Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:55:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 100996 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #50 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:27:59 am »

QUỐC TRIỀU CHÍNH BIÊN TOÁT YẾU

Quyển thứ III 
-----------------------

Thánh  Tổ  Nhơn  Hoàng  Đế

Niên Hiệu Minh Mạng

Hai tên húy Ngài viết bằng chữ Hán:
1. Bên tả chữ, bên hữu chữ.
2. Bên tả chữ, bên hữu chữ.

Ngài là con thứ tư đức Thế tổ; đức Thuận Thiên Cao Hoàng hậu họ Trần sanh Ngài trong năm Tân Hợi. Khi trước đức Cao Hoàng hậu chiêm bao thấy thần dân cho một cái ấn ngọc, đỏ như mặt trời, rồi sanh ra Ngài. Năm Gia Long thứ 15, đức Thế tổ lập Ngài làm Hoàng thái tử, ở điện Thanh Hòa; đến khi 30 tuổi nối ngôi, trị vì được 21 năm, hưởng thọ được 51 tuổi; lăng Ngài là Hiếu lăng.

Năm Canh Thìn thứ 1 (1820), tháng giêng, Ngài lên nối ngôi ở điện Thái Hòa, đặt niên hiệu Minh Mạng, ra ơn đại xá, ban ân chiếu cả thảy 16 điều.

Cho nước Chân Lạp tờ sắc thơ và hàng lụa; lại khiến chế đồ y phục trắng đem ban cấp tại nhà Nhu Viễn.

Ngài minh thận việc chánh trị: phàm những chương sớ trong ngoài, Ngài đều xem hết, việc thường thời diện dụ cho các nha, nghị chỉ phê phát; còn việc quan trọng thời phần nhiều tự Ngài nghị soạn lời chỉ, hoặc giao bản thảo, hoặc châu phê. Những tờ chỉ dụ Triều đình mới chó châu bản (1) từ đây là đầu.

Truyền bộ Hộ làm sách tổng cộng tiền lương, xét sổ tiêu lúa thâu và lúa phát, còn lại được bao nhiêu, làm ra hai bản sổ: một bản dâng lên sở Kinh diên, một bản dâng để Ngài xem rồi ban ra.

Quan Thống quản đồn Oai Viễn Nguyễn Văn Tồn mất, Ngài truyền dụ bộ Lễ rằng: "Nguyễn Văn Tồn tuy là người nước khác, nhưng hết sức làm tôi, thờ đức Tiên đế đã lâu, một lòng trung nghĩa, thiệt nên thương tiếc!". Truyền quan tuyên lời dụ, Ngài cho ân tế một lần; và cho hai cây gấm Tàu, 20 cây vải,
200 quan tiền (sau đến năm Minh Mạng thứ 9, Tồn lại được tặng hàm Thống chế. Đức Thánh tổ bảo bộ Lễ rằng: "ngươi Tồn tánh vốn trung dõng, như người Kim Mật Đê nhà Hán bên Tàu, khi trận đánh ở tỉnh Bình Định bị Tây Sơn bắt, thế mà đem quân về hết, thiệt là mạnh và khôn").

Khiến Bùi Đức Mân qua nước Xiêm báo việc Quốc tang; vua Xiêm hỏi rằng: "Tục nước tôi điếu tang, lấy bố thí làm hậu; nay muốn sai Sứ đem vàng làm phước, có nên không? - Đức Mân tâu rằng: cũng chẳng hại gì". Khi trở về, Ngài ban quở, giao cho bộ Hình định tội. Trịnh Hoài Đức và Phạm Đăng Hưng tâu xin, Mân mới được tha.

Tháng 2, tha thuế điền, thổ cho lưu dân làng Nga My về huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa. Từ đó về sau, ruộng đất của lưu dân bỏ hoang, mà quan sở tại làm sớ dâng lên, đều tha thuế cả. Dân làng

-------------
(1) Châu bản: là bản chữ son, bởi vì Hoàng Đế viết bằng son.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #51 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:28:49 am »

An Vân và làng Đốc Sơ về huyện Hương Trà dinh Quảng Đức (Huế) xin tha việc quan 2 tháng, để đào mương lấy nước tưới ruộng. Ngài khiến quan sở tại khám thiệt sẽ cho.

Khiến các cửa biển dự chứa tiền gạo để cấp cho kẻ bị nạn gió bão, nhưng phải xét kẻ bị nạn đó đi việc công hay việc tư, mà tùy cấp nhiều hay ít; nếu đi việc công, thời từ Đội trưởng trở lên gia cấp tiền gạo xấp hai.

Khiến quan Thiêm sự Hoàng Quốc Bảo, quan Thị hàn Hoàng Sư Đính và quan Nội hàn Lê Bá Tú đến Quảng Trị phát lúa kho ra bán. Nguyên trước dân Quảng Trị điêu háo lắm, bọn Quốc Bảo phụng phái đi xét hỏi, rồi đem tình dân khổ sở tâu lên, Ngài mới khiến phát lúa kho giảm giá mà bán (mỗi hộc lúa giá 8 tiền; binh dân thời bán cho mỗi tên một hộc, còn kẻ quan, quả, cô độc thời bán cho nửa hộc); và đòi quan Ký lục (tức là quan Án sát bây giờ) Lê Đồng Lý quở rằng: "bọn mầy làm quan trị dân, mà để cho dân đến như thế, là mầy vỗ nuôi trái đạo; nhưng mầy làm việc quan chưa được mấy ngày, nay hãy tha cho, phải về hội đồng với Lưu thủ Bùi Văn Thái phái viên làm cho thỏa đáng, khiến dân được đội ơn cả, để chuộc điều lỗi mầy trước. Còn Cai bộ Nguyễn Cư Toán không tài trị dân, phải giải chức ngay về Kinh chờ chỉ". Lại giao cho Đình thần bàn, phàm những dân trong dinh hạt lưu tán, thời tha việc quan, hoãn nạp thuế, để thư việc gấp cho dân.

Ngày Tân Sửu tế Trời, Đất ở đàn Nam Giao; xong rồi, mưa như đổ nước. Khi trước trong Kinh kỳ ít mưa, Ngài định tế giao rồi thời cầu mưa, mà bây giờ mưa liền, người ta cho là tinh thành Ngài cảm động đến trời.

Mới đúc tiền đồng và tiền kẽm nặng 6 phân, hiệu Minh Mạng thông bửu; khiến đưa kiểu tiền tra cuộc Bửu tuyền ngoài Bắc thành theo kiểu ấy mà đúc và lệ định lệ tiền công thợ với giá vật liệu.

Tháng 3, bãi thuế điểu đình (là theo thuế đánh chim) trong tỉnh Hà Tiên. Ngài dạy rằng: "Tiểu dân theo lợi, chăm nghề đánh bẫy chim, hại sanh vật nhiều, ta thiệt không nỡ, vậy cho bãi thuế ấy".

Định lệ cho kẻ phạm tội cướp ra thú: hạng cho tới cuối tháng 6 năm nay, tên nào xin ra thú thời tha; nếu quá hạn thời cứ luật phân biệt làm hai hạng: 10 nên cho thú; 20 không  nên cho thú; để co chúng biết sợ.

Tháng 4, khiến bộ Hộ mỗi tháng cấp tiền gạo cho các thợ; thợ nào chế khí dụng tinh xảo thời thưởng hậu hơn.

Tháng 5, đòi các Hương cống khoa Kỷ Mão tới Kinh, bổ làm Hành tẩu 6 Bộ để học tập việc chánh, mỗi người mỗi tháng cấp tiền 2 quan, gạo 2 lương; khiến Nguyễn Hữu Thận lựa người nào học hạnh thuần cẩn, sung chức Trực học để dạy Hoàng tử; Thận đem Trương Đăng Quế, Doãn Văn Xuân và Ngô Hữu Vĩ cử lên. Ngài cho.

Xuống chiếu cầu sách cũ. Trịnh Hoài Đức dâng 3 quyển Gia Định thông chí và Bột di ngư văn thảo của nhà Minh; Hoàng Công Quảng Đức là Cung Văn Hy dâng 7 quyển Khai quốc công nghiệp diễn chí; người trấn Thanh Hóa là Nguyễn Đình Chính dâng 34 quyển Minh lương khải cáo lục; người dinh Quảng Nghĩa là Võ Văn Biều dâng 1 quyển Cố sự biên lục. Ngài tùy bậc thưởng cho bạc và lụa.

Mới định lệ thuế đinh trấn Thanh Hóa, Nghệ An và Thanh Bình (là Ninh Bình). Khi trước 3 trấn ấy chỉ cứ số người trong sổ thường hành mà nạp thuế; đến đây sổ đinh xong rồi, mới định lệ thuế cũng như các trấn ngoài Bắc thành (thiệt nạp dân hạng tráng từ 20 tuổi trở lên, mỗi năm nạp tiền dung 1 quan tiền, tiền mân 1 tiền, cước mễ 2 bát; còn 18 tuổi thời một năm nạp tiền dung 5 tiền 30 đồng, tiền mân
30 đồng, cước mễ 1 bát, còn dân biệt nạp cũng thế; con các quan viên từ chánh tứ đến lục phẩm và các hạng người lâu nay được nạp thuế nhẹ, thời bây giờ cũng nạp như tráng hạng vậy; chức sắc, con các quan từ tùng tam phẩm trở lên, Hương cống, Sanh đồ, Cai hạp, Thủ hạp, tại gia nhiêu thân, nhiêu ấm, tấn thân khoa mục nhà Lê, lính giản các quân, dinh, vệ, đội, lính giáo phường các quân cơ vệ đội, nội gián, lính kho, lính trạm, đều là hạng tiêu sai cho tha thuế).

Bộ Hộ tâu các án lậu đinh điền ngoài Bắc thành, xin thôi thâu thuế lệ. Ngài giao cho Đình thần bàn, phàm tứ sáng mồng một tháng giêng năm thứ 1 hiệu Minh Mạng về trước mà phát giác ra thời không kể; còn từ tháng giêng về sau phát giác ra mới cho thôi thâu; lưu dân và tù phạm tha về, đem vào sổ đinh, thời tha thuế thân năm ấy.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #52 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:29:39 am »

Tháng 6, lập Quốc sử quán.

Tha thuế điền, thổ bị lở cho làng An Lãng về huyện Nam Xang trấn Sơn Nam (là tỉnh Nam Hà). Về sau hễ địa phương nào có tâu ruộng đất bị lở, thời tha thuế cả.

Cấm những người coi quân không được xâm khắc quân sĩ, phàm mỗi tháng cấp lương lính và khi được ơn vua cho mà giám khắc giảm đi, với lại nhơn việc để dùng dằng, đều phải tội nặng.

Tháng 7, lập miếu Khai quốc công thần và miếu Trung tiết công thần bên tả miếu Trung hưng công thần.

Các trấn phía Nam và phía Bắc đều tâu có bệnh dịch. Ngài xuống chiếu cầu lời nói trực, quan Thiêm sự bộ Lễ là Nguyễn Đăng Tuân tâu 6 điều: (10 lập viện ngự sử, 20 đặt quan Thái phỏng sứ; 30 bớt những quan dư; 40 lập nhà học các châu, huyện; 50 mở ân khoa; 60 ban ân lập đàn tế cô hồn).

Lại định điều cấm thuốc nha phiến.

Nước Chân Lạp có thầy tu tên là Kế làm loạn, xâm cướp đạo Quang Hóa, Quang Phong và Thuận Thành (thuộc trấn Phiên An). Quan trấn Phiên An là Đào Quang Lý đánh không được, giặc càng hung dữ, cướp phá khắp nơi; khi Lê Văn Duyệt đến, sai Hoàng Công Lý đem quân đi đánh và tư cho nước Chân Lạp thêm binh giúp sức, giặc thua chạy, Lý đem quân về.

Tháng 9, giặc Kế nước Chân Lạp tức bức thành Nam Vang (thành Chân Lạp), nước ấy đưa thơ cáo cấp. Lê Văn Duyệt sai quân Thống chế là Nguyễn Văn Trí đem quân cứu viện.

Định lệ quan viên được thuyên thăng phải có người dẫn vào yết kiến.

Tháng 10, Nguyễn Văn Trí đánh giết giặc Kế ở đất Ba Tầm Lai (về phủ Thần Thu); báo tiệp, Ngài mừng, bảo các quan rằng: "thầy tu làm loạn gần đến thành Nam Vang, may có Lê Văn Duyệt vừa đến, sai tướng phá tan; không thế thời thành Nam Vang mất, như làm hư hại rào dậu taa, thời thành Gia Định e có sự nguy hiểm". Lê Chất tâu rằng: "thầy tu ấy cũng là giặc mạnh, khi trước Lê Văn Duyệt sợ phiền lượng Thánh nghĩ, nên không dám nói sự giặc to lớn đó thôi".

Vua Chân Lạp là Nặc Chân lấy vì cớ tên Kế làm loạn, tự đến thành Gia Định tạ tội. Ngài sai sứ đem tờ chiếu  ủy dụ rằng: "Nước nhà ngươi mới yên, lòng ngườo còn đang trông mong, không nài sao được, ta cũng xét tình cho, không trách gì; trong các quan nước nhà người, trừ ra những tên: Tham, Đích, Tây, Kế, Luyện, Na, và Côn (mấy tên ấy theo giặc) phén không nên tha, còn đều là tôi con thuộc quốc của Triều đình cả, nên dung cho, đừng ngờ sợ gì, phải thêm dốc lòng kính thuận, vỗ yên nhân dân, sửa chức cống của nhà ngươi cho thỏa ý ta thương yêu bảo hộ".

Tháng 11, quanTrấn thủ Phiên An là Đào Quang Lý làm quan trái phép, quan Tổng trấn Gia Định tra ra tình trạng tâu lên; Ngài nghĩ Lý là tôi cũ theo ở thành Vọng Các, tha khỏi chết, nhưng phải giam cấm truy tang; rồi sau lại bị giết và tịch biên gia sản trả lại cho binh dân; lại truyền dụ cho các Võ ban đều biết để mà kiêng sợ.

Tháng 12, bộ Binh tâu rằng: "trong khoảng mùa hạ, thu, khí trời không hòa, Hoàng thượng suốt biết tình dân, khoan đòi lính thiếu; nay lệ đã yên rồi, xin y như cũ đòi mà điền vào cho đủ ngạch lính". Ngài dụ rằng: "tật bệnh mới khỏi,  kẻ đi trốn chưa về hết, nếu đòi gấp, thế e làm rối dân chăng". Không cho.

Xuống chiếu mở Ân khoa thi Hương, thi Hội, định mùa thu năm nay Tân Tỵ thi Hương, mùa xuân năm Nhâm Ngọ thi Hội.

Bọn giặc nước Chân Lạp bình cả rồi, khiến triệt binh ở thành Gia Định về.

Lê Văn Duyệt xin tâu triệt lính, nhưng để Nguyễn VănThụy đem 700 quân ở lại bảo hộ Chân Lạp, chờ nước ấy hơi yên, sẽ trở về Châu Đốc, kiêm giữ Hà Tiên, để bớt lính thú. Ngài cho.

Bắc thành tâu: bệnh dịch đã bớt. Năm ấy bệnh dịch từ mùa Thu qua mùa Đông, khởi đầu từ Hà
Tiên suốt đến Bắc thành, số dân chết đến 206.835 người, đó là không kể trai, gái, già, trẻ ở ngoại tịch;
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #53 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:30:32 am »

trước sau những tiêu chẩn cấp tất cả là hơn 730.000 quan (đồn rằng bệnh dịch ấy từ bên Thái tây lây qua).

Năm TânTỵ thứ II (1821) trấn Biên Hòa bị lụt, dân đói; Ngài khiến đem tiền gạo chẩn cấp.

Lính Thị trung đào được 10.000 cân đồng, dâng lên; Ngài khiến đem đúc 3 cái súng lớn, đều đặt tên là: "Bảo quốc an dân Đại tướng quân". Ngài ngự chế bài văn khắc vào súng.

Quan Giám thành Đỗ Phúc Thạnh dâng địa đồ núi sông dinh Quảng Đức (từ sông Lương Điền đến nửa núi Hải Vân, dài 24.000 trượng, thành ra 170 dặm; từ cửa biển Thuận An đến xứ Mọi thấp ở đầu rừng, bề ngang 10.000 trượng, thành ra 74 dặm dư 10 trượng). Ngài xem địa đồ ấy rồi nhơn bàn đến địa thế ở trấn Nghệ An rằng: "khi trước đức Tiên đế vẫn muốn đóng đô ở Nghệ An, nhưng thành Phú Xuân là chánh giữ nước, trong Nam ngoài Bắc, đàng đất cân nhau; còn Nghệ An nên lựa kẻ trọng thần giữ đó".

Tháng 2, đặt tên sông An Cựu là sông Lợi Nông, phía trên phía dưới đều dựng đá mốc ghi lấy; sông bốn phía Kinh thành thời đặt tên sông là sông Hộ thành, cầu Bạch Yến đổi tên là cầu Kim Long.

Xóa tên Nguyễn Xuân Hải trong sổ Hương cống. Hải là người làng Đông Ngạc, tỉnh Sơn Tây, mạo vào sổ dinh Quảng Nam, thi đậu Hương cống, Hàn lâm biên tu Hoàng Quýnh phát giác, vì thế phải xóa tên trong sổ Hương cống.

Lê Văn Duyệt trấn Gia Định, ủy quan Thiêm sự Trần Nhật Vĩnh vào chầu. Ngài hỏi: "nước Chân Lạp có sợ oai mến đức không? - Vĩnh tâu rằng: nó có sợ oai, còn mến đức e chưa dám chắc".

Khiến quan văn quan võ xét trong thuộc viên mình ai có tài nghệ gì thời cho cử lên.

Tháng 3, nước Vạn Tượng khiến Sứ qua cống, Ngài ủy lạo hậu thưởng mà cho về. Nó lại nói đàng Nghệ An ngạng trở, Ngài dụ cho quan trấn ấy đem quân đưa về.

Lại khiến quan đem ấn qua bảo hộ Chân Lạp. Vì Nặc Chân có dâng biểu tâu: "nước tôi nhỏ yếu, khi trước nhờ ơn đức Thái tổ cao hoàng đế tài bồi, sai quan bảo hộ, nước tôi nhờ mà yên được; vì tôi trẻ thơ chưa biết gì, tin lời nói dèm, nên quan binh bảo hộ rút về Gia Định; trong nước lại có nghịch Kế, nghịch Tây làm loạn, nhờ quan binh tới đánh, bình được cả; vậy thời tôi giữ được nhà nước tôi, đều là ơn Triều đình gầy dựng lại; nay xin đặt quan bảo hộ như trước". Ngài thương tình, mới khiến Nguyễn Văn Thụy giữ thành Châu Đốc, lại cho ấn bảo hộ nước Chân Lạp, kiêm coi việc Hà Tiên. Ngài dụ rằng: "thành Châu Đốc là nơi xung yếu, ngươi nên khéo trị, mộ dân buôn, lập thôn ấp, cho số hộ ngày càng thêm, ruộng vườn ngày càng mở, mà việc phòng bị nơi biên thùy càng thêm cẩn thận; phàm tờ biểu văn, công văn Chân Lạp, thời xem xét trước rối sẽ phát đệ; còn công việc trong nước nó, đều giao cho vua và quan phiên cứ theo tục nước nó mà làm; lại nên nghiêm trấp quân sĩ không được mưu lợi riêng, để cho trong thể thống nước mình".

Dùng Hàn lâm tu soạn Nguyễn Đăng  Sở làm Đốc học Gia Định, người học trò trấn Nghệ An là Nguyễn Trọng Võ làm Phó đốc học, đó là theo đình thần cử lên. Ngài thường bảo quan thượng thơ bộ Hộ Nguyễn Hữu Thận rằng: "người Gia Định tánh vốn trung nghĩa, nhưng ít học, nên hay ưa khích khí, nếu được kẻ học giỏi làm thầy, đem lễ nhượng mà dạy, thời dễ hóa là thiện, mà thành tài được nhiều".

Đúc ấn Quan phòng bằng đồng phát cho ty Thương thuyền, ty Tào chánh và Tào Hộ, Binh, Hình, Công ở Gia Định, Bắc thành; đúc ấn đồng phát cho các dinh, trấn, đạo, phủ, huyện.

Tha thuế thân cho thợ mộc, thợ cưa, thợ đóng thuyền các làng ở Bắc thành và Nghệ An.

Tháng 4, Ngài duyệt xem Kinh thành, thấy tên lính đâu nằm bờ hồ, hỏi ra mới biết lính Ban trực tiền vệ, mới bắt tội, quản vệ bị đánh 40 roi, Chánh đội bị đánh 80 trượng. Ngài dụ bộ Binh rằng: "nay về sau cứ theo lệ ấy mà định tội. Còn trong Kinh thành thời cứ giám thành, ngoại thành thời cứ dinh Quảng Đức phải giữ địa phận mà tuần xét, phàm ở đàng sá có kẻ đau yếu, như lính thời giao cho quản suất, dân thời giao cho Lý trưởng hay là thân nhơn nuôi, nếu trái phép ấy thời coi số người đau nhiều hay ít, ngày tháng lâu hay mới mà định tội".
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #54 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:34:16 am »

Định lệ thuế sâm núi Sa Kỳ ở Quảng Nghĩa (số hộ lấy sâm là 30 người, mỗi năm một người nạp 3 cân sâm, không có thời theo lệ biệt nạp mà thế nạp tiền 8 quan).

Nguyễn Văn Thắng từ bên Thái tây qua dâng Hàn thử xích, Ngài hỏi: "muốn về nước không?- tâu rằng: tuổi đã già, xin ở trọn đời làm tôi". Lúc ấy có người qua với Thắng một lần, dâng Quốc thơ và đồ thổ sản, xin thông thương; Ngài hậu đãi phẩm vật cho về.

Tháng 5, Ngài nghĩ trong trấn Nghệ An dân biệt nạp gỗ lim lưu tán mới về, dụ cho quan trấn xét thuế gỗ nạp đó như không nhằm thức và có tỳ, đều cho thâu cả; có thiếu thời hoãn cho.

Quan thành Gia Định tâu: "học trò các trấn ngoài, ở đây học tập, có kẻ đã đậu nhất nhị trường, tới trú ngụ đã lâu ngày, bây giờ thành ra người trong xứ, xin cho chúng nó phụ thí". Ngài cho. Lại dụ rằng: "nay về sau từ Phú Yên trở về Nam cho tùy tiện phụ thí, từ Bình Định trở về Bắc phải theo nguyên tịch, như lời Bộ nghị". Quan trấn lại tư Bộ rằng: "bệnh dịch mới rồi, nhiều có trọng tang, phép trường không được đi thi; nên số học trò thi không được mấy, xin Bộ tâu lên". Ngài ban rằng: "đem hiếu làm trung, là bản lĩnh người ta lập thân, quên tang cha mẹ mà gấp đàng vinh tấn, không phải là hiếu, đã bất hiếu còn thờ vua sao đặng; chờ đến khoa sau cũng chẳng muộn gì".

Quan thành Gia Định tâu: "quân Thần sách ở Thanh, Nghệ, và lính thú các dinh ở Bắc thành lệ có tiền phụ dưỡng quần áo, mỗi năm cứ địa phương đòi quan sở tại vận cấp". Ngài dụ rằng: "thuế chánh cung (1)  nhà nước, dân còn chưa sẵn, tiền chi phí nuôi lính, bắt nữa sao đành; phàm lính giữ thành, trừ lương hướng ngoại, cứ mỗi tên cấp thêm cho 5 quan tiền; còn quần áo thời quan phải cấp, mà tha tiền phụ dưỡng cho dân".

Tháng 6, sông Ngưu Chữ ở Gia Định nước trong hơn 50 dặm, từ ngày Canh Thìn đến ngày Tân Mão cả thảy 12 ngày.

Trong hạt Gia Định nhiều trộm cướp. Ngài bảo Thị thần rằng: "Đất Gia Định vốn sợ Lê Văn Duyệt, sao mà trộm cướp ngày càng nhiều thế?, quan Hữu quân Nguyễn Văn Nhơn tâu rằng: "đất ấy nhiều nơi bụi rậm, đầm lầy, trộm cướp dễ nhóm họp; huống chi dân ấy không biết chứa để, ngoài việc cấy lúa, không trồng trỉa gì, ngộ năm mất mùa, thời không giữ lòng thường được".

Tháng 7, nước sông Ngưu Chữ lại trong 6 ngày. Khiến quan trấn Phiên Yên đem lễ kinh tế, để đáp phúc tốt quỷ thần.

Trấn Thanh Hóa và Thanh Bình bị gió bão mưa to, lúa ruộng ngâm nước mất, Ngài khiến quan địa phương tới khám rồi tâu lên.

Ngài định tháng 9 ngự giá Bắc tuần. Khi trước Sứ ta là bọn Trần Bá Kiên tháng 4 đến Yên Kinh, vua Thanh (2) sai quan Án sát tỉnh Quảng Tây là Phan Cung Thần sung chức Khâm sứ. Ngài khiến Chưởng thủy quân Tống Phúc Lương lãnh thuyền binh đi trước; khiến Thanh, Nghệ và Bắc thành dự chỉnh thuyền binh rước ngự giá.

Truyền phàm nơi phát tích miếu Lịch Đại Đế Vương mà gần đàng đi, thời khiến các quan kính tế; còn thần Sơn, Xuyên thời cứ địa phương mỗi trấn lập một đàn hiệp tế.

Ngày Nhâm Tuất ngự giá từ Kinh sư ra đi, ngày Mậu Thìn đến Hành cung Quảng Bình, Ngài lên thành xem lũy xưa, lại ngự xem cửa Nhật Lệ một hồi lâu.

Cho lập hai đàn tế các tướng sĩ Nam, Bắc tử trận (nhưng tế nam tướng sĩ thời hễ phẩm trọng hơn). Ngày Canh Ngọ qua sông Gianh; ngày Tân Vị qua núi Hoàng Sơn; ngày Bính Tý đến Hành cung Nghệ An, tha thuế điền năm ấy. Ngài thấy Hành cung làm rộng lớn quá, quở các quan trấn; liền khiến gia thưởng cho quân dân 6.000 quan tiền.

Tháng 10, ngày Nhâm Ngọ, đến Hành cung Thanh Hóa, các phụ lão chiêm bái, Ngài thưởng 300 lạng bạc, tha cho nửa thuế ruộng mùa đông và nửa thuế thân năm ấy; Ngài thấy Hành cung giản tiện

-----------------------
(1) Thuế chánh cung là thuế đinh điền.
(2) Vua Dạo Quang nhà Thanh.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #55 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:39:11 am »

chất phác, ban khen, thưởng 4.200 quan tiền; còn con cháu nhà Lê, Trịnh đều thưởng cho cả. Ngày Mậu Tý yết Nguyên miếu, thưởng cho Quý huyện, Quý hương vàng, lụa, trâu, rượu. Ngày Canh Dần đến Hành cung Thanh Bình, hạ nửa thuế mùa đông. Ngày Ất Vị đến Hành cung Bắc thành; ngày ấy trời lạnh, kẻ già kẻ trẻ hoan nghinh đầy đàng, Ngài cho kỳ lão thành 3.000 quan tiền, người 90 tuổi thời cho thêm một cây lụa, tha thuế thân cho các trấn Bắc thành; sai Trung sứ đem đồ thổ sản Bắc thành về dâng Từ Thọ, Ngài tay viết tờ biểu thỉnh an, đại lược trong tờ biểu nói: "Con từ khi ra đi đến nay, qua địa phương nào cũng đều gia ơn cả; từ Quảng Trị, Quảng Bình cho đến Nghệ An, Thạnh Hóa, Thanh Bình và 11 trấn Bắc thành chỗ nào cũng tha thuế đinh điền, thưởng cho quan lại, binh dinh ở Kinh và ở ngoài, sở phí tiền bạc đến hơn vài mươi vạn; đó là con muốn hiệp vui thiên hạ để vui lòng trên, nhóm phước thiên hạ để dâng quả phước".

Lại cầu các sách sót.
Cầu người giỏi còn sót lại của Bắc thành, Thanh Hóa và Nghệ An.
Thân cấm các quan tân (1) ở Bắc thành không được lấy thuế trái phép.

Nghị viện duyệt tuyển-Các quan Bắc thành và Thanh Nghệ tâu: "Có thân thời phải có thuế, có hộ thời phải có sổ, để cho biết số nhiều ít và phân biệt kẻ nào lão người tráng; nhà nước duyệt tuyển đã có phép sẵn rồi, từ sông Gianh trở về Nam đều theo phép cũ; nay bốn biển lặng yên, xin Hoàng thượng trước hết nên nối chí noi việc đức Tiên Hoàng, vậy xin 5 trấn trong xứ Bắc thành cứ 5 năm một lần tuyển, từ năm Nhâm Ngọ thứ 3 hiệu Minh Mạng là đầu; rồi Thanh, Nghệ cũng theo thứ tự như vậy mà làm; vậy thời nam bắc, đồng phong, xa gần một thể, lợi nước lợi dân đều được tiện cả". Ngài khen phải.

Sứ Tàu là Án sát Quảng Tây Phan Cung Thần đến Nam Quan, Ngài sai sứ Hậu mạng là Phan Văn Túy bàn với sứ Tàu định ngày 18 tuyên phong, ngày 19 dụ tế; Thần thuận theo, bội đạo tới, Ngài bằng lòng lắm, bảo Thị thần gần: "ngày 19 vừa gặp lễ tường, có lẽ Thần linh đức Hoàng khảo ta ở trên trời giúp hộ đó". Ngày Giáp Ngọ lễ sách phong xong, ngày Ất Vị dụ tế, Ngài mặc áo lễ tới trước thần ngự dâng rượu, rồi khiến quan tiếp Sứ, Phan Cung Thần theo kiệu long đình mà đến, làm lễ tế dụ, xong rồi, đãi tiệc và tặng hảo; Phan Cung Thần chỉ xin nhận quế Thanh mà thôi, liền ngày ấy về nước. Ngài mới định ngày hồi loan.

Năm Nhâm Ngọ thứ III (1822), tháng giêng, ngày 1 là ngày Đinh Vị, Ngài về đến Kinh sư.

Khiến quan Phó sứ Giám thành là Đỗ Phúc Thịnh qua đạo Cam Lộ xem đo từ sông làng Điếu Ngao đến Ai Lao, vẽ hình thế núi sông dâng lên. Ngài dụ cho Sà trưởng (2) trong 7 xứ Mọi biết, nhưng cấm không được cung đốn.

Nghị cho các Trung hưng công thần được tùng tự nhà Thế miếu. Khiến Sứ qua Xiêm.
Khiến Quảng Bình và Thanh Hóa cho mộ dân lập Yến hộ (mỗi người một năm nạp thuế yến sào 8 lượng) tha thuế thân; nhơn định lệ thuế Yến hộ.

Mới duyệt tuyển 5 trấn Bắc thành (Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Hải Dương, Sơn Tây, Kinh Bắc; lập mỗi nơi một sổ duyệt). Kịp khi Ngài xem sổ tổng cộng, thấy số đinh tăng nhiều, bọn Lê Chất đều được gia thưởng.

Quan thành Gia Định tâu: "gần đây những án cướp trộm ở thành hạt phần nhiều là dân cùng lậu sổ, chúng tôi khiến các trấn phàm các làng có đơn tục dân đinh, tuy phần nhiều đem vào hạng cùng cố, cũng phê cho cả, không nệ lệ (cứ 10 đinh thời một đứa cùng); vậy nên năm ngoái từ tháng 8 đến tháng
12, dân mới tục vào tất cả được 16.155 người, xin tha thuế thân năm ấy". Ngài cho phải. Lại sắc từ năm nay về sau đứa cùng cố có sản nghiệp rồi, thời đem vào hạng tráng; nếu nó làm ăn chưa ra gì, thời hãy tha thuế cho.


--------------
(1) Quan là cửa ải; tân là bến tàu.
(2) Sà trưởng là người đầu mục xứ Mọi.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #56 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:40:05 am »

Dinh Quảng Nam, Quảng Trị đã lâu không mưa, lúa bị hại nhiều; Ngài khiến quan dinh khám mà tâu, sẽ lượng tha thuế cho.

Tháng 3, quan Chưởng hữu quận công Nguyễn Văn Nhơn mất, tặng chức Thái bảo, thụy là Trung cẩn.

Định lệ các nha đóng ấn (Bửu vua đóng trên chữ niên; ấn đại tiểu nha môn đóng trên chữ nguyệt; để phân biệt kẻ tôn người ti và phòng cạo tẩy; ấn tam nha hội đồng theo thứ đóng hai bên chữ nguyệt).

Mới mở Ân khoa thi Hội, định phép thi (kẻ Hương cống nhà Lê cũ chưa ra làm quan cũng cho thi; quyển đằng lục thời in đỏ, đậu cả bốn trường thời yết bản ở lầu Phu Văn; quan trọng có bà con đi thi thời cho hồi tị).

Nguyễn Cư Toán phạm tội tham tang, nhưng phạm tội ở trước khi ân xá, gia ân giảm tội chết, mà bị đồ 6 năm, truy tang trả cho dân. Con là Cư Sĩ mới 14 tuổi, xin thay tội cho cha, xét ra thời tên Sĩ mang xiềng mà không có sắc hối hận, Ngài khen rằng: "Toán là con công thần Nguyễn Cư Trinh, vậy thời Cư Trinh có cháu khá, ta nghĩ đến tôi có công mà thương con có hiếu; tha cho".

Tháng 4, định phép thi Đình; đúc ấn lớn khắc 4 chữ: "Điện thí chi ấn" và tiểu kiềm vuông khắc 4 chữ triện: "Luân tài thạnh điển" đều bằng bạc.

Tháng 5, đặt chứ Học chánh Quốc tử giám (trật tùng lục phẩm) chuyên dạy Tôn sanh; khiến quan Tế tửu, Tư nghiệp lựa hai ba người nào có học hạnh sung bổ chức ấy.

Tháng 6, nước Chân Lạp khiến Sứ dâng đồ lễ phẩm, mừng Ngài ngự Bắc tuần về; Ngài khiến cho đem lễ ấy khấu trừ lễ cống năm Quý Vị. Khi trước thần dân nước Chân Lạp oán vua nó lắm, Lê Văn Duyệt sợ nước nó có biến, sai Trần Nhật Vĩnh tới Kinh tâu thay; Ngài ban sắc thơ, dụ vua Chân Lạp phải gắng mà tu tĩnh tự cường, lại dụ quan Bảo hộ Nguyễn Văn Thụy phải ở lại đó.

Khiến quan địa phương xét những người dân sống 100 tuổi và nghĩa phu, hiếu tử dâng lên.

Tháng 7, quan Tổng đốc xứ Mạnh Nha Hố nước Anh Cát Lợi là Hà Sĩ Định sai Cá La Khoa Thắc đem thơ tới dâng đồ phẩm vật (súng điểu thương 500 khẩu, đèn pha-lê một đôi); tàu đến cửa Đà Nẵng, xin thông thương như các ngoại quốc, nhưng không dám lập phố ở. Ngài khước không cho.

Tháng 9, đổi danh hiệu đồn điền 4 phủ ở Gia Định cho theo ngạch lính.

Cấp tiền công bản cho dân nấu đường ở Quảng Nam, Quảng Nghĩa; đến bây giờ Quảng Nghĩa gạo cao, xin lãnh lúa; Ngài cho.

Kinh sư lụt lớn, nhà cửa dân gian hư nát nhiều; Quảng Trị, Quảng Bình cũng mưa lụt, Ngài truyền chẩn cấp cho dân cả.

Tháng 10, định lễ hễ đến tiết Đông chí thời đình việc hình (trước tiết Đông chí 3 ngày, sau tế Giao 10 ngày, đều đình việc hình).

Vua Chân Lạp là Nặc Chân đưa thơ đến thành Gia Định xin hiệp lực đào sông Vĩnh Tế. Ngài khiến
Duyệt dự sắp đặt trước, Duyệt xin đem binh dân ở thành và đồn Vĩnh Thanh, Định Tường, Oai Viễn hơn
39.000 người; binh dân nước Chân Lạp hơn 16.000 người, chia làm 3 phiên, định đầu mùa Xuân năm sau khởi làm, đầu mùa Hạ sẽ xong. Ngài cho và dụ rằng: "Đằng sông Vĩnh Tế liền với Tân Cương, xe thuyền qua lại tiện lợi lắm; đức Hoàng khảo thế tổ Cao Hoàng đế ta mưu sâu nghĩ xa, chú ý việc ngoài biên, vừa mới mở đào, công việc chưa xong; nay ta theo chí Tiên hoàng, chỉ nghĩ cách khó nhọc một lần mà được thong thả lâu dài; các ngươi phải trù nghĩ thế nào cho mau xong, để xứng đáng ý ta. Vả lại sông ấy không lợi gì cho Chân Lạp, mà vua nó xin thế, chưa chắc thiệt tình, khi nào lời dụ ta tới, chắc nói có điều ngăn trở, nhưng làm phàm làm việc có quả quyết mới nên, mà dùng dằng thời hư, chí ta đã định, chúng nó nói gì cũng không sá".

Tháng 11, dinh Quảng Đức, Quảng Trị gạo cao. Ngài khiến Kinh phải hiệp với quan 2 dinh ấy phát lúa kho bán cho dân. Lúc bấy giờ có tên lính Kinh thương là Đặng Văn Khuê đong lương: cứ 2 hộc
 
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Bảy, 2009, 06:19:50 am gửi bởi Midaxudavo » Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #57 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:41:23 am »

lúa bớt đi vài cáp; Ngài sắc đem tên ấy chém ngay; dụ Đình thần rằng: "gần ở đây còn có đứa dám làm tệ như thế, thời biết rằng bọn tham đô chỗ nào cũng có, phải truyền dụ ra nghiêm cấm".

Mới đặt chức Tri phủ 4 phủ: Tân Bình, Định Viễn, Phước Long và Kiến An ở trấn Gia Định; cho Biên tu Hà Quyền, Phan Hữu Tánh, Võ Đức Khuê, Phan Bá Đạt thăng bổ chức ấy. Bọn Hà Quyền vào trước bệ từ tạ xin đi. Ngài dụ rằng: " Tấn sĩ triều ta từ bọn mầy là đầu, mà dân Gia Định biết nghĩa để dạy, phải nghĩ tuyên đức hóa khuyên phong tục, cho xứng ý ta".

Khi trước dân Thổ trấn Hưng Hóa là tên Lý Khai Ba làm giặc, tự xưng Lý Hoàng, dân Mọi theo nhiều; quan Tổng trấn sai Chưởng cơ thống quân Nguyễn Khắc Toản đi theo bờ phía bắc sông Thao, Nguyễn Đức Niên đi theo bờ phía nam, đều tấu quân lên; tư tờ cho quan Trấn thủ Tuyên Quang là Đào Văn Thành đem binh ứng tiếp; giặc giữ nơi hiểm yếu, thường chống với quân ta, ta phải thêm quan Quản thủ Quốc Oai là Phan Bá Hùng, Phấn võ vệ úy Lê Văn Túc đóng quân giữ, mà dục Nguyễn Khắc Toản tấn quân đánh. Đến khi Khắc Toản đến Điêm Khê, Thành đem quân tới hội, tấn quân đến động Cam Đàng đánh lấy được đồn giặc, chia quân đuổi theo phá luôn, bắt được Quốc lão giặc là Lý Văn Nhị và quân tiên phong hơn 10 người, lấy được giấy tờ, ấn tín và súng ống, khí giớ của giặc nhiều lắm. Báo tiệp lên, Ngài phát kho: hoa hồng, mộc hồng, tố sô sa, mỗi thứ 5 cây, giao cho quan Tổng trấn thưởng cấp Lý Khai Ba sau bị người Tàu là Vi Trung Tú bắt được giải nạp giặc Hưng Hóa đều yên.

Tháng 12, đổi dinh Quảng Đức làm phủ Thừa Thiên, Thanh Bình làm Ninh Bình, Sơn Nam Thượng làm Sơn Nam, Sơn Nam Hạ làm Nam Định, Kinh Bắc làm Bắc Ninh, Yên Quảng làm Quảng Yên; 3 phủ: Đức Thọ, Anh Sơn, Lý Nhân; 3 huyện: Phong Danh, Phúc Thọ, Hàm Yên đều đặt tên mới.

Năm Quý Vị thứ IV (1823), tháng giêng, mới định lệ thưởng các thọ quan, thọ dân.

Duyệt tuyển 4 trấn: Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận (Phú Yên, Bình Hòa được số nhiều mà Phú Yên nhiều hơn; những quan duyệt tuyển trấn Phú Yên được thưởng ký lục 2 thứ, quan duyệt tuyển trấn Bình Hòa một thứ).

Tháng 2, lại đào sông Vĩnh Tế, khiến Lê Văn Duyệt đổng lý việc ấy. Khi trước Duyệt nghe Hưng Hóa có giặc, mật tâu xin hoãn việc đào sông; đến nay thì giặc bình rồi, lại bắt binh dân đào nữa; chưa được bao lâu, Duyệt đau, Ngài khiến quan Phó tổng trấn Trương Tấn Bửu thay việc cho Duyệt.

Lê Văn Duyệt tâu: "các chánh đội, Đội trưởng ở đồn Oai Viễn đều người Mọi cả, xin đặt tên họ cho chúng nó, để biến đổi thói Mọi". Ngài chuẩn y, lại cho áo mão để khuyên chúng nó.

Tháng 3, sách Ngự chế đế hệ kim sách làm xong. Từ khi tháng giêng, Ngài thân định bộ chữ nhật 20 chữ để truyền làm huy hiệu cho các vua nối sau; và Mỹ tự về hệ Hoàng thân, mỗi hệ 20 chữ, để phân biệt kẻ thân người sơ; ấy là bắt chước nhà Châu xưa, bói xem coi thử làm vua được mấy đời và mấy trăm năm.

Tháng 4, hoãn việc đào sông Vĩnh Tế. Vì nhơn đến tiết mùa Hạ, mà việc đào sông chỉ còn hơn 1.700 trượng, Ngài bèn truyền cho thôi đào, và thưởng hàng lụa cho Lê Văn Duyệt, Trương Tấn Bửu cùng bọn Giám tu và vua Chân Lạp còn bọn Phiên liêu đốc làm đó cũng cho quần áo; lại cho Duyệt một cái đai ngọc.

Cấm bọn Thị vệ khi phụng mạng sai ra việc gì, không được yêu sách.

Tháng 5, định quy trình dưỡng mông trong nhà Tập thiện (trường học các ông Hoàng Tử) cả thảy 12 điều; đều là Ngô Đình Giới nghĩ ra.

Tháng 6, tha thuế ruộng Thanh Hóa, Ninh Bình vì bị tai nạn.

Tháng 7, định trình hạn lệ hạch trường Quốc tử giám thượng tuần 4 tháng trọng (1) thời xét hạch, trung tuần tháng làm sổ tâu, chậm thời phải tham xử, lại sắc cho các địa phương phàm những cống cử Học sanh mà đã cho làm hạng Giám sanh thời tha thuế thân, lại cấp cho áo mão.

--------------
(1) Bốn tháng trọng là: tháng 2, tháng 5, tháng 8, tháng 11.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #58 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 12:42:29 am »

Trấn Nghệ An tâu xin trù tể. Ngài dụ bộ Hộ rằng: "trấn ấy đất xấu, dân nghèo, bị  mất mùa luôn, thuế lúa mùa trước đã cho nạp tiền, nhưng ta còn nghĩ dân cùng cũng như người đau lâu chưa khá, ta thương lắm, thuế thân năm nay 10 phần tha cho 5, tiền lúa còn thiếu, hoãn cho sang năm sẽ thâu".

Định lệ các địa phương tâu báo hỏa tai. Khi trước huyện Nghi Xuân, La Sơn, Chân Lộc ở trấn Nghệ An mà dân bị cháy cả thảy hết 682 nóc nhà, quan trấn tâu lên, Ngài khiến cấp cho mỗi nhà 2 quan tiền và 1 hộc lúa. Dụ cho quan địa phương rằng: "từ nay dân gian trong một ngày mà bị cháy lây từ 100 nhà trở lên, lệ nên chẩn cấp, thời phải tâu ngay; còn cháy tầm thườn, thời thôi".

Sửa viên tẩm của ông Anh duệ Hoàng Thái tử.

Tháng 8, quan Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt dâng biểu xin ra chầu, Ngài cho, khiến quan Thự tiền quân Trần Văn Năng làm Phó tổng trấn coi thay việc.

Khiến quan Tổng trấn Gia Định lựa những sanh đồ ở trấn hạt ai có thể làm việc quan được, thời sung bổ làm thơ lại 6 phòng.

Cho Thanh Hóa, Ninh Bình hoãn thuế thân mùa hạ 10 phần hoãn 5. Ngày lời dụ đến nơi, thời dân đã nạp gần xong, quan địa phương tâu lên. Ngài ban rằng: "ta nghĩ 2 hạt ấy không may bị tai hạn, nên gia ơn hoãn thuế; nay dân gấp việc lại sợ phép nước, mà đem nạp như thế, có lẽ nào không cho dân nhuần thấm ơn ta? Vậy thời thuế mùa đông này cho đóng như số ấy".

Kinh sư gió lớn mưa dữ, cột cờ trên kỳ đài gãy, Ngài khiến dựng lại, nhơn gió lại gãy; lại khiến làm cái khác và sắc cho lính thủ hộ rằng: "ba từng đài ấy ai không có cớ gì thời cấm không được lên".

Tháng 9, cho quan Phó đốc học là Nguyễn Đăng Sở làm Tư nghiệp trường Quốc tử giám. Đăng Sở vào bệ kiến, Ngài hỏi: "học trò trấn Gia Định thế nào? -Tâu rằng: học trò xứ ấy nhiều kẻ toán tú, dễ dạy. - Ngài ban rằng: năm ngoái truyền cho Cống cử Học sanh, sao không thấy cử tên nào: - Tâu rằng: tờ sắc xuống không thấy hỏi đến học thần, nên tôi không dám việt chức mà cử". Ngài liền khiến quan Tổng trấn hỏi quan Đốc học lựa người nào nên sung cống thời tâu lên.

Định lệ thu thẩm: mỗi năm đến mùa thu xét việc hình, thời bộ Hình lục những tội trọng đứa tù đáng chết, chia làm 3 sổ: 10  Tình chân; 20    Hoãn quyết; 30    Căng nghi, giao cho các quan Đình thần duyệt cho kỹ, bàn lại tâu lên; cho quan Thiêm sự sáu bộ cũng được dự bàn việc ấy.

Tháng 10, năm ấy hạn và lụt, hoãn thuế cho phủ Thừa Thiên, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nghĩa, Quảng Nam, và Bình Định.

Định phẩm trật Tri phủ và Tri huyện (Tri phủ tùng ngũ phẩm, Đồng tri chánh lục, Tri huyện tùng lục).
 
Tháng 12, Đinh Phiên có tội phải cách chức (vì trấn thuộc là Hoàng Nghĩa Hựu, Nguyễn Văn Lược làm sắc thần mà còn để làm chữ hiệu của Ngụy Tây); con làm Tri phủ Bình Thuận là Đinh Văn Phác xin giải chức theo nuôi cha. Ngài cho.

Ngài cùng Thị trần bàn việc học, nhơn dạy rằng: "có một ngày ta chợt nhớ việc nhà Minh, mà quên tên người, hỏi các ngươi cũng không ai biết cả, hay chưa học sử Minh chăng?". Phan Huy Thực tâu rằng: "từ đời nhà Lê đến nay, học cử nghiệp chỉ đọc sử Hán, Đàng, Tống để mau đi thi mà thôi". Ngài ban rằng: "từ nhà Nguyên, nhà Minh đến nhà Thanh sáu bảy trăm năm, mà từ nhà Tống trở lên đã thành ra xưa lắm, bỏ gần cầu xa làm gì?". Hỏi quan Thiêm sự Lê Văn Đức, Đức tâu rằng: "chúng tôi cũng học cử nghiệp mà thôi". Ngài ban rằng: "đã lâu nay văn cử nghiệp làm cho người ta lầm như thế, ta nghĩ rằng văn chương vốn không nhất định, nay văn cử nghiệp chỉ câu nệ lối hủ lậu mà khoe với nhau, mỗi nhà lập riêng mỗi cách học, nhơn phẩm cao hay thấp, khoa trường lấy hay bỏ, đều theo nề nếp ấy. Lối học như thế, nên nhơn tài kém lần đi, nhưng thói quen đã lâu, đổi ngay cũng khó, vài năm sau sẽ lần lân bàn mà đổi lại".

Vua nước Diến Điện khiến Sứ qua thông hảo. Khi trước quan trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt khiến thuộc là Nguyễn Văn Độ đi thuyền buôn qua nước Hồng Mao mua đồ binh khí, nhơn gió trôi vào trấn Đào Oai nước Diến Điện, Diến Điện biết là người nước ta, hậu đã đưa về, khiến Bồi thần đem quốc thơ và phẩm vật qua dâng: (1 tấn vàng, 40 cái nhẫn, 1 hộp trầu sơn son, 1 chuỗi châu bất nhiên, 1 bức mền
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #59 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:03:09 pm »

Dinh Quảng Nam, Quảng Trị đã lâu không mưa, lúa bị hại nhiều; Ngài khiến quan dinh khám mà tâu, sẽ lượng tha thuế cho.

Tháng 3, quan Chưởng hữu quận công Nguyễn Văn Nhơn mất, tặng chức Thái bảo, thụy là Trung cẩn.

Định lệ các nha đóng ấn (Bửu vua đóng trên chữ niên; ấn đại tiểu nha môn đóng trên chữ nguyệt; để phân biệt kẻ tôn người ti và phòng cạo tẩy; ấn tam nha hội đồng theo thứ đóng hai bên chữ nguyệt).

Mới mở Ân khoa thi Hội, định phép thi (kẻ Hương cống nhà Lê cũ chưa ra làm quan cũng cho thi; quyển đằng lục thời in đỏ, đậu cả bốn trường thời yết bản ở lầu Phu Văn; quan trọng có bà con đi thi thời cho hồi tị).

Nguyễn Cư Toán phạm tội tham tang, nhưng phạm tội ở trước khi ân xá, gia ân giảm tội chết, mà bị đồ 6 năm, truy tang trả cho dân. Con là Cư Sĩ mới 14 tuổi, xin thay tội cho cha, xét ra thời tên Sĩ mang xiềng mà không có sắc hối hận, Ngài khen rằng: "Toán là con công thần Nguyễn Cư Trinh, vậy thời Cư Trinh có cháu khá, ta nghĩ đến tôi có công mà thương con có hiếu; tha cho".

Tháng 4, định phép thi Đình; đúc ấn lớn khắc 4 chữ: "Điện thí chi ấn" và tiểu kiềm vuông khắc 4 chữ triện: "Luân tài thạnh điển" đều bằng bạc.

Tháng 5, đặt chứ Học chánh Quốc tử giám (trật tùng lục phẩm) chuyên dạy Tôn sanh; khiến quan Tế tửu, Tư nghiệp lựa hai ba người nào có học hạnh sung bổ chức ấy.

Tháng 6, nước Chân Lạp khiến Sứ dâng đồ lễ phẩm, mừng Ngài ngự Bắc tuần về; Ngài khiến cho đem lễ ấy khấu trừ lễ cống năm Quý Vị. Khi trước thần dân nước Chân Lạp oán vua nó lắm, Lê Văn Duyệt sợ nước nó có biến, sai Trần Nhật Vĩnh tới Kinh tâu thay; Ngài ban sắc thơ, dụ vua Chân Lạp phải gắng mà tu tĩnh tự cường, lại dụ quan Bảo hộ Nguyễn Văn Thụy phải ở lại đó.

Khiến quan địa phương xét những người dân sống 100 tuổi và nghĩa phu, hiếu tử dâng lên.

Tháng 7, quan Tổng đốc xứ Mạnh Nha Hố nước Anh Cát Lợi là Hà Sĩ Định sai Cá La Khoa Thắc đem thơ tới dâng đồ phẩm vật (súng điểu thương 500 khẩu, đèn pha-lê một đôi); tàu đến cửa Đà Nẵng, xin thông thương như các ngoại quốc, nhưng không dám lập phố ở. Ngài khước không cho.

Tháng 9, đổi danh hiệu đồn điền 4 phủ ở Gia Định cho theo ngạch lính.

Cấp tiền công bản cho dân nấu đường ở Quảng Nam, Quảng Nghĩa; đến bây giờ Quảng Nghĩa gạo cao, xin lãnh lúa; Ngài cho.

Kinh sư lụt lớn, nhà cửa dân gian hư nát nhiều; Quảng Trị, Quảng Bình cũng mưa lụt, Ngài truyền chẩn cấp cho dân cả.

Tháng 10, định lễ hễ đến tiết Đông chí thời đình việc hình (trước tiết Đông chí 3 ngày, sau tế Giao 10 ngày, đều đình việc hình).

Vua Chân Lạp là Nặc Chân đưa thơ đến thành Gia Định xin hiệp lực đào sông Vĩnh Tế. Ngài khiến Duyệt dự sắp đặt trước, Duyệt xin đem binh dân ở thành và đồn Vĩnh Thanh, Định Tường, Oai Viễn hơn 39.000 người; binh dân nước Chân Lạp hơn 16.000 người, chia làm 3 phiên, định đầu mùa Xuân năm sau khởi làm, đầu mùa Hạ sẽ xong. Ngài cho và dụ rằng: "Đằng sông Vĩnh Tế liền với Tân Cương, xe thuyền qua lại tiện lợi lắm; đức Hoàng khảo thế tổ Cao Hoàng đế ta mưu sâu nghĩ xa, chú ý việc ngoài biên, vừa mới mở đào, công việc chưa xong; nay ta theo chí Tiên hoàng, chỉ nghĩ cách khó nhọc một lần mà được thong thả lâu dài; các ngươi phải trù nghĩ thế nào cho mau xong, để xứng đáng ý ta. Vả lại sông ấy không lợi gì cho Chân Lạp, mà vua nó xin thế, chưa chắc thiệt tình, khi nào lời dụ ta tới, chắc nói có điều ngăn trở, nhưng làm phàm làm việc có quả quyết mới nên, mà dùng dằng thời hư, chí ta đã định, chúng nó nói gì cũng không sá".

Tháng 11, dinh Quảng Đức, Quảng Trị gạo cao. Ngài khiến Kinh phải hiệp với quan 2 dinh ấy phát lúa kho bán cho dân. Lúc bấy giờ có tên lính Kinh thương là Đặng Văn Khuê đong lương: cứ 2 hộc
 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM