Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:08:39 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 100926 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #100 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 02:37:59 am »

Nguyên khi trước Đức tấn quân đàng Thuyền giáp, Điển tấn quân đàng Họa giáp, đều leo núi vin vây, lên cao bắn xuống, giặc sợ, tan tác. Có một đạo binh ta đi đàng An Định, 5 lần đánh phục binh giặc, đều phá tan chúng nó, bèn tới hội với hai đạo binh Văn Đức và Văn Điển, hẹn ngày tới Vân Trung.

Tham tán đạo Thái Nguyên Nguyễn Công Trứ tâu rằng: "dân Tuyên Quang, Cao Bằng theo giặc nhiều, là bất đắc dĩ quan quân đến đâu chúng nó đều đem nhau đầu hàng; lính thổ càng ngày càng thêm, đều thiệt lòng hết sức. Còn như ở Thái Nguyên, tự Châu Bạch Thông trở lên, tới đâu giặc đó, chỗ rừng rú vừa tan về, rồi lại khiêu tụ ngay; vậy phải tìm dò cho đến tận nơi, bắt cho đặng người, hiệu dụ những điều họa phước, nếu chúng nó không chịu nghe theo, sẽ dùng hết phép trừng trị, nếu chúng nó không chịu nghe theo, sẽ dùng hết phép trừng trị. Và tôi mới tiếp thơ Nguyễn Đình Phổ nói ở Na Dũ cũng có giặc, quan binh đánh bắn nó chạy tan, nó lại trèo lên tột núi. Thế giặc khó đánh như vậy, xin phái lính thú Hải Dương cùng cả vệ quân Vọng Thành và lính tỉnh vệ Trung, vệ Tả, đều tới đánh cho gấp". Ngài cho.

Nguyễn Công Trứ lại tâu: "binh đóng ở Hồng La ngày ngày thường bị giặc đến đánh vây, chúng nó lên cây giữ hiểm, toan chặn đàng quân mình đi lại; có một bữa, giặc đến sát thẳng chỗ quân thứ 4 mặt reo la bắn súng, có tên tướng giặc đứng trên hang đá chỉ trỏ, bị tên Chánh đội mình là Dương Đình Cẩm bắn một phát súng điểu thương, chết ngay. Tự Hồng La trở lên tiếp giáp Bảo Lạc, đều là thân đảng tên giặc Nồng Văn Sĩ, tôi đã phái đi dò nã, leo núi mấy lớp, chỉ thấy rừng rú một dãy rậm rì xanh ngắt, vợ con đồ đạc nó đều tàng trữ ở trong ấy, trông thấy mà tới không đặng; kịp lúc quân mình về, chúng nó lại đuổi theo bắn súng, phong tục hung dữ như vậy". Ngài dụ rằng: "ngươi phụng mạng đem quân, giữ gìn được toàn vẹn vững vàng, chẳng đến nỗi nao động, là đáng khen lắm; ngươi trước có bị giáng 3 cấp, nay chuẩn cho khai phục một cấp; Dương Đình Cẩm thưởng cho một cái áo Ngũ ti nhung y và một bộ dãy gấm, quản suất đi theo đều thưởng quân công kỹ lục một thứ". Tâu rằng: "bên hữu núi Bế Lãnh một dãy núi cao, quân đi không tiện. Chúng tôi lại tiếp đạo Thái Nguyên tư rằng: đàng núi Bắc Nẫm càng hiểm lắm. Chúng tôi trộm nghĩ Bắc Nẫm chưa lấy được, thời tỉnh Cao, tỉnh Thái tiếp giáp đó đều là chỗ giặc ở, nếu quân mình kéo vào chổ thâm hiểm, thời đàng đem lương trở ngại, nên chi còn phải đóng lại ở Mật Lũng và Du Lũng, chờ đạo binh Thái Nguyên đánh lấy được Bắc Nẫm, sẽ tìm đàng tới đánh Bế Lãnh và thẳng đến Vân Trung hội tiễu".

Phạm Văn Điển, Lê Văn Đức kéo quân tới phá tan ổ giặc ở Vân Trung. Khi binh đến xứ Bách Đích, Bắc Cái, ở đầu hạt Để Định, liềp phái Hoàng Đình Phụng đi băng đàng lên đỉnh núi rất cao, lén trèo lên phía trên đồn giặc, đứng chỗ cao bắn xuống, quân mình nhơn đó súng nhỏ súng lớn bắn luôn, giặc chết nhiều, phải bỏ đồn chạy, lấy được lương gạo và súng đạn, rồi thẳng đến Vân Trung, thời nghịch Vân đã đốt phá chỗ ở, đem vợ con trốn đi rồi; Điển, Đức sai ngay Nguyễn Văn Quyền đem binh hơn 1.000 người thẳng đến Ngọc Mạo.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #101 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 02:54:59 am »

Quân thứ đạo Cao Bằng là Tạ Quang Cự tiếp đến Vân Trung, hội với đạo Tuyên Quang.

Tháng 12, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Phổ tấn binh đến Bắc Nẫm, giặc đã trốn cả, tấn quân tới đóng Cổ Đạo. Tướng giặc là Ma Đạt Trung và Dương Văn Loan đến cửa quân đầu thú xin hiệu lực và đem lương gạo tới nạp, nhưng xin nghỉ một vài ngày, để tìm bắt giặc trốn, rồi sẽ tới Vân Trung hội tiễu.

Mới đặt ra viện Cơ mật.

Định lại ngạch thuế châu Hướng Hóa ở tỉnh Quảng Trị bởi vì dân châu Hướng Hóa ở Cam Lộ tình nguyện cải theo như lệ dân Hán; vậy nên nhà nước cho chia thành làng, ấp, lập ra sổ bộ, nạp tiền thuế cũng như dân Hán.

Quân Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Phổ đến sơn phận xứ Giai Lạc, bắt sống được Thống lãnh giặc là Triệu Văn Triệu (1) và 7 thằng giặc, lại bắt được con voi kỳ trước bị mất.

Thưởng cho các nghĩa dân các tỉnh trong Nam Kỳ bởi vì khi quan quân đánh giặc Khôi ở Phiên An, dân Nam Kỳ có kẻ xuất của giúp quân nhu, vậy nên bộ Hộ nghĩ tâu xin thưởng.

Đặt thêm 3 huyện ở Thừa Thiên: Phú Lộc, Hương Thủy, Phong Điền.

Quân Phạm Văn Điển đến An Đức, có tên Phan Bá Bành dẫn tên Tham tán giặc là Phùng Ngọc Chấn và Chánh đội là Hoàng Văn Nguyên với đồ đảng hơn 20 tên ra đầu thú. Việc ấy tâu lên, Triều đình cho tùng quân hiệu lực để chuộc tội.

Định  lại thuế suất trong các địa phương; khi trước nạp sắt cống, nay cho nạp sắt chín; nhưng chước lượng phân số, hoặc thêm hoặc bớt, lập ra ngạch nhứt định.

Trong thành Phiên An có tên tướng giặc là Võ Vĩnh Lộc đứng trên thành, bị quân mình ở ngoài thành đem súng đại bác bắn chết.

Ba đạo quân Tuyên, Cao, Thái hội ở Vân Trung, nghịch Vân đã đem vợ con trốn sang Tàu; dân Tàu ở hai làng Lộng Mãnh, Bác Thán dựng tình ẩn dấu tên Vân. Các quan mình hội hàm tư sang phủ Trấn An (thuộc về nước Tàu) nhờ nã bắt nó giao cho mình, còn quân mình cứ đóng tại chỗ giáp giới để đợi tin Tàu.

Quân thứ đạo Cao Bằng là Tạ Quang Cự thân đốc quân lính đi khắp các mạn núi về Thanh Qua, Biểu Lũng và Hiểm Lũng, tìm được 15 khẩu súng thần công và súng điểu thương, ống phun lửa, thuốc súng, khí giới các hạng.

Vua nước Chân Lạp là Nặc Chân mất. Ngài chuẩn cho quan Chân Lạp là Trà Long và Vệ úy là La Kiên giữ lấy quốc ấn, hiệp theo Trương Minh Giảng, Lê Đại Cương quyền coi việc nước.

Năm Ất Vị thứ XVI (1835), tháng 3, quan Bảo hộ Chân Lạp ở thành Trấn Tây là Trương Minh Giảng, Lê Đại Cương tâu: "các quan Chân Lạp báo rằng: Nặc Ông Run (2) sai người đem thơ nói nó bị người Xiêm kiềm thúc; như các quan Chân Lạp có bằng lòng cho nó về nước, xin trả lời ngay. Lại tiếp báo rằng: ở phía nam Cầm Bông Trắc Đà trông qua thấy phía bắc có binh Xiêm đi tuần, nghe vua Chân Lạp mất, Xiêm khiến Ông Run đem 300 quân tới vũng Cần Sư đóng với người nước Xiêm. Chúng tôi thiết tưởng người Xiêm chưa dám làm gì, chẳng qua đem tên Nặc Ông Run làm mồi, dò xem ý người Chân Lạp thế nào mà thôi; chúng tôi đã sức tên Thi Kê phải phòng bị cho nghiêm ngặt, lại xét các quan Chân Lạp có tên Nhâm Vu là người siêng giỏi, sai phái đắc lực, xin cho nó qua hiệp với bọn Trà Long và La Kiên quyền giữ quốc ấn hội đồng coi việc Chân Lạp**. Ngài cho.

Quân thứ đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức, Phạm Văn Điển tâu rằng: "ngụy Thống chế Nguyễn Quang Khải, Ma Sĩ Vinh, ngụy Chánh quảng Lữ  Châu Tuyển Lược và bọn Chánh vệ, Chánh cơ cả thảy 9 tên tới đầu thú, lại có tên Chánh đội trưởng Mai Văn Đạo ở An Biên được con giặc Phạm Thế Nga là

------------------------
1 Triệu là người Tàu, qua ngụ làng Nha Môn châu Bạch Thông, hiệp đảng với tướng giặc Sĩ Khuất rối tỉnh Thái Nguyên.
2 Nặc Ông Run là em vua Chân Lạp.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #102 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 02:56:22 am »

Phạm Thế Thọ và cha con tên Nguyễn Thế Liễu, Nguyễn Thế Trụ. Chúng tôi đã đem tên Thọ, tên Liễu xử
tử rồi, còn mấy tên đương giam đợi chỉ".

Đắp thành Trấn Tây (trong lòng thành rộng 45 trượng; thân thành thời ngoài trồng tre trồng cây, trong đổ đất cao 9 thước 9 tấc; chân thành dày 1 trượng 8 thước, mặt thành dày 3 thước 6 tấc; hào ở 4 phía ngoài thành rộng 3 trượng 1 thước 5 tấc, hào trước cửa thành rộng 5 trượng 8 thước 5 tấc, đều sâu 1 trượng).

Đặt ra quân đồn điền ở Hà Tiên, cấp cho trâu bò cày bừa, khiến vừa cày ruộng vừa tập võ.

Bọn giặc Huống, giặc Khuyết ở Trấn Ninh mượn tướng Xiêm và binh Lào hơn 1.000 xâm huyện Quảng, huyện Khâm; các bọn Thổ mục đều chạy cả, quan đồng phủ là Nguyễn Trọng Dũ bỏ phủ lỵ lui đóng ở xứ Lam Cốt. Bố chánh Nguyễn Đình Tân. Aùn sát Mai Thăng Đàn nghe tin, ủy Lãnh binh Nguyễn Văn Kỳ đi ngay tới đồn Mang Thiên đóng giữ, để làm thanh viện.

Sai vệ lính Hỗ Oai ở tỉnh Ninh Bình qua trú phòng Nghệ An, tha tội tên võ biền Hoàng Đăng Thận cho đi hiệu lực ở Trấn Ninh.

Quân đạo Tuyên Quang kéo tới đánh thủ nghịch Nồng VănVân; Vân bị chết cháy tại trong rừng. Nguyên khi Vân trốn sang nước Tàu, quan Tuần phủ Quảng Tây tiếp tờ thư nước ta, liền dục phủ Trấn An phải bắt tên Vân cho gấp, Vân trốn lén về xã An Quang; thú đinh tỉnh Sơn Tây là Nồng Tính Hòa bắt được tùng đảng nó là Nồng Văn Lô và thằng đầy tớ của nó, đem báo các quan quân thứ. Phạm Văn Điển lập tu81c sai quân đi vây bắt; chỉ vì khe sâu, rừng rậm, thế khó tìm kiếm; khi ấy nhơn trời tối, sợ Vân thoát đi mất, quân mình đem lửa đốt cả bốn mặt núi, trong một giờ đám cỏ bụi gai ra tro hết thảy; Vân bị chết cháy; quân thứ chạy cờ đỏ báo thắng trận, cờ viết bảy chữ và bỏ đầu tên Vân vào thùng phát đệ và Kinh. Ngài khiến 3 đạo quân Cao, Tuyên, Thái đều kéo về, lại truyền đem việc tên Vân đã chết thông đi cả trong ngoài đều biết.

Khiến Bố chánh tỉnh Nghệ An là Nguyễn Đình Tân đem quân qua Trấn Ninh đánh giặc Xiêm. Giặc làm phản ở Trấn Định tên là Lang Vi và Hâm Thả (1) theo tướng Xiêm đem binh Mọi hơn 1.000 xâm mấy huyện Cam Linh, Cam Cát, Cam Môn. Các thổ mục chạy trốn trên núi về xã Tình Diện, những Tri huyện Cam Môn, Cam Cát cũng lui về đóng ở bờ bến Lam Bạn, Hà Bạn. Quan tỉnh nghe tin, thương ủy vệ úy Phan Văn Phái, Trần Đăng Phú đi ngay tới Ngạn Phố đóng đó chống cự; và phi tư qua tỉnh Hà Tĩnh đem binh tiếp ứng.

Mới đặt lưu quan ở hạt Tuyên Quang, Thái, Lạng; chia huyện Vị Xuyên ở Tuyên Quang làm hai huyện; Vị Xuyên và Vĩnh Tuy.

Tạ Quang Cự gặp mẫu tang, tâu xin để cho con là Tiền định quản cơ Tạ Quang Cự Tri thay coi việc tống táng. Ngài truyền chờ khi nào Tạ Quang Cự ở quân thứ về, sẽ cho luôn tiện về làng trị tang, để tỏ Triều đình hậu đãi thần tử. Bà mẹ Quang Cự khi ấy tuổi đã 80, bị đau, quan Phủ doãn, Phủ thừa không đem việc ấy tâu lên, vậy nên Phủ doãn Lê Văn Quý và Phủ thừa Lê Văn Cẩn đều bị giáng một cấp.

Tháng 4, lại khai mỏ diêm tiêu ở các tỉnh ngoài Bắc Hà, còn các mỏ lưu hoàng cứ nghiêm cấm như trước.

Tổng đốc Định An là Đặng Văn Thiêm vào chầu, xin về Lỵ sở. Ngài thương nhà có mẹ già, cho tiện đàng về Bác Vọng tỉnh thám, lại cho em là Y phó Đặng Văn Chức được miễn sư đổi ban vào trực, để ở nhà nuôi mẹ; lại khiến các quan phủ Thừa Thiên phải thường tới nhà thăm viếng.

Chuẩn cho ngày rày phàm quan ngoài bổ chức Ngự sử hay là Tế tửu, Tư nghiệp đều phải do bộ Lại dẫn vào chầu.

Đề đốc Bình Thuận là Bùi Công Huyên, Tán tương là Lê Đức Tiệm đem binh biền đánh giặc mường ở Kha Tốt, Tà Lạp, phá hơn 10 sở đồn, bắt sống tướng giặc là Xạ Căn và chém giết rất nhiều, đốt hết đồn trại và thâu hết tiền lương; quân mọi tới đầu thú hơn 200 đức, chúng nó đều nói: "bị giặc Thổ

--------------------
1 Lang Vi nguyên làm Thổ tri huyện huyện Cam Linh, Hâm Thả là quân khuyên thừa làm phản theo Xiêm ở đồn Phố Hâm.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #103 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 02:57:24 am »

hiếp phải theo, xin tha khỏi chết". Bọn Công Huyên phát cho cơm rượu và khăn đỏ, hết lòng hiểu dụ, khiến thông báo các mọi trở về như cũ; rồi đem việc ấy tâu lên. Ngài nghe, ban khen, thưởng Công Huyên gia một cấp, thưởng Đức Tiệm kỷ lục một thứ.

Tháng 5, thưởng nghĩa dân tỉnh Cao Bằng bức biển khắc 4 chữ: "Hiếu nghĩa tri phương" thếp vàng. Khi trước tỉnh ấy có 36 xã thôn, đã không chịu theo giặc, mà hiệp nhau đi bắt giặc, thâu phục tỉnh thành; đến khi giặc yên rồi, lại nạp thuế như các huyện, để cấp quân lương, cho nên được thưởng. Ngài cho các xã thôn ấy được tha thuế thiếu mấy năm trước và thuế thân năm nay.

Đặt ra đồn phủ Trấn Ninh thuộc về tỉnh Nghệ, đổi tên tấn Ngạn Phố là tấn Hà Thanh. Bởi vì Nguyễn Đình Tân tự Trấn Định về, xét thấy một dãi thượng du ở tỉnh hạt giáp giới với Xiêm, còn Trấn Ninh, Trấn Biên, Trấn Tĩnh xa cách tỉnh thành đến 15, 20 ngày đàng, chỉ có phủ Trấn Định đất liền với huyện Hương Sơn, có một đàng từ sông Khung qua tổng Nam Phu, huyện Cam Cát, thẳng tới Ngạn Phố, đàng đi chỉ 8,9 ngày, so với các phủ gần hơn. Đến đây Đình Tân mới dâng sớ tâu rằng: "trong hạt phủ Trấn Định, huyện Cam Cát có đồn Long Mã, là nơi địa thế sảng khái, khe núi bọc quanh, thiệt là một chỗ hình thắng; ở giữa có hai đàng: một đàng từ Cam Linh thông đến Trấn Tĩnh; một đàng từ Cam Môn thông đến Trấn Ninh; nói sự hiểm trở thời vẫn không có tùng sơn điệp chướng gì, nhưng nói sự vận tải thời cũng có lẽ đỡ tốn và bớt công; vậy xin lập phủ thành ở đó, đào hào sâu, đắp lũy cao, chọn người Chánh đội nào giỏi cho làm Quản phủ, phái lính tỉnh 50, lính Thổ 100, chia nhau đi tuần thám, phàm có việc giặc giã gì, đều phải tất do đó. Lại mộ thêm các làng Lạc Phố, Tình Diệm ở huyện Hương Sơn, những người quen biết đàng đất, chừng số 100 người, đặt làm hai đội ở Trấn Định, theo với quan quân ở đó trú phòng, thời hạt dân có chỗ nương cậy, có thể trở nên mạnh bạo được, mà sự phòng bị ở ngoài bờ cõi cũng có thể vững bền. Nhưng có sự không dám chắc, là chức Quản phủ được người giỏi cũng khó; xin gia ân cho ăn thêm nhiều lương bổng, để cho khỏi điều nhiễu tệ mới được. Vả lại tấn Ngạn Phố nguyên trước đặt ở Lạc Phố, xa cách dân cư, nay xin dời về xứ Hà Tân làng Tình Diệm, nhưng đặt tên là tấn Hà Tân. Lại xin đặt thêm một Bát phẩm, một Thơ lại, theo với quan Thủ ngự làm việc quan; và phái thêm biền binh 50 tên đổi nhau phòng giữ, thời khi có việc biên báo mới có thể mau xong". Ngài dụ: "nói có lý, cho chức Quản phủ được gia cấp mỗi tháng 10 quan tiền dưỡng liêm".

Tháng 6, Lê Đại Cương, Trương Minh Giảng ở thành Trấn Tây tuân lời chỉ dụ xét những tài cán, phẩm hạnh các quan Chân Lạp, kê thành sách tâu lên. Ngài truyền cho bọn ấy được thưởng phẩm trật khác nhau.

Dòng dõi Chiêm Thành là Nguyễn Văn Thừa, Nguyễn Văn Nguyên phải tội, bị giết, bởi vì tên Đỗ Văn Hoan xưng hai tên ấy ám thông với giặc Lôi ở thành Phiên An.

Nguyễn Công Trứ xin vào quân thứ Gia Định tham tán việc quân. Ngài phê rằng: "Khanh hết sức về việc quân lữ đã đến 3 năm, nay nỡ nào lại sai đi nữa, Khanh nên an tâm chầu hầu, để phòng khi ta có hỏi han việc gì".

Mới cho công thần làm lễ bảo tất. Ngài tự rót rượu cho Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thụy, Nguyễn Tấn Lâm, Hồ Hựu.

Ngài dụ gia phong tấn tước cho những người có công đáng giặc ngoài Bắc Kỳ.

Đồn Đản Tư ở phủ Trấn Ninh thuộc về tỉnh Nghệ An có tiếp được 300 quân người nước Nam Chưởng đem lại một cái thơ chữ mọi để đó mà đi. Xem ra chữ nước Xiêm. Quan tỉnh Nghệ phát thơ ấy về bộ Lễ, bộ sai dịch ra tấn lãm. Ngài dụ rằng: "xem lời dịch ra đó, chẳng qua tướng Xiêm nói khoe, ý muốn hách truật dân Mọi mà thôi, nên nghĩ làm cái thơ bằng chữ Phì Tạo xứ Trấn Ninh, để trả lời cho tướng Xiêm, tướng Lào. Nhưng phải đưa thơ ấy cho tỉnh Nghệ sức tên Nguyễn Trọng Dũ dịch ra chữ Mọi, đến chỗ giáp giới giao cho người Xiêm Lào nhận về báo cáo trong nước Xiêm khiến phải dẹp việc binh cách. Lại phái người Thông ngôn hiểu tiếng Xiêm là Nguyễn Văn Trang ra tỉnh Nghệ làm thông dịch, đợi khi nào có người trong tỉnh học tập hiểu được chữ Xiêm, rồi lại về Kinh làm việc".

Đào sâu sông Phổ Lợi, từ bến đò Hương Giang theo dòng sông con đến cửa Thuận An. Bởi vì khi ấy sông cạn, nước chảy không thông, thuyền đi lại không tiện.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #104 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 03:00:02 am »

Lập đền thờ thần Hoàng Sa ở bãi biển tỉnh Quảng Ngãi. Bãi Hoàng Sa ngoài biển có một chỗ cây cối rậm tốt, trong cồn có giếng, phía tây nam có Cổ miếu có bia khắc 4 chữ: "Vạn lý ba bình (1)". Ngài sai lập Miếu dựng bia, đàng trước xây cái bình phong.

Đề đôc Bình Thuận Bùi Công Huyên tâu: "bấy lâu phái binh chia đàng phòng triệt, giặc Mọi chạy tan, hoặc đầu hàng ở Khánh Hòa, hoặc ra thú ở Bình Thuận, việc đã yên rồi, tôi xin về Kinh phục mạng". Ngài thưởng cho Huyền quận công gia một cấp.

Tước trừ các ngạch con cháu nhà Lê, Trịnh.

Tháng 6 nhuận, cấp cho các địa phương thước đồng để đo hình đạn và lòng súng cho kỹ lưỡng, lúc lâm trận bắn cho nhắm, vậy thời đồ súng đạn mới được thiệt dụng.

Giặc Thổ tỉnh Bình Thuận lại tụ ở Bá Bôn, đi lén xuống địa hạt Hòa Thuận, Long Bàn. Aùn sát Lê Đức Tiệm, Quản cơ Tôn Thất Thành đánh phá tan giặc. Triều đình cho Tiệm và Thành thăng trật, còn binh dân các đạo đều được thưởng tiền.

Đặt thêm phủ Hòa An trong tỉnh Cao Bằng, còn các huyện Thượng Lang, Hạ Lang, Quảng Uyên, cứ thuộc về phủ Trùng Khánh; lập lỵ sở phủ huyện và định ngạch lương Lại lệ, mỗi năm cấp tiền công nhu.

Lại cấp 100 mẫu tự điền để thờ Miếu vua Lê và 60 tên phu để coi sóc canh giữ, giao sở tại thuế thời phụng tự, các quan tỉnh thỉnh thoảng đốc sức.

Mới định thuế lệ đinh điền phủ Lạc Hóa ở tỉnh Vĩnh Long. Phàm trang sách nào lớn gọi là xã, nhỏ gọi là thôn, đặt ra phủ huyện lỵ sở.
Khiến soạn biên quyển sách ngự chế nói về những phương lược đánh giặc Nam Kỳ và Bắc Kỳ. Tháng 7, Ngài khiến các quan Quản lĩnh Kinh phải nghiêm trấp quân lính, không được làm việc
nhũng tệ.

Đổi tên phủ Ba Thắc ở Chân Lạp là phủ Ba Xuyên, đặt chức An phủ sứ, cho quan Viên ngoại bộ Lại Nguyễn Gia Nghi bổ lãnh chức ấy.

Quân thứ Gia Định thâu phục được thành Phiên An, quân giặc bị bắt sống và bị chém cả thảy 1.831 đứa, không còn sót đứa nào; quan binh bị thương hơn 400 người, chết trận hơn 60 người; tù phạm thú đinh bị thương hơn 70, chết trận hơn 20. Cờ đỏ chạy về báo tiệp (cờ viết 5 chữ: thu phục Phiên An thành), chỉ có 4 ngày 11 giờ từ Gia Định báo về đến Kinh. Ngài vui lòng lắm, ngự chế bài thơ để ghi nhớ việc ấy.

Đem việc thâu phục thành Phiên An bố cáo trong ngoài đều biết.

Ngài dụ bộ Lễ rằng: "xưa có chức Ký, Đề, Tượng, Dịch (Ký, Đề, Tượng, Dịch đều là chức Thông ngôn, nhưng vì mỗi người thuộc tiếng nói và chữ viết mỗi phương, cho nên tên gọi khác nhau). Triều ta nay giáo thanh ra khắp bốn phương, phần nhiều các nước ở phía Đông, phía Tây đều trèo núi vượt khơi tới chầu; vậy nên cần kẻ tập quen tiếng nói và chữ viết ngoại quốc để phòng khi thông dịch. Nay cho những ấn quan các bộ, Nội các, đều xét trong tứ đệ các thuộc viên, quan Phủ doãn xét dân trong hạt, lựa những kẻ từ 16 tuổi sắp xuống, mà tánh chất lanh lợi, lại hơi thông kinh sử, thời bộ phải kê tên tâu lên. Triều đình sẽ cấp lương cho học tập tiếng nói và chữ viết các nước xa gần, chờ khi học tập đã thành mà lại có tài trí kiến thức, sẽ xét dùng làm việc". Ngài lại truyền Nội các rằng: "chữ Âu châu chỉ có 24 chữ cái, nếu hiểu được 24 chữ ấy, thời chữ khác cũng tự đó mà suy ra, học tập cũng chẳng khó gì".

Quan Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Công Trứ dâng tập tỉnh an tâu rằng: "trong tỉnh có xã Minh Liễn về huyện Nghi Dương, còn ruộng hoang được hơn 1.000 mẫu, xem thế khai khẩn cũng dễ; xin cho các vệ lính mộ khai khẩn làm ruộng, tên nào khẩn được bao nhiêu, cho nhận mà làm, theo lệ tư điền trưng thuế; còn ngưu canh điền khí xiin cứ theo lệ dinh điền cấp cho nó làm". Ngài cho.

------------------------
1 Cồn Bạch Sa trước gọi là núi Phật Tự, phía đông, tây, nam đều có đá san hô nổi thành một cồn, chung quanh rộng 340 trượng,
cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát tên là Bàn Hoài Thạch.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #105 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 03:01:13 am »

Đặt lại ngạch lưu quan trong các châu huyện ở Quảng Yên. Bởi vì khi trước 3 huyện An Hưng, Ba Phong, Hoành Bồ và 2 châu Quảng Yên, Vạn Ninh, nguyên đặt chức Tri huyện, Tri châu; Vân Đồn đặt thổ Lại mục; nay quan Hộ vũ là Lê Dục Đức tâu xin đặt lưu quan, Ngài cho, nhưng Vân Đồn chỉ có 2 xã, đinh điền không mấy, cho cận tiện thuộc châu Vạn Ninh kiêm lý.

Đặt thêm phủ An Ninh ở Tuyên Quang; đổi tên châu Đại Man làm châu Chiêm Hóa.

Giặc mọi Bình Thuận đã dẹp yên cả, ông Dương Văn Phong được thăng Tham tri bộ Binh, kiêm Đô sát, nhưng lãnh Bố chánh Bình Thuận, lại thưởng gia quân công một cấp.

Tháng 9, đặt thêm phủ Trường Định ở Lạng Sơn, trích 4 châu huyện Thoát Lãng, Văn Uyên, Văn Quang, Thất Tuyền làm phủ ấy; còn 3 châu huyện Oân Châu, Lộc Bình, An Bác thời làm phủ Trường Khánh.

Đổi sở công quán Thừa Thiên làm quán Tứ Dịch, cho ti Hành Nhơn và những người Thông ngôn các bộ đều phải tới đó ở luôn, trách cứ các nha phải lựa tử đệ những thuộc viên và sĩ dân làm học trò trong sở ấy; sửa định chương trình, khiến cho học tập tiếng nói và chữ các nước ngoại quốc.

Sắc xuống bộ Binh rằng: "bộ phải tư ra các tỉnh miền biển về phía Nam, hễ thấy có tàu lớn ghé lại ở địa hải phận tấn nào, thời người Tấn thủ phải đem theo một người Thông ngôn hay là người Tàu hiểu tiếng Tây, đến nơi xét hỏi tàu ở từ đâu mà tới, ấy là tàu trận hay là tàu buôn cho rõ ràng, rồi báo lập tức; nếu là tàu trận thời nhứt diện phi tâu, nhứt diện phái quân nghiêm giữ và tư qua các lân tỉnh phòng bị, ngày nào tàu đi, hoặc đóng lại làm sự trạng gì, cũng phải tâu luôn".

Mới lập Võ miếu. "Chính giữa thờ ông Khương Thái Công; phía Đông thờ tướng Tề là Quản Trọng, tướng Ngô là Tôn Võ Tử, tướng Hán là Hàn Tín, tướng Đàng là Lý Tĩnh, Lý Thạnh, tướng Minh là Từ Đạt; phía Tây thờ quan Tư mã Tề là Nhương Thư, tướng Hán là Trương Lương và Gia Cát Lượng, tướng Đàng là Quách Tử Nghi, tướng Tống là Nhạc Phi; Tả vu tùng tự; tướng Trần là Hưng Đạo, tướng Bổn triều là Nguyễn Hữu Tấn và Tôn Thất Hội; Hữu vu tùng tự; tướng Lê là Lê Khôi, tướng Bổn triều là Nguyễn Hữu Đạt và Nguyễn Văn Trương".

Tháng 10, tỉnh Hà Tiên có người khách buôn đi chiếc tàu bọc đồng đậu ở hòn Na Dự, trong tàu có người Hồng Mao chở đồ hóa hạng và sáu súng điểu thương, súng đoãn mã cò máy đá, xin vào buôn bán chịu thuế. Việc ấy tâu lên, Ngài dụ Quan tỉnh tới hiểu thị người chủ tàu ấy rằng: "lệ tàu tây đậu tại cửa Hàn (Đà Nẵng), còn các cửa biển khác không được tới buôn, phép nước rất nghiêm chẳng nên trái; biểu chiếc tàu ấy nên ra cửa biển lập tức, không cho vào cửa. Từ nay về sau người Tàu phải đi tàu buôn nước Tàu, mới cho vào cửa biển buôn bán; người Tây phải đi tàu nước Tây vào cửa Hàn thông thương, không được ghé vào cửa khác có lỗi". Rồi có toán giặc biển người xứ Đồ Bà lén vô Tam Giang thuộc về tỉnh hạt ấy, cướp hai vị súng quá sơn mà đi. Quan tỉnh là Đoàn Khiêm Quang, Hồ Công Hi, Hoàng Công Lý đều bị giáng một cấp.

Đổi những quy chế dinh thự Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Aùn sát, trong các địa phương. Bởi vì Ngài ngự ra chơi Quảng Trị, thấy dinh Tuần phủ chật hẹp, cho nên truyền chỉ đều làm rộng thêm.

Mới làm lễ Thọ phù (1). Ngài ngự ngoài Ngọ Môn, tướng quân là Nguyễn Xuân và Phạm Hữu Tâm mặc đồ nhung phục lạy nạp ấn thọ, kỳ bái; và dẫn trình những tướng giặcc bắt được tại thành Phiên An.

Cho Thự Đông các Trương Minh Giảng làm Tướng quân thành Trấn Tây, ban cho ấn "

Trấn Tây tướng quân", nhưng lãnh Tổng đốc An Hà; cho quan Tuần phủ An Giang là Lê Đại Cương làm Tham tán đại thần, nhưng lãnh Tuần phủ; cho Thần sách hậu dinh Thống chế Bùi Công Huyên cải bổ Đề đốc thành Trấn Tây, chuyên coi quân lính ở thành ấy và kiêm quản quân Chân Lạp, hiệp theo quan Tướng quân bàn việc binh, đúc ấn quan phòng bằng đồng phát cho Công Huyên dùng làm việc quan; lại cho Tướng quân, Tham tán, Đề đốc, mỗi người mỗi cây cờ.

Cho quan Tướng quân đánh giặc Nam Kỳ về được phép vào làm lễ Bảo tất.

-------------
(1) Thọ phù là lễ Ngài ngự triều để cho các quan đem tướng giặc vào trình.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #106 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 03:02:09 am »

Truyền dụ thưởng công đánh giặc Nam Kỳ; Tướng quân, Tham tán, Lãnh binh đều được theo bậc phong tước.

Mới đúc 9 cái đỉnh, khắc những hình núi, sông, vật, tượng. Các đỉnh ấy để trước Thế miếu (chánh giữa là Cao Đỉnh; thứ nhứt phía tả là Nhơn Đỉnh; thứ nhứt phía hữu là Chương Đỉnh; Tả nhì là Anh Đỉnh; Hữu nhì là Nghị Đỉnh; Tả tam là Thuần Đỉnh; Hữu tam là Tuyền Đỉnh; Tả tứ là Dũ Đỉnh; Hữu tứ là Huyền Đỉnh).

Truy tặng chức Chánh đội cho người Đầu mục sách La Uyển ở tỉnh Bình Thuận tên là Kỳ Hoạch Bát. Khi trước quan binh đi đánh giặc Mọi, tên Kỳ Hoạch Bát trước hết theo Triều đình ra sức do thám bắt giặc, khi quân Triều trở về, tên giặc Tất đem quân đón bắt Hoạch Bát, bức phải theo nó, Hoạch Bát không chịu, la to mắng giặc, rồi đập trán vào cây tùng mà chết. Tuần phủ Dương Văn Phong tâu lên, Ngài dụ rằng: "Kỳ Hoạch Bát là một đức Đầu mục trên Mọi, mà một lòng hướng thuận, không chịu khuất giặc, tiết liệt đáng khen". Nên cho tặng Chánh đội, lại thưởng nhà nó 50 đồng tiền bạc Phi Long hạng lớn và lập miếu thờ tại bổn xứ, cho tế một lần, ban biển ngạch để tỏ bày người tiết nghĩa. Ngài lại ngự chế bài thờ, khiến Nội các lục thành 2 bổn, một bổn đốt mà tế, một bổn khắc bia dựng trước miếu thờ.

Tháng 11, đặt đồn Tỉnh Man ở tỉnh Quảng Trị; Quan tỉnh xin lập một đồn ở sông Tầm Lục, phái 50 lính trong vệ quân Định Man tới giữ đồn ấy, mỗi tháng thay đổi một lần.

Truy xét tội Lê Văn Duyệt khi làm Tổng trấn Gia Định.

Lại cho Tham tri bộ Lễ hưu trí là Nguyễn Đăng Tuân làm sung chức Sư bảo các Hoàng tử.

Khiến Thủy sư vệ úy Nguyễn Văn Chư; Nhị đẳng thị vệ Võ Huy Dụng đem theo tên hiệu lực Trần Danh Bưu, đi tàu Linh Phụng qua nước Tây thương thuyết việc quan; lại sai Thông ngôn Nguyễn Văn Mẫn và người làm việc sở Trú dịch là Trần Đại Trung, Nguyễn Hữu Quang đi theo chuyến tàu ấy qua Hạ Châu ở lại học tập.

Tháng 12, cấp đồ nhung phục cho quan Quảng Thủy để dùng mặc khi có sai phái và xét hỏi các tàu buôn ngoại quốc.

Truy xét tội Lê Chất khi làm Tổng trấn Bắc Kỳ. Bởi vì Lê Bá Tú tâu tham Lê Chất khi còn sống phạm bất đạo tử tội 6 điều; đại tội 10 điều; Ngài giao xuống đình nghị. Aùn dâng lên, 4 người con Lê Chất đều bị nghị quyết; vợ bị phát nô (đi đày).

Quan thành Trấn Tây là Trương Minh Giảng, Lê Đại Cương nghĩ rằng 3 phủ Hải Đông, Hải Tây, Sơn Phủ đều là nơi quan yếu địa đầu, xin đặt một Tuần phủ và một Aùn sát. Ngài truyền dụ khiến lựa người thuộc viên giỏi tâu cho bổ thọ.

Chia phủ Thiệu Hóa ở Thanh Hóa làm 2 phủ; Thiệu Hóa và Quảng Hóa.

Đặt thêm huyện Quế Sơn ở tỉnh Quảng Nam: trích 4 tổng trong huyện Duy Xuyên và 1 tổng trong huyện Lễ Dương đặt ra huyện Quế Sơn ấy, thuộc về phủ Thăng Hoa (Thăng Hoa là phủ Thăng Bình bây giờ); còn huyện Duy Xuyên cải thuộc về phủ Điện Bàn.

Chia huyện Minh Linh ở tỉnh Quảng Trị làm hai huyện; Minh Linh và Địa Linh.

Năm Bính Thân thứ XVII (1836), tháng giêng, Quận chúa Chân Lạp là Ngọc Vân cung tiến Bạch đậu khấu 500 cân. Ngài khen, ban trả đồ cống lại.

Lại khiến Thừa Thiên, Quảng Nghĩa, Bình Định, và Quảng Trị tu bổ xe thủy hóa ký tế để giả thuốc súng.

Quan Tuần phủ Hưng Yên là Hà Thúc Lương mật phái người thám được tình tệ các người coi kho (phàm nạp lúa 100 hộc, lấy tiền ngoại lệ một quan, cho người thử lúa gạt lúa một quan). Tâu xin đem bọn coi kho cách chức, án luật trị tội. Ngài khen, thưởng tên lính đi khám 30 quan tiền.

Lại kén binh đinh 4 tỉnh trong Nam Kỳ: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường (cứ 5 đinh kén 1 lính).
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #107 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 03:03:34 am »

Khiến Thủy quân Suất đội Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền quan Quảng Ngãi, thẳng tới bãi Hoàng Sa, không nệ hòn Cù Lao nào, Cồn Cát nào, hễ dài ngang rộng cao châu vi, và bốn phía gần đó có đá mọc cát ngầm hay không; hình thế mấy chỗ ấy có hiểm hay không, từ cửa biển ra đó đàng thủy đi mấy dặm; đó gần bờ biển huyện nào làng nào; đến đâu khám rõ ràng, rồi cắm tiêu làm dấu, vẽ thành đồ bản đem về dâng lên Ngài ngự lãm.

Lại kén binh đinh 3 tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận, Phú Yên (cứ 3 đinh kén 1 lính).

Tháng 2, đắp đồn Thành Hải ở Gia Định và Pháo đài ở hòn Côn Lôn; khi nào rảnh việc hải phòng, cho dân tới đó vỡ đất trồng cây; và chỗ ấy có yến sào, lại truyền biền binh trú phòng hễ lấy được đem nạp thời cấp giá cho; nhưng hạn mỗi người mỗi năm phải nạp 6 lượng yến sào.

Khiến quan đi Kinh lý 6 tỉnh Nam Kỳ, Binh bộ thượng thơ Cơ mật viện Đại thần Trương Đăng Quế, Lại bộ thượng thơ Nguyễn Kim Bảng đều sung chức Kinh lược Đại sứ; Thị lang Tôn Thất Bạch, Thông chánh sứ Nguyễn Đắc Trí đều sung Phó sứ. Ngài dụ rằng: "Chuyến đi nầy quan hệ trọng đại, các ngươi đều là Đại thần ta lựa cho đi, nên hết lòng làm việc, dấy lợi trừ hại, thân oan lý uổng, cho địa phương được nhờ, cũng như ta đi tới nơi vậy".

Tháng 3, định lại Công thần khai quốc và Công thần trung hưng (1) cả thảy 20 người, cấp mộ phu nhiều ít theo bậc.

Đặt lưu quan 3 huyện Trấn An, An Lập, Văn Chấn thuộc về Hưng Hóa; cho tùy theo đàng sá xa hay gần, nhiều hay ít, phân lập tổng xã cũng như các huyện dân Hán.

Cho những Thổ ty ở các huyện Bắc Kỳ (Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Lạng Sơn) tới kinh chiêm cẩn, cho kịp ngày Khánh tiết dự lãnh ơn ban, để tỏ ơn đức Triều đình thương xa gần như một.

Tháng 4, tàu trận nước Ma Ly Căn đậu ở vũng Sơn Chà cửa Hàn thuộc về tỉnh Quảng Nam, người chủ tàu nói có quốc thơ cầu thông thương xin vào chầu dâng thơ. Ngài sai Đào Trí Phú, Lê Bá Tú tới nơi hỏi thăm. Khi đến nơi, người chủ tàu xưng bệnh không ra. Quan mình lại sai Thông ngôn đến thăm, chủ tàu cũng cho người đáp tạ; rồi kéo buồm đi ngay trong ngày ấy.

Đặt lưu quan trong 3 thổ huyện thuộc về tỉnh Ninh Bình: Phụng Hóa, An Hóa, Lạc Thổ, mỗi huyện đều đặt Tri huyện kiêm lãnh Giáo chức.

Tháng 5, cho quan Binh bộ Lang Trung Nguyễn Song Thanh một khẩu súng điểu thương cò máy đá. Nguyễn Song Thanh là khoa mục xuất thân, khi trước đi việc quân lữ thường cầm súng giết giặc; Ngài khen, nên ban thưởng để khuyến các văn thần.

Thự Tuần phủ Lạng Bình Trần Văn Tuân dâng tập thỉnh an có nói rằng: "Thự Tri phủ Trường Khánh Đặng Huy Thuật là người Nghệ An, khi trước làm Tri huyện Thất Tuyên, đi rồi mà dân còn nhớ, tôi xét người ấy thật là mẫn cán, xin cho thăng thọ". Ngài y. Trích huyện Hoành Bồ và châu Tiên An thuộc tỉnh Quảng Yên đặt thêm làm phủ Sơn Định.

Nam kỳ Kinh lược Trương Minh Giảng tâu rằng: "kỳ trước tỉnh Vĩnh Long và Định Tường có tâu trong 6 tỉnh nhiều đàng sông, người ta ai cũng có thuyền, bởi vậy nên những dân nước Tàu trốn tránh vua quan và đứa côn đồ thừa gián trộm cướp; tỉnh thần hai tỉnh ấy có xin sức thuyền dân phải trình với sở tại cấp bài thẻ ghi dấu ở đầu thuyền, hoặc khắc danh hiệu xã thôn; lại đặt người tuần phòng các sông và lập thời tệ sanh, kẻ lại dịch chẳng khỏi lưu nan yêu sách. Nay tôi xin các đầu thuyền phải bôn sắc khác nhau, cho dễ ghi nhận: thuyền Gia Định, Biên Hòa sắc đỏ; thuyền Vĩnh Long, Định Tường sắc đen; thuyền Trấn Tây, An Giang, Hà Tiên sắc lục; kẻ nào bôi sắc gian mạo thời phải tội nặng". Ngài y theo.

Định ra chương trình dạy học trò quán Tứ dịch học tập văn tự ngoại quốc; mấy tháng đầu thời học chữ Tây mỗi ngày 2,3 chữ; chữ Xiêm mỗi ngày 7,8 chữ; đến 5 tháng sau, mỗi ngày học chữ Tây 6,7 chữ, chữ Xiêm 11,12 chữ.

-----------------
(1) Khai quốc công thần là các quan giúp Liệt Thánh xưa. Trung hưng công thần là các quan giúp đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #108 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 03:04:39 am »

Khiến tỉnh Bình Định, Hà Nội, Tuyên Quang lựa con em dân trong hạg cho học tập tiếng nói chữ viết người Chàm, người Bà Ni, người Tàu, người Thổ.

Ngài ngự chơi cửa Tư Dung, lên núi Linh Thái, thấy tháp đá cột trụ khắc chữ Mọi. Thông ngôn ở Kinh đều nói rằng: "không phải chữ Xiêm, Lào, không thể dịch đặng". Ngài sắc cho tỉnh Bình Thuận, phái một người biết chữ Chiêm Thành tới Kinh. Đến nơi, thời người ấy nói rằng: "chữ người Thổ có 2 thể: Chiêm Thành (Chàm) và Bà Ni; đây là thể chữ Bà Ni, không phải chữ Chàm, dịch không ra được".

Ngài sai in ra một tờ, khiến hỏi khắp hạt hạ có ai biết nghĩa dịch ra đem tâu. Lại cho tỉnh hạt chọn những người am tường chữ Chàm và Bà Ni khiến dạy nhau học tập. Lại truyền Hà Nội lựa người Tàu dạy người mình học tiếng nói nước Tàu; tỉnh Tuyên Quang lựa người Thổ học chữ Thổ âm và tiếng nói chữ viết xứ Để Định, Vĩnh Điện để phòng khi phiên dịch.

Mới đặt chức Tri phủ hai phủ An Ninh và An Bình về tỉnh Tuyên Quang. Nguyên trước cho quan châu, quan huyện kiêm làm việc phủ, nay quan tỉnh mới xin đặt.

Tháng 7, quan Phủ doãn Thừa Thiên là Vương Hữu Quang nhơn có cha già xin cáo về chung dưỡng; Ngài cho gia hạn 6 tháng, lại gia ơn thưởng cho ông cha 3 phiến quế thanh, một cặp lộc nhung,
5 cây sa, 5 cây lụa, để dùng làm đồ thuốc thang và áo mặc. Ngài đòi quan Tham tri bộ Binh là Nguyễn Trung Mậu hỏi rằng: "trước ngươi về thăm mẹ già, ta có thưởng cấp chi không? - Tâu rằng: may đội ơn trên thương đến mẹ già tôi, ban cho nhơn sâm và thuốc; mẹ tôi lạy tạ, mừng thỏa lúc dư sanh". Ngài truyền Nội các rằng: "Chánh sự các Thánh vương đều lấy việc nuôi người già làm trước. Vậy nên xưa ông Tây Bá Khảo nuôi người già, vua Hiếu Văn hay hỏi người già, đều là để khuyên cho thiên hạ biết điều hiếu. Nay nước nhà gặp hội thái bình, trong nước nhiều người lên cõi nhơn thọ; ta từ khi lên ngôi, rộng mở đàng hiếu trị, phàm có kẻ thọ nam, thọ phụ trong dân gian, ta đều ban biển ngạch, với cấp bạc lụa, cốt để tỏ rằng kẻ thọ là điềm tốt trong loài người, chớ có phải là cầu tiếng khen đâu. Ngươi nên hỏi hết quần thần tại triều ai có lão thân đương còn mà tuổi 60 trở lên, kê tên làm sách tấn lãm, ta sẽ ban chỉ thưởng cấp". Khi Nội các tâu lên: Tham tri Nguyễn Trung Mậu, Lê Bá Tú, Tá lý Võ Đức Khuê, Nguyễn Văn Nhị đều còn mẹ già hơn 70 tuổi; mỗi người được thưởng 3 phiến quế thanh, một cặp lộc nhung, 5 cây sa nam, 5 cây lụa; Tham tri Hà Quyền, Thị Lang Doãn Uẩn đều còn mẹ, Thị lanag Nguyễn Tri Phương còn cha, tuổi đều hơn 60, cũng được thưởng mỗi người 3 phiến quế thanh, một cặp lộc nhung, 3 cây sa nam, 3 cây lụa.

Việc đạc điền ở Nam Kỳ lục tỉnh đã rồi, quan Kinh lược đệ sách số mục điền thổ và các điều khoản chước nghị tâu lên (nguyên trưng điền thổ 20.197 sở, 13 giây, 8 đám, và linh tih 3.464 mẫu; nay đạc thành điền thổ các khoản hơn 6300.75 mẫu; lại nguyên trước là ngạch ruộng hơn 65 sở, nay khám thành ao nuôi cá cả thảy 1.017 miếng).

Mới đặt phủ Tây Ninh thuộc tỉnh Gia Định, kiêm lãnh 2 huyện: Tây Ninh và Quang Hóa. Kinh lược sứ Trương Minh Giảng tâu rằng: "từ cầu Tây Hoa ở ngoài tỉnh thành thẳng đến con đàng lớn xứ Kha Lâm, ỡ giữa có đồn Sĩ Khê đất rộng bằng và tốt; người Hán, người Mọi ở xem nhau cày ruọng làm ăn; phía tả có sông Tiểu Đà thông với sông Quang Hóa; phía hữu có đàng lục bộ thông đến sông Trọc Giang (giáp giới Biên Hòa) cũng là một chỗ hình thắng; xin lập Phủ lỵ ở đó, đặt ra 2 huyện thuộc về phủ ấy, lại đặt một đồn ở Trọc Giang, để tiếp ứng với thành Quang Hóa, cho đặng trong bền vững bờ cõi thành Gia Định, ngoài mạnh thêm thanh thế xứ Trấn Tây". Ngài y theo.

Tháng 8, thăng Trương Minh Giảng làm Đông các Đại học sĩ lãnh chức An Hà Tổng đốc, Trương Đăng Quế làm Hiệp tá Đại học sĩ lãnh Thượng thơ bộ Binh, sung Cơ mật viện.

Định lại thuế điền thổ trong Nam Kỳ (ruộng sâu mỗi mâu nạp 26 thăng lúa, ruộng cạn mỗi mẫu 23 thăng, thập vật mỗi mẫu 3 tiền; đất trồng dâu, mía, trầu, mỗi mẫu 2 quan; vườn cau mỗi mẫu 1 quan 4 tiền; đất ở và đất trồng khoai, đậu, mỗi mẫu 8 tiền; đất trồng tre, trồng dừa, mỗi mẫu 4 tiền; còn vườn tiêu, ruộng muối cũng đều phân hạng đánh thuế).

Phát những tù phạm Nam Kỳ đi làm đồn điền tại thành Trấn Tây. Tháng 10, định lại lệ thâu thuế ngoài Bắc Kỳ.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #109 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 03:06:05 am »

Sửa lại phần mộ các ông công thần khai quốc: mộ ông Hoằng quốc công Đào Duy Từ ở Bình Định, mộ ông Tịnh quốc ông Nguyễn Hữu Dật ở Quảng Bình đều khiến quan tỉnh phải sức người lấy vôi gạch xây lại.

Đắp lại thành Gia Định tại thôn Hòa Mỹ về huyện Bình Dương. Khi ấy giặc Khôi đã bình, Bộ nghị rằng: thành cũ cao rộng quá, nên giảm bớt cho hiệp thể chế. Ngài sắc cho Bộ ban thể thức ra và tư đòi binh dân 4 tỉnh Định, Biên, Long, Tường cả thảy 10.000 người tới đắp. Trong 2 tháng thành đắp xong.

Phát những hiệu cờ các nước ngoại dương ra cửa Thuận An, cửa Đà Nẵng và đèo Hải Vân. Khi nào có tàu ngoại quốc tới đậu, phải xem xét sắc cờ dưới tàu, nhận là hiệu cờ nước nào, trong tờ phiến phải tâu rõ ràng.

Khiến bộ Binh phái những thơ đúc cò máy đá và các tỉnh Nam Kỳ đi tới thành Trấn Tây chỉ vẽ cho quân lính về các máy móc súng điểu thương và những đồ vật đem theo súng để dùng đánh chùi sửa sang. Lại cho các hạt mộ thêm kẻ biết nghề rèn súng, chừng 4,5 người, khiến tập phép tháo mở sửa súng, học thành rồi cho vào ngạch thợ, còn thợ nguyên phái rút về Kinh.

Đổi tên huyện Trung Sơn thuộc tỉnh Nghệ làm huyện Quế Phong. Khiến quan tỉnh chiếu số đinh làm sổ bộ, đặt chức Tri huyện trị dân.

Tỉnh Thanh có toán giặc Thổ khởi tại châu Quang Hóa. Khi trước có hai tên giặc trốn ở Ninh Bình là Quách Tất Công, Quác Tất Tại nuôi dấu con cháu nhà Lê là Lê Duy Hiểu tôn làm Minh chủ (1), chiêu dụ đồ đảng, đúc ngụy ấn, đặt ngụy quan, mật dụ  những Thổ ty, Thổ mục ở châu Quang Hóa, Cẩm Thủy, Long Chánh, thuộc về tỉnh Thanh Hóa, hẹn kỳ khởi ngụy; lại khiến tên Quách Phúc Thành, Đinh KIm Bảng đi xui người xứ Ái Chữ là Phạm Công Nho, người Cổ Lũng là Hà Công Kim, người Hồi Xuân là Phạm Bá Nho, đem đồ đảng hơn 500 tên đến động Hồi Xuân giết quan Tri châu là Tô Danh Cẩn, bỏ thây xuống sông. Việc ấy tâu lên. Ngài cho Tạ Quang Cự làm Kinh lược Đại sứ đạo Ninh Bình, Hà Duy Phiên làm Tham tán đại thần, đều ban cho ấn Quan phòng làm việc quan. Có Cử nhơn Hậu bổ tỉnh Sơn Tây là Tô Danh Ước xin theo quân hiệu lực để báo thù cha; Ngài cho. Ngài lại dụ tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đều phái một Quản vệ đem biền binh 500 đi theo quân thứ sai khiến.

Tháng 11, khiến Nội các Thị lang Nguyễn Tri Phương, Thị vệ Võ Văn Giải đem những người bị cách chức hiệu lực là Trần Danh Bưu, Hoàng Công Tài chia nhau đi mấy hiệu tàu Thụy Long, Linh Phụng, Vân Bằng, Thanh Loan qua Giang Lưu Pha, Tân Gia Ba và Cù Lao Binh Lang làm việc quan.

Phát giống tàm trắng ra các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, để thuê người chăn nuôi; thưởng trước mỗi tỉnh 20 quan tiền nuôi tàm. Nguyên trước nước Tàu có thứ kén trắng, chất tơ tốt hơn tàm nước mình; mới mua được, nên phát ra các tỉnh làm giống. Được ít lâu, Sơn Tây và Hà Nội giống tàm trắng được lắm, quan tỉnh và người nuôi tàm đều được thưởng. Lại phát giấy trứng tàm cho Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Tướng giặc ở Thanh Hóa là bọn Hà Công Kim, Đinh Kim Bảng hiệp với tên Phạm Thúc Liêm tụ chúng hơn 1.000 từ châu Lang Chánh kéo xuống hai huyện Thụy Nguyên và Lôi Dương (Kim Bảng làm tờ ngụy hịch xưng niên hiệu Vĩnh Tại; người ta theo nhiều); sai đảng nó là Lê Phi Ất, Lê Phi Bài (Ất người động Khương Cải, Bài người động Thổ Nang) bắt giết Tri châu Lang chánh là Hồ Tố Thiện. Quan Bố chánh Nguyễn Nhược Sơn phi tư các quan quân thứ hỗi tiễu.

Lãnh binh Thanh Hóa là Nguyễn Văn Kỳ đóng ở Ái Chữ, giặc là Phạm Công Nho tới vây, quân ta chết và bị thương nhiều lắm. Thự Tổng đốc Hoàng Văn Ẩn lui về làng La Khán; giặc chia đồn đóng giữ.

Tháng 12, tàu buôn nước Anh Cát Lợi qua bãi Hoàng Sa bị cạn, ghé vào bãi biển Bình Định hơn 90 người. Việc ấy tâu lên, Ngài sai lựa nơi cho ở và hậu cấp tiền gạo; người chủ tàu và mấy người đầu mục ngó bộ cám ơn lắm. Ngài sắc Phái bộ Nguyễn Tri Phương đem mấy người ấy xuống tàu theo qua Hạ Châu đặng về Anh Cát Lợi.

--------------------------
(1) Hiểu là con Lê Duy Trạch; người tỉnh Bắc Ninh là Hoằng Đồng Nguyệt dẫn Duy Hiển vào làng Sơn Âm, tôn xưng Đại Lê hoàng thân
hiển công; còn Đồng Nguyệt tự xưng Quốc sư.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM