Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:37:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 101025 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #70 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:20:30 pm »

Tháng 5, mới đặt Thổ Tri huyện và Huyện thừa cho 7 huyện phủ Trấn Ninh, đều cấp sắc mạng, đồ ký; nhưng theo phủ Trấn Ninh thông nhiếp.

Bọn Phan Văn Thúy đến Trấn Ninh, đóng binh ở Lạc Điền; A Nỗ tự xin đem quân dân nơi Phì tạo về thành Viên Chiên; Thúy khiến Chánh đội Nguyễn Trọng Hiệp đem đội quân Thần sách đưa A Nỗ, còn Thúy đem quân đại đội trở về.

Đặt sở đồn điền tại phủ Trấn Ninh. Ngài bảo bộ Binh rằng: "Trấn Ninh đất rộng người ít, địa lợi chưa mở hết, mà sĩ tốt không việc, chỉ ăn nhờ người ta, sao cho được lâu?". Bèn khiến Hiệu úy Nguyễn Văn Lễ đem binh đinh và tù phạm đóng đồn làm ruộng, để chứa cho nhiều lương.

Truyền cho binh trú phòng ở Trấn Ninh về, còn những tù phạm phát qua làm binh làm nô, thời giao cho Phòng ngự sứ Chiêu Nội quản thúc.

Tháng 6, A Nỗ đến thành Viên Chiên, binh Xiêm lui về đồn Phiên Bác đóng giữ, rồi trở lại chiếm lấy kho Vạn Tượng; A Nỗ cùng với tướng Xiêm đánh nhau, quân chết và bị thương nhiều lắm. Ngài dạy rằng tại A Nỗ gây hiềm, liền sai Phan Văn Thống thiết trách nó và khiến nó tạ lỗi với Xiêm, trả súng ống, khí giớ cho Xiêm, để khỏi giận nhau; lại khiến bộ Lễ làm thơ ủy Chánh đội Hà Tiên là Mạc Công Tài đệ qua Xiêm; kịp khi bọn Phan Văn Thống đến bờ sông Khung Giang bị tướng Xiêm là Thung Vi Xây chận đánh, Thống với tùy binh bị hại cả, chỉ có Lê Đình Duật bị bắt qua Xiêm; có tên lính Mọi chạy thoát được về báo Nghệ An, quan trấn đem việc tâu lên; Ngài khiến quan trấn phái người qua thám thính, nhưng truyền cho các tù trưởng Tam Động, Lạc Hoàn nhóm các bộ lạc cứ địa hạt mà phòng giữ.

Tháng 7, mới đặt phủ Lạc Trấn và phủ Tĩnh Biên ở Nghệ An. Khi trước các Tù trưởng Tam Động, Lạc Hoàn đến trấn dâng đồ thổ sản, xin cho sắc ấn và chức hàm, cũng như 3 phủ Trấn Ninh, Trấn Biên và Trấn Định đều thuộc về bờ cõi nước ta, đời đời dâng chức cống. Quan trấn tâu lên: Ngài cho y.

Tháng 9, vua Vạn Tượng sai người đến Nghệ An xin cứu viện. Ngài khiến trấn ấy phúc thơ cho A Nỗ rằng: "Triều đình thương người hoạn nạn, cứu kẻ cô đơn, lo cho Phiên quốc cũng đã hết sức; gần đây người Xiêm sanh việc, chưa biết có phải chủ ý vua Xiêm hay tại biên tướng cầu công? Nhưng Triều đình lấy nghĩa hòa với lân quốc, lẽ nào tự mình động việc binh? Nghe nói quân ngươi còn đến vạn người, lương hướng không thiếu, chừng cũng đủ giữ được; ngươi nên thu phủ thần dân, giữ yên bờ cõi, Xiêm lại thời cự, Xiêm đi đừng theo, không nên chăm đánh người ta, phải gắng tự cường mà chờ cơ hội. Triều đình đang xét kỹ tình hình người Xiêm thế nào, sẽ có cách xử trí lớn lao". Lại khiến đòi 2.000 lính hạ ban quân thần sách ngày ngày thao luyện và phi sức cho phủ Trấn Ninh, Trấn Tĩnh, Trấn Định, Lạc Biên, phủ nào phải tuần phòng địa phận phủ ấy.

Mới đặt nha Đề chánh (1) (cho một ông nhứt phẩm văn sung chức Quản lý, một ông tam phẩm võ sung chức Tham tá; việc thường cho chuyên tâu, việc trọng thời thương đồng với quan Tổng trấn hội hàm sẽ tâu).

Nam Chưởng sai Sứ tới cống, Ngài cho chiêm bái trước điện, rồi đòi vào yên ủy (Định năm Thìn, Tuất, Sửu, Vị, 3 năm một lần cống).

Tháng 10, truyền đổi cách ăn mặc từ sông Gianh trở ra Bắc.

Mới đặt huyện Tiền Hải thuộc về phủ Kiến Xương ở trấn Nam Định. Nguyên trước ở gần biển có một dãi bãi Tiền Châu bỏ hoang, giặc thường trốn núp tại đó, khi quan Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ đến, chiêu dụ dạy bảo dân, nhắm đo đất hoang ở Tiền Châu và hai bên bờ, chia cấp cho dân cùng, cả thảy được 14 lý, 27 ấp, 20 trại, 10 giáp, sổ đinh, 2.350 người, ruộng hơn 18.90 mẫu, chia làm 7 tổng, tâu xin biệt lập một huyện, đặt tên là huyện Tiền Hải. Lại ở làng Ninh Cường, Hải Cát mở được 4 lý, 4 ấp,
1 trại, xin lập một tổng thuộc về huyện Nam Chân; ở tổng Hoàng Nha mở được 5 ấp, 1 trại, 3 giáp, cũng làm một tổng, thuộc về huyện Giao Thủy; còn bao nhiêu tùy gần tổng nào thuộc tổng ấy; đến như nhà cửa và ngưu canh điền khí lượng lấy tiền công chi cấp cho. Ngài ban khen, mới cho Tri huyện Quỳnh Lưu là Võ Danh Dương (người trấn Sơn Nam) làm Tri huyện Tiền Hải. Công Trứ lại tâu: "những người dân

--------------
(1) Đề chánh là nha coi việc đàng đê.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #71 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:21:42 pm »

nghèo muốn xin lãnh ruộng hoang mà khẩn còn đến hơn 1.000 người, tôi xét huyện An Khánh, Yên Mô thuộc về Ninh Bình đối ngang với huyện Nam Chân trấn Nam Định, theo một dãi bờ biển, còn nhiêu nơi bỏ hoang cày được, cũng chẳng kém gì huyện Tiền Hải; tôi xin qua đó nhắm đo, lập thành ấp lý". Ngài khiến hội với quan đạo Ninh Bình mà làm.

Mới đặt phủ trấn Man, đem huyệnTrình Cố, Sầm Nưa, Man Xuy ở Trấn Biên lập ra phủ ấy mà đổi thuộc về trấn Thanh Hóa.

Vạn Tượng đánh Xiêm bị thua, A Nỗ bỏ thành chạy. Ngài dụ quan trấn Nghệ An chia binh thần sách quan trú phòng phủ Trấn Ninh và Trấn Tĩnh mỗi phủ 300 người, phủ Trấn Định 150 người, để giữ địa giới; và phái 300 lính trú đồn Quy Hợp làm tiếp ứng. Lại dụ Bắc thành, Thanh Hóa và Ninh Bình đòi lính luyện tập, để phòng khi sai phái.

Tháng 11, bọn Lê Nguyên Hy từ Xiêm về. Nguyên trước bọn Hy vâng mạng qua Xiêm, vua Xiêm hậu đãi, nói hết cớ Vạn Tượng gây oán; rồi đưa quốc thơ và phẩm vật đáp tạ, nhờ bọn Hy đem về dâng.

Sứ Xiêm qua Tàu bị gió bão, Ngài khiến đưa về nước.

Phủ Diễn Châu (Nghệ An) có tai sâu keo, Tri phủ Đỗ Huy Cảnh làm lễ nhương, trời mưa to, có bầy quạ tới mổ ăn, một chặp thời hết. Quan trấn tâu lên, Ngài khiến đem hương và lụa trong kho ra làm lễ tạ thần.

Lê Văn Duyệt khiên Nguyễn Đăng Giai về Kinh mật tâu việc biên cảnh.

Quan trấn Quảng Trị tâu: "tướng Xiêm đem quân tới xâm châu Tâm Bồn, giả nói đánh Vạn Tượng, nhơn cướp các dân Thổ va đòi hỏi công thuế các châu". Ngài khiến Tượng quân thống chế Phạm Văn Điển kinh lý việc biên đạo Cam Lộ, Lê Đăng Dinh làm Tham tán; lại khiến Tả dinh thống chế Nguyễn Văn Phụng đem lính Kinh, Quản đạo Cam Lộ Nguyễn Văn Thạch đem lính cơ Định Man và lính Thổ 9 châu đi tuần tiễu; Nguyễn Danh Bi tấn binh đóng ở Ai Lao, đánh tiếng cứu viện cho Nguyễn Văn Thạch.

Tháng 12, cho hậu cơ Phan Bá Hùng làm Chưởng cơ thống lĩnh 10 cơ lính Oai Thắng, vì Hùng có công bắt giặc, nên cử dùng.
Mới đặt lưu quan (1) các huyện ở phủ Tương Dương và chức Trấn thủ Lang Điền, Ngạn Phố.

Bọn Phan Văn Điển, Lê Đăng Đinh tấn quân đóng ở châu Lang Thần, tư cho Nguyễn Văn Phụng đem binh thẳng đến Ai Lao. Nguyễn Danh Bi tấn quân đến châu Ba Lan, đưa thơ cho Xiêm, trách điều gây oán; tướng Xiêm Lý Khuất dẫn quân đi. Ngài khiến triệt quân về.

Bọn Phạm Văn Điển về Kinh, đem dâng bức địa đồ từ sông Khung tới Ai Lao. Ngài hỏi tình trạng người Xiêm và phong vật 9 châu. Điển tâu rằng: "người Xiêm khi mới đến thường cướp phá; từ khi quân ta tới, nó trông chừng chạy trốn; còn bộ lạc 9 châu bấy lâu cảm oai đức Triều đình, vừa nghe đòi, thời ứng mạng liền; nhưng tựu trung châu Mang Vinh ứng trước, như nơi Cương Tường có việc, thời châu ấy giỏi hơn". Ngài ban rằng: "từ Ai Lao đến Quảng Trị đi không đầy 10 ngày, thiệt là nơi quan yếu, phải nên mở mang, nhơn chỗ hiểm lập đồn, để làm rào dậu ngoài cho nước ta; chừng 10 năm thời người 9 châu ấy đều làm quân ngũ cho Triều đình được".

Năm Kỷ Sửu thứ X (1829), tháng giêng, tha thuế thân năm nay cho phủ Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, và Quảng Bình 10 phần cho 3; Nghệ An trở ra Bắc; Quảng Nghĩa trở vào Nam, 10 phần cho 2.

Mới làm lễ Nghinh Xuân, Tấn Xuân, chế ra 3 vị Mang thần và 3 con trâu đất, 2 cái núi Xuân sơn bảo tọa.

Cho con A Nỗ nước Vạn Tượng là Chiêu Sơ, Chiêu Tiễn trú ở phủ Trấn Tĩnh, khiến quan trấn mật sức cho quan phủ phải phòng vệ một cách kín đáo, nếu chúng nó thiếu thốn thời châu cấp cho.

------------------
(1) Lưu quan: quan chức do Triều đình cử đến để cai trị lâu năm các vùng dân tộc thiểu số.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #72 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:22:50 pm »

Ngoài thành trấn Cao Bằng phố Lương Mã bị cháy hơn 100 nhà, mà người Tàu nhiều hơn; quan Băc thành tâu lên, Ngài ban rằng: "người Tàu và người ta cũng là con, thương yêu như một, có phân biệt gì". Khiến cho chẩn cấp cả.

Tháng 2, khiến sứ đưa thơ qua Xiêm, cho Lang trung bộ Hộ Bạch Xuân Nguyên sung Chánh sứ, Trương Văn Phụng, Nguyễn Hữu Thức giáp ất Phó sứ. Ngài nghĩ chuyến đi này đi sứ không phải là việc tu hiếu tầm thường, vậy nên Ngài đinh ninh dạy bảo sứ thần, lại khiến mấy quan nghĩ trước mấy điều vấn đáp giao cho sứ thần ghi nhớ.

Đào sông Trà Cũ ở trấn Phiên An (thuộc về huyện Thuận An), từ cửa sông Thủ Đoàn đến cồn Dừa làng Bình Anh, dài 1.220 trượng, rộng 9 trượng, sâu 1 trượng. Quan tỉnh Gia Định xin đào, Ngài thấy đàng sông chảy thông, mới đặt là sông Lợi Tế.

Bãi lệ đấu giá chằm, đầm, hồ, ao, ở các địa phương.

Tháng 3, lại định phép thi hương, thi hội. Khoa ấy đậu trúng cách 9 người, Phó bảng 5 người. thi hội Phó bảng từ đó là đầu.

Nước Hỏa Xá khiến Sứ xin thông khoản. Sứ thần nói rằng: "nước tôi là Hỏa Xá, vua tôi là Hỏa vương, chưa hề nghe có nước Thủy Xá". Từ đó nó tới cống mới xưng là Hỏa Xá.

Xiêm La khiến Sứ là Sá Hà Nô Lạc Phu tới tạ hòa hiếu. Ngài cho vào yết kiến, đem 3 việc: (10 là lập vua Vạn Tượng; 20 trừng trị tướng Xiêm khai hấn; 30 mùa đông năm ngoại tướng Xiêm là Sủn Sam thiện tiện xâm các châu Cam Lộ cũng nên trừng trị, cho hai nước khỏi oán nhau). Bắt nó về nói với Phật vương liệu lý cho mau, không thế thời tình giao hiếu ba bốn đời nầy e không trọn được.

Thổ mục 9 châu ở Cam Lộ vào cống, đều dâng đồ thổ sản tạ ơn (9 con voi đực). Ngài thưởng cho 3 người Thổ tri châu đồ thường triều áo mão thất phẩm. Khi chúng nó vào bái yết, nghi tiết cũng nhằm; Ngài bảo bộ Lễ rằng: "năm ngoái ngoài biên có việc, chúng nó vừa nghe giấy đòi, thời ứng mạng ngay; nay mới mặc áo triều, mà biết xu bái chốn điện đình, không thất nghi, thiệt là chúng nó noi theo đức hóa, bởi tự lòng thành, ta khen lắm". Bèn cho kẻ đi thay và Thổ lại mục mỗi người một bộ áo sa; đầu mục mỗi người một cái áo sa; lại đặt họ cho các Thổ tri châu.

Mới đặt huyện Kim Sơn thuộc về phủ Yên Khánh đạo Ninh Bình, lựa người đặt làm Tri huyện để khuyên dạy dân; nhà cửa, lương tháng, ngưu canh điền khí thời đều cấp cho dân, y như lệ huyện Tiền Hải; còn ruộng thiệt trưng và ruộng đã thành thuộc thời lấy thuế từ năm nay, ruộng lưu hoang thời đến năm Minh Mạng thứ 12 sẽ đánh thuế; đó là theo lời Nguyễn Công Trứ xin. Công Trứ lại dâng sớ xin lập ra Quy ước, khiến cho dân biết kiểm thúc, lâu cũng nên thói hay được: 10 lập nhà học (đặt ruộng học tha thuế, khiến dân cày ruộng để làm học bổng; học trò 8 tuổi phải vào học); 20 đặt xã thương; chăm dạy bảo dân làm ăn; 30 cẩn việc phòng giữ, 40 nghiêm việc khuyên răn. Ngài khen phải.

Tháng 5, lập lỵ sở phủ Tương Dương và huyện Vĩnh Hòa, Hội Nguyên, Kỳ Sơn thuộc về Nghệ An; dời đồn bảo ở dọc ngoài biên đem về phía tây phủ lỵ, đề làm nơi đày tù phạm; lại lập kho tạm ở tấn phủ Lang Điền, thâu thuế 6 tổng huyện Nam Đàn và Thanh Chương chứa vào đó.

Thự Tham tri lãnh Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ về Kinh phục mạng, nhơn tâu: "làng Bồng Hải ruộng đất bỏ hoang, trước phái đo dư được hơn 700 mẫu, dân không chịu ký nhận; sau khiến khám lại chỉ dư 300 mẫu, xin sắc xuống cho quan đạo đo lại". Ngài giao Đình thần bàn. Rồi sau dân chịu thú nhận ruộng lậu hơn 630 và ruộng hoang đã khai khẩn mà lậu thuế hơn 400 mẫu. Quan đạo tâu lên, Ngài khiến trước vào sổ thuế, mà tha tội cho dân.

Bộ Hộ tâu dâng tổng sách số hộ trong nước, cộng 719.510 người. Ngài ngự chế bài "Hộ khẩu ký sự" mà ghi việc ấy (so với năm Gia Long thứ 18 thiệt tăng 106.598 người).

Tháng 6, Thống chế lãnh chức bảo hộ Chân Lạp Nguyễn Văn Thụy mất, cho quan Thống chế Nguyễn Văn Tuyên lãnh ấn bảo hộ Chân Lạp.

Tháng 7, Bạch Xuân Nguyên từ Xiêm về, Ngài khiến qua Quảng Trị hội đồng với quan Tham hiệp Hà Duy Phiên làm giúp việc tỉnh.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #73 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:24:32 pm »

Định lệ thuế các phủ, huyện mới mở tại Thanh, Nghệ: mỗi đinh mỗi năm nạp bạc 2 đồng cân, Phòng ngự sứ và Thổ tri huyện, huyện thừa, theo ngạch thuế mà thâu, đem nạp nơi sở tại; ruộng cày mỗi năm thay đổi khác chỗ, thuế chánh chung không biên vào sổ thuế, có khi nào điều bát việc quan thời tùy nơi lượng lấy lúa gạo, cũng đủ quân nhu các sở biên phòng; như gặp tiết khánh điển, cho đem vật thổ sản tới Kinh chúc hộ.

Tháng 8, định lệ thuế quế Thanh và thuế quế Nghệ, hạng nhứt nạp vào công cả, còn các hạng đều chia hai (1).

Ngày Bính Tuất, bà Nguyên phi Phạm Thị vợ đức Hoàng trưởng tử sanh Hoàng tôn (là đức Dực tôn). Khi trước bà Phi chiêm bao thấy ông thần đầu bạc mày trắng, đem cho một bức giấy vàng chữ son dấu ấn ngọc, và một xâu ngọc châu; rồi sanh đức Hoàng tôn.

Tháng 10, định lương học sanh Quốc tử giám và quy trình giảng tập.

Khiến Long võ vệ úy Tạ Quang Cự quyền lãnh Phòng ngự sứ phủ Trấn Ninh. Khi trước Phòng ngự sứ phủ Trấn Ninh là Chiêu Nội bắt vua Vạn Tượng là A Nỗ dâng cho Xiêm, mà lấy hết của quý; Ngài nghe, nhưng còn dung cho; bây giờ tới kỳ cống, không thấy nó tới; Ngài quở trái hạn, truyền đòi, Chiêu Nội thác bệnh không đi; Ngài mới khiến Quang Cự đem binh đến phủ mà tuyên lời dụ, như nó vâng mạng, thời ngày ấy phải đi ngay, mình sẽ phái quân hộ tống; nếu nó thác cớ dùng dằng, thời bắt xiềng lại mà giải về trấn; có toan mưu chống cự, thời chém ngay trước quân cho chúng biết sợ.

Thuyền quan Công sai nhà Thanh là Hoàng Đạo Thái chở lúa đến Đài Loan, nhơn gió trôi vào biển Hà Tiên, Ngài khiến chiếu lệ "phong nạn" chẩn cấp.
Định biền binh ở Kinh và ở ngoài làm 3 bậc: 1. thân binh; 2. cấm binh; 3. tinh binh.

Tạ Quang Cự bắt được Phòng ngự sứ Chiêu Nội giải về Kinh sư; Ngài giao cho Đình thần hội tra, nó chịu thú cả, đem giết và đem tội nó báo cáo cho các thổ phủ mới lập đều biết.

Tháng 12, cho Tạ Quang Cự làm Cẩm y vệ Chưởng vệ sự, nhưng quyền lãnh phủ Trấn Ninh. Cự tâu cử Thổ mục huyện Quảng là Chiêu Huống, Khâm Quét, đều là người quen việc, cho làm Bang tá việc phủ. Ngài cho

Năm Canh Dần thứ Xi (1830), tháng giêng, đặt chức Ấn quan Nội các.

Đào cửa sông Thiên Đức ở Bắc thành.

Thưởng phẩm vật cho quan binh trú phòng ở phủ Trấn Ninh, Ngài dụ bọn Tạ Quang Cự đem việc tướng sĩ yên lành, thổ dân yên lặng tâu lên, mỗi tháng tư cho Nghệ An hai lần. Ngài lại lấy thổ mục làm việc giỏi, mới cho Chiêu Huống làm Thổ tri huyện, Khâm Quét làm Thổ huyện thừa, sung chức Chánh phó Bang tá, chế ấn quan phòng ban cấp. Ngài lại lấy 3 viên ngọc trắng của Chiêu Nội  dâng khi trước thưởng cho tên Huống 2 viên, tên Quét 1 viên.

Tháng 2, Ninh Bình tâu: "trong huyện Kin Sơn mấy ấp mới lập, nhiều nơi bị nước mặn, phải chờ
nước ngọt nhuần thấm mới thành ruộng được; xin tha 3 năm thuế". Ngài cho.

Tháng 3, truy phong Chánh đội Nguyễn Ngọc Huyền tước An ninh bá, lập đền thờ, con cháu đời
đời tập chức Thiên hộ (nhơn tiết Than minh, Ngài yết lăng Cơ thánh; nhớ công Huyền, vậy nên hậu báo).

Tháng 4, Tạ Quang Cự tâu: "dân xứ Mường Cài trong phủ Trấn Ninh hơn 100 người xiêu lưu qua Nam Chưởng chưa về". Ngài khiến bộ Lễ truyền dụ Sứ thần Nam Chưởng khi về nước phải nói với Quốc vương cho lưu dân Mường Cài trở về đất cũ, không được dung lưu; lại đem lời ấy viết vào tờ sắc thơ, để vua Nam Chưởng tuân hành.

Tháng 4 nhuận, lại cho Thống chế Nguyễn Văn Hiếu lãnh trấn thủ Nghệ An, đòi Tạ Quang Cự về. Cự ở Trấn Ninh nghiêm ước thúc, cấm cướp phá, những tù phạm khi trước Chiêu Nội giam cầm thời tha cả. Từ đó trong cõi yên lặng. Ngài ban khen; lại nhớ đến năm trước Phan Văn Thúy cử được người giỏi,


1 Chia hai cho quế bộ một phần, người tìm được một phần.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #74 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:26:03 pm »

thưởng cho 3 cây sa đoạn trong kho, khiến con là Chánh đội Phan Văn Cửu đem qua ban cấp, để khuyên kẻ cử người hiền.

Khiến Bắc thành xét ngạch thuế chánh nạp và biệt nạp (có thổ sản thời nhưng cựu chịu thuế biệt nạp, tha khỏi binh diêu; không thổ sản mà chịu khống, thời tước ngạch biệt nạp, cho chịu binh diêu như dân).

Tháng 5, khiến các trấn Bắc thành xét hạch kẻ thuộc viên trong trấn và lại dịch tại phủ, huyện (hạng ưu thời lượng cho thăng, hạng bình nhưng tại chức, bì nhuyến thời phải về, hạng liệt thời nghiêm trừng).

Tháng 6, khiến các địa phương đem địa bộ đóng kiềm lại (kiềm chỗ nào tẩy bỏ và chỗ số mục ruộng; bản Giáp để lại Bộ thời kiềm ấn Bộ, bản Ất để lại địa phương thời kiềm ấn sở tại).

Xiêm La khiến Sứ đem quốc thơ và đồ thổ sản qua tạ. Khi đến Kinh, Ngài đòi lên điện, cật hỏi việc tên Sủng Sam sanh sự, khiến về nói với vua Xiêm, nên giết tên ấy cho toàn nghĩa hòa hiếu lân quốc. Kịp khi về, Ngài khiến đình thần lại soạn tờ thơ giao cho.

Định lệ thuế người Tàu ở các địa phương. Khi ấy Gia Định tâu: khi trước đã tâu chuẩn cho người Tàu hễ có tư cơ thời toàn thâu, kẻ cùng cố thời khỏi thuế, cùng với lời Bộ bàn hơi sai (vô lực thời 3 năm một lần tư báo, đã có sản nghiệp thời đem vào hạng toàn thâu), nay Ngài khiến đình thần nghĩ lại, vô lực thời cho nạp nửa thuế, hạn cho 3 năm theo lệ toàn thâu, không phải xét báo nữa; như có kẻ mới phụ mà cùng cố thời tha 3 năm thuế, hết hạn mà cũng vô lực, lại cho nạp nửa thuế, sau 3 năm sẽ theo lệ toàn thâu.

Quan Tổng trấn Gia Định tâu: "đồn Châu Đốc mới lập được 41 xã, thôn, phường, dân đinh chỉ được hơn 800 người, địa lợi chưa khai khẩn hết, xin hoãn niên hạn, đợi khi nào thành sổ, rồi sẽ chịu thuế". Ngài cho, lại gia ơn tha diêu dịch 3 năm.
Tháng 8, định lại nhật kỳ. Bắc thành tâu bao việc yên lan (1) (tháng 9 giáp tiết Sương giang, mới được tâu báo Yên Lan, trước một hôm cũng phải phòng giữ cho khỏi lo).

Tháng 10, ngày 1, trấn Nghệ An tâu: "Xiêm đưa thơ cho phủ Trấn Ninh dụ nó cống Xiêm, xin khiến Phòng ngự sứ Chiêu Huống phúc thơ đem nghĩa lý mà cự". Ngài cho. Lại phái người qua Vạn Tượng xét hỏi tình trạng ngoài biên mà tâu  lên.

Tháng 11, tàu binh nước Pháp qua đậu cửa Đà Nẵng, nói muốn thông hiếu với ta và nói Hồng Mao mưu xâm tỉnh Quảng Đông, thế tất liên đến nước ta, dặn ta đừng giúp Quảng Đông. Người Đại Pháp lại tiện thiện lên núi Tam Thai đứng trông; nhơn nói muốn có một người hướng đạo dẫn qua các hạt Bắc thành vẽ đồ; rồi chạy tàu đi. Ngài nghe, cách chức cả Thành phủ và Thủy ngự ở Đài An Hải, Điện Hải.

Khiến từ Nghệ An đến Bắc thành khuyên dạy việc trồng cây (bên đàng trong thành trồng cây nam mai (mù u) ba la mật (mít); bờ đê trồng cây liễu).

Năm Tân Mão thứ XII (1831), Tham tri Nguyễn CôngTrứ, Hiệp trấn Nam Định Nguyễn Nhược Sơn bị cách. Khi trước làm quan Dinh điền, có tên quyền sai đội trưởng Phi Quy Trại tùng theo sai dịch. Trứ cùng Nhược Sơn bảo cử tên ấy làm huyện thừa huyện Tiền Hải; Thị lang bộ Hộ là Hoàng Quýnh nghĩ nhà tên Trại giàu mà không có khoa mục, mới tham hạch; Trứ và Sơn đều phải cách, Trứ giáng bổ Kinh huyện; Sơn giáng làm Tri huyện Tiền Hải; tên Trại phải trượng 100, cách về dân.

Khiến Lý Văn Phức đi thuyền hiệu Thụy Long đưa mấy người Tàu bị phong nạn là Giám sanh Trần Khải, Tri huyện Lý Chấn Thanh và hơn 40 người về Quảng Đông.

Tháng 2, phủ Trấn Tĩnh, Lạc Biên thuộc về Nghệ An tình nguyện nạp thuế, Ngài cho mỗi người mỗi năm nạp 2 đồng cân, như lệ phủ Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Biên; chỉ dân Lạc Biên chưa được no đủ, gia ơn triển hoãn.

-----------------
(1) Yên lan là không nước lụt, hay là có nước lụt mà cũng không vỡ đê.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #75 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:26:53 pm »

Tháng 3, xây thành Nghệ An.

Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt tâu: "thám nghe nước Xiêm đánh tiếng đem binh phòng ngự con A Nỗ nước Vạn Tượng là Hạt Xà Bông, kỳ thiệt muốn lén tới xâm nước ta. Vả lại bạn thần nước Chân Lạp tên là Ốc Nha Chiết Ma ở Chàng Kê Súc lén dụ người Lạp trốn làm phản, phải nên dự phòng; tôi đã phái thuyền binh qua đồn Châu Đốc, đánh tiếng đi lấy gỗ, mà mật sức cho quan bảo hộ tùy cơ ứng biến".

Khiến quan trấn Nghệ An phái người giỏi lén qua thám thành Vạn Tượng coi có binh Xiêm đóng không? và tin tức Hạt Xà Bông, tình trạng Xiêm động tĩnh thế nào? chạy giấy mau vào tâu. Rồi tâu rằng: "thành Vạn Tượng bỏ hoang, cũng không có binh Xiêm đóng, Hạt Xà Bông trốn vào rừng không biết còn hay mất". Ngài khiến lục lời tâu ấy giao cho Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Quế xem kỹ, cho tỏ hết tình ngoài biên; rồi khiến triệt quân phòng biên về Gia Định.

Tháng 4, định lệ đo các cửa biển. Khiến các địa phương trồng cây gai.
Tháng 5, định lệ xét phủ, huyện khuyên dân trồng cây. Suốt trong nước bên đàng, bờ sông, bờ khe, rừng rú, phàm nơi bỏ hoang, cho phép ai mà khẩn trước, hạn trong 3 năn coi số nhiều hay ít, xét công siêng hay nhác, tâu lên sẽ nghĩ; nếu đã đến 3 năm mà đất còn bỏ hoang nhiều, thời hạch tham nghĩ phạt, để phân biệt kẻ siêng người nhác.

Tháng 6, khiến quan Trấn thủ Hưng Hóa Võ VănTín đem binh và voi qua Chiêu Tấn kinh lý việc biên. Lúc ấy nước Tàu phái binh Mục Luyện hơn 600 người tới đòi đồn Phong Thu. Ngài khiến đưa thơ coh quân thứ nước Tàu, đại lược nói: "tùy chỗ lập đồn giữ, bờ cõi đã rõ ràng, không nên nghe lời tên Điêu Doãn An mà sanh việc ngoài biên". Rồi hai bên triệt binh đem về cả. Sau Tín dụ bắt được Điêu Doãn An đưa về Kinh đem chém.

Tháng 7, lại lựa cơ binh Bắc thành: cứ số đinh năm Minh Mạng thứ 11, tham chiếu ngạch binh năm nay, chiếu lệ 7 đinh lấy 1, nhiều hay ít, thêm hay bớt, cốt cho vừa phải.
Tháng 8, mới định phủ, huyện, châu ở các địa phương làm 4 hạng khuyết: 10 tối yếu khuyết; 20 yếu khuyết, 30 trung khuyết; 40 giản khuyết.

Tháng 10, xây đài súng ở hòn Kim Dự trấn Hà Tiên. Ngài nghĩ nơi ấy gần Xiêm và Lạp, phải làm sao cho vững việc ngoài biên, mới lựa nơi quan yếu, xây đài sắc đặt súng.

Chuẩn định lệ thuế mỏ sắt các địa phương và thuế thiệt bộ biệt nạp: khi trước đánh thuế sắt sống, bây giờ định lại nạp sắt nấu rồi, nhưng cho chước giảm phân số.

Định lệ thuế diêm tiêu ở Bắc thành, cho đem tiền nạp thay.
Tháng 11, gia tặng chức tước cho các công thần thân huân lúc khai quốc và lúc trung hưng. Tháng 12, định lệ lựa cử phủ, huyện (khiến Đình thần xét các phủ, huyện nào khuyết hoặc nên do Đình thần cử, hoặc nên do Bộ lựa, hoặc nên do địa phương xét bổ; còn như người hậu thăng, hậu bổ, xét có khuyết thời bổ, do bộ Lại cứ chiếu lệ mà làm).

Năm Nhâm Thìn thứ XIII (1832), tháng giêng, định lệ thuế 9 châu phủ Cam Lộ tỉnh Quảng Trị. Bọn Thổ tri châu tình nguyện mỗi năm nạp ngạch thuế như các phủ Thổ mới lập ở Thanh, Nghệ mà tha chức cống. Ngài cho (mỗi năm một người nạp bạc 2 đồng cân, chỉ Tầm Bôn, Ba Lan, Mang Bổng, 3 châu ấy cho nạp thay tiền mỗi người một quan).

Cho Phòng ngự Đồng tri phủ Trấn Ninh là Chiêu Huống làm Phòng ngự sứ, Ngài cho họ là Kiểu, tên là Huống, Thổ tri huyện Khâm Quét làm phòng ngự Đồng tri, cho họ là Khâm, tên là Khuyết, nhưng hiệp đồng quản lý việc phủ. Vì các phủ, huyện mới lập ở Trấn Ninh mấy năm nay được yên lặng, Ngài khen bọn Huống biết chăm chức sự, hòa nhân dân, cho nên thăng. Ngài lại thấy các phủ, huyện mới lập ở Thanh, Nghệ đã đặt chức quan, mà danh xưng còn theo thói Thổ, vậy nên cũng cho họ và tên như người Hán.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #76 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:30:13 pm »

Cho Tham tri lãnh Hộ Tào Gia Định Ngô Ban Nhơn bảo hộ Chân Lạp, giữ đồn Châu Đốc, kiêm lãnh việc biên trấn Hà Tiên.

Tháng 2, binh Ninh Thiện ở Nghệ An làm phản. Lúc ấy trú ở phủ Trấn Ninh có tên Trần Tứ, Đỗ Bảo theo tờ ngụy thơ của tướng giặc là Lê Duy Lương (con Lê Duy Hoán), Quách Tất Tế mưu làm phản, xướng suất cho binh các đội giết Chánh đội giết Chánh đội Đỗ Trọng Thai và 8 người lính, cướp khí giới, theo đàng sơn phận Kỳ Sơn, Hội Nguyên mà đi ra Bắc. Tạ Quang Cự chia quân đón bắt và đem việc tâu lên. Ngài khiến các địa phương Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nội và Sơn Tây phòng triệt cho nghiêm, lần lần bắt được hết thảy; tên Tứ và tên Bảo đều phải tội lăng trì.

Sửa thành tỉnh Lạng Sơn. Tuần phủ Hoàng Văn Quyền tâu: "bài chỉ thành Lạng Sơn có ghi rằng: "Triều Lê, năm thứ 26 đời Thánh Tôn sửa lại, năm thứ 17 hiệu Cảnh Hưng đắp thêm" cách thức so với các hạt rộng rãi hơn, nề nếp đã thành rồi, thiệt là chắc chắn, nhơn đó sửa sang thêm, thời cũng bền vững chốn biên thùy mà khoa trương hình hiểm trở được". Ngài nghe theo.

Tháng 2, sửa lại viên tẩm ông Anh Duệ Hoàng thái tử. Khi ấy tang Thái Bình công hết rồi, đã đem vào đó phối tự; Ngài khiến dời phủ đệ làm lại ở phía sau, cho Thái Bình hầu là Lệ Chung ở đó để coi việc tế.

Sửa bia địa giới ở sông Đỗ Chú tỉnh Tuyên Quang đời Bảo Thái nhà Lê, biên lại phủ Khai Hóa nước Tàu chiếm đất ngoài biên nước ta, vua Lê đưa thơ cho Tàu, Tàu khiến quan qua hội khám, trả đất cho ta, chia địa giới ở sông Đỗ Chú, bờ nam và bờ bắc sông ấy đều dựng bia làm ghi (bờ nam, bia nước ta khắc chữ: "An Nam quốc Tuyên Quang trấn, Vị Xuyên giới chỉ, di Đỗ Chú hà vi cứ", nghĩa là: địa giới nước An Nam lấy từ sông Đỗ Chú là cuối huyện vị Xuyên, trấn Tuyên Quang làm giới hạn. Bờ bắc bia nước Tàu khắc rằng: "Khai Dương viễn xứ thiên mạt, dữ Giao Chỉ tiếp nhượng chi xứ", nghĩa là: đất Khai Dương ở cuối cùng nước Tàu là nơi giáp giới địa phận nước Giao Chỉ. Khi ấy nước ta niên hiệu Bảo Thái năm thú9 9; nước Tàu niên hiệu Ung Chánh năm thứ 6). Đến đây bia bờ nam đỗ gãy, quan tỉnh Tuyên Quang tâu lên, Ngài truyền cho sửa lại.

Tháng 4, định phép học ở Gia Định. Ngài nghĩ Gia Định nhiều người anh tú, nhưng nhác học, có kẻ đã hạch đậu 8 lần mà chưa đủ văn thể 4 trường; khiến bộ Lễ bàn định điều lệ, coi số học trò nhiều hay ít mà định truất, trắc.

Tháng 5, lại mở mỏ vàng ở tỉnh Bắc Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang để thâu thuế (khi trước gia thuế không ai lãnh trưng, phải lấp lại, đến đây mới thuê người Tàu lấy).

Mới đặt huyện Liêm ở Nghệ An, thuộc về phủ Trấn Ninh (dân số được 130 người, mỗi năm một người nạp bạc 2 đồng cân).

Tháng 6, khiến các địa phương làm địa bộ tiếp theo (vì những dân phiêu lưu mới về, lâu nay chưa làm sô).

Xây thành tỉnh Hưng Yên (không có đá ong, toàn dùng gạch).

Tháng 7, định lại số bạc chứa thường trong kho Hà Nội (nguyên trước thường trữ 30.000 lượng, nay định lại cho chữ 10.000 lượng, dư thời đem về Kinh).

Chưởng tả quân lãnh Gia Định Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, tặng chức Tá vận công thần đặc tấn tráng võ tướng quân Tá quân đô thống phủ chưởng sự thái bảo quận công, thụy là Oai Nghị, tứ tế một đàn; ngày chôn, lại ban tế nữa. Rồi sắc cho hai vệ Tả quân đi thú ở Gia Định triệt về Kinh; vệ quân Minh Nghĩa triệt về nguyên tịch tỉnh Quảng Nghĩa, còn cơ An Thuận chờ khi nào chôn cất ông Duyệt rồi sẽ về Kinh. 
 
Cho Nguyễn Công Trứ làm Bố chánh sứ tỉnh Hải Dương, lần thăng chức Tuần phủ, thự Tổng đốc Hải An.

Tháng 8, Xiêm La khiến Sứ tới báo tang vua thứ hai, Ngài cho vào chầu, hậu đãi cho về; Ngài khiến Lang trung Nguyễn Hữu Thức sung chức Chánh sứ qua điếu; Ngài dạy rằng: "sứ thần có sách chuyên đối, mấy đi chuyến nầy phải hỏi nó về tội tên Sủng Sam, khi luận bàn đem nghĩa lý mà trách,
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #77 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:31:22 pm »

nếu nó biết lỗi nhận cựu, thời cũng đã không nhục Sứ mạng, không nên hà trách quá, để giữ thể thống trong nước".

Tháng 9, quan Tổng đốc Ninh Thái là Nguyễn Đình Phổ, Tuần phủ Thái Nguyên là Trần Thiên Tội hội tâu: "giáp giới địa đầu hai tỉnh là xã Nga Mi (thuộc về huyện Hiệp Hòa) và thôn Ngọc Long (thuộc về huyện Tư Nông) đều nơi quan yếu, xin lập đồn trú phòng, cho tiện tiếp ứng". Ngài nghe theo.

Mới đặt viện Đô sát.

Khiến bộ Binh mật tư cho quan Tổng đốc Sơn Tây là Lê Đại Cương thám hỏi động Phong Thu ở tỉnh Hưng Hóa để xem tình trạng người Tàu gần đây thế nào tâu lên.

Lập đồn Định Biên ở Nghệ An (đồn ở phủ Trấn Ninh xứ Lang Man).

Tháng 9 nhuận, quan phủ phủ LâmThao là Phạm Nhữ Quá nhơn coi việc sửa thành phủ, đòi tiền hối lộ và ăn bớt tiền, gạo, kẻ làm thuê; án nghĩ phải tội đồ.

Thự Tổng đốc Hải An là Nguyễn Công Trứ tâu: "Đất Quảng Yên nhiều nơi bỏ hoang, khẩn trị được, đến chừng 100 mẫu, nhưng dân xứ âý chỉ quen nghề đánh cá, đi buôn, không ưng làm ruộng; xin theo phép đồn điền, lượng phái lính thú, quan cấp cho đồ công nhu, khiến khai khẩn cày cấy, chỗ nào nên đắp bờ đê thời tùy nghi mà đắp, đến khi cắt lúa, coi được bao nhiêu, chia làm 3 phần, đem hai phần nạp vào kho, còn 1 phần cho quân cấp, khi thành ruộng rồi, mộ dân lãnh quản, mà theo lệ công điền đánh thuế". Ngài dụ khiến phải đến nơi xem xét. Công Trứ mới hội đồng với Tuần phủ Lê Đạo Quảng lựa được ở làng Lưu Khê, làng Vị Dương (thuộc huyện Yên Hưng), làng Yên Phong (thuộc huyện Ba Cam) có đất cày được cả thảy 3.500 mẫu, nghĩ xin đắp đê ngăn nước mặn, dài hơn 2.740 trượng, đem lính thú Quảng Yên và phái thêm lính coơ Hải Dương hiệp nhau mà làm, khi đê xong rồi, lượng để lính lại khẩn trị. Ngài cho.

Tuần phủ tỉnh Quảng Yên là Lê Đạo Quảng đem binh đóng cửa Tán, khiến Tri châu Phan Văn Vị đem quân Thổ Dõng qua núi Tây Chàng tuần thám, đánh bắt được tên giặc là Nguyễn Đình Thông. Việc ấy tâu lên, Ngài thưởng cho 1.00 quan tiền.

Khiến tỉnh Phú Yên và Bình Hòa sửa sang đàng sá.

Tháng 10, cải phủ Thuận Thành làm phủ Ninh Thuận. Ngài nghĩ rằng: Thị lang Lê Nguyên Trung đã từng làm hiệp trấn Bình Thuận, rõ biết tình trạng, mới khiến qua đó hiệp đồng với quan trấn trù nghĩ sửa sang công việc. Khi Trung đã đến, tùy địa thế chia đặt huyện An Phước, Tuy Phong thuộc về phủ Ninh Thuận; huyện Hòa Đa, Tuy Định thuộc về phủ Hàm Thuận; tại phủ thời đặt một Tri phủ, một Giáo thọ; Tuy Phong, Tuy Định mỗi huyện đặt một Tri huyện, một Huấn đạo, tổng thời đặt Chánh tổng, nơi Hán dùng người Hán, nơi Thổ dùng người Thổ, thuế ruộng đất của dân Thổ thời chờ 3 năm rồi sẽ lấy thuế; và cho chữ họ như chữ: Mai, Trúc, Tùng để cho phân biệt họ hàng.

Mới khiến từ Quảng Nam đến Gia Định mỗi hạt đặt chức: Đốc, Phủ, Bố, Án và Lãnh binh, còn nguyên trước đặt chức Tổng trấn các tào và Trấn thủ, Tham hiệp đều bãi.

Tháng 11, Quốc trưởng nước Nhã Di Lý (hoặc xưng là Hoa Kỳ, hoặc xưng là Ma Ly Căn) khiến 2 người tôi đưa thơ cầu thông thương, tàu đậu ở Vũng Lấm tỉnh Phú Yên. Ngài khến Viên ngoại Nguyễn Tri Phương, Tự vụ Lý Văn Phức qua hội với quan tỉnh tới tàu khoản đãi; lại cho bọn Tri Phương quyền chức Thương bạc làm tờ thơ đưa về.

Cho nguyên Tổng đốc Sơn Tây là Lê Đại Cương làm Tổng đốc An Hà, kiêm lãnh ấn bảo hộ Chân Lạp.

Tháng 12, đổi phép thi hương, thi hội: trường nhứt kinh nghĩa; trường nhì thơ phú; trường ba văn sách; phúc hạch trường hương dùng tứ lục (các thù phụng).

Năm Quý Tỵ thứ XIV (1833), tháng giêng, có một chiếc thuyền quân tuần dương Quảng Đông bị gió bão vào vũng Sơn Chà tỉnh Quảng Nam, quan tỉnh tâu lên, Ngài ban rằng: "đó là thuyền công sai, không phải như thuyền buôn bị nạn", khiến cấp cho 300 quan tiền, 300 phương gạo trắng, phái quan
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #78 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:34:08 pm »

qua hỏi thăm và hậu đãi trâu rượu; thuyền có hư thời sửa giúp cho, lại đem súng điểu thương, trường thương kiểu cò máy Tàu mỗi thứ 40 khẩu và thuốc đạn qua tuyên cấp cho.

Giảm thuế thuyền buôn tỉnh Phúc Kiến, lấy y theo lệ thuế Triều Châu.

Tổng đốc An Tĩnh là Tạ Quang Cự tâu: "Lạc Biên cách xa tỉnh thành, ở gần bờ nam sông Khung, Xiêm thường tới phỉnh dỗ; vả lại thói mọi theo hay không, chỉ ngó ở người Thổ mục nó mà thôi; tên Chuyên Cương già yếu không phòng chế được, tên Phì Mang Chân đã có dị tâm, nên trừ cho sớm; nay đã bắt được Phì Mang Chân, cho ở tỉnh chực hầu. Rồi phái Vệ úy Văn Hữu Xuân qua đánh tiếng trú phòng, mà mật nã em Chuyên Cương là Hạt Xà Bút giải về trừng trị". Ngài dụ rằng: "Chuyên Cương quả thiệt già yến, nên lựa người nào mẫn cán thay làm việc phủ". Ngài lại nghĩ phủ Lạc Biên, Trấn Ninh địa giới giáp sông Khung, đàng đi bộ không tiện bằng đi thuyền, khiến quan tỉnh lựa chỗ nào có sông khe thông với sông Khung, thời chế 6 chiếc thuyền sai để dùng. Quan tỉnh mới xin đòi thợ đóng thuyền tại bến Tiểu Khê bờ Bạc Phiệt (nơi Chuyên Cương ở, thuộc về phủ Trấn Ninh).

Làm đền Thái Hòa và Đại cung môn, Ngọ môn: cửa Nhật Tinh, Nguyệt Anh, lầu Ngũ phụng, cầu Kim Thủy.

Bạn thần nước Chân Lạp là Ốc Nha Cố ở Bắc Tầm Bôn viện binh Xiêm cướp phủ Phủ Lật, Phiên vương bắt được, rồi lại trốn đi; Phiên vương báo Lê Đại Cương, Ngô Bá Nhơn đưa thơ cho Xiêm, trách hỏi cớ sao phủ mục Bắc Tầm Bôn chiêu nạp kẻ bạn thần. Rồi dâng sơ tâu lên, Ngài khen phải.

Thự Tổng đốc tỉnh Hải Dương là Nguyễn Công Trứ tâu: "Bấy lâu người thú cáo lậu đinh, không được thiệt mấy, nay kỳ tuyển gần tới, xin sức bạt hạ có ai cáo lậu đinh, đầu đơn trong hạn tuyển, thời truyền hỏi cho, nếu việc rồi mới cáo, thời không cho, mà lại chiếu Vi luật (1) trị tội. Ngài cho phải.

Ngài nghĩ địa thế đồn Châu Đốc chật hẹp, chưa được tiện lợi, khiến quan Giám thành theo Tuần phủ Ngô Bá Nhơn nhắm lựa chỗ nào sảng khái và đón được hai ngã sông Tiền, sông Hậu mà đang đất vừa cân để làm thành tỉnh; rồi lựa được xứ Long Sơn ở về thượng du, địa thế cao ráo, qua lại tiếp ứng, thiệt là chỗ hình thế hiểm trở; bèn đem việc ấy tâu lên, Ngài khiến bộ Công đưa đồ thức đắp thành An Giang.

Tháng 3, mới đặt đồn Phú Quốc tỉnh Hà Tiên (tại vũng Nam Đội là nơi thú sở, bốn mùa gió hướng nào tàu cũng đậu được).

Dời thành tỉnh Quảng Nam qua làng La Qua huyện Diên Phước.

Giặc trốn ở Ninh Bình là Lê Duy Lương cùng thổ ti xã Sơn Âm là anh em Quách Tất Công hiệp đảng khởi ngụy; Lương làm Minh chúa, tự xưng Đại Lê huyền tôn, tạo ấn ngụy, phong chức ngụy như những chức: Tiền, Hậu, Trung, Tả, Hữu, 5 quân và Thống tướng, Thống chế, Thống lãnh, Điều bát, đem dân thổ 3 huyện Lạc Thổ, Phụng Hóa, An Hóa làm quân, những tù phạm trốn và dân đói ở các hạt gần đó theo nhiều, quân nó đến vài ngàn; quan quân thường bị hại.

Đem biền binh Thanh Hóa và Nghệ An qua Ninh Bình trú phòng.

Tháng 3, Thổ phỉ Ninh Bình là bọn Quách Tất Công đánh vây thành phủ Thiên Quang, Lê Duy Nhiên hiệp đồng người làng Thạch Bi là bọn Đinh Thế Giáp, Đinh Thế  Đức, Đinh Công Trịnh, Quách Công Tiến đem đảng nó 3.000 người xâm nhiễu châu Đà Bắc tỉnh Hưng Hóa, hãm đồn Vạn Pha. Ngài khiến quan Tổng đốc An Tĩnh là Tạ Quang Cự thân đốc 2.000 biền binh, 5 con voi, mau đến Ninh Bình đình trú, để làm thanh viện; lại khiến quan Hộ phủ Thanh Hóa là Nguyễn Đăng Giai qua đồn Phố Cát hội tiểu.

Bọn giặc Hưng Hóa đem quân thủy và quân bộ tới sát thành tỉnh, quan tỉnh là Ngô Huy Toản giữ thành cự đánh; quan Hộ đốc Sơn, Hưng, Tuyên là Hồ Hựu tâu lên, Ngài nghiêm dụ quở.

Tỉnh Nghệ An tâu: dân phủ Trấn Ninh là Lạc Biên đói. Ngài khiến phát lúa kho hơn 1.800 hộc, xay gạo chở qua cấp phát.

-------------
(1) Vi luật: vi phạm, trái pháp luật.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #79 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:35:30 pm »

Lãnh binh Hưng Hóa là Phạm Văn Điển, Phó Lãnh binh Nam Định là Lương Văn Liễu, Thủy sư Hà Nội là Nguyễn Văn Quyền đem quân thủy và quân bộ tới đánh giải vây thành tỉnh Hưng Hóa; tờ báo tiệp tâu về, biền binh đều được thưởng.

Tháng 4, khiến quan Thống chế Nguyễn Văn Trọng lãnh chức Tổng trấn Thanh Hóa, nhưng Thống binh các đạo, từ Nguyễn Khả Bằng trở xuống phải theo điều độ; Phó đô ngự sử Hà Duy Phiên sung tham tán quân vụ.

Thự Bố chánh Nghệ An là Nguyễn Đình Tân và Án sát Võ Đỉnh tâu: "dân Mọi Nam Chưởng tới buôn ở Trấn Ninh, có tên mang súng điểu thương, binh khí, tình hơi nghi". Ngài khiến quan trú phòng là Hoàng Nghĩa Uyển hiểu thị nó, đại lược rằng: "khi trước nó tới có mang binh khí, nên người giữ biên cương cứ phép bắt lại vào tâu; triều đình thương người xa, không nỡ hà trách, nay về sau không được phạm phép như thế nữa".

Tháng 5, tỉnh Nghệ An có quan Tuyên úy đồng Tri phủ Lạc Biên là Chuyên Cương trốn làm phản, chạy qua Xiêm, người Xiêm dung nạp, Thổ mục Chiêu Bông, Phì Xà Nộn không chịu theo, chạy báo với tỉnh, quan tỉnh tâu lên, Bố chánh Nguyễn Đình Tân, Án sát Võ Đỉnh mỗi người phải giáng 2 cấp; cấp bằng cho Chiêu Bông, Phì Xà Nộn quyền coi việc phủ, khiến chiêu dụ dân cho khỏi sợ.

Quyền Tri phủ Lý Nhơn là Phan Đăng Đệ bắt được tướng giặc Lê Văn Lẩn và vợ con nó 4 người đem nạp, đóng củi giải về Kinh.

Nguyên Tả quân Minh nghĩa vệ úy Lê Văn Khôi (nguyên trước Triều đình cho nó theo dòng công tánh Nguyễn Hựu, nay vì nó bạn nghịch phải cải theo họ Lê Văn Duyệt) làm loạn, chiếm giữ thành Phiên An, giết Bố chánh Bạch Xuân Nguyên và tên thuộc là Nguyễn Trương Hiệu (Hiệu là người tỉnh Thanh Hóa, năm trước phát án Nguyễn Văn Thuyên được thưởng, đến sau lưu ngụ tỉnh Gia Định làm môn khách Bạch Xuân Nguyên).

Bố chánh tỉnh Nghệ An là Nguyễn Đình Tân tâu xin phái thêm binh Thần sách thay trú phủ Trấn Ninh.

Tháng 6, tướng giặc Hải Dương ngụy xưng chức Thống lãnh là Trương Nghiêm, ngụy xưng Tiền
 
quân là Trịnh Bá Diêu họp đảng hơn ngàn người cướp huyện Tứ Kỳ, Thự đốc Nguyễn Công Trứ ủy Phó lãnh binh đem binh đánh, Trứ cũng qua đó sai bát, đánh giặc ở làng Thiết Tranh, giặc thua chạy, đuổi đến làng Nho Lâm, chém được ngụy Nghiêm, ngụy Diệu, và 4 cái đầu giặc, bắt sống được hơn 10 tên. Trứ tâu lên, Ngài ban khen, tướng và quân đều được thưởng, Trứ cũng được thưởng kỷ lục một lần và cho khai phục 2 cấp trước khi bị giáng.

Lê Văn Khôi ủy đảng nó xâm phạm tỉnh Biên Hòa, thự Tuần phủ Võ Quýnh, Án sát Lê Văn Trác, Lãnh binh Hồ Kim Truyền chạy cả, tỉnh lỵ thất thủ. Khôi đã chiếm thành Phiên An, các văn võ trong thành theo nhiều, Khôi mới đúc ấn ngụy, đặt chức ngụy, tự xưng Đại nguyên soái; Thái Công Triều, Lê Đắc Lực làm Trung quân; Nguyễn Văn Đà, Nguyễn Văn Thông (người Bắc Kỳ) làm Tiền quân; Dương Văn Nhã, Hoàng Nghĩa Thơ làm Tả quân; Võ Vĩnh Tiền, Võ Vĩnh Tải làm Hữu quân; Võ Vĩnh Lộc, Nguyễn Văn Bột làm Hậu quân; Lưu Tín, Trần Văn Tha làm Thủy quân; Nguyễn Văn Tâm, Nguyễn Văn Chân, Quách Ngọc Chấn làm Tượng quân; còn thời làm lục bộ Thái khanh và Ngũ đồn, Ngũ khuông, Ngũ dực; làm tờ hịch ngụy, phiến dụ nhơn dân các tỉnh.

Tổng đốc quân vụ đạo Ninh Bình là Tạ Quang Cự, Tham tán Hoàng Đăng Thận bắt sống được thủ nghịch Lê Duy Lương, Lê Duy Nhiên, đóng củi giải về Kinh.

Thự Tuần phủ tỉnh Biên Hòa là Võ Quýnh thâu phục được tỉnh lỵ. Ngài dụ cho Tổng đốc Long Tường là Lê Phúc Bảo, Tổng đốc An Hà là Lê Đại Cương nên chỉnh đốn thuyền binh, đốc quân thẳng đến thành Phiên An hội tiễu. Lại truyền dụ Phiên vương và Phiên Liên nước Chân Lạp biết, để cho yên tâm, đừng lấy sự phong văn việc trước mà đem lòng kinh sợ.

Đảng giặc Phiên An phạm tỉnh Định Tường, tỉnh thành thất thủ. Tổng đốc Long Tường Lê Phúc Bảo, Tổng đốc An Hà Lê Đại Cương đều cách lưu, Tuần phủ Vĩnh Long là Tô Trấn, Án sát Ngô Bá Toàn phải cách làm binh, theo quân hiệu lực.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM