Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:27:57 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 101225 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #40 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:11:04 am »

Vì mưa nắng trái tiết, Ngài truyền chỉ giảm thuế ruộng năm nầy cho các trấn. Gia Định giá gạo cao, truyền chỉ sổ lúa năm nay đáng tải về Kinh, thời cho cứ để lại Gia Định, để cấp phát cho đủ.

Làm Thọ Lăng ở Thọ Sơn thuộc làng Định Môn, Ngài muốn theo cách hiệp lăng đời xưa, khiến Tống Phúc Lương, Phạm Như Đăng lãnh chứ Sơn Lăng sứ, sai đi xem các núi với Lê Duy Thanh; bói đến 7 lần, thời làm lăng tại Thọ Sơn tốt hơn; lại khiến Hoàng tử thứ 4 bói một lần nữa, bói được quẻ Dự, lời Chiêm rằng: "Đại cát hanh" nghĩa là rất tốt và rất hanh thông. Bèn bắt quân dân làm, gọi là lăng Thiên Thọ, phong núi ấy làm Thiên Sơn.

Tháng 4, đào sông An Cựu để chứa nước khi hạn, tháo nước khi lụt (tức là sông Lợi Nông, ở phía Nam sông Hương Giang, đến xã Thần Phù, giáp phá Hà Trung).

Lựa lính Gia Định, quan Tổng nghĩ tâu rằng: "Gia Định là nơi quan trọng xứ Nam Kỳ, tâu xin kén lính để phòng giữ bờ cõi. Ngài chuẩn cho theo sổ sách tuyển năm Quý Dậu, 8 đinh lấy một, chia làm 5 ban, một ban ở, 4 ban về nhà, hễ đến tháng 3 và tháng 11, phải tới trấn tập võ 1 tháng, rồi sẽ cho về. Dụ rằng: "Gia Định là nơi trung hưng, ngày xưa chỉ có một đám đất và một toán quân mà khôi phục đất cũ; nay đã đại định rồi, cũng muốn cho dân nghỉ. Nhưng ta nghĩ nhà nước tuy đã yên rồi, cũng không nên quên việc phòng giữ, huống chi Gia Định tiếp giáp biên phương, phải phòng bị mới khỏi lo. Nay chuẩn y theo lời Đình thần, kén lính thúc thành cơ đội. Chúng mầy sanh trưởng ở chỗ ấy, biết rõ thủy thổ, không việc thời chia phiên luyện tập, có việc thời hết sức chống giữ, dùng người xứ mầy mà giữ giữ đất mầy, không như lính giản các xứ thường phải đi xa đâu. Chúng mầy phải để ý ta, dân lo làm ăn, lính vui làm việc, chớ nên kinh sợ".

Tháng 5, bọn Nguyễn Văn Thụy lãnh chứa Bảo hộ Chân Lạp, việc gì cũng chuyên quyết mà làm, không hề bàn với Phiên vương, Phiên vương cũng chịu bó tay, nhơn tình nghi sợ. Ngài ban chiếu cho Thụy rằng: "phàm việc Chân Lạp giao cho Phiên vương với Phiên liêu xử đoán, không được hiếp chế; chỉ có chương sớ và công văn thời bọn Ngươi phải tường duyệt tham chước rồi sẽ phát đệ về, để cho hiệp sự thể mà thôi".

Tháng 6, bãi thuế đánh bạc cho xứ Long Xuyên, Kiên Giang và Trà Vang. Ngài nghĩ rằng: cờ bạc sanh ra trộm cướp, cho nên truyền bỏ thuế ấy; hễ ai mở sòng bạc sẽ có tội.

Xiêm sai Sứ sang dâng phẩm vật và tâu rằng: "Triều đình hậu đãi Chân Lạp, vua nước tôi cám ơn lắm. Nhưng Nặc Chân vốn là phiên phụ với nước tôi, nếu Chân không sang chầu nước tôi, thời nước tôi cũng không cho Nặc Nguyên về". Nguyễn Văn Thành biết ý trong thơ có hơi bất hòa, cật hỏi sứ Xiêm. Lê Văn Duyệt cũng có một cái mật thơ tin cho Nguyễn Đức Xuyên; Xuyên tâu lên, Ngài dụ rằng: "Xiêm La nếu có nói gì, không lấy làm điều, ta thường giao hiếu với Phật vương trước, tình nghĩa với cha mà lại đánh con, lân quốc coi mình ra gì; vả lại giặc mới vừa yên, ai cũng muốn nghỉ, ta không ưng làm nhọc tướng sĩ xông pha trong vòng tên đạn; được một nước Chân Lạp mà để cho lo cho đời sau, thời  không làm, ngươi phải tỏ ý ta cho Duyệt biết". Sứ Xiêm ở lại hơn một tháng, tiếp đãi hậu lắm. Khi Sứ Xiêm về, Ngài tặng hảo Phật vương hơn 40 lượng vàng, 500 lượng bạc; cho vua thứ hai 20 lượng vàng, 100 lượng bạc.

Tháng 7, Ngài dụ bộ Lại rằng: "Muốn cho tôi trung, phải cầu trong những người con hiếu: Phủ huyện có tang cha mẹ chờ tâu chuẩn đến tuần nhật, mới được về nhà liệu tang, thời e có đau lòng hiếu lắm! Từ nay về sau, phủ huyện có tang cha mẹ, quan trên phải phái người quyền nhiếp ngay để cho về chịu tang, rồi sẽ tâu lên ta biết".

Ngài nghe lính giản Thanh, Nghệ, Bắc thành, dân sợ tại có cấp thêm ruộng lương và tiền diêm tương, lại ước niên hạn ở lính. Dụ rằng: "phụ thêm tiền để nuôi lính, lệ đã cấm rồi, ấy cũng là muốn bớt tốn cho dân; nay tình nguyện phụ cấp, không phải yêu sách đâu, nên theo lòng dân. Còn như tư ước cùng nhau mà thế tên nầy, đổi tên khác và lính có ý sách nhiễu dân, thời cứ như lệ cũ".

Tháng 8, định thêm điều lệ "thiết đạo". Ngài nghĩ trong luật thiết đạo, tính tang làm tội chưa có thể làm cho đứa gian phải sợ; giao Đình thần định thêm: phàm ăn trộm ba lần trở lên, mà lấy được của,
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #41 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:13:24 am »

thời không kể đã chạm chữ vào mặt hay chưa, cũng không cần tính tang nhiều ít, đều làm  tội tích phỉ (1) ăn trộm ba lần, phải 60 trượng, đồ một năm; bốn năm lần trở lên, thời cứ tính mà làm tội nặng thêm; đến tám lần thời bị trượng 100, đày 3.000 dặm; tội chỉ đến trượng lưu mà thôi, nhưng đều phải chạm chữ vào mặt; như hai lần thích chữ mà phạm một lần nữa, thời phải tội "giảo giam hậu".

Tháng 11, giảm thuế cho các nguồn thuộc về Gia Định.

Ngài truyền chém tên Quản cơ Nguyễn Văn Khánh ngoài Bắc thành; vì phát giác rằng Khánh lấy tiền của lính. Dụ quan Bắc thành rằng: "binh là nanh vuốt nhà nước, tướng là đầu mục quân lính, ngày bình nhật mà có lòng yêu nhau, gặp khi có việc, mới có thể giúp nhau. Khánh tham lam quá phạm phải tội chết, không có lẽ tha được; Quản quân chúng mầy xem đó là gương; từ nay về sau, như có việc công tác, cho chi cấp tiền công, ai nhơn việc công mà góp riêng, thời theo phép quân trị tội, mà quan thượng ty cũng can liên".

Năm Ất Hợi thứ XIV (1815), tháng giêng, Bắc thành tâu: "Lâu nay ngạch thuế cửa ải, bến tàu phải nạp toàn bạc, mấy tên lãnh trưng không ưng đều xin giảm giá, tính ra thời giảm hơn 80.000 quan". Ngài dụ rằng: "Nhà nước không thiếu chi của, không nên so tính với dân".  Truyền cho giảm giá.

Tháng 2, Ngài nghĩ các quan tùng vong (2) nhà Lê hết lòng trung nghĩa, truyền chỉ quan Bắc thành hỏi thăm và ban cấp tiền gạo cho gia quyến.

Truyền chỉ các phủ, huyện trữ tiền ân tuất mỗi nhà 50 quan, để cấp cho mấy người đi đàng mang bệnh mà chết.

Tháng 3, ninh thổ tử cung đức Hoàng hậu tại phía hữu huyền cung lăng Thiên Thọ.

Tháng 6, đúc bạc đính trung bình để thâu phát số lẻ cho tiện (mỗi đính nặng 5 đồng cân, hai mặt có dấu in, một mặt in 4 chữ: "Gia Long niên tạo", một mặt in 6 chữ: "Trung bình ngân phiếu ngũ tiền", mỗi đính giá 4 quan tiền).

Định lệ các cửa Hoàng thành tối đóng sớm mở, đều phát hai tiếng súng.

Tháng 8, ban Quốc triều luật lệ cho các trấn. Luật ấy tham chước phép cũ bổn triều, luật lệ đời Hồng Đức nhà Lê và điều lệ nước Tàu, cả thảy 22 quyển, từ nay xử kiện và làm án đều theo luật ấy.

Tháng 9, Chưởng hữu quân quận công Phạm Văn Nhơn mất. Ngài khiến Nguyễn Văn Thành trị việc tang; y theo lệ năm thứ 23 đời nhà Hồng Võ nhà Minh, đình triều 4 ngày (trước 3 ngày và 1 ngày chôn), cho 4.000 quan tiền, tặng Thái bảo, thụy Trung hiến. Công thần mất mà bãi triều từ đây là lần đầu (Văn Nhơn người huyện Tống Sơn, năm Minh Mạng thứ 5 cho tùng tự Thái miếu, phong Tiên Hưng quận công).

Tháng 10, Ngài dụ các quan rằng: "Việc hình ngục quan hệ tính mạng dân; nên Kinh Thơ có nói: thẩm năm lần để xét tình lý; Nguyệt Lệnh có nói: phúc ba lần để cho công bằng. Từ nay có trọng án, bộ Hình trước hết xét đoán, đình thần sẽ hội đồng duyệt nghị, văn từ Tham tri lên đến Thượng thơ, võ từ Phó thống chế lên đến Chưởng quân, cứ thứ tự mà bàn trước, dẫu bàn giống nhau hay là khác nhau thể nào đều phải tâu lên, chờ ta đoán định. Việc gì ta giao đình nghị và dân tâu đơn giao xuống, cũng đều theo như cách ấy". Lại dụ bộ Hình rằng: "Trong khi xử án, ta và nhơn có giận việc gì xử đoán nặng, các người phải cứ phép nói thẳng, nếu không nói thời các ngươi cũng có lỗi".

Tháng 11, cho Thái bảo quận công Nguyễn Văn Trương liệt tự trong miếu Trung hưng công thần.
 
Ngài bảo Tham tri Nguyễn Hữu Thận rằng: "khảo xét công trạng các huyện lệnh rất khó, thôi
 
khoa thiếu thuế, tội nên phân xử thế nào?". Thận tâu rằng: "ngạch thuế trong hạt, xin chia làm 10 thành, thiếu một thành trở lên, theo phép trị tội; như thiếu không đầy một thành thời xin tha". Ngài cho là phải.

---------------
(1) Tích phỉ là làm giặc nhiều lần.
(2) Tùng vong là theo vua qua nước khác.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Bảy, 2009, 06:16:48 am gửi bởi Midaxudavo » Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #42 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:14:07 am »

Tháng 12, sửa cống nước huyện Nam Xương. Huyện ấy có 7 tổng, bốn mặt đều giáp sông; quan Tổng trấn tâu rằng: "Trong 7 tổng ấy ruộng mùa thu một nữa, ruộng mùa hạ một nữa, đàng đê giữ được nước ngoài, mùa hạ tiện mà mùa thu không tiện; chi bằng làm cống thời chứa nước tháo nước đều tiện lợi cả hai mùa; vậy xin cho phép sửa cống nước". Ngài y cho; và truyền phát 6.000 quan tiền kho làm việc ấy.

Năm Bính Tý thứ XV (1816), tháng giêng, Bắc thành không mưa đã lâu, Ngài lo lắm, truyền chỉ bao nhiêu thuế thời tha cho, và hoãn việc bắt lính, việc tạp tụng.

Đắp đồn Châu Đốc. Ngài nghĩ rằng: Châu Đốc là trọng trấn cõi Nam, phải đắp mà phòng giữ. Dụ Phiên Vương Nặc Chân rằng: "Nước mầy giữ gìn phiên phong, một lòng kính thuận, triều đình đã hết lòng chiếu cố; bây giờ có việc xây thành, không phải làm phiền dân đâu, ấy là có muốn giữ trấn Hà Tiên để làm nơi tiếp ứng cho thành Nam Vang của mầy đó". Lại truyền chỉ quan Tổng trấn phải sai người biên công trình cho rõ, 10 ngày tâu một lần. Dụ rằng: "Bất đắc sĩ phải đắp lũy xây thành, mà một lần công tác động đến binh dân; chúng ngươi nên hết lòng sửa sang, chớ nên quá hạn đến nỗi làm hại việc nông".

Tháng 12, từ Quảng Trị đến Bình Hòa giá gạo cao lắm. Ngài truyền các địa phương cho dân mượn lúa, nhưng phải xét mỗi tên chủ ngạch thuế phải nạp lúa bao nhiêu, thời cho mượn một nữa. Tỉnh Quảng Trị tâu: "Triều đình cứu dân trong lúc đói khát, thế là rất may. Nhưng cho mượn mà còn tính số thuế ruộng làm hạn, thời người có ruộng được mượn mà người không ruộng chưa được nhờ ơn triều đình". Ngài ban rằng: "Dân có người giàu, người nghèo không đều nhau, có lẽ nào làm đều cho được; nhưng cho mượn nhiều thời giá gạo rẻ, người không ruộng cũng được nhờ".

Tháng 3, thiết triều trong điện Cần Chánh, cho các quan ngồi, đòi Thượng thư bộ Lại Trịnh Hoài Đức đến trước giường ngự viết chữ "lập ông Hoàng tử thứ tư làm Hoàng thái tử", truyền cho các quan biết. Ngài dụ rằng: "Cha truyền con nối, là đạo xưa nay; từ đời nhà Hán, đời Đàng trở xuống, không mấy đời mà không theo như vậy. Hoặc có người nói "đích tôn thừa trọng", ta thiệt không hiểu là nghĩa gì; chỉ có vua Thái tổ đời Minh nghe lắm lời nói Lưu Tam Ngô, bỏ con là Yên Vương mà lập đích tôn là Doãn Mân đến nỗi gây việc họa loạn. Vả lại biết con có ai bằng cha, nếu Minh thái tổ quả cho Yên Vương là người hiền, thời đương lúc triều hội đại định, phát lời minh dụ, cho làm Thái tử, tự mình nói ra, ai lại không làm theo; làm như vậy, thời loạn từ đâu mà sanh được". Các quan ai cũng vui lòng kính phục.

Ban chiếu hoặc tha hoặc giảm thuế thân và thuế ruộng các trấn từ Quảng Bình trở vào phía Nam. Chiếu rằng: "Mấy năm nay dân làm việc khó nhọc, lại gặp mất mùa, ta rất thương lắm, nên khoan miễn cho dân. Kể từ năm Gia Long Nhâm Tuất trở lên, từ Quảng Bình đến Gia Định, còn thiếu tiền, thiếu lúa, thiếu thuế sản bao nhiêu; và năm Quý Dậu, năm Giáp Tuất còn thiếu thuế chánh cung bao nhiêu, đều tha cả; Quảng Đức (Thừa Thiên), Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Hòa thời thuế thân và thuế điền năm nay trong 10 phần giảm 5 phần; Quảng Nghĩa, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận trong 10 phần giảm 2 phần, thuế thân thời 10 phần giảm 4 phần".

Bọn Bùi Đức Mân, Nguyễn Kim Đôi ở Xiêm về. Vì cớ Nặc Nguyên ở thành Phủ Lật, ngày trước Xiêm giận Nặc Chân lắm; vua thứ hai nói với Phật vương rằng: "Nặc Chân ỷ có Nam triều mà khi dễ mình, nếu mình đánh Nặc Chân thời Nam triều phải cứu, nhơn đó đánh cả hai bên, có lẽ thư được lòng mình tức giận". Phật vương không chịu, nói rằng: "Tự mình gây ra hiềm thù, thế là không phải hạnh phước; nếu ngươi muốn làm việc ấy, ta xin nhường nước cho ngươi". Vua thứ hai liền thôi. Cách vài tháng, người Xiêm kinh sợ tưởng rằng quân ta sẽ tới đánh; Phật vương sợ lắm, khiến làm thuyền chiến và sửa đồn ải để phòng giữ, lại nghi mấy người An Nam sang buôn bán bên Xiêm có ý thăm dò tình hình đều bắt giam hết. Khi Đức Mân đến, Phật vương hỏi rằng: "Việc binh ở thành Phủ Lật, Nguyễn Văn Thụy có biết không?. Mân nói rằng: "Không" - Phật vương lặng thinh. Phật vương lại hỏi: Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt ở đâu? (Thành, Duyệt là tướng giỏi, Duyệt làm Tổng trấn Gia Định, ai cũng nghe tiếng, người Xiêm sợ lắm, hễ Sứ qua ta, thời nó cứ hỏi thăm ông Duyệt). Đức Mân nói công việc Thành, Duyệt với Phật vương; Phật vương tiếp đãi hậu lắm; lại tha mấy người bị giam. Đến đây Đức Mân về tâu, Ngài không muốn sanh sự, khiến Nặc Chân thông sứ với Xiêm. Dụ rằng: "Nước mầy thần phục nước Xiêm đã lâu, bây giờ tuy chưa giao hiếu, cũng nên sai Sứ sang như lúc trước, không nên trước hậu mà sau bạc". Khi ấy Chân Lạp mới giao thông với Xiêm.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #43 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:15:19 am »

Tháng 4, thâu ấn Chưởng trung quân của Nguyễn Văn Thành, giam con Thành là Nguyễn Văn Thuyên vào ngục. Nguyên có người tỉnh Thanh là Nguyễn Trương Hiệu làm gia khách Nguyễn Văn Thuyên, Thuyên có làm một bài thơ giao cho Hiệu đem ra Thanh mời bọn Nguyễn Đức Khuê, thờ rằng: Văn đạo Ái Châu đa toán kiết, hư hoài trắc tịch dục cầu ty; Vô tâm cửa bảo Kinh sơn phác, thiện tướng phương tri Ký bắc kỳ; U cốc hữu hương thiên lý viễn, Cao cương minh phụng cửu cao tri; Thử hồi nhược đắc sơn trung tể, tá ngả kinh luân chuyển hóa ky. Nghĩa là: "Đồn rằng Châu Ái lắm anh tài, trống chiếu, lòng riêng những đợi hoài; Ngọc phát non Kinh nào giấu mãi, Ngựa kỳ nội ký mấy người hay; Lan sang hang thẳm hương ngàn dặm, Phụng đậu gò cao tiếng khắp nơi; trong núi có ai là Tể tướng, ra tay giúp đỡ chuyển cơ trời". Hiệu đem thơ nói với Lê Văn Duyệt, Duyệt cho lời thơ có ý bội nghịch, cùng với Phạm Đăng Hưng tâu  lên Ngài biết. Ngài khiến bắt Thuyên bỏ ngục; các quan xin làm tội Thành, Ngài truyền: "Thành vốn có tội, nhưng phải tồn thể diện cho Đại thần mới phải", khiến thâu ấn, cho về nhà.
Tháng 5, đúc ấn bạc cho Hoàng thái tử, khắc 4 chữ: "Đông triều thị tín".
Định thứ tự bài ban khi làm lễ triều hạ.
Ngài bàn việc chánh trị với các quan, nhơn nói đến chuyện dân gian hay sùng phụng dâm từ. Thống chế Hoàng Công Lý tâu rằng: "dân trong Kinh thành cũng hay tin chuộng đạo ngoài, thường thổi còi và đánh thanh la; xin thần định luật điều nghiêm cấm". Ngài cho là phải.

Mọi Đá Vách ở Quảng Nghĩa lại nhiễu hại ngoài biên, Trấn thủ Phan Tấn Hoàng đánh bị thua. Ngài nghe tin, khiến Lê Văn Duyệt đem quân tới đánh; Phó đô thống Nguyễn Văn Trí, Vệ úy Phan Văn Tuyên, Nguyễn Văn Trượng đều theo đạo quân ông Duyệt. Duyệt đến thời các mọi hay chạy trốn cả. Ngài truyền chỉ lưu bọn Văn Trí, Văn Trượng ở lại phòng giữ, đòi Duyệt về.

Tha thuế mùa đông từ Nghệ An ra Bắc. Khi ấy mùa xuân ít mưa, lúa mất; truyền chỉ cho thuế mùa đông thời trấn Nghệ, trấn Thanh 10 phần giảm 5, Thanh Bình 10 phần giảm 4, Bắc thành 10 phần giảm 3.

Tháng 7, ban áo mũ thường triều cho các quan nước Chân Lạp. Khi trước quan nước Lạp thấy triều phục cho vua nó, nó đều lấy làm tốt lắm, muốn theo y phục nước ta; đình thần bàn: "Phẩm phục quan nước Lạp từ thập phẩm đến thất phẩm theo như phẩm phục quan tam phẩm nước ta trở xuống; còn từ lục phẩm trở xuống thời không được ban phẩm phục" (Cao Man lấy thập phẩm làm bậc nhất, cửa phẩm làm bậc nhì,v.v...). Ngài khiến chế 23 bộ áo mũ thập phẩm và cửa phẩm, ban cho 23 người; lại cho 4 bộ áo mũ bát phẩm, thất phẩm để làm thức. Vua Chân Lạp lạy tạ ở nhà Nhu Viễn. Từ đó y phục, khí tụng Cao Man theo cách nước ta phần nhiều, đồ mọi biến đổi lần lần.

Cho các quan phủ, huyện, ở Kinh bổ ra, được bắt trạm và lãnh tiền lộ phí: Tri phủ 15 quan, Tri huyện 10 quan.

Phạm Đăng Hưng xin đặt xã thương (1) để chẩn cấp trong khi mất mùa. Ngài truyền rằng: "Ta đã nghĩ rồi, cách làm xã thương thiệt khó lắm; nếu chủ thủ không đáng người, e lại làm hại dân, chi bằng đánh thuế chánh cung cho phải, trữ tiền lúa cho nhiều, gặp năm mất mùa thời phát chẩn, hay là cho mượn, thế cũng là một chước hay". Ngài lại thường truyền Đăng Hưng rằng: "ngày xưa chia ruộng, lập sản nghiệp cho dân, làm như thế cũng phải; nhưng mấy đứa du thủ du thực, tuy có ruộng cũng không chăm làm, rồi cũng bán cho người khác; bây giờ muốn ức chế nhà giàu, lấy ruộng mà quân phân cho dân, chẳng qua là làm nhiễu dân mà thôi; ta đã nghĩ kỹ, việc ấy thế không làm được.

Tháng 9,  cấm các thuyền buôn không được chở lúa, gạo bán cho các nước ngoài, ai phạm cấm lệ thời chiếu theo luật "lén đi sang nước khác" và luật "trái phép mà xuống tàu" để trị tội, của trong thuyền thời nạp vào kho, quan sở tại biết mà tha đi thời tội cũng đồng như thế.

Quan Bảo hộ Chân Lạp là Nguyễn Văn Thụy xin từ chức. Ngài cho Chưởng cơ Lưu Phúc Tường sang thế. Ngài nghĩ rằng việc bảo hộ là một chức trọng ở ngoài bờ cõi, cho Tường làm thống chế và cấp ấn "bảo hộ" bằng đồng cho trọng quyền.

-----------------------
(1) Mỗi xã làm một cái nhà trữ lúa gọi là xã thương.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #44 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:17:03 am »

Phát tiền Gia Long thông bửu.

Tháng 10, Chân Lạp dâng biểu xin cứ mỗi năm sai Sứ sang chầu. Ngài truyền các quan rằng: "Ta coi thiên hạ như một nhà, đâu cũng thương cả, trong ngoài như một; nay Chân Lạp có lòng hướng mộ, nên y theo lời nó xin; nhưng hành lý qua lại đón rước rất phiền, ta không muốn làm nhọc dân. Gia Định mỗi năm lệ có thuyền tải về Kinh, nhơn đó mà hộ tống Sứ Chân Lạp cho luôn; vậy thời trong không làm nhọc dân mình, ngoài khỏi mất lòng người nước xa. Nay nên truyền cho Lai sứ biết rằng: mỗi năm phải theo truyền tải Gia Định mà về Kinh". Chân Lạp mỗi năm sai Sứ sang chầu một lần, từ đó là đầu (phẩm vật sang dâng là: 2 cái sừng tê, 1 cặp ngà voi, 10 bình sơn đen, đậu khấu, sa nhơn, sáp vàng, cánh kiến, và trần hoàng mỗi thứ 50 cân).

Ngài nghe quân dân trong Gia Định thường hay chiếm đất ruộng của người Cao Man và người Cao Man cũng vào trong các nha làm đầy tớ. Ban chiếu cho quan Tổng trấn Gia Định rằng: "Cao Man đời nào cũng thần phục nước ta, một tấc đất, một tên dân đều nhờ ơn Triều đình; nay dân mình chiếm lấy ru6ọng Cao Man bao nhiêu, các nha làm việc chứa người Cao Man bao nhiêu, đều phải trả lại cho nước nó cả".

Gạo ở Quảng Đức, Quảng Nam mắt quá, Ngài truyền phát 40.000 hộc lúa kho bớt giá bán cho dân, giá bạc ngoài dân hạ hơn giá bạc nhà nước, nếu dân đem bạc mua lúa kho cũng cho tính theo bạc quan giá. Ngài truyền quan lưu thủ Quảng Đức là Nguyễn Huy rằng: "Dân gian kém ăn, ta rất thương lắm, thà là bớt của nhà nước để thêm cho dân; mầy nên thể lòng ta, cho dân được nhờ, đừng cho mấy tên hào cường nhơn việc ấy mà chuyên làm lợi riêng chúng nó".

Ngài truyền các quan rằng: "Lúc nhà nước mới khai sáng, các việc mới sắp đặt, cho nên pháp luật chưa được kỹ càng. Lệ định: ai phải tội giết người thời tịch ký gia sản và nạp 30 quan tiền mai táng, cấp cho người bà con, chẳng qua quyên tạm một buổi để các nha tra án làm việc cho dễ mà thôi. Nay luật lệ đã định: hễ giết người thời phải tội, không có lệ nạp tiền mai táng và tịch ký gia tài; nhưng lỡ lầm mà đến nỗi giết người, thời cho nạp bạc chuộc tội; như vậy tuy là nhạ nặng khác nhau, nhưng cũng có điều lý. Mấy lâu nay quan hữu ty chỉ theo luật lệ cũ, trái luật lệ mới, từ rày các nha tra án phải theo luật mới mà làm".

Đặng Trần Thường có tội bị giết. Thường được tha ở Kinh, nguyên vì khi trước Thường làm quan ở Bắc thành có giấu thuế đầm ao và thuế đinh điền, Lê Chất phát giác việc ấy, lại bị bắt giam trong ngục; Thường uống rượu nói càn, có ý hờn giận. Đình thần xét án, ai cũng nói rằng: tội Thường nên giết. Liền xử tội giảo (1), tịch biên gia tài.

Tháng 11, có người phát giác rằng: Diên tự công Lê Duy Hoán mưu làm phản, bắt giam trong ngục.
 
Cho Trịnh Hoài Đức làm hiệp trấn Gia Định, sai Lê Đăng Dinh sang thành Nam Vang theo quan Bảo hộ Lưu Phúc Tường coi việc giấy mực.

Định lại điều lệ thanh tra. Lúc trước quan Khâm sai thanh tra thường hay sách nhiễu về việc cung đốn, Ngài biết rõ các tệ ấy; từ khi Lê Viết Nghĩa bị tội, Ngài truyền bộ Hộ phải tùy theo đàng sá xa hay gần, công việc nhiều hay là ít, định làm trình hạn, gia cấp nguyệt bổng.

Nghệ An đói, giảm thuế năm ấy, lại phát 30.000 hộc lúa kho, giảm giá cho dân mua.

Tháng 12, Trấn thủ Hải Dương Trần Công Hiến mất. Công Hiến ở trấn thường cùng với Đốc học Nguyễn Thế Trung và học trò trong hạt thâu góp các sách sử và thi văn các các nhà văn học xưa, khắc thành bản in, gọi là "Hải học đàng".

Ngài xem địa đồ xứ Châu Đốc, truyền các quan thị rằng: "Xứ nầy nếu mở đàng lũy thông với Hà Tiên, thời nông thương đều lợi cả; ngày sau dân ở càng đông, đất mở càng rộng, sẽ thành một trấn to". Ngài lại nghĩ rằng dân Cao Man mới theo, nếu bây giờ bắt làm việc quan khó nhọc, e chúng nó kinh sợ không yên. Rồi nhơn vì có Nguyễn Văn Nhơn tâu can, Ngài liền bãi đào sông trong xứ Châu Đốc.
-----------------
(1) Giảo là thắt cổ.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #45 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:19:30 am »

Năm Đinh Vị thứ XVI (1817), tháng giêng, vua Chân Lạp là Nặc Chân xin đi tuần trong nước, để thám xét dân tình, Bảo hộ Lưu Phúc Trương tâu lên, Ngài dụ rằng: "Đi tuần trong nước mà xem xét phong tục; cũng là việc cần, y theo lời vua Chân Lạp xin, nhưng khi đi phải có quân hộ vệ cho đông, phòng có việc gì bất trắc".
Cấm dân ta không được lãnh mua các chỗ thủy lợi (1) của Chân Lạp.

Ngài nghĩ rằng: xứ Châu Đốc đất tốt, mà người ít, có nghe quan An phủ Chân Lạp là Diệp Hội (người Tàu làm quan bên Chân Lạp) là người mẫn cán, xử việc gì dân cũng bằng lòng; liền cho Diệp Hội làm Cai phủ Châu Đốc, khiến chiêu tập người ta, người Thổ, người Tàu vào đó cho đông, hễ có biết nghề trồng cây, nuôi các thứ súc vật, buôn bán hay làm nghề gốm, cho tùy nghề nghiệp mà làm; người nào thiếu vốn thời Nhà nước cho vay. Lại truyền dụ quan Tổng trấn Gia Định rằng: "dân mới phủ tập, nên dạy làm các việc lợi ích, khiến dân đều an cư lập nghiệp; chờ các việc thành rồi sẽ tâu lên".

Quảng Nam có hoàng trùng; Quảng Trị, Quảng Bình và Nghệ An thời giá gạo mắc quá. Truyền chỉ khiến quan trấn phát lúa kho, thân hành phát chẩn cho dân.

Cho Quảng Bình Ký lục Hồ Công Thuận làm Cần Chánh điện học sĩ sung Chánh sứ, Lạng Sơn Tham hiệp Nguyễn Huy Trinh làm Giáp phó sứ, Hàn Lâm viện Phạm Huy Trực làm Ất phó sứ sai qua đi sứ nước Tàu.

Tháng 3, truyền các địa phương đày các tên tù phạm tội bị lưu vào trong Bình Hòa, Tham Độc (2). Ngài bảo bộ Hình rằng: "Đất xứ ấy tốt lắm, lúc xưa vẫn có dân ở, cày ruộng làm ăn; sau khi binh hỏa rồi, dân vật điêu hao, chỗ ấy thành ra đất hoang; bây giờ đem người vô ở đó, cũng là một cách nuôi dân". Lại truyền chỉ quan trấn rằng: "Hễ tù phạm đã tháp vào đó, thời phải mở gông, mở xiền cho chúng nó, cấp trâu bò và đồ làm ruộng, để chúng nó khai khẩn ruộng đất làm lấy mà ăn; nếu có tên nào bỏ trốn, thời tha tội cho người coi tù".

Người xã Thôi Ngôi thuộc trấn Sơn Nam hạ giác ruộng tâu xin trưng. Xét ra thời ruộng ấy đã có người cày rồi mà xã trưởng thâu thuế không nạp. Ngài bảo bộ Hộ rằng: "ruộng ấy không nên xử theo lệ; "ai trưng trước thời được lãnh ruộng"". Liền truyền sắc giao ruộng lại cho chủ, nhưng phải truy thâu thuế
3 năm trước; xã trưởng bị trượng 100, lại cứ mỗi mẫu bắt chủ ruộng và xã trưởng phải nạp 3 quan tiền để thưởng cho người cáo giác. Nhưng truyền cho các trấn, dinh biết rằng: từ rày mà có án lậu điền, đều chiếu theo lệ ấy mà làm.

Tháng 4, Ngài bảo các quan rằng: "Đất trong Gia Định rất tốt, Liệt thánh mở mang bờ cõi, chưa được một trăm năm, mà lính mạnh của giàu; ta đem lính đánh Tây Sơn, một trăm người địch được một vạn người; vài trăm năm nữa càng giàu mạnh thêm, cũng chưa biết chừng". Lại bảo rằng: "Địa thế Châu Đốc, Hà Tiên cũng không kém Bắc thành".

Khiến lục dụng con cháu các công thần mà ngày trước theo Ngài qua Vọng Các. Nguyên Văn Trương, Hà Hĩ Văn đều có công lớn, cũng cho dự vào hàng Vọng Các công thần.

Các địa phương ít mưa mất mùa; truyền chỉ giảm bớt thuế mùa hạ năm ấy.

Tháng 5, Nguyễn Văn Thành tử tử. Lúc ấy giam Thành và mấy người con ở trong trại quân Thị trung; đình thần tra án rồi, Thành ra nói với Thị trung Thống chế là Hoàng Công Lý rằng: "Án xong rồi, vua khiến tôi phải chết, nếu không chết thời không phải là tôi trung". Liền uống thuốc chết ở trại quân. Có người đem bài biểu trần tình lên Ngài xem; Ngài khóc rất thương, khiến một chánh đội Trung quân và
30 tên lính coi việc tang, ban 500 quan tiền, cho lại áo mão (3); lại ban thêm 3 cây gấm, 10 cây vải, 40 cây lụa; mấy người con bị giam đều được tha cả.

Lê Duy Hoán, Nguyễn Văn Thuyên có tội phải giết.


--------------------------
(1) Thủy lợi là các chỗ đánh cá kiếm lợi.
(2) Tam Độc là Ba Ngòi, thuộc về tỉnh Khánh Hòa.
(3) Khi trước ông Thành can án, Triều đình thâu áo mão, nên bây giờ cho lại.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #46 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:20:20 am »

Nước sông Ngưu Chữ ( ở Gia Định) đương đục trở nên trong. Khi trước khôi phục Gia Định rồi, nước sông ấy đã trong một lần, đến bây giờ mới lập Thái tử, nước sông lại trong, người ta cho là điềm thánh.

Tháng 6, vua Chân Lạp là Nặc Chân viết thơ cho quan Tổng trấn Gia Định, xin qua Gia Định hỏi việc chánh. Quan Tổng trấn phúc thơ rằng: "Chánh sự Phiên quốc, nên thương bàn với quan Bảo hộ, huống chi biến trong nước mới yên, lòng dân mới phục, chưa nên đi xa". Quan Tổng trấn đem việc ấy tâu lên, Ngài ban chiếu rằng: "Phiên vương muốn qua Gia Định hỏi việc chánh, mầy lại lấy điều thần dân hệ thuộc mà cản trở không cho đi, lý thời phải đó. Nhưng Phiên vương xưa nay làm việc cô tức, nên nhơn lúc nó qua mà chấn tác dạy biểu cho nó, khiến nó biết siêng lo việc chánh, thời phải hơn. Nay mầy phải phúc thơ cho nó qua Gia Định. Nếu Phiên vương đến thành Gia Định, mầy nên đem mấy điều ích lợi về việc đào sông Châu Đốc, hiểu dụ cho nó, khiến nó phải trù nghĩ trước; hễ tiếp được chiếu văn, thời bắt quân dân đào ngay cho mau thành".

Khiến Hữu Tham tri bộ Công Nguyễn Đức Huyên, Tả Tham tri Đoàn Viết Nguyên làm sách Duyên Hải lục, Nam đến Hà Tiên, Bắc đến Yên Quảng, các cửa biển sâu hay là cạn, đàng sá xa hay là gần, đều chép vào sách (bộ sách ấy có 2 quyển; chép cả thảy 4 dinh, 15 trấn, 143 cửa biển, dài 5.902 dặm, mỗi dặm 540 trượng).

Thuyền sứ Xiêm sang Tàu, thuyền tấp vào cửa Đà Nẵng (Tourane), rồi lại bị lửa cháy hết. Ngài nghe việc ấy, truyền rằng; "thuyền sứ bị cháy, cũng như thuyền buôn bị nạn". Khiến quan dinh Quảng Nam cấp 200 phương gạo.

Chân Lạp sai Sứ sang chầu. Ngài truyền dụ rằng: "Ta sẽ đào sông Châu Đốc thông với Hà Tiên, tuy là lợi cho nước mầy, nhưng cũng lợi chung cho mấy người đi cày và mấy người đi buôn nữa. Về nói vua mầy phải hiểu ý ấy mới được".

Định phẩm cấp tập ấm cho con cháu mấy ông Vọng Các công thần có bảy bậc.

Bộ Hộ tâu rằng: năm Gia Long thứ chính định lệ rằng: ; hễ có phát giác việc lậu đất ruộng, tuy rằng lậu đã lâu năm mà truy thâu ngạch thuế cũng lấy 3 năm làm hạn. Trong luật "trốn thuế lậu ruộng" lại nói rằng: cứ tính năm mà truy nạp. So luật với lệ thời không giống nhau". Ngài nói: "luật như vậy thời nặng quá, nên theo lệ mà làm".

Tháng 8, Chân Lạp đói, xin sang Gia Định đong lúa. Ngài cho đến các xứ Long Hồ, Sa Đếch đong 10.000 hộc lúa.

Cho Tả quân phó tướng, Nguyễn Văn Xuân quyền lãnh việc Bảo hộ Chân Lạp, vì Lưu Phúc tường sách nhiễu, bắt về Gia Định trị tội.

Đặt thêm điều lệ lậu đinh và khai gian dân đinh đào tử, xã trưởng ẩn lậu khai gian và xã dân hoặc biết rõ đều lỗi xã trưởng, hoặc đồng mưu với xã trưởng, đều hạn trong một tháng phải thú giác, trái phép thời theo luật trị tội.

Tháng 9, cho Lễ bộ Thiêm sự Ngô Văn Duyệt làm Chánh sứ, Hàn lâm Trương Quagn Khải làm Phó sứ qua sứ nước Xiêm. Vì Xiêm có tang vua thứ hai, sai Long An Nổ, Lạc Phu Thích tới báo tang, nên ta sai sứ qua điếu và tặng hảo (tặng cho Phật vương 300 cây lụa trắng, thao trắng và 300 cây vải trắng; điếu vua thứ hai 300 cân sáp vàng, 100 cây vải trắng, 300 cân đường phổi và đường phèn, 2.000 cân đường cát). Đến khi Sứ ta về, Xiêm đưa thơ, trần tạ và đem các đồ phẩm vật.

Tháng 10, Ngài nghĩ huyện Quỳnh Lưu, huyện Đông Thành thuộc về Nghệ An rừng rậm liên tiếp nhau, giặc thường ra vào chỗ ấy, truyền quan trấn lập đồn Hoàng Mai, đồn Khe Nước Lạnh để mà phòng giữ.

Tháng 11, đào sông Tam Khê. Sông ấy cách trấn Vĩnh Thanh đến 214 dặm (từ phía Tây 4 dặm rưỡi chảy qua sông Tam Kỳ, rồi hiệp với sông Cần Đăng; phía Tây Nam 59 dặm chảy qua sông Lạc Dục; từ phía ấy qua phía Nam 57 dặm rưỡi đến khe Song). Ngài nghĩ chỗ ấy gần Chân Lạp, địa thế rậm rạp lắm, đàng thủy đi qua Kiên Giang thời bùn và cỏ, thuyền không đi được, Ngài khiến trấn thủ Nguyễn Văn Thụy sửa sang đàng sông, bắt dân mình và dân Cao Man 1.500 người phát tiền gạo cho, khiến nhơn
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #47 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:21:54 am »

đàng cũ mà đào cho rộng, hơn một tháng mới xong (rộng 10 trượng, sâu 18 trượng), lợi ích cho dân lắm. Ngài khen công ông Thụy, đặt tên sông là Thụy Hà; phía đông có núi Lạp cũng gọi là Thụy Sơn; cấm dâng không được chặt cây.

Từ Nghệ An ra Bắc; lúa mùa thu mất hết nhiều. Truyền chỉ tha thuế mùa đông năm ấy. Nghệ An 10 phần tha 1 phần, Thanh Hóa, Thanh Bình 10 phần tha 3 phần, Bắc thành 10 phần tha 5 phần.

Hạn cho mồ mả ngoài dân gian, tả, hữu hai bên cách nhau 7 thước 5 tấc, phía trước 9 thước, phía sau cũng 9 thước.

Tàu Đại Pháp vào cửa Đà Nẵng đem thơ nói với Nguyễn Văn Thắng rằng: "Quốc vương đã về nước rồi, truyền kéo cờ đi khắp các cửa biển, để cho các nước biết; xin đem phẩm vật vào Kinh chiêm yết". Ngài nghĩ rằng không có quốc thơ, bèn không cho thâu nhận; nhưng khiến quan dinh Quảng Nam tiếp đãi rất hậu, rồi đưa tàu ấy ra. Ngài lại sắc quan Tấn thủ Đà Nẵng rằng: "Nếu tàu Đại Pháp có kéo cờ và phát 12 tiếng súng mừng, thời trên đài Điện Hải cũng phát 21 tiếng súng. Từ nay về sau như tàu nước khác vào cửa biển ta, dẫu nó phát súng nhiều nữa, mình chỉ phát 3 tiếng làm hiệu mà thôi".

Tháng 12, khiến quan Bắc thành lựa một người con cháu nhà Lê để coi việc tế tự. Truyền các địa phương từ Quảng Bình trở vô Nam Kỳ phải tiêu dùng tiền kẽm.
Năm Mậu Dần thứ XVII (1818), tháng giêng, hoãn thuế thiếu cho lưu dân Bắc thành mới phục hồi.
 
Định lệ tuyển bổ ti thuộc: ai giỏi thời cử, ai dở thời bỏ, không kể tư cách.

Tháng 2, truyền chỉ trong trấn Gia Định bao nhiêu dân cày ruộng cao, ruộng thấp và cày đồn điền cho phụ nạp vỏ gai và được tha thuế thân.

Tháng 3, giặc Thổ ở trấn Nghệ nổi lên, Tôn Thất Bình đem quân đóng đồn Tiên Lý, giặc ra thú và bị bắt cả thảy hơn 170 người. Ngài truyền chỉ cho quan trấn rằng: "trong những tên ra thú, tên nào phục tội thiệt tình thời tha; còn tên nào có tình lý khác, theo luật trị tội, tâu lên chờ ta xử đoán".

Tháng 5, Nghệ An bị lụt. Quan trấn xét rằng: Những nơi trong 10 phần tổn 2 phần, 3 phần, lệ không tha thuế. Ngài ban chiếu rằng: "Trấn mầy trong hai năm nay đã mất mùa lại có tật dịch, vậy ta cho thuế mùa hạ trong 10 phần tha 3 phần".

Tháng 6, sông Kiến Đăng lở (thuộc về tỉnh Định Tường), ruộng lở xuống sông nhiều lắm, dân xiêu tán cũng nhiều, quan trấn và phủ, huyện sai thuộc lại ra khám, rồi tâu việc ấy lên. Ngài quở rằng: "tới khám tai thương, không phải phần việc thuộc lại, quan địa phương vâng mạng vua tuyên đức hóa cho dân, như thế có phải hay không?". Ngài truyền dụ quở trách nhơn sắc các địa phương rằng: "hễ có thủy, hạn, tai thương, thời quan trấn và phủ, huyện cứ thứ tự tới nơi khám xét, không được khinh ủy thuộc lại. Truyền chép lời sắc nầy để làm lệ thường".

Tháng 7, giặc Thổ ở Thanh Hóa cướp ngoài thành phủ Tĩnh Gia, quan phủ là Nguyễn Khoa Thường đóng cửa mà giữ. Quan tâu rằng: Thường có bệnh; Ngài ban rằng: "ngươi Giả Phục nhà Hán buộc chỗ bị thương mà ra trận, ngươi Hàn Hoằng nhà Đàng có bệnh mà ngồi xe đánh giặc, mấy người danh tướng đời xưa không phải là không có bệnh; Thường nếu có bệnh, cớ sao khi trước không xin từ chức quan?". Truyền giải về Kinh, giao bộ Hình nghị tội.

Tháng 8, Chân Lạp sai Sứ sang cống, xin thông thương như ngày trước. Ngài y cho.

Tháng 9, đến kỳ thu thẩm. Phan Tấn Quý phạm tội tham tang, phải án giảo hậu (1), đình thần bàn xin hoãn quyết. Ngài truyền rằng: "Tấn Quý làm chức ti mục (2)  mà lấy của dân, tang số nhiều lắm, tội không tha được". Truyền phải thắt cổ và thông báo cho các trấn biết.



----------------
(1) Giảo hậu là phải tội thắt cổ, nhưng chưa làm tội liền.
(2) Ti mục là quan thủ hiến các tỉnh.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #48 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:22:49 am »

Tháng 11, tu bổ đồn Châu Đốc. Vì nước lụt lở đồn, nên phải sửa lại mà phái binh đóng giữ. Ngài nghĩ rằng: phía sau đồn nhiều đất hoang, khiến quan trấn Vĩnh Thanh chiêu tập người Tàu, người Chân Lạp, người Đồ Bà cho ở đó, lập phố, lập chợ, khai khẩn ruộng hoang, cấm dân ta không được nhiễu hại.

Tháng 12, Trần Chấn, Nguyễn Hữu Nhơn từ tỉnh Quảng Đông về. Ngài hỏi tình thế nước Tàu - tâu rằng: "Các tỉnh đều yên, nhưng tháng 4, năm nay ở Yên Kinh gió bão to lắm, đến nỗi đá lăn, cát bay, trời đất tối tăm, chỉ có việc ấy lạ mà thôi".

Năm Kỷ Mão thứ XVIII (1819), tháng giêng, đào sông từ thành Phiên An thông đến sông Mã Trường. Khiến Phó tổng trấn Hoàng Công Lý đem 10.000 dân, cấp tiền gạo cho đào sông. Đào xong rồi, Ngài đặt tên sông là An Thông. Đàng sông đã thông, thuyền bè qua lại đêm ngày luôn luôn; chỗ ấy thành một chỗ đô hội lợi ích cho dân lắm.

Khiến Hữu quân Lê Văn Duyệt kinh lược trấn Thanh, trấn Nghệ. Ngài nghĩ rằng: hai trấn ấy năm nào cũng mất mùa, lưu dân tụ nhau trộm cướp, quan sở tại không kiềm chế được; nên khiến ông Duyệt ra đó tùy nghi xử đoán cho xong, nhưng việc lớn phải tâu lên Ngài biết. Dụ dân hai trấn ấy rằng: "Người Thanh Hóa thời hiếu nghĩa, thiệt là ấp thang mộc của nhà nước; người Nghệ An thời tục phát dân thuần, cũng là quận chân tay của ta đó. Lâu nay thủy hạn và đói khát luôn luôn, tuy rằng triều đình đã điều tể nhiều cách, thường ban ân xá; mà năm nào dân cũng mắc tai nạn, chưa được yên ổn, đến nỗi tiểu nhân nhóm nhau mà ăn cướp, làm rối thôn dân, ta cũng thương lắm. Nên chi sai quan Kinh lược đại thần ra mà kiểm xét quan lại, yên ủy nhơn dân, yên tập mấy tên lưu tán, xử đoán các việc oan uổn; ai mà về theo Triều đình thời tha tội, hoặc xin ra hiệu lực thời được thưởng, ấy là ý ta muốn dạy bảo khuyên ngăn để cho dân đều được sanh dưỡng an toàn mà thôi".
Đào vũng Cù Úc (thuộc tỉnh Định Tường) thông vào sông Mỹ Tho, Ngài mạng danh là sông "Bảo Định".
Tháng 2, Lê Văn Duyệt ra đến Nghệ An, bọn trộm cướp nghe tiếng bỏ chạy. Duyệt dâng sớ tâu:
"Nghệ An điêu hóa quá, xin tha thuế và bãi việc quan, lại phải lựa quan trấn để an tập dân". Ngài y cho.
Lưu Phúc Tường, Lê Đắc Tần, Trần Bá Bảo có tội bị giết. Dụ quan dân Vĩnh Thanh rằng: "Trấn mầy tiếp giáp biên phương, làm phiên ly cho nhà nước; đương khi khởi binh đánh giặc, trấn mầy là một chỗ chiến trường; ta trọng việc yên dân, cho nên không dám khinh suất dùng người dở; lâu nay mấy người ty mục, ta đều lựa kỹ càng lắm. Ai ngờ bọn Phúc Tường riêng bỏ phép công, không kể luật nước, tội chún nó nặng hơn điều trong luật đã định; không ngờ gian tham đến như thế! Ta nghĩ trấn mầy gặp mấy người quan lại độc dữ, lấy làm thương lắm! Bây giờ tiền dân có thể trả được, mà điều khổ dân khó cứu cho lại; sức quân có thể thư được, mà lòng giận chúng khôn giải cho nguôi; việc đã đến như thế, chỉ có tỏ phép nước để nghiêm quan trường, giết đứa gian tham để cho yên lòng dân mà thôi. Nay bọn Phúc Tường đã chịu tội chết chém, ta cũng đã sai quan Tổng trấn tịch ký gia tài trả lại cho dân; ta cùng dân chúng mầy giữ pháp công nhà nước, chưa hề tha đứa gian để làm hại dân bao giờ; vậy nên báo cáo cho dân chúng mầy đều hiểu ý ta".

Tháng 3, Lê Văn Duyệt đến Thanh Hóa dâng sớ nói việc tật khổ ngoài dân; Ngài khiến tha thuế thiếu trấn Thanh và Ninh Bình.

Tháng 4, xứ Quảng Nam đại hạn. Truyền chỉ tha thuế ruộng năm ấy.

Tháng 4 nhuận, huyện Quỳnh Lưu (thuộc Nghệ An) đất sập (giờ Mão ngày ấy, trời đương trong lặng, tự nhiên ở giữa thanh không có một tiếng như sấm, đất ruộng sập xuống sâu lắm, nước mặn phun lên; chỗ đất sập thời bề ngang 60 thước, sâu 6 thước).

Tháng 5, truyền trấn Nghệ An,Thanh Hóa, Thanh Bình làm sổ đinh. Vì ông Duyệt tâu rằng: sổ đinh trấn Nghệ bớt số nhiều quá (nguyên sổ thường hành là 130.000 đinh số, năm trước dân đi lưu tán các nơi nhiều lắm, hiện nay đinh chỉ còn 100.000; nên Triều đình bàn giảm cho 20.000). Ngài hạ chiếu rằng: "Sửa lại sổ đinh, là ý Triều đình muốn biết số dân nhiều hay ít mà thôi, chớ không phải bắt thêm cho nhiều đinh đâu; nhưng Nghệ An là một trấn lớn, cớ sao điêu hóa như thế?. Ấy là dân thường có thói trốn tránh mà quan lại thời không chịu hết sức làm việc. Mầy nên hết lòng coi ngó, mới xứng ý ta".

Tháng 6, xây lầu Phu Văn.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #49 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:23:29 am »

Cho Khoách Tất Công, Khoách Tất Tại làm chức Phòng ngự thiêm sự. Tất Công, Tất Tại đều là con Khoách Tất Tự, đi quân thứ với Lê Văn Duyệt, ông Duyệt xin cho làm quan (khiến quản xã Sơn Âm, xã Chân Lại, xã Trường Môn và xã Bằng Lương, phòng giữ đồn Chi Nê).

Tháng 9, tha thuế thân cho cháu ông Xử sĩ Võ Trường Toản là Võ Tài Đồng. Toản văn học uẩn tạ; đương lúc loạn Tây Sơn, ở ẩn Gia Định dạy học trò; bọn Ngô Tùng Châu và Trịnh Hoài Đức đều là học trò ông Toản; lúc Ngài ở Gia Định nghe tiếng Toản, Ngài khen lắm; nay Toản đã mất rồi, cho nên tha thuế thân cho Võ Tài Đồng.

Đào sông Châu Đốc thông với Hà Tiên, gọi là sông Vĩnh Tế. Ngài nghĩ trấn Vĩnh Thanh, trấn Hà Tiên gần nước Chân Lạp mà không có đàng thủy, qua lại không tiện. Lúc ấy có quan Chiêu thùy Chân Lạp là Đông Phò sang chầu, Ngài đòi vào hỏi việc đào sông, tâu rằng: "nếu đào sông ấy thời ích lợi cho dân Chân Lạp lắm, Phiên vương cũng muốn mà không dám xin". Ngài vui lòng, liền truyền dụ dân Vĩnh Thanh rằng: "Công trình đào sông ấy rất khó, việc Nhà nước và cách phòng giữ bờ cõi quan hệ rất lớn. Chúng mầy tuy là khó nhọc một lần, mà ích lợi cho muôn đời ngày sau; dân mầy phải báo cáo cho nhau biết, chớ nên sợ nhọc".

Đòi Trần Văn Tuân ở Chân Lạp về Gia Định, nhưng lãnh việc tào Hình. Ngài dụ các quan rằng: "Vì Phiên vương nên phải đặt quan Bảo hộ nước Chân Lạp. Nay Nặc Chân không nghĩ đến điều lo về sau, hay sanh nghi ngại; nếu cưỡng bức quá thời e sanh biến loạn, lưu quan Bảo hộ ở lại thời tổn oai Triều đình; chi bằng bãi chức Bảo hộ để Phiên vương giữ nó thời tiện hơn. Nếu sau nó có xin, sẽ phái quan sang bảo hộ; vậy thời trọng thể thống Triều đình mà tỏ được ân oai". Bèn đòi Tuân về, lưu một đội quân tam ngự đóng lại thành Nam Vang.

Đòi Lê Văn Duyệt về Kinh, Duyệt vào chầu. Ngài hỏi thăm một hồi lâu, Duyệt tâu rằng: "Chúng tôi ra đi đó cũg nhờ thiên oai miếu toán, may mà hai trấn đều được ninh thiếp; chỉ có ngoài dân gian khi trước thường lậu đất ruộng, mới rồi đây biên thêm vào sổ đánh theo thuế công, thuế nặng dân lấy làm khổ, xin sửa sổ điền lại, cho bằng lòng dân". Ngài cho.

Tháng 11, cho con cháu các tôi Vọng Các công thần được tập ấm.

Tháng 12, trong đạo Phú Yên nghe trên trời có tiếng như sấm. Ngày Ất Hợi, Ngài mệt lắm, đòi Hoàng thái tử và các ông Hoàng tử vào; đại thần là bọn Lê Văn Duyệt, Phạm Đăng Hưng đều thọ di chiếu (1) khiến Lê Văn Duyệt kiêm coi quân 5 đinh Thần sách. Ngày Đinh Vị Ngài băng!.

Bài Sử thần kính bàn - Ngài vừa trung hưng vừa sáng nghiệp, công đức cao dày; từ đời Hồng Bàng đến nay, chưa có vị đế vương nào sánh kịp. Lúc mới khai quốc, Ngài truyền xây thành quách, sửa lăng tẩm, lập nền Nam Giao, dựng nhà Tôn miếu, đắp nền Xã Tắc, định phẩm tước và chế bổng lộc, mở khoa thi mà lựa người tài, dấy lê nhạc, lập trường học, sửa pháp độ, ban luật điều, phong con cháu Lê, Trịnh, thương dòng dõi công thần, khước lễ cống hiến bên Thái Tây, nghiêm việc phòng bị nước Xiêm La, bảo hộ Chân Lạp, thương yêu Vạn Tượng; thiệt là oai vang phương xa, nhơn khắp nước nhỏ, quy mô rộng rãi sâu xa biết chừng nào!

---------------
(1) Di chiếu là tờ chiếu di chúc của Hoàng Đế trong khi Ngài gần mất.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM