; lại sai quan Tổng trấn làm đồ khí giới chế thuốc súng và giữ gạo lương để phòng binh nhu. Vì lúc ấy Chân Lạp cùng Xiêm hiềm khích với nhau, Gia Định gần thành Nam Vang, phải phòng giữ trước.

Tháng 10, sai Đô thống chế Lê Văn Phong, Nguyễn Văn Trí, Chưởng cơ Nguyễn Văn Giám đem quân tuần phòng ngoài bờ cõi; xuống chiếu truyền quan trấn Gia Định là Nguyễn Văn Nhơn chia ba đạo quân đến phòng giữ xứ Tân Châu, như Chân Lạp có việc gì, phải tới thành La Bích mà cứu.

Nguyễn Văn Thành tâu 4 điều phong sự: 10 thuộc lại các điạ phươmg, lệ định thường cho dân ngoại tịch, nên nhiều tên không có căn cước, hay bỏ việc trốn về; xin từ nay mà khuyết thuộc lại, không kể tội nội tịch, ngoại tịch, hễ ai có sản nghiệp mới được bổ; 20  mỏ đồng ngoài Bắc thành, thời xứ Tụ Long nhiều hơn, từ khi cấm không được lấy đồng Tụ Long đến bây giờ, dân thường thiếu tiền; xin khai khoản ấy lấy đồng để cho của nhiều, dùng đủ, cũng là một các sanh tài; 30 thuế lệ cửa ải, bến tàu đã định ngạch rồi, nhưng tôi có nghe sở tại lạm thâu nhiều; xin thân minh điều cấm, đừng cho làm hại mấy người buôn bán; 40 năm trấn phía trong Bắc thành đã bỏ sổ thường hành rồi, còn 6 trấn phía ngoài và trấn Thanh, trấn Nghệ chưa bỏ sổ thường hành; nay xin sửa lại cho y như một. Sớ dâng lên, Ngài giao Đình thần bàn, để mà thi hành.

Định lệ canh trưng, ruộng đất lậu: hễ điền thổ đã cày mà chưa nạp thuế, thời cứ kể năm phát giác làm đầu, biên vào sổ mà khởi trưng, lại phải xét lậu một năm hay là hai ba năm, tính năm truy thu tô thuế, như lậu bốn, năm năm trở lên, cũng chỉ lấy ba năm làm hạn. Còn điền thổ ẩn lậu đó, ai trưng trước thời được nhận trưng, nếu không có ai trưng, thời điền thổ tư giao cho chủ, điền thổ công giao cho dân, theo lệ canh trưng.

Tháng 12, khai mỏ kẽm tại xã An Lãng trấn Hải Dương.

Năm Tân Vị thứ X (1811), tháng giêng, khiến Đình thần soạn định luật lệ, cho Nguyễn Văn Thành sung chức Tổng tài (đến khi bộ luật làm rồi; cả thảy 398 điều, 22 quyển).

Bãi hương binh Gia Định cho về cày ruộng.

Tháng 2, dân Bắc thành trốn thuế nhiều lắm, quan Tổng trấn cho là vì phủ, huyện không hết lòng thôi đốc, xin giam trị tội. Ngài truyền rằng: "huyện lệnh là quan thầy dân, làm nhục phủ, huyện không phải phép, thời dân quan chiêm sao đặng?". Ngài không cho.

Mới đắp đê An Lăng thuộc trấn Sơn Tây.

Đòi Mạc Công Du, Mạc Công Tài về Kinh, cho con cháu bọn ấy cả thảy 50 người dự hạng miễn diêu.
Khi trước Nặc Chân giận Xiêm, nhưng ỷ có nước ta bảo hộ; đến khi nghe sứ Xiêm sang nước ta,
 
Nặc Chân tưởng rằng ta giao hiếu với Xiêm, sợ lắm; Ngài khiến Đình thần làm thơ đưa cho Nặc Chân, trong thơ kể hết những lời sứ Xiêm vấn đáp với ta, để cho Nặc Chân an tâm. Lại gặp lúc Xiêm có tang

--------------
(1) Nguyên miếu là miếu Triệu Tường ở làng Quý Hương, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #35 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:55:17 pm »

Phật Vương, Ngài dụ Chân phải sai sứ sang Xiêm hội táng, kết nghĩa giao hiếu; Chân được thơ mừng lắm, dâng biểu trần tạ.

Tháng 3, sai Chưởng cơ Tống Phúc Ngoạn sung chức Chánh sứ sang Xiêm, Ngài sai bộ Lại làm thơ đưa qua Xiêm nói việc khu xử nước Chân Lạp. Sứ Xiêm cũng xin về nước, Ngài ban thưởng hậu lắm, cho về luôn với sứ ta.

Quan trấn Nghệ An tâu rằng: "châu Trà Lân và châu Quy Hiệp ở về thượng du, khi có việc quan, báo tin tức gì, phải tất do đàng ấy, xin đặt mỗi châu một quan trấn thủ coi việc thâu thuế và báo tin tức cho mau". Ngài cho y.

Tháng 4, Quảng Đức Cơi bộ là Lý Gia Du giám đốc sở đúc tiền ngoài Bắc thành và coi các mỏ đồng, mỏ kẽm, Gia Du tâu rằng: "nhà Lê lập ba sở đúc tiền, thường đúc luôn luôn, cho nên thừa tiền tiêu, đến đời Tây Sơn đúc không phải phép, tiền mỗi ngày một ít, giá lúa hạ mà dân chịu đói, lụa vải rẻ mà dân chịu rét; nay nhờ có Thánh minh soi xét, cho mở trường đúc tiền, cho dân được phép đúc tiền kẽm, nhưng mấy người đúc tiền, nhà giàu thì ít, tay không thời nhiều, mua đồng, mua kẽm, nhà giàu phần nhiều mua được giá hạ, mấy người tay không phải mua giá cao. Vả lại lấy tiền mới đổi tiền cũ, thời lúc thâu lúc phát, mấy tên tư lại thường hay sách nhiễu; vì cớ ấy cho nên người ta không dám đúc tiến. Xin từ nay về sau, hễ mua bán đồng, kẽm,  thời quan định giá, để cho vật giá không đến nỗi cao hạ; đã đúc thành tiền, cho đem ra tiêu dùng. Như thế thời người ta giành nhau mà đúc, tiềng càng thêm nhiều". Ngài y cho, kiến lập thêm sở đúc tiền, sức cho dân biết rằng: ai có đồng, kẽm, phải nạp cho Nhà nước, sẽ theo quan giá trả tiền, cấm không được mua bán riêng.

Tháng 5, Đặng Trần Thường, Nguyễn Gia Cát có tội, bắt giam trong ngục. Vì lúc ấy Thanh, Nghệ, Bắc thành có dâng sự tích bách thần, trong số ấy có đem lầm Trịnh Tướng, Hoàng Ngũ Phúc cũng dự vào, Ngài giao xuống đình nghị rồi Thường và Cát đều phải án giam hậu.

Tháng 6, bàn làm Quốc triều thiệt lục, đòi Phạm Thích, Nguyễn Đàng, Trần Toản làm Biên tu sử; và hạ chiếu cầu những sự tích cũ. Lại ban chiếu cho các trấn từ Quảng Bình trở vào phải tìm kiếm việc cũ từ năm Quý Tỵ trở xuống, năm Nhâm Tuất trở lên; hễ có quan hệ việc nước mà đã biên chép thành sách rồi, cho đem tới quan Sở tại mà nạp; mấy người kỳ lão mà có ai nhớ việc cũ, thời quan sở tại phải mời đến mà hỏi, rồi biên chép cho kỹ, tâu lên ngự lãm. Ngài sẽ xét xem trong lời nói như có thể chép vào sử được, thời sẽ ban thưởng, nếu có việc gì phạm đến kỵ húy cũng không làm tội.

Bàn làm sách sử nhà Lê; chiếu cho các trấn Bắc thành rằng: "Ai mà thâu lục sự tích nhà Lê và Tây Sơn, thời đem sách dâng lên". Tự đó ai có sách cất trong nhà, đều đem ra dâng.

Định chương trình xét công các phủ, huyện. Ngài nghĩa rằng: phủ, huyện là chức thân dân, phải phân biệt kẻ hay người dở; hay thời tăng, dở thời giáng, để cho biết khuyên biết sợ. Bèn định lệ ba năm xét một lần, hai lần xét làm một khóa, kể từ năm Gia Long thứ 7 làm đầu; các thượng ty địa phương phải thông tính công việc phủ, huyện trong 3 năm, ai mà xử các án đều nhằm tình lý là bậc thượng khảo; ai mà trong 10 phần xử nhằm được 8, 9 phần cũng là bậc thượng khảo; trong 10 phần xử nhằm được 6, 7 phần là bậc trung khảo; còn ai xử đoán phải ít sai nhiều và tuy rằng phải nhiều mà có sai một cái án thất nhập (1) là bậc rốt; đều phải phân biệt tâu lên để chờ chỉ. Từ năm nay về sau, hễ đến cuối năm phải kê biên các án đã xử đoán rồi để đến hạng 3 năm sẽ xét công; chỉ có người nào chánh trị xuất sắc, thời cho đem lên tâu ngay, không kể niên khóa.

Tháng 7, Hiệp trấn trấn Nghệ An là Ngô Nhơn Tĩnh vào chầu. Tĩnh thường dâng sớ về Kinh tâu các việc ngoài dân, Ngài cho. Khi vào chầu, Nhơn Tĩnh tâu hết tình trạng điêu háo trấn Nghệ, lại xin hoãn thâu tiền lúa lưu khiếm từ năm Nhâm Thân trở lên; và sản thuế biệt nạp như là vải trắng, dầu, nếu chưa nạp đủ, thời xin cho nạp tiền. Ngài cho y. Nhơn Tĩnh đã ở Kinh hơn một tháng, rồi lại về tỉnh.

Tháng 8, Kinh sư bị lão (gió từ giờ Vị đến giờ Sửu), nước lên hơn ngày thường 8 thước, nhà cửa hư nhiều. Ngày truyền đội Tiểu sai hội đồng với quan dinh Quảng Đức, đi ra các huyện khám xét tình trạng tâu lên. Bao nhiêu thuyền chở thuyền buôn bị chìm, đều cấp tiền tuất. Các hạt Trị, Bình, Nam, Ngãi

----------------
(1) Thất nhập là tội nhẹ làm nặng.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:05:21 am gửi bởi Midaxudavo » Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #36 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:06:19 am »

cũng có bị bão. Ngài sắc cho các dinh ấy như có thiếu thuế và binh đinh nào tử, đều cho hoãn trưng một năm; các việc tạp diêu, tạp tụng, thổ mộc mà không cần lắm, đều cho bãi hết.

Cửa Tư Dung lở (lở rộng đến 27 trượng 5 thước, sâu 7 thước).

Cho Quản đạo Kiên Giang Trương Phúc Giáo làm Trấn thủ Hà Tiên, Định Tường Ký lục Bùi Đức Mân làm hiệp trấn. Ngài nghĩ rằng: Hà Tiên là một chỗ quan yếu, hai người ấy biết rõ biên tình, cho nên Ngài bổ qua trấn ấy. Bọn Phúc Giáo đến trấn chánh sự khoan giản, không làm phiền nhiễu; chỉnh đốn trại quân, chiêu tập lưu dân, lập trường học, khạ3n ruộng hoang, sửa sang phố chợ, phân biệt người Nam, người Tàu, người Cao Man và người Đồ Bà, người nước nào thời ở chỗ nấy; thành một nơi đô hội lớn trong Nam Kỳ.

Tháng 9, ngày Bính Tuất, đức Hoàng thái hậu se. Trước khi ấy có sao chổi mọc, đức Hoàng thái hậu buồn, daỵ rằng: "Sao chổi mọc ra đó, nên ứng vào mình ta!". Đến bây giờ đức Thái hậu se, buổi mai buổi chiều Ngài thường hầu luôn. Ngày Kỷ Sửu đức Hoàng thái hậu băng, thọ 74 tuổi. Đình thần xin từ tam phẩm sắp lên đều phục một năm. Ngài cho phục 3 tháng; Công chúa hạ giá rồi thời để phục kém Hoàng nữ một bậc; Ngài phục trong 3 năm tại trong cung; lệ triều hội tháng ấy đều tha hết; Ngài chỉ ngự tiền điện xem việc quốc chánh.

Tháng 10, Bình Định, Phú Yên lụt to, trại lính và nhà cửa dân gian đều trôi mất hết, cũng có người chết đuối. Ngài sai vệ úy Tôn Thất Bình, tham tri Nguyễn Hữu Thân đi vào phát chẩn. Vào tới nơi thời quan trấn Bình Định là Vương Văn Học đã đem muối gạo phát chẩn rồi. Ngài khen lắm.

Truyền các địa phương phát chẩn không nên chờ báo, nhưng mất mùa và điền hòa tổn thương thời tâu trước.

Tháng 11, Ngài bàn dân tình và lại tệ với các quan. Dụ rằng: "thương trâu trước phải trừ loài hại trâu, thương dân trước phải trị kẻ hại dân". Sắc các địa phương đến khi thâu thuế, quan dinh quan trấn phải có một người ngồi thâu, để nghiêm cấm mấy tên coi kho không được lưu nan yêu sách; ai mà làm hại dân, thời giết không tha.

Quan Bắc thành tâu rằng: "các chỗ quan, tân, thuộc về Cao Bằng, Thái Nguyên, đời đời nhà Lê đã định sở rồi. Từ khi Tây Sơn đặt thêm nhiều sở tại để thâu thuế cho nhiều, người buôn lấy làm khổ lắm". Ngài giao đình nghị, hễ Tây Sơn đặt thêm sở nào thời bớt hết. Từ đó người buôn mới khỏi cực.

Tháng 12, Võ Trinh dâng lên các thể lệ làm sử. Ngài cho Nguyễn VănThành sung chức Tổng tài, Phạm Như Đăng làm phó Tổng tài. Nguyễn Văn Thành dâng sách Võ bị chí và sách Tứ di loại chí, Ngài đều giao Thị thơ viện thâu cất.

Nước Vạn Tượng sai Sứ sang cống; nhơn đưa 30 tên lính đào về nước ta. Ngài hạ chiếu khen Vạn Tượng có lòng thành thiệt.

Năm Nhâm Thân thứ XI (1812), tháng giêng, thân định điều lệ cấm không được chở lậu và mua tư những đồ đồng, kẽm.

Cho Tham tri bộ Hộ Nguyễn Hữu Thận kiêm quản việc toà Khâm thiên giám; Thận tinh thiên văn và lịch học; lúc sang sứ Tàu, học được phép làm lịch lại càng thêm tinh. Ngài thườn bàn thiên văn với Thận, khen lắm.

Tháng 3, em Nặc Chân (vua Chân Lạp) là Nặc Nguyên đem lính Xiêm sang cướp thành La Bích, Nặc Chân bỏ thành chạy sang Nam Vang, dâng biểu xin viện binh, Ngài dụ rằng: "Anh em chúng mầy không hòa với nhau, để nỗi sanh điều lo lắng, ta đang nghĩ xử trí để làm cho yên Nhà nước nầy, mầy cũng phải tự cường để yên dân mầy, hễ nhơn tâm yên, thời mầy sẽ có ngày về nước".

Tháng 5, xuống chiếu năm sau là năm Quý Dậu sẽ mở khoa thi hương, cấp lương nhật trình cho học trò đi thi.

Tháng 6, mấy tên mật thám ở Gia Định đều nói Diến Điện đánh Xiêm, Xiêm phải rút binh về; Nguyễn Văn Nhơn tâu lên Ngài biết, Xiêm sai bọn Sạ Trật đem dâng đồ hương liệu và dâng thơ nói rằng: "Anh em Nặc Chân không hòa hiệp, nên phải sai trọng thần sang giữ, ấy là muốn cho anh em nó khỏi
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #37 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:07:04 am »

tranh nhau, chớ nước Xiêm tôi không có ý gì". Đòi Sứ Xiêm vào, Ngài quở rằng: "nước mầy vô cớ đem quân sang đóng đất Chân Lạp, làm cho Nặc Chân phải chạy; Chân Lạp đời đời thần phục nước ta, nếu có việc gì, ta cũng phải cứu. Mầy về nói với vua mầy rằng: Nặc Chân rồi cũng trở về, vua mầy chớ dối ta, mà cũng đừng làm lo cho Nặc Chân, thế mới phải nghĩa hậu nước láng giềng, thương nước nhỏ mọn".

Sai các dinh trấn, phải lựa trong các tổng người nào học giỏi mà tuổi hơn 50, cho làm chức Tổng giáo để dạy lớp sơ học. Bắc thành xin cử mấy người 40 tuổi, Ngài y cho.

Nguyễn Văn Thành tâu 4 điều phong sự: 10 xin lập Thái tử và phong tước cho các Hoàng tử để định nhơn tâm; 20 xin Ngài ngự lãm sách luật rồi khắc ban ra cho rõ phép nước; 30 xin lựa nho thần sung bổ Sử cuộc; 40 xin chế phục các nước phiên quốc để yên bờ cõi. Ngài đều khen phải.

Đòi Nguyễn Văn Nhơn về, cho Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định. Trương Tấn Bửu làm phó Tổng trấn. Duyệt vào chầu xin đi, Ngài ban dụ sang công việc trong Nam Kỳ. Duyệt đến Gia Định, rõ lập điều cấm, cho nên không có trộm cướp, dân được yên ổn. Duyệt và Ngô Nhơn Tĩnh, Trương Tấn Bửu dâng sớ tâu: "khi trước có việc biên phòng, nên phải mộ thêm hương binh, ấy là quyền tạm một lúc, không phải thành lệ. Nhưng nhơn tình nghi sợ, thường hay giấu giếm cho nhau, tập thành thói quen, xin phải trừ tệ ấy. Vả chăng, đội trời đạp đất, ai cũng dâng vua; trong thiên Châu Quang có nói rằng: mỗi hạng dân phải cho ở phân biệt; đều là trọng việc dân chánh. Xin truyền cho sở tại biết rằng mấy tên đinh đã đến tuổi, phải biên vào sổ, ai có tình nguyện bổ sung số quân các nha các cơ và các đội thuyền, thời quan Thượng ty các sở ấy phải cứu xét biên tên vào sổ cho khỏi ghi lậu và xét trá mạo cho dễ". Ngài cho là phải.
Tháng 9, tha lệ cống năm ấy cho nước Chân Lạp, chờ vua nước ấy về nước rồi sẽ theo lệ cống. Tháng 10, trời không mưa đã lâu, Ngài lo lắm, truyền cho hoãn trưng thuế thiếu một năm cho
các địa phương; lại khiến hình nha xét những tù phạm, thân kẻ oan uổng và hạ chiếu cầu trực ngôn. Mới
hạ chiếu ngày Đinh Vị, mà ngày Canh Tuất trời mưa.

Định lệ thanh tra các trấn. Ngài nghĩ tiền lúa thâu vào phát ra, thiệt là quan hệ quốc khóa lắm, để lâu ngày thời khó xét. Giao cho bộ Hộ chước định điều lệ, 3 năm một khóa, sai quan sát hạch. Bốn dinh thuộc về Trực Kỳ và Quảng Nghĩa, Thanh Hóa, Nghệ An, Thanh Bình thời cứ năm Thìn, năm Tuất, năm Sửu, năm Vị là khóa thanh tra; mà kể từ năm Giáp Tuất làm khóa đầu; bốn trấn Gia Định, Bình Thuận, Bình Hòa, Phú Yên, Bình Định thời cứ năm Dần, năm Thân, năm Tỵ, năm Hợi là khóa Thanh tra, mà kể từ năm Thân này làm khóa đầu; các trấn Bắc thành thời cứ năm Tý, năm Ngọ, năm Mão, năm Dậu là khóa Thanh tra, mà kể từ năm Quý Dậu làm khóa đầu.

Định điều lệ về các sở quan, tân ngoài Bắc thành và Thanh Nghệ .

Mới đúc thứ bạc đính nặng một lượng để phòng khi gặp số lẻ thâu vào phát ra cho tiện; ban cho thiên hạ tiêu dùng.

Định giá vàng ngoài Bắc thành; một lượng vàng giá 10 lượng bạc; vàng của dân đổi lấy vàng công, phải nạp một quan tiền đóng dấu.

Tháng 11, Ngài truyền rằng: "Từ nay về sau, phàm các quan dinh trong ngoài và thợ các sở, có việc về Kinh, hoặc đổi ban về, hoặc sai đi việc quan, thời bộ Công, bộ Binh phải cấp tiền thẻ "Yêu bài". Lại khiến từ dinh Quảng Đức trở vào Gia Định, trở ra Bắc thành, mỗi dinh trấn phải lập một sở "Dưỡng tế", nếu lính và thợ đi đàng có bệnh hoạn gì, xét trong mình nó có Yêu bài, thời cho vào sở Dưỡng tế thâu dưỡng, hễ tên nào chết, thời cấp tiền vải chôn cất".

Tháng 12, định điều lệ thôi khoa.

Năm Quý Dậu thứ XII (1813), tha thuế thiếu cho các trấn: Từ năm Gia Long thứ 7 trở lên, dân các trấn nạp thuế còn thiếu tiền, lúa hoặc thổ sản gì, nay đều tha cả. Nhưng ai có lấy của công hoặc mấy người giữ kho lấy của kho thời không tha.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #38 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:08:47 am »

Truyền các quan trấn thủ (1)  phải đo cửa biển, chỗ nào sâu, cạn, rộng, hẹp, mỗi năm đến mùa xuân, mùa đông vẽ bản đồ dâng lên, bộ Công phải đem đồ bản ấy giao cho các đội lính thủy, để cho biết đàng thủy chỗ nào hiểm, chỗ nào không.

Tháng 2, làm đài Điện Hải và đồn An Hải ở cửa Đà Nẵng, giao cho Nguyễn Văn Thành coi việc
ấy, lưu 500 quân phòng giữ.

Định lệ thâu tạp thuế, giao bộ Hộ bàn định thi hành: một quan tiền nạp 6 đồng "khán tiền" (2), một lượng bạc nạp một đồng khán tiền, nếu thâu quá lệ sẽ theo luật trị tội.

Đổi tên cửa Nhuyến Hải làm cửa Thuận An, lập đài Trấn Hải (chỗ ấy bãi cát quanh co, cạn, hẹp, thuyền không đi được; từ khi đổi tên Thuận An đến bây giờ, ghe thuyền dễ đi, thật ích lợi cho muôn đời).

Cho tha hoặc giảm thuế ruộng năm nay.

Truyền chiếu cho Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt và Hiệp trấn Ngô Nhơn Tĩnh đem 13.000 lính thủy đưa Nặc Chân về nước Cao Man. Xiêm cũng sai bọn Phi Nhã, Ma Kha và A Mặc làm Sứ Xiêm đem quân đưa theo. Nặc Chân vào thành La Bích, Duyệt sai quan Cao Man là Cao La Hâm đem 500 quân phòng giữ, Duyệt truyền hiệu lệnh cấm quân cướp phá, bày oai tín vỗ dân làm ăn, Cao Man nhờ được yên ổn. Nguyên trước Nặc Chân chạy về với ta, Xiêm giận lắm, ý muốn lấy thành Bắc Tầm Bôn phong cho Nặc Nguyên; đến khi nghe Nặc Chân trở về, nước Xiêm bề ngoài thời giả dạng hòa hiếu, sai Sứ sang hội với quân ta đưa Nặc Chân về; mà bề trong thời sắp đặt việc quân, muốn thừa cơ đánh để thư cơn giận. Đến đây Duyệt đem quân đến, Xiêm không dám lộ mưa ra; nhưng quân Xiêm còn đóng ở Long Úc chưa về, muốn đưa Nặc Nguyên về mà cũng chưa được. Duyệt tâu rằng: "Xiêm muốn lấy Chân Lạp, phải lấy Nặc Nguyên làm mồi, ta muốn che đỡ Gia Định, phải cho Nặc Chân làm tôi; ta nạp Nặc Chân thời người Xiêm mất lợi nhiều lắm.Chưa chắc người Xiêm khỏi sanh mưu khác, cũng chưa chắc Phiên Vương (tức là Nặc Chân) khỏi có việc lo. Bây giờ quân ta ở đó lâu, thời quân mệt mà tốn của, rút quân về hết, thời Phiên vương đơn nhược, không có người phòng giữ. Vả lại thành La Bích nhỏ, thế không giữ được; xin đắp thành Nam Vang cho Phiên vương ở, đắp thành lô Yêm để trữ lương, hễ đắp thành xong rồi, sẽ lưu binh bảo hộ Chân Lạp, đại binh thời rút về Gia Định, để xem động tĩnh thế nào. Như vậy thời sẽ thuận nghịch rõ ràng, hình lao dật phân minh, muốn đánh thời đánh, muốn hòa thời hòa, thế là ta được chước hơn vậy". Ngài cho là phải, truyền ông Duyệt đem quân thủy giữ sông Xà Năng, đem quân bộ đóng các chỗ quan yếu, mà viết thơ trách vua Xiêm rằng: "Xiêm vương cũng muốn Nặc Chân, Nặc Nguyên (Nặc Chân là anh Nặc Nguyên) nguôi lòng thù oán, trọn nghĩa anh em; nay Chân đã về Chân Lạp, cớ sao Xiêm chưa rút quân về? Cứu tai nạn thương lân quốc, làm nhơn đức mà thỏa lòng người, ấy là đạo đời xưa đó. Nếu trước làm nhơn đức mà sau gây thù oán, kéo quân sang đóng Chân Lạp, chẳng là trái lẽ hay sao? Huống chi Nặc Nguyên phản anh mà giữ nước, tội không kể xiết; nước ta và vua Xiêm bỏ qua không làm tội, cũng nghĩ là Nặc Nguyên đương còn tính con trẻ, muốn cho đổi lỗi mà thôi. Bây giờ Nặc Chân đã biếu vua Xiêm khoan thứ là đức, Nặc Nguyên lẽ nào không nghĩ nước ta tha tội là ơn hay sao? Cớ sao đến nỗi u mê như thế! Thử nghĩ rằng thằng giặc mà thiên hạ ai cũng muốn giết, lại có nước nào dung cho nó trốn hay sao?". Xiêm tiếp được thơ rồi sai tướng Xiêm rút quân ở Bắc Tầm Bôn về, lại sai Nặc Nguyên viết thơ tạ Nặc Chân; nhưng mà Nguyên cũng chưa về Chân Lạp. Ngài nghĩ rằng: Phiên quốc mới yên, kho tàng thiếu thốn, cho Nặc Chân 3.500 lượng bạc, 5.000 quan tiền, 10.000 hộc lúa. Nặc Chân sai người đem biểu trần tạ.

Quân ta xây thành Nam Vang và thành Lô Yêm. Làm đài An Biên, trên đài có một cái nhà gọi là Nhu Viễn Đàng, để cho Phiên vương vọng bái.

Sửa nhà thờ Khai quốc công thần Nguyễn Hữu Cảnh (nhà thờ ở Nam Vang, xưa Hữu Cảnh làm Kinh lược Chân Lạp, đóng quân ở đó; khi mất rồi, người Chân Lạp lập đền thờ, gọi là đền thờ Lễ Công.

Tha thuế thân năm ấy cho Hương binh Gia Định đóng ở La Bích.

---------------------
(1) Trấn thủ là chức quan giữ các cửa biển.
(2) Khán tiền là tiền phụ.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Bảy, 2009, 06:16:00 am gửi bởi Midaxudavo » Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #39 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:10:14 am »

Chế cân thiên bình và cân trung bình: cân thiên bình để cân sắt, đồng, chì, thiếc; cân trung bình để cân vàng, bạc.

Tháng 6, giặc Thổ ở Nghệ An ăn cướp các huyện. Tổng trấn Hoàng Viết Toản đem quân đánh, lại viết thơ cho Vạn Tượng đón đàng phòng giữ, quan quân bắt được giặc nhiều lắm.

Tháng 7, mới mở khoa thi hương từ Quảng Bình trở vào Nam Kỳ.

Làm xong thành Nam Vang và thành Lô Yêm. Truyền sắc Lê Văn Duyệt đem quân về, giao Nguyễn Văn Thụy lãnh 1.000 quân giữ thành Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp.

Tháng 8, Chân Lạp dân 88 voi, Ngài nghĩ nước Chân Lạp mới khôi phục, khiến quan Gia Định phát bạc kho trả cho Chân Lạp.

Tháng 9, tha tử tội cho Đặng Trần Thường và Nguyễn Gia Cát. Ngài xét sổ thu thẩm (1), nghĩ hai ông ấy có công, truyền tha tội, nhưng tước ngạch làm quan, mà phải ở Kinh.

Cho Trần Đàng làm Tham tri bộ Binh cùng với Nguyễn Văn Thụy lãnh chức bảo hộ Chân Lạp. Dụ rằng: "nước Chân Lạp mới định, nhơn dân chưa yên; ngươi nên thể đức ý Triều đình, chớ nên mưu lợi, chớ dung quân giặc, chớ hiếp nạt dân Mường, cũng chớ nhiễu hoại ngoài biên phương. Ngươi nên kính vâng mạng ta".

Tháng 10, Chân Lạp sai Sứ sang tạ. Đình thần bàn rằng: "triều phục Phiên vương nên theo triều phục bậc trên nhất phẩm". Bèn chế áo mảng bào sắc đỏ và mão đai, ban cho Phiên vương.

Khiến Gia Định nhắm đất Chân Lạp, làm 3 con đàng quan: một đàng từ sông Cam Bà đến khe Răng xứ Quang Hóa, một đàng từ thành Lô Yêm đến Chế Lăng, bắt dân Chân Lạp làm, mỗi 4.000 trượng làm một trạm, mỗi trạm đặt 50 tên lính trạm để chạy công văn.

Tháng 11, có một người học trò Bắc thành tâu rằng: "xứ Trấn Ninh và xứ Ninh Biên đất rộng quá, tiếp giáp nước Xiêm, nước Lạp, xin sai quan đại thần phòng giữ ở đó, để xem xét tình thế hai nước, nếu Xiêm và Chân Lạp có việc gì, thời mình hội với Diến Điện hai bề đánh lại, thế là dùng người Mọi mà đánh người Mọi". Ngài truyền dụ rằng: "Xiêm giao hiếu với ta đã lâu, còn Chân Lạp là Phiên thần nước ta không nên sanh sự". Bèn truyền chỉ ủy lạo người học trò ấy cho về.

Tháng 12, Ngài cùng Đình thần bàn việc bổng lệ quan văn, quan võ, châm chước theo sách Tấn thân lục nước Tàu mà làm. Dụ rằng: "Khi trước ta nghĩ bổng lộc chỉ có một thăng một đấu mà thôi, phụng sự cha mẹ, nuôi vợ con, cũng nhờ vào đó, nên ta đã không nỡ lòng đoạt bổng, ai có lỗi thời đánh đòn hoặc quở trách; làm vậy tuy có lòng lễ tất thần hạ, mà không phải lệ đãi thần hạ như thế. Vua Thái tổ nhà Tống không đánh người trước điện bệ, không khinh mắng bực công khanh. Nay nên theo từng bậc cấp bổng; hễ ai có tội cho cứ theo lệ phạt bổng; tình mà có lễ, phép mà có ơn, thế mới là phải".

Năm Giáp Tuất thứ XIII (1814), tháng giêng, Ngài lưu ý cho học, bảo quan Thị thần rằng: "nhà học hiệu là chỗ chức người anh tài, ta muốn theo phép xưa, lập trường học, dạy học trò, để sau dùng giúp việc Nhà nước".

Tháng 2, Hoàng hậu Tống Thị băng hà! Nguyên trước Hoàng tử thứ 4 mới 3 tuổi, Ngài khiến Hoàng hậu nuôi làm con, Bà đòi văn khế, Ngài sai Lê Văn Duyệt, viết một tờ giao cho Bà. Đến bây giờ gặp việc tang bà Hoàng hậu, Đình thần bàn cho Hoàng tôn Đán (con Đông cung Cảnh tức là Mỹ Đàng) chủ việc tế tự. Ngài dụ rằng: "Hoàng tử thứ 4 đã làm con Hoàng hậu, chủ tự là phải, không nên nệ lễ "đích tôn thừa trọng". Nguyễn Văn Thành nói: "Vậy thời trong văn tế khó xưng hô lắm". Ngài dạy rằng: "Con vâng mạng cha mà tế mẹ, danh chính ngôn thuận, việc gì mà không được". Lúc ấy bàn định mới xong. Thành có ý bất bình.

Tháng 3, từ Thanh, Nghệ ra Bắc có bệnh dịch. Truyền chỉ lập đàn tế.

-------------
(1) Hễ đến mùa thu, bộ Hình phải làm sách viết tên mấy người phải tội chế dâng lên, Ngài xét lại, tha hay làm tội tự quyền Ngài định.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM