Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:43:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 101050 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #80 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:37:28 pm »

Cho Trung quân Đô thống chưởng phủ Tống Phúc Lương làm chức Thảo nghịch Tả tướng quân, Thống chế Nguyễn Xuân làm Tham tán Đại thần, Thị lang Trương Phúc Đỉnh làm Tán tương cơ vụ, chế sắc, ấn, cờ, bài, mới cấp cho; phàm những binh thuyèn phái kỳ trước và Đại cương, Phúc Bảo đều phải theo quyền phép mấy ông ấy.

Án sát Cao Bằng là Phạm Đình Trạc bắt được con Lê Văn Khôi là Lê Văn Báo, Lê Văn Hổ; em ruột Khôi là Lê Văn Lư và 14 người thân thuộc; tỉnh Nghệ An cũng bắt được cha con Đặng Vĩnh Ưng 7 người, vợ con Đinh Phiên 5 người; tỉnh Quảng Nam cũng bắt được vợ con Lưu Tín 3 người, đều nghiêm giam đợi án.

Đảng giặc Phiên An là bọn Thái Công Triều đã lấy được tỉnh Định Tường, kéo binh thẳng tới. Tỉnh Vĩnh Long, An Giang, và Hà Tiên đều thất thủ, giặc chia đảng nó chiếm cứ lấy, còn những phủ, huyện đều đặt ngụy quan.

Khiến 2 đạo quân ở Ninh Bình và Hưng Hóa lui về, đem tội trạng Lê Duy Lương báo cáo cho trong ngoài biết.

Tháng 7, đảng giặc Phiên An trở lại xâm tỉnh Biên Hòa, quan quân đuổi đánh, chúng nó lui.

Thổ tri châu Báo Lạc tỉnh Tuyên Quang là Nồng Văn Văn (anh vợ tên Khôi) tự xưng Tiết chế thượng tướng quân, bắt người tỉnh phái mà thích vào mặt bốn chữ: "tỉnh quan đa hối" (nghĩa là quan tỉnh hay ăn của hối lộ).
Truy đoạt (1) chức quan Tổng đốc An Biên của Nguyễn Văn Quế, Bố chánh Phiên An của Bạch Xuân Nguyên.

Giặc Phiên An lại xâm tỉnh Biên Hòa, tỉnh lỵ lại thất thủ; Tôn Thất Gia mắng giặc mà bị chết; Ngài cho truy tặng Án sát sứ, thưởng 600 lượng bạc.

Thảo tặc hữu tướng quân Phan Văn Thúy, Tham tán Trương Minh Giảng phá giặc tại trạm Biên Long.
 
Các bờ đê tại tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Sơn Tây đều vỡ cả. Ngài bảo Nguyễn Khoa Minh rằng: "đê Hưng Yên đã vỡ, thời nước chảy nhiều đàng, làm sao tỉnh Sơn Tây là thượng du đê cũng vỡ, hay là cửa biển nhiều nơi ngăn lấp, nước chảy không kịp mà nên thế chăng?". Bèn khiến Tổng đốc Định An Đặng Văn Thiêm khám xét các cửa biển chỗ nào xoi sâu, chỗ nào bồi cạn, cứ thiệt tâu lên. Rồi Thiêm tâu: "nước lụt lớn quá, xin khiến đắp đê ngăn giữ". Ngài khiến các quan trong ngoài điều trần phương sách về việc sửa đàng sông.

Lại mở cuộc đúc tiền Hà Nội (vì gặp tai thương chẩn cấp, của dùng không đủ). Núi Ngự Bình bị sét đánh, trên núi lửa cháy, liền có mưa xuống, lửa tắt ngay.
Khiến các địa phương từ Quảng Trị trở ra Bắc, lấy việc khuyên dạy dân làm ruộng trồng dâu mà xét phủ huyện, xem siêng hay là nhác, để định truất trắc.

Nguyên Án sát Định Tường là Ngô Bá Toán thâu phục được tỉnh thành. Suất đội Thái Văn Nhiên được thưởng làm Chánh đội; Lý trưởng làng Long Điền là Ngô Văn Chất được thưởng làm Đội trưởng và
70 quan tiền; Toán thời được thưởng Bố chánh sứ.

Tháng 8, đổi tỉnh Phiên An làm tỉnh Gia Định; cải cấp quan phòng, ấn triện cho Đốc, Phủ, Bố, Án, Lãnh binh và phủ, huyện ở các tỉnh Nam Kỳ. Khi trước nhơn có giặc, ấn quan phòng thất lạc nhiều, nay cấp thứ ấn nầy nét chữ khắc khác ấn cũ, phát ra các sở làm việc quan, để cho phân biệt; còn ấu triện Án sát tỉnh Vĩnh Long và Định Tường hãy còn, không phải khắc nữa.

Thự Án sát tỉnh Vĩnh Long là Doãn Uẩn thâu phục được tỉnh thành. Khi ấy ngụy Trung quân là Thái Công Triều đã về bàn với Triều đình rồi, Uẩn liền đem binh dân hơn 300 người thẳng đến tỉnh thành, bắt ngụy Thông, ngụy Doãn, ngụy Phúc xiềng giam lại; con thời chém cả; Uẩn đem việc tâu lên

---------------------
(1) Truy đoạt: làm quan đã chết rồi mà có tội thời cách chức thâu sắc lại.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #81 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:38:43 pm »

và xin mau phái quan viên tới làm việc tỉnh; Ngài nghĩ những tổng, lý, hào mục Vĩnh Long và Định Tường có nghĩa dõng nhiều, mới khiến Ngô Bá Toán và Doãn Uẩn xét những kẻ đầu mục ứng nghĩa đều cấp bằng cho tùng phái, khi nào việc bình rồi, sẽ lượng tài mà bổ.

Thái Công Triều đánh giặc tại sông Đăng (thuộc tỉnh Định Tường) và chợ Đạm (thuộc tỉnh Gia Định) mấy ngày đánh được luôn.

Án sát An Giang là Bùi Văn Lý thâu phục được tỉnh An Giang và Hà Tiên. Khi trước bọn ngụy Tả quân Dương Văn Nhã về Phiên An, một mình Thái Công Triều ở lại An Giang mưu muốn quy thuận với Triều đình, mật dặn quan Trấn phủ giặc là Nguyễn Đăng Luận, Phó trấn Lương Văn Tán hãy giữ gìn tỉnh lỵ, để yên nhơn tâm, còn Triều đem binh dõng đến tỉnh Phiên An đi đánh. Khi bấy giờ Bùi Văn Lý ẩn tại đồn Vĩnh Hùng cùng thủ ngự Nguyễn Văn Bút chiêu tập quân nghĩa dõng được ngàn người đem về tỉnh; bọn Nguyễn Đăng Luận mở cửa thành xin hàng; lại bắt được ngụy sứ thông với thuyền người Xiêm, liền đem quân tiếp tới thâu phục được tỉnh Hà Tiên. Đem việc tâu lên, Ngài khen lắm.

Nam Kỳ thảo nghịch hữu đạo quân Tham tán Trương Minh Giảng và Hoàng Đăng Thuận đánh lấy lại tỉnh Biên Hòa.

Giặc Thổ tỉnh Tuyên Quang là Nồng Văn Vân khiến đảng nó là Nồng Văn Sĩ xâm nhiễu châu Bạch Thông tỉnh Thái Nguyên. Ngài khiến Tổng đốc Sơn, Hưng, Tuyên là Lê Văn Đức tới đánh giặc Tuyên Quang, Tổng đốc Ninh Thái là Nguyễn Đình Phổ tới đánh giặc Thái Nguyên.

Chương nghĩa Hầu Phan Văn Thúy từ nơi quân thứ Biên Hòa bị bệnh, về đến Khánh Hòa liền mất, truy tặng chức Thiếu bảo, thụy Trung tráng. Ngài cho thiết đàn tế ở bên sông Hương, khiến Hoàng tử Vĩnh Tường công Miên Hoành làm lễ tứ tửu (1).

Khiến Tổng đốc An Tĩnh là Tạ Quang Cự lại về Nghệ An cung chức.

Binh thủy Trần Văn Năng, Tống Phúc Lương phá giặc ở đồn Giao Khẩu, đem quân đậu thuyền tại sông Ngưu Chữ bắt được ngụy quân Quản lãnh thụy sư Trần Văn Đề; Tri huyện bị cách là Trương Sùng Hy, bắt được ngụy Hữu quân phó tướng Nguyễn Văn Bột giải đến quân thứ; tờ báo tiệp tâu về, Ngài dụ ban khen, tùy bậc gia thưởng.

Khiến Thự đốc Hải An là Nguyễn Công Trứ đem lãnh binh Hải Dương là Đồng Bá Huyên mau qua tỉnh Tuyên Quang hội với quan Tổng đốc Sơn Tây là Lê Văn Đức đánh giặc.

Gia Định quân thứ Bình khấu tướng quân Trần Văn Năng tâu xin quyền cấp cho quan bị cách là Lê Đại Cương nhưng lãnh binh dõng sở thuộc đánh giặc hiệu lực. Ngài cho.

Tổng đốc Ninh Thái Nguyên Đình Phổ đem binh tượng qua đến thành tỉnh Thái Nguyên. Lê Văn Đức đánh giải vây thành tỉnhTuyên Quang nghịch Vân thua chạy.
Lãnh binh Bắc Ninh là Trần Văn Duy đánh giặc tại đòn Chợ Mới tỉnh Thái Nguyên, bị thua, Nguyễn Đình Phổ chạy giấy về tâu xin nhận cựu.

Đảng giặc Tuyên Quang là Lưu Trọng Chương, Hoàng Trinh hiệp lõa 2.000 người xâm đồn Đại Đồng châu Thu (địa giới tiếp giáp huyện Sơn Quan tỉnh Sơn Tây). Khi bấy giờ nghịch Vân đã thua rồi, đảng nó chưa biết tới đó khuấy nhiễu, để ngăn viện binh Sơn Tây, Đức liền phái lãnh binh là Nguyễn Văn Quyền chia đạo giáp đánh, phá tan giặc ở rừng Hoàng Loan.

Cho Lê Văn Đức làm Tổng đốc Tam tuyên quân vụ, Nguyễn Công Trứ làm Tham tá.

Quân thứ tỉnh Gia Định đánh giặc ở thành Phiên An, chưa lấy được thành (vì hiệu lệnh không tề chỉnh, lính chết nhiều).

Tuần phủ Lạng Bình là Hoàng Văn Quyền đem binh tượng từ Lạng Sơn đến Cao Bằng hội tiễu, xin cấp lương cho những thổ hào và thổ dõng đi theo đánh giặc. Ngài cho; và truyền từ nay về sau có ai

----------------------
(1) Tứ tửu lễ: dâng rượu vua ban.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #82 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:39:40 pm »

theo đánh giặc, thời cứ theo lệ ấy mà cấp; lại khiến quan Cẩm y vệ úy Nguyễn Văn Lễ qua theo giúp việc.

Tổng đốc đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ từ thành tỉnh Tuyên Quang chia đạo quân tới đánh nghịch Vân; tâu xin đánh thẳng đến sào huyệt giặc ở xứ Vân Trung.

Toán quân quan Tuần phủ Lạng Bình Hoàng Văn Quyền đóng tại đồn Na Lãnh, đánh nhau với giặc rồi lưu trú tại châu Thất Tuyên; quan Thị chiến là Cấp sự trung Cao Phục Lễ làm mất ấn đồng công, Quyền và Lễ đều bị cách lưu, theo quân hiệu lực.

Lãnh binh Hưng Hóa là Bùi Văn Đạo đánh giặc ở Thập Khê và Trọc Khê, được luôn.

Nguyên Án sát Phiên An là Nguyễn Chương Đạt và Lãnh binh Nguyễn Quế đều phải tội giết (chiếu luật "thất hãm thành trì" làm tội); anh em Đạt là Trọng Vũ, Trọng Ngọc, Minh Khiêm đều phải cách chức, không được bổ lại nữa; con Trọng Vũ là Trọng Lượng vốn cử nhân xuất thân, không phải Ấm thọ, thời cho nhưng lưu lại tỉnh Sơn Tây hậu bổ.

Hai toán quân Lê Văn Đức là Nguyễn Công Trứ đều đến đồn Phúc Nghi.

Tháng 10, Thổ tri châu châu Thất Tuyên tỉnh Lạng Sơn là Nguyễn Khắc Hòa anh em đều theo giặc, lừa đánh Tuần phủ Lạng Bình là Hoàng Văn Quyền ở trạm Lạng Chung, Quyền bị giặc bắt; tỉnh thành nguy cấp; Án sát Trần Huy Phác phi tư tỉnh Bắc Ninh xin cứu viện. Việc tâu lên, Quyền phải cách chức, chờ về rồi sẽ trị tội.

Đội trạm trạm Thanh Khoa ở Thanh Hóa tên là Hoàng Trọng Kiều ngụy xưng Trung võ dinh chánh tổng quản, cùng với người giáo Gia Tô là Nguyễn Văn Xuân nhóm họp ở huyện Ngọc Sơn và Nông Cống, dùng khăn đỏ làm hiệu. Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng ủy Lãnh binh nã bắt. Ngài khiến tỉnh Nghệ An phái binh hội tiễu, bắt được tên Kiều giết ngay.
Nguyên Trấn thủ Cao Bằng về hưu trí là Võ Văn Tình xin qua Bắc Kỳ theo đánh giặc. Ngài cho. Tướng giặc Lạng Sơn là Nguyễn Khắc Hòa cùng với tướng giặc Cao Bằng là Bế Văn Đàn đem đánh vây thành tỉnh Lạng Sơn, quân nó đến hơn 10.000 người, Án sát Trần Huy Phác chạy giấy tới quân
thứ cáo cấp, xin mau tới cứu viện; và phi báo các tỉnh lớn ứng tiếp.

Đảng giặc Ninh Bình đánh phá trại Quang Lội, đón cướp khách buôn ở đàng quan lộ; lại xâm đồn Lý Nhơn, cướp đồ khí giới. Việc ấy tâu lên, Quảng đồn phải tội trượng, cách làm lính; quan tỉnh phải giáng cấp, khiến đi nã bắt.

Cho Tổng đốc An Tĩnh là Tạ Quang Cự làm Tổng thống đại thần đem quân qua tỉnh Lạng Sơn đánh giặc, Nguyễn Văn Xuân quyền lãnh Tổng đốc An Tĩnh. Vệ úy đã về hưu trí là Hồ Bôi tuổi ngoài 70, cố xin đi đánh giặc, Ngài cho, và cho đem con là Hồ Văn Trường qua Lạng Sơn theo Quang Cự sai phái.

Phó Lãnh binh Hà Nội là Hồ Văn Vân đem binh cứu viện Lạng Sơn; vừa tới trạm Lạng Nhơn, giặc thình lình chận đánh, Vân phải đạn chết; được tặng hàm chánh tam phẩm và cấp 50 lượng bạc.

Ban ân chiếu 8 điều cho 6 tỉnh Nam Kỳ, 7 điều cho 16 tỉnh Bắc Kỳ. Tỉnh giảm văn thơ các Bộ, Viện, Nha.
Giặc ở Thái Nguyên hơn 1.000 người tới bức tỉnh thành, Tổng đốc Ninh Thái là Nguyễn Đình Phổ
chạy giấy về tâu, xin phái lính giỏi mau ra hội tiễu.

Tổng đốc đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ kéo quân đến đồn Ninh Biền, đem hết tình trạng trong quân tâu rằng: "khi đi trận vừa bắt vừa chém, giặc chạy trốn cả, dân Thổ đến thú nhiều; Thổ tri châu là bọn Ma Trọng Đại, Ma Doãn Dưỡng xin nhóm dân Thổ hiệu lực chuộc tội. Vậy xin cho nó theo quân đánh giặc, thế là dùng mọi mà đánh mọi". Ngài cho nhưng dụ rằng: "chúng nó đánh giặc có công, thời tâu lượng thưởng cho, nếu ngoài thuận theo mà trong lòng trái, thời chém đầu ngay, rao cho chúng biết".

Giặc trốn ở Hưng Hóa là Xa Văn Chấn lại hiệp đánh đảng vây đồn Vạn Pha ở Hà Bắc, quan Thự phủ phái binh tới đánh, giặc chạy, bèn nghiêm sức Thủ bảo Xa Văn Quế tìm bắt.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #83 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:41:43 pm »

Tuần phủ Lạng Bình là Lê Đạo Quảng tấn quân đóng ở địa đầu Tiền An, rồi làm sớ tâu rằng: "tôi có thám được giặc ở Lạng Sơn tên là Lê Văn Liệu là em nghịch Khôi, chiêu mộ những người Tàu ở khai mỏ được hơn 3.000 người, bắt dân Thổ chia đảng: một đảng ngăn đàng Bắc Ninh, một đảng vây thành Lạng Sơn và ngăn đàng từ Quảng Yên đi tới; lại ở châu An Bác có tên Thế Đàng tụ đảng đến 600  người, ám dụ dân phía rừng Quảng Yên, làm cho tao động; vì thế chúng tôi chưa dám đem quân đánh vội". Ngài mật dụ cho.

Dời lỵ sở tỉnh Hà Tiên về chỗ trấn cũ. Trấn cũ nguyên ở làng Mỹ Đức, huyện Hà Châu; năm trước quan Tổng trấn tâu nơi ấy chật hẹp, mới cho dời làm tại Giang Thành; đến đây Hộ phủ Trịnh Đàng xem kỹ địa hình hai nơi ấy rồi tâu rằng: "tỉnh hạt giáp giới nước Xiêm, nước Lạp, là nơi địa đầu rất quan yếu, đóng chỗ hiểm để giữ bờ cõi, thiệt là việc trước; nay lập tỉnh lỵ tại Giang Thành có 3 điều không lợi; 1. là phía trước phía sau lỵ sở đều đất Chân Lạp bao bọc, thói mọi hoảng hốt không thường, không tin cậy được; khi trước vừa nhơn có giặc, quan tỉnh là bọn Phạm Xuân Bích, Trần Văn Quán thế cô, không quân cứu viện đến nỗi phải tự tử, đó là minh nghiệm đã rồi, sách binh pháp gọi là vi địa (1)  đó; 2.  là thế đất nghiêng lệch, mặt trở vào rừng, lưng trở xuống sông, thiệt là không phải nơi đáng làm dinh thự; 3. là tỉnh lỵ ở đây mà pháo đài ở hòn Kim Dự và Trấn phòng ở cửa biển, thế tất phải sai một vài người võ viên tới giữ, nếu ngoài biên xảy ra có việc gì, thời tiếp ứng xa cách. Vả lại, đất ấy xung quanh đều rừng rậm, buôn bán không tiện, từ khi lập lỵ sở đến nay, quân và dân ở đó chỉ vài mươi nhà, ngoài quanh tỉnh không có một nhà nào nữa, trông ra rậm rạp biết chừng nào; thuộc lại trong tỉnh đều nói với tôi rằng: năm trước mỗi khi tiếp sứ Xiêm, thời đều tiếp về ban đêm, vì sợ ban ngày nó thấy sơ sài nó khi dễ mình; xem như thế, thời đóng tỉnh lỵ chỗ này, thiệt không phải bền vững cho nơi biên phòng mà cấm ngăn kẻ ngoài dòm ngó được. Tôi lại xét tỉnh lỵ cũ, dựa núi là thành, lấy biển làm hồ, đàng núi lập đồn bảo được, cửa biển tập quân thủy được, ở trên cao ngó xuống thấp, hình thế rất hùng; mặt tả, mặt hữu và mặt hậu đã có lũy đá cũ, nhơn đó mà đắp cao lên, mặt tiền lại có pháo đài Hòn Kim, ở núi ngó xuống biển; nếu dời tỉnh lỵ về đó, lại lập đồn để giữ những nơi hiểm yếu, thời phỏng có quân mọi rợ, khởi lên như muỗi như ruồi, cũng khó bay qua cửa ấy, mà phòng triệt giặc Đồ Bà ở mặt cửa biển, cũng không khó gì; còn như thế đất rộng, uống nước lành, thời lại có một sự ích lợi ở trong địa lợi nữa. Khi trước tỉnh lỵ còn đóng đó, người ở đông nhiều, là một chỗ đô hội lớn, nhơn bọn cướp giặc lăng loạn, dân cư phải kinh tán, tôi đã nhiều phen thân hành phủ dụ, dân đã lần lần trở về. Nay xin dời tỉnh lỵ về đó, sửa sang lũy cũ, giữ gìn nơi hiểm yếu, yên ủy nhân dân, khiến chúng nó an tập như cũ. Còn lỵ sở hiện tại đây, thời xin đặt một đồn, phái binh giữ lấy". Ngài cho phải.

Truyền dụ giục bọn Tổng thống đạo Lạng Bình là Tạ Quang Cự, Tham tán Võ Văn Từ nếu đã đến Bắc Ninh, thời lập tức đem binh đánh giải vây Lạng Sơn, rồi thẳng đến Cao Bằng đánh cho hết đảng giặc còn sót.

Tỉnh Sơn Tây có toán giặc cướp hạt Vĩnh Tường; quan tỉnh phái Tôn Thất Bật, Nguyễn Văn Sĩ đi đánh. Sĩ chết trận, Bật bị thương, quân lính chết nhiều. Ngài thưởng 30 lượng bạc, mỗi tên lính cấp tiến tuất xấp hai.

Lãnh binh Hải Dương là Nguyễn Thọ Thuyên đến Bắc Ninh, đem binh tượng qua Lạng Sơn; vừa đến địa đầu phủ Lạng Giang, nhơn đem lén đánh hai đồn Kha Hóa, Gia Quan. Quan tỉnh Bắc Ninh tâu lên, Ngài thưởng Thuyên làm chánh tam phẩm, gia thưởng tiền bạc và tiền vàng.

Tháng 11, giặc xâm thành tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Đình Phổ đốc quân binh đánh được.

Tổng thống quân vụ đạo Lạng Bình là Tạ Quang Cự đánh phá giặc ở đồn Quang Lang tỉnh Lạng Sơn; sớ tâu về, Ngài dụ rằng: "nên nhơn được trận ấy, tới đánh giặc ở phía Đơn Sa, An Bài rồi tấn lên giải vây Lạng Sơn cho luôn".

Tha thuế thân cho dân huyện Đại Từ ở Thái Nguyên. Vì huyện Đại Từ chống nhau với giặc, Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ đem sự trạng tâu lên, Ngài cho tha thuế thân.

Tạ Quang Cự giải vây thành Lạng Sơn, Ngài khiến mau quan tỉnh Cao Bằng hội tiễu.

-----------
(1) Vi địa: là đất bị vây, nghĩa là mình ở giữa, mà đất người ta bọc chung quanh.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #84 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:43:53 pm »

Tổng đốc quân vụ đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ tấn quân thẳng đến sào huyệt giặc  ở Vân Trung.

Nước Xiêm đem đại quân tới cướp, 3 đạo quân thủy và quân bộ đều đến; một đạo theo đàng bộ Bắc Tâm Bôn mà tới, một đạo theo đàng Biển Hồ mà tới; sự ấy tâu lên, Ngài dụ quan quân thứ Gia Định điều độ cho kín, đừng động tiếng tăm, mà dân gian lường được hư thiệt mình.

Giặc trốn ở Hà Nội là Hoàng Võ Côn, Đặng Đình Nghiêm lại hiệp đảng hơn 1.000 người thông với tên giặc Mọi sơn âm là Quách Tấn Công, Quách Tất Tế ước kỳ khởi ngụy; quan Quản phủ Ưng Hóa là Nguyễn Đăng Khánh đánh giặc ở làng Thanh Áng chém được hai đầu giặc, bắt được 19 tên, còn Côn và Nghiêm thời chạy thoát vào rừng. Quan Tổng đốc Hà Ninh là Nguyễn Văn Trường đem sự trạng tâu lên, Ngài ban khen, gia thưởng tiền vàng và tiền bạc.

Tổng thống đạo Lạng Bình là Tạ Quang Cự thâu phục được tỉnh Cao Bằng, chạy cờ đỏ (1) báo tiệp. Cự nguyên đã phong tước Bá, nay gia thưởng một chức Quận công.

Thuyền binh nước Xiêm hơn 100 chiếc phạm tỉnh Hà Tiên: hoặc từ cửa biển Hòn Kim mà tới, hoặc từ ngạch sông Chi Lý mà lên bộ; quan Tuần phủ Trịnh Đàng chạy giấy về tâu.

Tỉnh Hà Tiên thất thủ, quan phủ là bọn Trịnh Đàng đều bị cách lưu, cho hiệu lực chuộc tội.

Tháng 12, giặc Xiêm xâm thành Nam Vang, Nam Vang thất thủ. Ngài dụ quân thứ Gia Định khiến bọn Trần Văn Năng, Trương Minh Giảng đánh lui binh Xiêm, để chuộc lỗi trước.

Hộ phủ Ninh Bình là Lê Nguyên Hy mật tâu: "trong tỉnh hạt, huyện Lạc Thổ, An Hóa và Phụng Hóa, thói dân giảo trá, địa phận tiếp giáp với Thanh Hóa, rừng rú rộng xa, núi khe hiểm trở; tựu trung họ lớn các xã chỉ có bọn nghịch phạm Đinh Thế Đội, Quách Tất Công, Cao Viết Khoái, mấy họ ấy đời đời kết hôn nhơn với nhau, mà dân đó cứ nghe theo các tên thổ ty, thổ mục, chỉ biết tình hôn nhơn mà không biết phép nước, thường dung ẩn cho nhau, Lê Duy Lương, Lê Duy Nhiên bắt được ở đó, đều là người nơi khác mà tới. Nay nghe bọn Quách Tất Công tụ đảng hơn 300 người; ra vào phía rừng cách làng Sơn Âm, Thượng Lũng, Hiệu Lũng, Trung Hoàng; còn đảng giặc trốn ở Thanh Hóa 4,5 trăm người ra vào ở núi Song Lãnh gần núi Tam Điệp; tôi đã sức Lãnh binh Nguyễn Văn Tương mau qua nã bắt; vậy xin sắc xuống các đạo hội tiễu". Ngài mật dụ: "phải dụ dân thổ ra sức tìm bắt, đừng khiến chúng nó có bụng ngờ sợ, mà hóa ra thất sách".

Giặc Xiêm chia hai đạo đánh đồn Châu Đốc; tỉnh An Giang thất thủ.

Đặt các vệ quân Hương dõng ở Bình Phú cả thảy 2.500 người. Khi trước quan Tổng đốc Bình Phú là Võ Xuân Cẩn tâu: "dân các làng tập thao luyện, đều hăm hở muốn xin đánh giặc lập công". Ngài ban khen.

Đặt quân Hương dõng ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Quảng Trị, cả thảy 6.500 người, đòi tới diễn tập và cấp lương tháng, tha thuế thân.

Tổng đốc đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ tới Ngọc Mạo, nghe tên nghịch Vân đã chắp tóc đem vợ con trốn qua Tàu rồi. Đức và Trứ chạy giấy về tâu; Ngài truyền dụ rút quân về; lại dụ Tạ Quang Cự cũng kéo quân về luôn, không phải tới Ngọc Mao nữa.

Tham tán đạo quân thứ An Giang là Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đánh được giặc Xiêm tại Thuận Cản (thuộc về huyện Đông Xuyên).

Tướng Xiêm và người Vạn Tượng đem hơn 1.000 quân Mọi xâm các châu về đạo Quảng Trị. Việc ấy tâu lên, Ngài dụ bộ Binh rằng: "đó chẳng qua là chúng nó muốn làm cho ta phân binh lực mà thôi". Liền phái Kinh tượng Vệ úy Lê Văn Thụy ra hội tiễu.

-----------
(1) Cờ đỏ: phàm đánh được giặc, thời sai người cầm cờ đỏ chạy về báo tin cho Triều đình biết.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #85 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:44:30 pm »

Giặc Xiêm lại xâm địa đầu phủ Trấn Ninh ở Nghệ An, chúng nó lại đưa thơ qua phủ Trấn Ninh đòi trả dân Vạn Tượng lại. Việc ấy tâu lên, Ngài phê rằng: "đó chẳng qua chúng nó làm thanh thế, để chủ mưu khuấy Chân Lạp mà thôi".

Giặc Xiêm xâm phủ Trấn Ninh ở Nghệ An, quân ta lui về động Giăng Màn, giặc lại lui đóng tại khe Nhự Ổi (chỗ ấy có hai con đàng: một đàng qua châu Quy Hợp, một đàng qua châu Trú Cẩm), phân đảng xâm phía bờ sông Hiển Bôn thuộc phủ Trấn Định (sông Hiển Bôn là từ sông Giang phân phái ra, thuộc về địa đầu huyện Cam Cát); huyện Cam Môn và huyện Cam Cát phi báo với quan Tấn thủ Ngàn Phố xin binh chống cự, Bố chánh Nguyễn Đình Tân và Án sát Võ Đĩnh liền phái phòng giữ các nơi.

Năm Giáp Ngọ thứ XV (1834), tháng giêng, bọn Trương Minh Giảng đánh tan giặc Xiêm ở sông Cổ Hỗ, giặc Xiêm chia đảng giữ phủ Ba Cầu Nam thuộc về Chân Lạp. Tuần phủ Gia Định Hà Duy Phiên nghĩ nơi đó có đàng thông với xứ Quang Hóa và thượng du sông Trọc Giang về Biên Hòa, bèn ghi thư cho quan thự Tuần phủ Võ Quýnh phải phòng giữ địa hạt.

Truyền bãi việc trồng gai ở các xứ, bởi vì kẻ thừa hành làm khổ dân, chỗ thời nghiêm hạn đốc trách, chỗ thời phải mua để điền cho đủ số.

Trương Minh Giảng lại đánh giặc Xiêm ở sông Cổ Hỗ. Khi ấy giặc nhơn lúc nước xuống, theo bờ sông phóng hỏa đốt bè, ngăn trở quân thủy ta, rồi chúng nó lại sấn tới đánh; Quản vệ Phạm Hữu Tâm đốc binh đánh bắn từ giờ Dần tới giờ Tỵ, quân giặc chết nhiều, thây chồng nhau, giặc liền lui. Ngài xuống dụ ban khen.

Quân thứ thành Gia Định tâu rằng: "Lê Văn Khôi đau bệnh thũng chết đêm 11 tháng trước, đảng giặc tôi con nó là Lê Văn Cú mới 8 tuổi làm Nguyên soái, còn Nguyễn Văn Trắm xưng Điều khiển. Chúng tôi đã tư cho Quân thứ An Giang biết và viết thư bắn vào thành biểu rõ họa phước khiến cho chúng mau hàng".

Các tướng Chân Lạp đánh binh phá Xiêm, chạy cờ đỏ báo tiệp. Ngài truyền Thị thần rằng: "ta liệu quân bộ Xiêm chắc theo đàng Quang Hóa tới, nay quả nhiên, tướng Chân Lạp có ít quân mà đánh được giặc nhiều, thế là Chân Lạp có người giỏi thời giặc Xiêm chẳng làm chi được", bèn thưởng tên Long, tên Vu chức Ốc Nha Trà Tri, Ốc Nha Nhâm Lịch như cũ, còn tên Kê được thưởng chức Chư quân hiệu úy, trật tùng tam phẩm, kiêm lãnh nguyên chức.

Giặc tỉnh Tuyên Quang khởi lên về hạt Thổ Hoàng châu Đại Man. Ngài nghe, xuống dụ khiến tư cho toán quân Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ nhơn khi đại binh khải hoàn phải tiện đàng qua đó hiệp lực dẹp yên cho mau.

Làm dinh Lãnh binh Quảng Ngãi ở chốn Biên Bảo, sai Nguyễn Vĩnh tới tuần phòng, nhơn tập quán lính để nghiêm giữ ngoài biên.

Tướng giặc tỉnh Tuyên Quang là Nồng Văn Vân lại nhóm đảng xâm miền thượng du tỉnh Cao Bằng; quan Tham tán Võ Văn Từ đã dò thám tự đồn Nhượng Bạn đến nơi sào huyệt giặc ở Ngọc Mạo, Vân Trung, có 3 con đàng đi, bèn phân phái phòng triệt; lại tư quan Tổng thống Tạ Quang Cự chạy giấy về tâu.

Quan Tổng đốc quân vụ Tuyên Quang là Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ kéo quân từ Vân Trung về đến tỉnh Tuyên Quang, đem những tình trạng quân giặc cứ hiểm thiết phục, dọc đàng đón lương cướp súng, và quân sĩ nhiễm bệnh lam chướng, lương ăn không đủ, dâng sớ xin nhận cựu. Ngài dụ rằng: "quân đi ngàn dặm quý cho thần tốc, mình chẳng tới mau để giặc trước giữ chỗ hiểm, thừa gian cướp bậy; khi quân mình về, giặc lại phòng bị các nơi, đến nỗi quân mình chết hại, súng ống bỏ mất, uổng  công mấy lâu qua lại, tội chẳng đáng hay sao? Nay đã thắng trận, cho về tỉnh cung chức, còn sự xin đi đánh nữa, sẽ có chỉ sau". Bèn để Tô Huệ Vân, Đoàn Văn Cải đem 700 quân và 5 con voi ở lại giữ thành Tuyên Quang.

Quân thứ An Giang thu phục đồn Châu Đốc.

Vệ úy đạo Cam Lộ Lê Văn Thụy đem binh đến Thú Kê đánh giặc Xiêm, kéo thẳng đến châu Tầm
Bồn, Mang Bổng, giặc bỏ đồn trốn trước. Thụy tâu xin đem quân về. Ngài khen, y cho.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #86 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:45:34 pm »

Binh đạo Hà Tiên lấy được tỉnh thành. Đem việc quan binh các đạo đánh được Xiêm báo cáo cho trong ngoài đặng biết.

Quân thứ An Giang lấy lại thành Nam Vang chạy cờ đỏ báo tiệp.
Sai quân hộ tống vua Chân Lạp về nước. Binh đạo Trấn Tĩnh ở Nghệ An thâu phục được phủ lỵ. Ngài nghĩ giặc Xiêm đã yên rồi, truyền đình thần bàn việc giữ gìn về sau cho thành Nam Vang và tỉnh An Giang, tỉnh Hà Tiên. Đình thần tâu những việc cần cấp cả thảy 6 điều: 1 thiết lập thành trì đồn bảo; 20 lượng phái công dịch trú phòng; 30 dự trữ quân nhu các đồn; 40 phân biệt công tội bọn tướng Chân Lạp; 50  không cho Chân Lạp đi sứ Xiêm; 60  chỉnh lý đồ khí giới quân Chân Lạp. Ngài dụ Nội các rằng: "đình nghị đều phải cả, nhưng phải tùy việc hoãn việc cấp mà làm; còn việc dùng binh Chân Lạp là cốt vì bảo hộ nước nó việc mới khởi đầu  phải hiểu dụ cho rõ ý, để nó an lòng khỏi ngờ".

Tiền quân Chưởng phủ sự Lương Tài hầu Trần Văn Năng ở quân thứ về đến Bến Siêu tỉnh Gia Định bị bệnh mất. Ngài nghe, đình triều 3 ngày. Truy tặng hàm Thái phó, tấn phong Tân thành quận công, thụy là Trung dõng, lại cho truyền lời dụ ban tế.

Nước Xiêm lại đem hơn 5.000 quân xâm đồn Công Nhạc, châu Mang Bổng về đạo Cam Lộ; bọn Lê Văn Thụy đánh phá tan, bắt được tướng Xiêm là Mạn Sác Khôn La Mân và tên Khiếu lại lấy được nhiều súng ống khí giới, chạy cờ đỏ báo tiệp.

Giặc tỉnh Tuyên Quang là Nồng Văn Sĩ lại nhóm đảng hơn 1.000 người kéo từ làng Thông Sơn tới đồn Trung Thảng chống nhau với quan quân đạo Cao Bằng. Tạ Quang Cự, Võ Văn Từ ở đồn Nhượng Bạn dâng sớ tâu lên. Ngài dụ rằng: "giặc Vân ở Vân Trung đã bị binh Tuyên Quang phá tan sào huyệt, nó chạy tan hết, nay thằng Sĩ còn dám thâu quân cự lại, thiệt là đáng ghét. Trước ta đã cho Tổng đốc Ninh Thái là Nguyễn Đình Phổ kéo quân tới Bằng thành cổ đạo tiếp giáp đồn Ngọc Mạo, định ngày đánh giặc; nay lại sai Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ đem đại binh đi đàng Tuyên Quang đến Vân Trung; Tạ Quang Cự mầy nên ở lại Cao Bằng, hiệp với Võ Văn Từ xếp đặt mọi việc; nếu mà thừa cơ được, lập tức tư hội với Văn Đức, Công Trứ giáp đánh đến thẳng Ngọc Mạo, Vân Trung, đạp bằng sào huyệt giặc, làm sao bắt chém được thằng Vân, thằng Đản, thằng Cẩn mới cho đem quân về".

Lại sai Tổng đốc Sơn Tây là Lê Văn Đức làm Tổng đốc đạo Tuyên Quang, coi tiễu bổ sự vụ, thự Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Công Trứ làm Tham tán, tới đánh Vân Trung.

Sai Thần sách thống chế Phạm Văn Điển đem lính Kinh ra Nghệ An cùng quan Chưởng cơ là Lê Thuận Tĩnh đánh giặc Xiêm. Khi trước Vệ úy Nguyễn Đức Long giữ phủ Trấn Tĩnh, sai Suất đội Lê Bảo giữ đồn Nông Lũng, gặp giặc Xiêm, quân mình ít không địch nổi, giặc phân binh đánh phủ Trấn Tĩnh, Đức Long lui quân giữ núi Giăng Màn; Bố chánh sứ Nguyễn Đình Tân, Án sát Võ Đĩnh phi tư cho Lê Thuận Tĩnh phải đến mau đánh giặc. Ngài nghe, truyền xiềng Nguyễn Đức Long mà định tội cho nghiêm, cho Phạm Văn Điển đem binh đánh giặc.

Tháng 2, bọn tướng Chân Lạp đánh được giặc Xiêm ở phủ Cần Thu, bắt sống 6 tên tùy tướng và 300 tên quân, đuổi theo đến bến Trà Lai (thuộc về sông lớn Nam Vang).

Trấn Ninh phòng ngự sứ là Kiều Huống, Đồng tri là Khâm Quyết làm phản; quan phủ Tương Dương phi báo, bọn Nguyễn Đình Tân đem việc tâu lên. Ngài sai Hữu quân Nguyễn Văn Xuân lãnh chức An Tĩnh Tổng đốc, lại sung chức Kinh lược đại sứ, để đi đánh giặc Trấn Ninh. Vì Xuân trước từng làm quan Nghệ An đã thuộc hết biên tình, nên mới sai đi.

Quan Quản vệ đạo Trấn Tĩnh là Nguyễn Văn Thu đánh được giặc Xiêm ở xứ Na Kham và xứ Xán Ca.

Tỉnh Lạng Sơn có đứa giặc trốn tên là Nguyễn Khắc Thước hiệp đồng tên tù trốn là Dương Ba An
 
tụ đảng núp lén ở mạn rừng An Châu. Quan Tuần phủ Lê Đạo Quảng phái tên hiệu lực là Dương Tam đi dụ, lại sai Quản cơ Võ Văn Nguyên hội với quân tỉnh Bắc đi đánh, chém được 3 tên, bắt được hơn 10 tên Tướng hiệu, cùng là khí giới ấn tín đem nạp; dân An Châu theo Dương Tam ra thú cũng nhiều, quan Tuần phủ đều cho về làm ăn, và khiến biểu nhau hết sức bắt giặc. Việc ấy tâu lên, Ngài ban khen, thưởng bọn Võ Văn Nguyên mỗi người một cấp quân công.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #87 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:46:52 pm »

Sai Tuần phủ Lạng Bình Lê Đạo Quảng hiệp đồng Tổng thống Tạ Quang Cự thương đồng việc đánh giặc.

Đạo quân Cao Bằng đánh nhau với giặc ở Đinh Lãm, bị thua, Tạ Quang Cự, Võ Văn Từ đều bị cách tước (Cự bị cách tước Bá tước Tử, Từ bị cách tước Nam).

Quân thứ Nam Vang là Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân đem thuyền đi đàng sông thượng du hội đồng với Trương Phúc Đỉnh bàn việc biên vụ.

Tổng thống đạo Cao Bằng là Tạ Quang Cự và Võ Văn Từ lại tấn binh đóng các đồn cũ, phân phái phòng triệt, nhơn đêm đánh lén tại núi Công Lãnh, chém được 3 tên giặc, bắt sống được 4 tên, đốt hơn 20 trại sách; rồi tư qua đạo Thái Nguyên hội binh định ngày tấn tiễu.

Tổng đốc Sơn Tây là Lê Văn Đức tâu: "việc năm ngoái đánh phá đồn Ngọc Mạo, tên Đinh Công Trọng và Quách Công Nhị đều đắc lực, xin đừng nệ cách thường, thưởng thọ chức hàm cho chúng nó". Ngài cho.

Trong đạo Nam Vang, giặc Xiêm đã dẹp yên, Ngài xuống dụ cho Trương Minh Giảng, Thái Công Triều về Gia Định sai phái.

Quân bổ biền Hà Nội đánh phá giặc Ninh Bình ở Chương Đức, bắt sống được Tiền quân giặc là Nguyễn Văn Lượng, Tham tán giặc là Nguyễn Bá Năng và Phó cơ là Bùi Văn Mạch. Ngài khen bổ vụ xuất sắc, đều thưởng gia quân công một cấp và thưởng Nguyễn Đăng Khánh trật tùng nhị phẩm, nhưng lãnh chức Quản phủ.

Bố chánh và Án sát Ninh Bình tâu rằng: "quân giặc tới xứ Phụng Hóa và xứ Bình Đôi khuấy rối. Tuần phủ Nguyễn Khắc Bằng đã tới Tống Sơn hội tiễu; vừa nghe vua nước Nam Chưởng sai con là Chiêu Kiển đem binh tượng tới đồn Ninh Biền ở Hưng Hóa, nó sai người dụ 3 huyện Trình Cố, Sầm Nưa, Man Xuy phải thần thuộc như cũ, không thời giết hết. Chúng tôi xét ra 3 huyện ấy trước thuộc Vạn Tượng, không quan hệ gì đến Nam Chưởng, nay Nam Chưởng bức bách làm vậy, thiệt lấy làm lạ. Vậy xin sức phủ Thọ Xuân đem thổ binh ra phòng triệt tại địa đầu tiếp giới 3 huyện ấy, để xem tình hình thế nào". Ngài y cho.

Tỉnh Lạng Sơn bắt được Thống lãnh giặc là Nguyễn Khắc Thước, giết ngay.

Tham tán đạo Nam Vang là Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng, Tán tương Trương Phúc Đỉnh đem binh thuyền từ biển Đại Hồ đến bến đò Phi Long. Tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri từ khi thua ở Châu Đốc, lui về Phủ Lật, lập 3 cái đồn ở hai bờ sông Tiểu Đà mà đóng giữ; bọn Giảng đem việc ấy tâu lên và tư bộ Binh rằng: "Phủ Lật giáp với Bắc Tầm Bôn, Bông Xuy giáp với Lô Khu Vật nước Xiêm; vậy xin chọn nơi lập đồn ở hai phủ ấy, để giữ lấy toàn hạt nước Chân Lạp". Ngài xuống dụ khiến hết sức đánh giặc đuổi ra khỏi cõi, rồi liền lập đồn ở 2 phủ, để mỗi đồn 300 tên lính Chân Lạp đóng giữ.

Quân Xiêm lại xâm châu Ba Lan ở Cam Lộ; Thự Tuần phủ Quảng Trị là Nguyễn Tú phái Lãnh binh Nguyễn Cửu Đức đánh giặc. Ngài sai Dương Văn Phong hộ lý Tuần phủ Quảng Trị, còn Nguyễn Tú phải tới quân thứ Ba Lan tùy cơ đánh giữ.

Đề đốc đạo Trấn Tĩnh là Lê Thuận Tĩnh đánh nhau với Xiêm ở động Giăng Màn, bị thua. Trang võ vệ úy Phan Văn Sĩ chết trận; Tỉnh lui đóng tại ngã ba sách Trú Cẩm giữ hiểm chống cự.

Bố chánh và Án sát tỉnh Nghệ An là Nguyễn Đình Tân, Võ Đỉnh tâu: "hai tên nghịch Huống, nghịch Quyết dám dẫn binh Xiêm đánh giết quan quân, xứ Trấn Ninh bị đốt phá đều thành đất hoang". Ngài dụ Nguyễn Văn Xuân lập tức tới đánh, rồi mau đem quân về, không được đóng lại; nhưng phải qua chỗ ngã ba thuộc về Trấn Tĩnh hội với Lê Thuận Tĩnh đánh giặc.

Thự Tuần phủ Hưng Hóa là Ngô Huy Toán tâu rằng: "Thổ tri châu Châu Thuận là Bạc Cầm Kế thám báo có giặc Xiêm ước 4.000 đến đồn châu Ninh Biên, tôi đã phái đi phòng giữ và từ Sơn Tây đem binh tượng đến hội tiễu". Ngài dụ rằng: "ở đó gần nước Nam Chưởng, nên nó mượn tiếng giặc Xiêm mưu đồ hách truật dân mọi mà thôi, chờ đến khi Trấn Ninh và Trấn Tĩnh hai nơi dẹp yên giặc rồi, thời một xứ đó chẳng cần đánh mà nó cũng phục ngay".
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #88 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:47:47 pm »

Án sát Thái Nguyên là Nguyễn Mưu và Phó Lãnh binh Nguyễn Văn Ưng đem binh đóng ở mỏ thiết thám nghe tướng giặc Nồng Văn Hoành, Bế Văn Đản, Bế Văn Cẩn hiệp với Chánh tổng Kim Mã là Lương Quang Phụng và những người Tàu coi việc khai khoáng là bọn Trương Xương Xý tụ đảng đến hơn 1.000 người đóng ở Long Lũng; Mưu và Ưng liền đem quân từ Biều Gaing Thố Lãnh đến mỏ Vụ Nông đóng giữ, nhưng sức tên đội hiệu lực là Đinh Quang Tấn sai người chiêu dụ, bọn Lương Quang Phụng đem súng điểu thương, gươm giáo đến cửa quân đầu thú và nói rằng: "Nghịch Hoành, nghịch Đản, nghịch Cẩn nghe quan binh kéo tới, chúng nó đã trốn vào Vân Trung". Bọn Nguyễn Mưu bèn thương đồng định ngày theo đàng mỏ Tống Tinh đi tắt qua Bằng thành cổ đạo (từ đó đến Long Lũng đi một ngày đàng) đợi khi nào Cao Bằng phúc tư tới, sẽ đem quân thẳng tới Vân Trung hội tiễu và đem việc ấy tâu lên. Lại tâu rằng: "giặc trốn ở Thái Nguyên là Ngụy chánh đốc vận Hà Thiêm Ngân và phó đốc vận Lương Hữu Đức cả thảy 6 tên tới thú, chúng tôi đã cho tùng quân hiệu lực chuộc tội". Ngài phê rằng: "nên gắng sức cho mau thành công, còn tên Đinh Quang Tấn chiêu dụ đắc lực, trước hãy truyền chỉ khen cho, chờ sau có công trạng rõ ràng sẽ hay".

Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ kéo quân đến tỉnh Tuyên Quang, nghe báo rằng: Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền qua Lư Giăng lui về Bộ Phố, liền sai Quản cơ Nguyễn Đức Chung đi trước tiếp ứng, Đức và Trứ thời đốc đại binh tiếp sau; rồi dâng sớ tâu hết tình trạng giặc xâm qua Vị Xuyên đầy đàng chật sá, đón ngăn lương hướng, tải vận khó khăn. Ngài dụ phải tấn quân cho mau thành công, còn Nguyễn Văn Quyền thời cho cách lưu tùng quân hiệu lực.

Tháng 3, tướng giặc ở Nghệ An là Lê Văn Phẩm, hiệp đảng với giặc trốn ở Thanh Hóa là Hoàng Trọng Kiều, Nguyễn Trọng Liên, Phạm Văn Ninh tụ ở Cứ Sơn (tiếp giáp Thanh, Nghệ). Tỉnh phái Vệ úy Nguyễn Đình Phú và Vệ úy phủ Diễn là Nguyên Công Cẩn đem binh hội tiễu; Cẩn gặp phục binh của giặc ở Chỉ Khê (thuộc mạn rừng huyện Quỳnh Lưu) bị thua; quan tỉnh lại phái Diệu võ; Vệ úy Tăng Tháp đi hiệp tiễu.

Tập thỉnh an của quan Thự Tổng đốc Hải An là Nguyễn Công Trứ nói rằng: "tỉnh lỵ Tuyên Quang tiếp huyện Hùng Quan phủ Đoan Hùng về tỉnh Sơn Tây, tự đó đến đồn An Biên đi 8 ngày đàng; tự An Biên qua An Định Bắc Nhự đến Vân Trung 5 ngày; mà theo Đại Miện, Tiểu Miện đến Vân Trung 8 ngày; thống kê từ tỉnh thành đến châu Bảo Lạc đàng đi thường đã hơn nửa tháng; mấy chỗ sơn xuyên hiểm trở đều bọn thổ ty chiếm cứ, gặp việc chờ báo e đã không kịp; huống những việc quan yếu đều từ tỉnh Sơn Tây điều độ, binh lương qua lại phải đến trọn tháng, việc đến nỗi trở ngại, cũng vì tình thế ngăn cách. Vả chăng tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Thái Nguyên đất liền nhau, nên hiệp làm một đạo, dời tỉnh thành qua xứ An Biên, kiêm trị tỉnh Thái Nguyên, đặt quan Tổng đốc làm chủ; hạt ấy việc thuế là giản, một quan Tổng đốc kiêm cả việc Bố chánh cũng được. Vả lại An Biên ở về chính giữa Tuyên Quang, trước có con sông ngăn cách, ba mặt đều là núi đá chầu lại, khoảng giữa rộng rãi dung được vài vạn người, nên thiết lập tỉnh thành ở đó. Bên hữu xứ Tùng Tạo, bên tả núi Lạp Lãnh, đều nên xây cửa ải; phía nam sông ấy có núi đất, nên đắp một pháo đài, để nghiêm phòng giữ, thời những chỗ hiểm trở đều ở được cả; còn các nơi quan yếu khác như: Đại Miện, Tiểu Miện, Bách Đích, Châu Khoán, An Định, cũng nên lập đồn bảo để phòng ngự, những chỗ cong chỗ hẹp đều nên khai tạc bình trị cho rộng, để qua lại cho thông; như thế thời phía tây chế ngự được Bảo Lạc, Lục An; phía đông trấn áp được Đại Man, Vị Xuyên; phía nam giữ tỉnh Thanh Hóa; phía bắc thông đạo Thái Nguyên; thành ra hình thế ở chỗ hệ trọng mà giá ngự các chỗ khác, giống như thân người khiến cánh tay mà cánh tay lại khiến ngón; vận động đã mau, hô ứng cũng tiện, có thể dẹp loạn lúc chưa sanh ra, yên dân lúc không êm lặng. Nhưng phải thay đổi kẻ đầu mục, phủ trị cho lâu, khiến nó noi theo khuôn khép, tập nhiễm lần lần chắc rằng chẳng đến 3 năm, có thể thói mọi đổi làm thói mình, sẽ khỏi lo về việc biên cảnh nữa. Nhưng sự đổi đặt tỉnh thành người ta thường lo về hai điều: 10 An Biên lam chướng rất nặng; 20 đàng vận tải khó khăn; tôi đã xét kỹ An Biên đối ngạn với Hà Dương, phố chợ liên lạc, người mình, người Tàu ở đông; và tự An Biên đến Tuyên Quang cũng một nguồn sông, tôi đã cân thử nước sông, thời nặng nhẹ chẳng khác nhau lắm; vậy mà cho là lam chướng nặng quá, chẳng qua là ý kiến của những người ưng nơi gần, ghét nơi xa mà thôi. Còn như việc chi nhu thời đất hạt này tốt lắm, núi đều trồng tỉa được; khi trước tôi kéo quân qua đó, trông thấy lúa thóc chức đầy góc rừng bờ ruộng, binh dõng đi hơn 4.000 người, từ tháng 10 đến tháng 12, chỉ dùng lúa trong một xã Vân Quang mà đã khỏi thiếu, thời chỗ khác cũng đủ biết. Tôi xét ruộng xứ ấy không vào sổ cũng không nạp thuế, mà đất trồng tỉa được bỏ hoang còn nhiều. Vậy thời chỉ chở lương một lần tính đủ ân nửa năm mà thôi, còn về sau xin chiêu mộ dân các xã khai khẩn ruộng đất,
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #89 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2009, 08:49:35 pm »

thành thuộc bao nhiêu sẽ chước lượng thâu thuế chức để tiêu dùng, có thể thừa thải không đến nỗi lo thiếu. Lại như các sở mỏ vàng, mỗi năm nạp thuế từ 1 lượng đến 4 lượng, giá 1 lượng 80 quan, mà người Tàu khai khoáng mỗi sở tụ hội đến 7,8 trăm người, đều là đồ du đảng tránh xâu trốn thuế, thường thường sanh sự xuyên tạc địa mạch, khuấy nhiễu lương dân; gần đây toán nghịch Vân đến đâu tàn hại đó, đều tự bọn người Tàu làm vây cánh trợ ác. Tôi thiết tưởng thuế khai khoáng nạp vào chẳng được là mấy, xin cấm các sở mỏ vàng, đuổi hết người Tàu về xứ; sau nếu có ai xin trưng, quan địa phương sẽ xét thiệt, chiếu lệ kim hộ tỉnh Quảng Nam mà đánh thuế, nhưng thường phải kiểm xét, không được ẩn giảm như trước; thế thời đã tuyệt được sự biến sanh thình lình, mà tiền của trong nước cũng được rộng rãi. Vả lại số lính trong tỉnh ấy phải đi quân thứ các tỉnh khác đến gần phân nữa, hiện còn ở tỉnh sai phái chắc là không đủ. Tôi xét các thổ mục trong tỉnh hạt và đầy tớ tôi lâu nay sai đi đánh giặc cũng giỏi, xin cho chúng nó mộ hai cơ binh, mỗi cơ 600 người, ai đi mộ được 60 người sẽ cho làm suất đội, mộ được 10 đội cho làm Quản cơ; còn lính mộ thời lấy trong số dân lậu tịch. Vậy thời chẳng những đủ người sai phái, mà những bọn không thống thuộc về đâu, lại có chỗ quản thúc, cũng là một việc đã thêm binh lại cấm được trộm cướp nữa". Ngài dụ: "dời tỉnh thành tới An Biên thống hạt Thái Nguyên, đặt chức Tổng đốc, lời tâu xin vậy cũng có lý; nhưng chỉ có chỗ ấy là đất rừng rú nhơn vật còn ít, chờ khi nào biên cảnh yên rồi sẽ làm cũng chưa chậm gì; còn mấy đứa người Tàu, cũng là dân cùng nước khác, nhờ đó làm ăn, nỡ nào đuổi nó; nếu nó có sanh dị chi, đã có phép luật. Đến như việc mộ thêm lính, thời tốn kém tiền lương, việc ấy nên đình bãi".

Quân thứ đạo Nam Vang là Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân, Trương Phúc Đính đánh giặc Xiêm được luôn; trận đánh ở Ca Lăng giặc lại bị thua to, đêm bỏ trốn cả, quân ta đuổi ra khỏi giới hạn mới về. Khi trước tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri nghe Xiêm bị thua, kéo hết quân tới, muốn liền quyết thắng phụ một trận; Minh Giảng cầm binh không động, binh Xiêm đến đồn, Giảng mới cho binh túa ra vừa reo vừa đánh, giặc bị chết và bị thương vô số, quân ta chém một Đại tướng giặc, cướp được cây đao vàng nó cầm quân (quân Chân Lạp nói rằng: người cầm đao vàng đó là quan Cửu phẩm Xiêm) và lấy được súng lớn nhỏ rất nhiều; chúng nó đốt trại chạy trốn, quân ta thẳng đến Phủ Lật, bèn sửa sang đồn cũ giao cho bọn tướng Chân Lạp đóng giữ, rồi định ngày lui quân. Việc ấy tâu lên, Ngài cho bọn Trương Minh Giảng tấn tước và hưởng cấp khác nhau.

Tạ Quang Cự tâu: "quan binh đánh giặc từ Đào Ngạn, Tuyên Bố, đến Cống Lãnh, một dãi duyên sơn hơn 30 trại giặc, đều đốt hết cả, chém được vài tên, còn bao nhiêu đều chạy trốn xa".

Thự Tuần phủ tỉnh An Giang là Lê Đại Cương mật tâu trù tính việc ngoài biên: xin làm đồn trại nơi Nhu Viễn Đàng thành Nam Vang, phái quan binh trú thủ, làm kế giữ về sau. Lại từ đàng Quang Hóa trở lên giáp Cự Giang, nhiều chỗ không khoán cày được, nên cho những người Chàm (1) bị tội lưu tại xứ Ân Khu và xứ Sâm Bô tới ở đó khai khẩn. Ngài cho.

Quan tỉnh Nghệ An tâu: "binh Nam Chưởng tới khuấy rối châu Ninh Biên ở Hưng Hóa, đánh tiếng toan tới phủ Trấn Biên, Trấn Tĩnh". Quan Thanh Hóa cũng tâu: "huyện Trình Cố báo rằng: Nam Chưởng lại khiến người tự Ninh Biên tới bắt huyện ấy phải phục tùng nó, nếu không chịu thời bắt hết dân". Ngài phê rằng: "đó chẳng qua là nó nhờ tiếng giặc Xiêm, hư trương thanh thế, để nạt dân ngoài biên, cũng là thói quen mọi rợ mà thôi; nay giặc Xiêm ở các nơi đã bị quân ta đánh thua, thời Nam Chưởng còn làm chi được".

Sai quan Hộ thành binh mã Phó sứ Trương Viết Soái đến Hữu Trạch Nguyên chế ra xe thủy hỏa ký tế (nhờ nước chảy làm cho máy chạy, không cần dùng sức người) và chiếu theo cách mới mà chế thuốc súng (hống phương, hùng phương, hộc phương, mỗi thứ 20.000 cân). Lại phái ty viên các bộ, viện, xứ Thị vệ, và lính pháo thủ, đến đó thí nghiệm.

Ngài bàn chuyện với các quần thần về phép chế luyện hỏa thán, nhơn nói rằng: "ta ở trong cung, thường lúc trước tiết đông, hạ chí, cân đất và than nặng nhẹ bằng nhau, nhơn lấy đó thí nghiệm khí hậu; kịp đến tiết hạ chí thời đất nặng mà than nhẹ; đến tiết đông chí thời than nặng đất nhẹ; là bởi vì đất thuộc âm, hạ chí nhứt âm sanh thời đất nặng; than thuộc dương, đông chí nhứt dương sanh thời

-------------------
(1) Chàm là người Chiêm Thành.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM